Luận Văn: Giải quyết việc làm là nhân tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc củ
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI
Việc làm của người lao động là vấn đề xã hội búc xúc, phổ biến vàmang tính thời sự ở nhiều quốc gia Bởi vì quyền có việc làm và đảm bảothu nhập từ việc làm là một trong những yếu tố cơ bản cho sự phát triển bềnvững Đối với những nước đang phát triển như Việt Nam thì vấn đề việclàm cho người lao động là hết sức quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong quátrình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội Chính vì vậy, văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã nhấn mạnh: "Giải quyết việc làm
là nhân tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân".
Là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội của cả nước, Thủ
đô Hà Nội cũng đang trong thời kỳ đổi mới Việc thực hiện chính sách đổimới và mở cửa trong vòng 20 năm qua đã khiến Hà Nội đạt được nhữngthành tựu đáng ghi nhận trong tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Kinh
tế phát triển, đời sống vật chất của người dân dần được nâng lên thì nhu cầu
về đời sống tinh thân của họ như giải trí và hưởng thụ các sản phẩm, dịch
vụ văn hoá tinh thần cũng ngày một gia tăng, nhất là nhu cầu được khiêu vũ
để giải tỏa sau mỗi ngày lao động vất vả
Thực tế cho thấy trước nhu cầu được tham gia hoạt động khiêu vũngày càng lớn của các nhóm xã hội đã khiến Thủ đô nảy sinh nhiều Vũ
Trang 2người dẫn khiêu vũ để đáp ứng nhu cầu của họ Theo Bà Huyền Anh –trưởng phòng quản lý văn hóa của Sở văn hóa Thông tin Hà Nội, trên địabàn Hà Nội hiện nay có khoảng trên dưới 30 Câu Lạc Bộ (1)có tổ chứckhiêu vũ Cổ điển Trung bình mỗi Câu Lạc Bộ có khoảng từ 15-20 ngườitham gia dẫn khiêu vũ (2) Hầu hết những người dẫn khiêu vũ đều bị viphạm quyền lợi do họ không ký hợp đồng lao động, không đóng bảo hiểm
xã hội và chưa có mã nghề cho việc dẫn khiêu vũ trong danh mục nghềnghiệp do pháp luật Nhà nước qui định
Đứng trước thực tế đó, hàng loạt các câu hỏi được đặt ra: Thực trạngviệc làm của người dẫn khiêu vũ hiện nay thế nào? quyền lợi của họ ra saokhi bản thân công việc này chưa có mã nghề trong danh mục nghề nghiệp
do pháp luật Nhà nước qui định? Tại sao các cơ quan liên ngành như: Bộ y
tế, Bộ Văn hóa, Bộ Lao động- thương binh và xã hội… lại làm ngơ trướctình trạng trôi nổi của một nghề mà không có một sự định hướng hay gợi
mở nào cho những người đang hành nghề này? Tại sao tình trạng này lạitồn tại ở chính cả những nơi có hệ thống truyền thông hệ thống phát thanh,truyền hình tốt về văn hóa?
Đến nay, tình trạng này không chỉ còn là một nguy cơ, mà đã trởthành một vấn đề xã hội Đã đến lúc chúng ta cần tìm hiểu một cách nghiêmtúc những vấn đề này và có những phân tích cẩn trọng
Người dẫn khiêu vũ là một trong những lực lượng lao động của xã
hội Nghiên cứu "Việc làm của người dẫn khiêu vũ trên địa bàn Hà nội
hiện nay" là một nhu cầu cấp thiết nhằm góp phần luận giải đầy đủ hơn cơ
sở khoa học và thực tiễn cho vấn đề này Đây không chỉ đơn thuần là quanniệm mang tính trách nhiệm, đạo đức xã hội, mà hơn thế nữa, nó còn liên
(TG)
Trang 3quan đến những người thân trong gia đình họ, đến những người tham giahoạt động giải trí mang tính nghệ thuật trong xã hội.
