Bối cảnh của phát triển nông thôn hiện nay Trong mười năm qua, kinh tế nông thôn đã có sự chuyển biến sâu rộng, cả tích cực và tiêu cực: sản xuất lương thực tăng, thu nhập nông dân gia t
Trang 1ĐỀ CƯƠNG THAM LUẬN TOẠ ĐÀM XÂY DỰNG TIÊU CHÍ NÔNG THÔN MỚI
TIÊU CHÍ NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM
I Bối cảnh xây dựng nông thôn mới
I.1 Bối cảnh của phát triển nông thôn hiện nay
Trong mười năm qua, kinh tế nông thôn đã có sự chuyển biến sâu rộng, cả tích cực và tiêu cực: sản xuất lương thực tăng, thu nhập nông dân gia tăng, cải cách về chính sách thuế cũng như xây dựng nền chính trị dân chủ đã đem đến sự chuyển biến sâu sắc trong thể chế quản lý kinh tế và cơ cấu quản lý xã hội Quá trình xây dựng nông thôn mới chịu ảnh hưởng của một
số tiến trình sau đây
- Quá trình đô thị hóa: đô thị hóa đang lan tỏa ra khắp cả nước, đi kèm theo đó là việc thu hẹp không gian nông thôn cho đô thị, ảnh hưởng của đô thị tới kiến trúc, kinh tế, đời sống và văn hóa nông thôn Mối quan hệ tương hỗ nông thôn đô thị ngày càng được coi trọng trong chiến lược phát triển đô thị và nông thôn
- Quá trình công nghiệp hóa: công nghiệp hóa đã lan tỏa về các làng quê, đặc biệt là xung quanh các đô thị, theo trục đường lớn Công nghiệp hóa cũng làm thu hẹp không gian nông thôn, tạo ra sự chuyển đổi nghề nghiệp từ nông dân thành công nhân, thương nhân và làm thay đổi mạnh mẽ cộng đồng dân cư nông thôn Quá trình công nghiệp hóa còn ảnh hưởng sâu sắc tới các hệ thống sản xuất, thương mại, dịch vụ, ô nhiễm môi trường, kiến trúc của nông thôn
- Quá trình hội nhập quốc tế: quá trình hội nhập quốc tế ảnh hưởng đến toàn bộ nông thôn Những biến động kinh tế quốc tế có thể ảnh hưởng ngay tới đời sống dân cư nông thôn Sự giao lưu văn hóa giữa văn hóa nông thôn với văn hóa các nước thông qua du lịch, các phương tiện thông tin đại chúng cũng ngày càng tăng
- Quá trình phi tập trung hóa: Đảng và nhà nước, ngày càng coi trọng quá trình phân quyền, phân cấp cho hệ thống chính quyền, dịch vụ công cấp cơ sở Ngoài ra vai trò của xã hội dân sự ngày càng được nâng cao Chính những điểm này là nền tảng để xây dựng xã hội nông thôn có sự tham gia, quyền quyết định của dân
I.2 Những thách thức hiện nay đặt ra trong quá trình xây dựng nông thôn mới
Đối với tất cả các nước, cũng như điều kiện thực tiễn của Việt Nam, xây dựng nông thôn mới của chúng ta đạng gặp những thách thức sau đây
1 Không gian nông thôn đang bị phá vỡ tại nhiều nơi, mất đi tính truyền thống, sinh thái Không có qui hoạch tốt về hạ tầng nông thôn cả về kinh tế, các công trình công cộng, văn hóa, môi trường Chất lượng hạ tầng thấp, môi trường suy thoái, quản lí không gian kém
Trang 22 Xã hội nông thôn chưa được tổ chức tốt, thiếu dân chủ cơ sở, mâu thuẫn xã hội, sắc tộc gia tăng, văn hóa truyền thống bị mai một
3 Kinh tế nông thôn kém phát triển, thiếu công ăn việc làm ổn định, nghèo đói giảm chậm, một bộ phận dân cư còn sống dưới mức nghèo khổ
Để xây dựng nông thôn mới, cần giải quyết tốt các thách thức ở trên Hiện nay có hai vấn
đề rất đáng chú ý trong quá trình nghiên cứu và thực tiễn xây dựng nông thôn mới: thứ nhất
là sự không thực tế, thiếu lí luận trong nghiên cứu xây dựng nông thôn mới, thứ hai là xu thế phong trào hóa, chính trị hóa sự nghiệp xây dựng nông thôn mới
Chính vì tình hình trên mà nhiều nghị quyết của Đảng đã đề cập đến phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân Mặc dù vậy vẫn rất thiếu các giải pháp mang tính đột phá để giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việc xây dựng nông thôn mới là hết sức cần thiết, đảm bảo cho nông thôn đứng vững không bị tàn phá trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, hiện đại hóa Việc đó sẽ đảm bảo một không gian kinh tế, văn hóa, xã hội ổn định, sinh thái bền vững cho sự phát triển chung của đất nước, tạo điều kiện cho CNH và ĐTH diễn ra có hiệu quả, ít tổn kém, vững bền
Do vậy phát triển nông thôn hiện nay không chỉ đơn giản là xây dựng nông thôn, mà nó nằm trong bối cảnh đô thị hóa, công nghiệp hóa rất nhanh Do đó, chiến lược phát triển nông thôn không thể tách rời chiến lược phát triển đô thị và công nghiệp hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa
I.3 Quan điểm, định hướng của Đảng, và chính phủ về phát triển nông thôn
Nghị quyết số 15/NQ-TW tại Hội nghị lần thứ năm của Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa IX ngày 18/3/2002 về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010):
CNH, HĐH nông thôn: là quá trình chuyển dịch CCKT nông thôn theo hướng tăng
nhanh tỉ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỉ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân ở nông thôn
1 Mục tiêu tổng quát và lâu dài của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là:
- Xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ, sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại
2 Nội dung CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn
Phát triển lực lượng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn:
- Các ngành công nghiệp ở nông thôn (nhất là công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản
và các ngành sử dụng nguyên liệu tại chỗ, cần nhiều lao động ngay trên địa bàn) được phát triển Trong nông thôn hình thành các khu công nghiệp, gắn kết được lợi ích kinh
Trang 3tế của người sản xuất nguyên liệu (người dân nông thôn) với các đơn vị, cơ sở chế biến, nhà máy, doanh nghiệp
- Các ngành nghề ở nông thôn được trang bị máy móc hiện đại, công cụ cải tiến, năng suất lao động được nâng cao; chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh trên thị trường của người dân nông thôn được cải thiện
- Trong nông thôn có nhiều loại hình dịch vụ được phát triển, từ đó tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân
- Hệ thống các cơ sở công nghiệp cơ khí, hóa chất, phân bón, thuốc trừ sâu phục vụ nông, lâm, ngư nghiệp được quy hoạch lại trên phạm vi cả nước và từng vùng
- Kinh tế hộ dân cư nông thôn phát triển với quy mô ngày càng lớn theo hướng kinh tế trang trại
- Các thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác, HTX, doanh nghiệp tham gia và đóng vai trò nòng cốt trong xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp để phát triển kinh tế nông thôn
Về kết cấu hạ tầng và đô thị hóa nông thôn:
- Môi trường nông thôn trong sạch, nước được cung cấp đầy đủ cho hoạt động sản xuất, nước sinh hoạt đảm bảo đạt tiêu chuẩn vệ sinh
- Hệ thống giao thông nông thôn hiện đại, mặt đường được cứng hóa, đáp ứng tốt nhu cầu về đi lại, sinh hoạt, sản xuất, kinh tế Từng bước xây dựng cầu, cống vĩnh cửu và xóa bỏ “cầu khỉ”
- Hệ thống điện ở nông thôn có chất lượng cao, cung cấp có hiệu quả cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt ở nông thôn
- Hệ thống các dịch vụ bưu chính, viễn thông và các điểm văn hóa nông thôn được trang bị thiết bị hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin
- Thị trấn, thị tứ được phát triển trên địa bàn nông thôn để thực hiện chức năng trung tâm công nghiệp, ngành nghề, dịch vụ, văn hóa - xã hội Các vùng nghèo, đặc biệt ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được đầu tư thỏa đáng, đảm bảo công bằng
xã hội
Về đời sống văn hóa - xã hội và phát triển nguồn nhân lực:
- Làng, xã văn hóa được xây dựng trên cả nước; văn hóa truyền thống được phục hồi và phát triển; tình làng, nghĩa xóm, sự giúp đỡ và hỗ trợ lẫn nhau được phát huy trong cộng đồng dân cư nông thôn
- Các thiết chế văn hóa, bảo vệ và tôn tạo các di tích lịch sử, di sản văn hóa, danh lam thắng cảnh được nâng cao chất lượng để đáp ứng yêu cầu hưởng thụ và phát huy tiềm năng sáng tạo của nhân dân
- Công tác thông tin đại chúng và các hoạt động văn hóa được phát triển; những nhân tố mới được động viên, các hiện tượng tiêu cực trong xã hội phải bị phê phán; xã hội
Trang 4nông thôn xây dựng được lối sáng lành mạnh, bảo vệ thuần phong mỹ tục ở nông thôn
- Chất lượng hệ thống giáo dục, y tế phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn được đổi mới và nâng cao chất lượng, nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở nông thôn
- Người nghèo ở nông thôn được học tập, có trường nội trú đối với con em dân tộc thiểu số
Trong bối cảnh này, Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đặt ra vấn đề xây dựng nông thôn mới Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp lớn với nông dân chiếm đa
số, cho dù tích cực đẩy mạnh đô thị hóa trong vòng 10 đến 20 năm nữa thì sẽ vẫn còn hơn một nửa số nông dân không thể thoát khỏi nông thôn
Thực hiện nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ NN và PTNT thực hiện thí điểm
10 mô hình nông thôn mới trong toàn quốc để làm cơ sở rút kinh nghiệm, đề xuất chính sách Một số tổ chức quốc tế cũng tiến hành xây dựng một số mô hình phát triển nông thôn Nội dung nông thôn mới ngày càng được sự quan tâm của Đảng, Chính phủ và các địa phương Trước tình hình trên, việc xây dựng Bộ tiêu chí nông thôn mới là hết sức cần thiết, nhằm dùng làm chuẩn mực trong đánh giá tình hình phát triển nông thôn tại các địa phương, cấp độ khác nhau
II Lí luận, nội dung xây dựng nông thôn mới
II.1 Lí luận, nội dung cơ bản của xây dựng nông thôn mới
Theo nghĩa rộng, ‘phát triển nông thôn’ bao gồm tất cả các vấn đề quan trọng gắn chặt với đời sống của người dân và môi trường và không gian sống ở khu vực nông thôn…(bao gồm) giáo dục, y tế, nhà cửa, dịch vụ công cộng và cơ sở vật chất, năng lực lãnh đạo và quản lý, và các di sản văn hoá cũng như các vấn đề kinh tế địa phương nói
chung và các vấn đề về kinh tế ngành nói riêng… (OECD,1990:23)
‘Phát triển nông thôn mới’ là một quá trình đa chiều hướng tới hội nhập bền vững
trong tất cả các lĩnh vực: kinh tế, văn hoá – xã hội và môi trường (Kearney et al., 1994: 128)
‘Phát triển nông thôn mới’ là một quá trình ổn định và bền vững với những thay đổi kinh tế, xã hội, văn hoá và môi trường hướng tới sự thịnh vượng lâu dài của cả cộng đồng’ (Moseley, 1996b: 20)
Nông thôn, trong quá trình phát triển đất nước ta hiện nay không chỉ đảm bảo chức năng kinh
tế như trước, nông thôn ngày càng có vai trò quan trọng, đảm bảo các chức năng về bảo tồn tài nguyên, môi trường, sinh thái, khí hậu, an inh, chính trị, ổn định xã hội… do đó những khái niệm phát triển nông thôn cũng không hoàn toàn tập trung vào các khía cạnh kinh tế Tại các nước như Nhật Bản, Châu Âu, Hàn Quốc, Đài Loan trongtrình công nghiệp hóa, người ta đề cao quan niệm phát triển nông thôn để xây dựng một nền nông nghiệp, phát triển nông thôn đa chức năng Theo chủ trương này, nông thôn không chỉ còn là địa bàn cư trú của cư dân nông thôn và là nơi diễn ra các hoạt động sản xuất nông thôn với chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, mà còn có nhiều
Trang 5chức năng khác Vai trò của nông thôn không chỉ mang khía cạnh kinh tế mà còn đảm bảo sự ổn định an ninh, xã hội, quản lí nguồn lực tự nhiên, quản lí không gian sống, môi trường sinh thái
II.2 Các kiểu nông thôn mới
Nông thôn truyền thống, văn minh, hiện đại : Đây là một dạng nông thôn mang đặc trưng của nông thôn cổ truyền gìn giữ lại, Những vùng nông thôn này thường xa thành phố, có hệ thống sản xuất nông lâm ngư nghiệp là chính Quá trình đô thị hóa nông thôn ít sảy ra, có chăng là quá trình công nghiệp hóa gắn với nông nghiệp Kiểu nông thôn này có nhiều hoạt động văn hóa và du lịch
Nông thôn được xây dựng, qui hoạch hiện đại theo cụm dân cư: Tại nhiều nước, quá trình phát triển nông thôn đòi hỏi có sự qui hoạch, gom dân cư lại một điểm để xây dựng khu định canh định cư Những khu vực nông thôn này, thường pha tạp các văn hóa của cộng đồng dân cư, các dân tộc khác nhau
Nông thôn ven đô thị: Nông thôn ven đô thị thường gắn với các khu vui chơi giải trí, dịch vụ cho đô thị như nhà nghỉ, biệt thự, nông nghiệp sinh thái, trang trại du lịch, các khu nông nghiệp công nghệ cao
Nông thôn-đô thị nhỏ: Đây là một dạng nông thôn phát triển các trang trại lớn, các khu du lịch,… xung quanh một thị trấn, thị tứ hay một thị xã Đô thị chính là trung tâm kết nối các hoạt động của các vùng nông thôn xung quanh và ra bên ngoài
Nông thôn truyền thống cổ truyền: Đây là dạng nông thôn tương đối đóng, cộng đồng dân cư ở các vùng hẻo lãnh, gìn giữ phong tục tập quán truyền thống Ở các nước, các cộng đồng dân cư này thường là đồng bào dân tộc, được giúp đỡ để bảo vệ rừng, bảo vệ văn hóa, cộng đồng của họ
II.3 Xây dựng nông thôn mới và đặc trưng vùng miền
Tại sao ‘xây dựng nông thôn mới’ lại được hiểu và áp dụng phổ biến ở qui mô địa phương? Tại sao các chương trình và kế hoạch, cũng như các dự án phát triển nông thôn lại cần phải được gắn với một khu vực cụ thể mà không phải là chung chung? Tạm không xét đến khái niệm ‘địa phương’ về phương diện quy mô dân số và diện tích địa lý, thì ‘địa phương’ sẽ là 5 nhân tố (và thường là các nhân tố gối đầu nhau và có quan hệ mật thiết với nhau) liên quan tới phát triển địa phương
1 Trước tiên, phát triển nông nghiệp địa phương liên quan đến tính đa dạng khu vực (local diversity) Khu vực nông thôn thường có rất nhiều điểm tương đồng nhưng lại không
hoàn toàn giống nhau và đồng nhất
2 Thứ hai, các vấn đề nông thôn ràng buộc và tác động lẫn nhau, vì thế cần phải có
những biện pháp để giải bài toán này cũng như các tác nhân liên quan trên cơ sở một vùng lãnh thổ nhất định, “các mối quan hệ cộng tác ở khu vực địa phương theo vùng trở thành
‘mắt xích trung tâm’ (central cog) gắn kết các nhu cầu và ưu tiên hàng đầu của địa phương với ‘mắt xích ngành’ (sectoral cog) (các chương trình ngành, các tổ chức liên quan và tài trợ
Trang 6ngành) nhằm cung cấp nguồn lực cần thiết cho phát triển nông thôn cân bằng và bền vững’ ( Mannion, 1996: 12)
3 Luận điểm thứ 3 gắn với đặc thù địa phương và tính huy động nguồn lực (local identification and mobilisation) Luận điểm này nhất trí rằng cư dân địa phương – bao gồm cả
cá nhân và các nhóm, tổ chức và xí nghiệp – là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển nông thôn, cũng như là nguồn thông tin, ý tưởng, năng lượng và các doanh nghiệp Khu vực hoạt động càng bị giới hạn bởi khu vực địa lý và càng gắn kết họ với nhau sẽ tốt hơn là hoạt động trên một loạt các vùng, địa phương khác biệt nhau nhiều Vì vậy, luận điểm cơ bản là cần thiết xây dựng và huy động vốn xã hội và thu hút kinh nghiệm và kiến thức của dân cư địa phương trong xây dựng nông thôn mới
4 Thứ 4, người ta càng ngày càng quan tâm đến cái gọi là giá trị gia tăng cho nguồn lực địa phương (adding valuable to local resources) để đạt được tương lai an toàn và bền
vững hơn cho sự phát triển kinh tế chứ không phải là một chiến lược phụ thuộc quá mức vào vốn và nguyên vật liệu nhập khẩu (giá trị gia tăng địa phương thường đòi hỏi sự đầu tư ban đầu của các nguồn vốn bên ngoài)
5 Trong những năm gần đây, người ta nói nhiều đến luận điểm thứ 5 liên quan đến hàng rào chống lại toàn cầu hoá (defense against globalisation) ‘Toàn cầu hoá’ (Bryden,
1998; Norberge-Hodge, 1999) gắn liền với việc mở cửa nền kinh tế và tham gia cạnh tranh thế giới Câu trả lời cho thực trạng này là việc xem xét cẩn trọng sự đa dạng vùng miền, tăng cường tính đặc thù sản xuất của từng khu vực, và do đó đã tạo ra một ‘khe hở’ trong tâm trí người tiêu dùng về sản phẩm theo đặc trưng vùng Kinh nghiệm phát triển chỉ dẫn địa lí của Châu âu và nhiều nước là sự thành công theo hướng này, gắn phát triển kinh tế thưo hướng này với phát triển nông thôn mới Tính đặc thù trong khâu phát triển và marketing sản phẩm
và dịch vụ đi kèm ngày càng trở nên quan trọng và được đề cao – theo quan điểm gần đây của
Ray đưa ra về thuật ngữ ‘các nền kinh tế văn hoá’ (Ray, 2001).
Trên cơ sở các luận cứ trên, và với kinh nghiệm thực tế, Malcolm Móelay, 2003 đã đưa ra định nghĩa về ‘phát triển địa phương, vùng, miền’ ở nông thôn như là ‘một sự theo đuổi mục tiêu phát triển ở qui mô địa phương với mục tiêu giải quyết các mối quan tâm trên địa bàn, vấn đề giá trị gia tăng cho nguồn lực địa phương – dù là nguyên vật liệu, nhân lực – và các tác nhân địa phương – không phân biệt cá nhân, tổ chức hay tác nhân’
Nhưng làm thế nào làm cho địa phương thực sự là ‘địa phương’? Hiển nhiên là câu trả lời cho câu hỏi này phụ thuộc vào mức độ quan tâm tới các đặc điểm của từng địa phương như là mật độ dân số, nguồn tài nguyên, cơ sở hạ tầng, và một vài chỉ dẫn khác mang tính định hướng Điều cốt lõi là để theo đuổi tốt nhất các mục tiêu được vạch ra ở trên, khu vực địa phương phải đủ nhỏ để mang đúng nghĩa là một khu vực địa bàn nhất định, để cư dân nhiệt tình tham gia các hoạt động phát triển và tích cực tham gia của sáng kiến cá nhân, nhưng cũng phải đủ lớn để đáp ứng được nhu cầu quản lý kinh tế quy mô lớn, duy trì kênh phân phối và đáp ứng đủ nhu cầu còn thiếu và cung ứng các sản phẩm có chất lượng
III Đặc trưng nông thôn mới XHCN
Trang 7III.1 Đặc trưng chung của nông thôn mới
Nhìn chung, nông thôn mới XHCN phải đảm bảo được các đặc trưng sau đây
1 Hạ tầng tốt, văn minh, đảm bảo được nhu cầu cuộc sống dân cư nông thôn
2 Không gian nông thôn mang đặc trưng nông thôn (khuôn viên và cảnh quan làng (bản), khuôn viên hộ gia đình, vườn…), không ô nhiễm và có quản lí tốt về môi trường
3 Xã hội được tổ chức tốt, người dân được làm chủ, ổn định chính trị-xã hội, an ninh trật tư tốt, không có tệ nạn xã hội, phong tục tập quán văn minh và giàu bản sắc văn hóa, giàu tình nhân ái trong cộng đồng
4 Bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên nhất là tài nguyên rừng, tài nguyên đất
và nước, tài nguyên đa dạng sinh học, khoáng sản Bảo vệ và phát triển môi trường, bảo tồn và khai thác cảnh quan tự nhiên, duy trì các cân bằng sinh thái
5 Bảo tồn và phát triển các di sản văn hoá truyền thống của các dân tộc, của các địa phương Gìn giữ và khai thác các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể, các kiến thực bản địa, các giá trị nhân văn và tài nguyên con người Khai thác các giá trị, truyền thống lịch sử
6 Kinh tế phát triển và bền vững, thu nhập đảm bảo, công ăn việc làm ổn định, không có hộ nghèo đói Kết hợp với quá trình phi tập trung hoá công nghiệp hoá và đô thị hoá, quá trình gắn kết toàn cầu hoá với quá trình phát triển nông thôn
III.2 Đặc trưng nông thôn mới theo vùng miền ở nước ta
1 Vùng miền núi phía Bắc
• Mô hình nông thôn mới thôn (bản) : Mô hình này cần được xây dựng đảm bảo tính đặc trưng văn hóa thôn bản theo từng địa phương, từng dân tộc
• Mô hình cụm xã định canh định cư : sản xuất nông nghiệp gắn với lâm nghiệp, hạ tầng hiện đại, chế biến nông-lâm sản
2 Vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ
• Mô hình làng nông thôn cổ tryền gắn với các kiến trúc thôn quê, đưa chăn nuôi và làng nghề ra ngoài khu dân cư, hạ tầng đảm bảo hiện đại, không gian làng mang đặc trưng truyền thống cây đa, bến nước, sân đình…
3 Vùng duyên hải
• Mô hình nông thôn ven biển : Ở đây có thể xây dựng mô hình làng chài gắn với đô thị hóa, du lịch ven biển, cng nghiệp chế biến hải sản
4 Tây Nguyên
• Mô hình thị trấn gắn với xung quanh là trang trại, nhà máy chế biến nông sản, du lịch
• Mô hình nông thôn cộng đồng các dân tộc thiểu số: gìn giữ rừng, văn hóa, du lịch
5 Nam Bộ
Trang 8• Mô hình nông thôn văn minh Miệt vườn, gắn với du lịch
• Mô hình nông thôn tập trung làm nhà trên lũ
6 Mô hình nông thôn ven đô thị lớn
• Mô hình này được tổ chức trên cơ sở bảo tồn văn hóa, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao, du lịch, khu vui chơi giải trí
IV Bộ tiêu chí chung về nông thôn mới
IV.1 Sự cần thiết xây dựng bộ tiêu chí
Xây dựng bộ tiêu chí về nông thôn mới là một công việc khó, bởi lẽ nông thôn có tính chất phức tạp bao gồm cả không gian, sinh thái, xã hội, kinh tế… và luôn biến động, đa dạng theo vùng miền Mặc dù vậy, xây dựng tiêu chí nông thôn mới là hết sức cần thiết đảm bảo sự định hướng quốc gia, vùng miền và sự hợp tác giữa các thành phần xã hội, giữa nhà nước và
tư nhân trong quá trình xây dựng nông thôn mới Xây dựng tiêu chí phải đạt những yêu cầu sau:
• Mang tính khái quát cao, phù hợp với nội dung xây dựng nông thôn mới
• Có nhiều cấp độ từ thôn bản, xã, huyện, tỉnh, vùng miền
• Bảo đảm sự thống nhất, nhưng cũng đảm bảo sự đa dạng về sinh thái, văn hóa, truyền thống vùng miền
• Có các chỉ số kèm theo, chỉ số được xây dựng và thay đổi theo trình độ phát triển, thay đổi theo mục tiêu phấn đầu từng giai đoạn
IV.2 Phạm vi bộ tiêu chí nông thôn mới
Trong khuôn khổ tài liệu này, chúng tôi tập trung xây dựng bộ tiêu chí nông thôn mới cấp thôn (làng; bản) và cấp xã Có thế có những bộ tiêu chí cho cấp độ cao hơn, theo vùng, huyện…, chúng ta sẽ bàn vào dịp khác
Cấp thôn bản là đơn vị cộng đồng dân cư nhỏ nhất, có cấu trúc và tính bền vững cao nhất Những nét đặc trưng về văn hóa, tính truyền thống, các mạng lưới kinh tế của cư dân… cũng thường xuất phát từ cấp thôn bản Do đó, xây dựng nông thôn mới cấp thôn bản chính là xây dựng những tế bào, những viên gạch cho xây dựng nông thôn mới cấp cao hơn
Cấp xã, là đơn vị hành chính thấp nhất, có quan hệ mật thiết với cấp thôn bản, có ảnh hưởng sâu sắc nhất tới quá trình xây dựng nông thôn mới Các quyết định của cấp xã, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của cư dân nông thôn Do đó, xây dựng tiêu chí nông thôn mới cấp xã chính là tạo ra tính thống nhất về nông thôn mới, một số dịch vụ, hạ tầng cơ bản, những tổ chức xã hội… mà chỉ qui mô cấp xã mới có thể làm được để cho cư dân nông thôn
IV.3 Các tiêu chí về nông thôn mới
Trang 91 Các tiêu chí mang tính chất về tổ chức xã hội, văn hóa, quản trị nông thôn, đặc biệt là vai trò của cộng đồng, của người dân trong sự nghiệp phát triển nông thôn
• Xã hội có tổ chức tốt: Chất lượng hoạt động của các tổ chức dân cư đảm bảo tính dân chủ (người dân được biết thông tin, tham gia quyết định, đánh giá và làm chủ tổ chức của mình)
• Cộng đồng được tổ chức dân chủ: đại diện cộng đồng do dân bầu lên, thực sự đại diện cho dân cư trong các vấn đề liên quan đến họ
• Quản trị nông thôn có sự tham gia và quyết định của người dân: Dân cư được biết thông tin về các vấn đề của cộng đồng, được quyền tham gia quyết định,
có trách nhiệm trong thực thi quyết định cộng đồng
• Xã hội văn minh: Không có tệ nạn xã hội, các gia đình đảm bảo nếp sống văn minh, quan hệ làng xóm có tính chất tương trợ cao
• Ổn định xã hội: Thực thi tốt pháp luật, an ninh chính trị đảm bảo
• Phong tục tập quán văn hóa được tổ chức tốt, đảm bảo tính truyền thống
• Sinh đẻ kế hoạch…
• Chăm sóc người tàn tật, cô đơn…
2 Các tiêu chí về hạ tầng, không gian nông thôn
• Hạ tầng hiện đại: Hạ tầng được qui hoạch đảm bảo tốt các chức năng theo nhu cầu cư dân nông thôn về giao thông, thoát nước thải, điện, giáo dục, y tế, thông tin
• Không gian truyền thống, sinh thái: có tính đặc trưng và truyền thống nông thôn, tính sinh thái và đặc trưng vùng miền Khuôn viên thôn bản, trong từng hộ gia đình vẫn giữ những nét nông thôn, văn minh hiện đại
• Không gian có sự phân biệt chức năng rõ ràng: có khu vực dân cư, công trình công cộng, sinh hoạt cộng đồng, sản xuất…
3 Các tiêu chí về sinh thái môi trường
• Không có ô nhiễm hay nguy cơ ô nhiễm môi trường về không khí, nước, tiếng ồn
• Tỷ lệ diện tích cây xanh
• Cây xanh trên khuôn viên hộ
4 Các tiêu chí về kinh tế
• Các hộ gia đình đều có thu nhập ổn định
• Có công ăn việc làm
• Tỷ lệ nghèo đói thấp
• Có nghề ổn định trong thôn bản
• Các cơ sở sản xuất ở nông thôn được trang bị máy móc hiện đại, công cụ cải tiến, năng suất lao động cao; chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh trên thị trường tốt
• Có loại hình dịch vụ được phát triển
Trang 10• Kinh tế hộ dân cư nông thôn phát triển với quy mô ngày càng lớn theo hướng kinh tế trang trại
• Các thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác, HTX, doanh nghiệp tham gia và đóng vai trò nòng cốt trong sản xuất và tổ chức sản xuất tại địa phương