Xét về chiến lược lâu dài, cũng như nhiệm vụ cấp bách trước mắt, thìnghiên cứu việc làm của những người dẫn khiêu vũ là vấn đề hết sức cấpthiết Công việc đó không chỉ thiết thực có tác dụng nâng cao chỉ số pháttriển con người mà Liên Hợp Quốc đã nêu và Việt Nam đang phấn đấu, màcòn có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển dân tộc Việt Nam thời kỳCNH-HĐH đất nước Đó cũng chính là những lý do khiến tôi lựa chọn đềtài này để nghiên cứu
2 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN
2.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu không nhằm đưa ra những luận điểm bổ sung cho
lý thuyết xã hội học mà nhằm làm rõ chúng trong những phát hiệnbằng nghiên cứu thực nghiệm của mình
Kết quả nghiên cứu còn giúp hình thành những quan niệm khoa họchơn về khiêu vũ, về nghề dẫn khiêu vũ, bởi trên thực tế, nhiều ngườivẫn còn có nhận thức sai lầm về vấn đề này khi cho rằng khiêu vũ là
“nhảy nhót nhố nhăng” và người dẫn khiêu vũ là “trai ôm”, “Trai bao”…
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu giúp cho các cấp chính quyền của thành phố HàNội nói riêng và nhà nước nói chung trong công tác hoạch định chínhsách đối với ngành kinh doanh dịch vụ vũ trường và việc làm củanhững người dẫn khiêu vũ
Giúp cho những nhà quản lý văn hoá, các nhà quản lý vũ trường, câu
Trang 4đang làm công việc dẫn khiêu vũ, từ đó có phương pháp và cách thứcquản lý phù hợp hơn
Giúp cho người dẫn khiêu vũ và đặc biệt nhiều người trong xã hội cónhững nhận thức đúng và toàn diện hơn về nghề dẫn khiêu vũ
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích
Làm sáng tỏ thực trạng việc làm của người dẫn khiêu vũ trên địa bàn
Hà nội, đồng thời chỉ ra những nhân tố cơ bản tác động tới tình trạng lựachọn việc làm này ở họ, xu hướng tồn tại và phát triển của loại việc làm nàytrong thời gian tới, từ đó đề ra những khuyến nghị mang tính khả thi
- Xác định những yếu tố cơ bản dẫn tới sự lựa chọn việc làm củangười dẫn khiêu vũ
- Tìm hiểu xu hướng việc làm của người dẫn khiêu vũ trong thời giantới
- Khuyến nghị những giải pháp mang tính khả thi để phát triển loạihình dịch vụ và việc làm này
Trang 54 KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIấN CỨU
4.1 Đối tượng nghiờn cứu
Việc làm của những người dẫn khiờu vũ
Trong nghiờn cứu này, chỳng tụi khụng đề cập tới việc làm dướichiều cạnh giới do số phụ nữ tham gia làm nghề dẫn khiờu vũ hiện nay là
vụ cựng ớt so với nam Họ chủ yếu vừa dạy, vừa dẫn khiờu vũ tự do vàkhụng thuộc quõn số của một Cõu Lạc Bộ cụ thể nào
5 CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU
5.1 Cơ sở phương phỏp luận
Vận dụng lý luận quan điểm chủ nghĩa Marx-Lenin và coi đây là sợichỉ đỏ xuyên suốt quá trình nghiên cứu, chúng tôi nghiên cứu việc làm củanhững ngời dẫn nhảy theo các luận điểm về kinh tế và sức lao động củaK.Marx, theo phơng pháp tiếp cận hệ thống và theo phơng pháp tiếp cận liênngành xã hội học-kinh tế học
Thực chất là những phân tích, lý giải của Marx về mối quan hệ biện
chứng giữa cái “kinh tế”-“cơ sở hạ tầng” và cái “kiến trúc thợng tầng” về sự
biến đổi xã hội Trong lý luận về sự phát triển xã hội, Marx cho rằng: mối
Trang 6lợng sản xuất và quan hệ sản xuất, hạ tầng cơ sở và kiến trúc thợng tầng.Marx bác bỏ quan điểm của kinh tế học chính trị cổ điển cho rằng hàng vikinh tế là hoàn toàn tự do, hoàn toàn duy lý Theo ông, nếu không có sự
điều tiết thì cạnh tranh thị trờng là tất yếu và sẽ sảy ra tình trạng vô chínhphủ, bất bình đẳng xã hội chứ không tạo ra trật tự xã hội nh một số nhà kinh
tế học đơng thời quan niệm
Nh vậy, theo Marx kinh tế chính là nền tảng, là huyết mạch chi phối
và làm bién đổi toàn bộ đời sống xã hội Ông chỉ ra vai trò quyết định củayếu tố vật chất, của lực lợng sản xuất và phơng thức sản xuất đối với hoạt
động và ý thức của các cá nhân và nhóm xã hội Điều này đợc phản ánh rõ
trong luận điểm nổi tiếng của ông:” tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội” Cụ thế hơn Marx còn viét rằng: trong quá trình lao động sản xuất xã
hội, để tồn tại, các cá nhân nhất thiết phải tham gia vào những mối quan hệ
độc lập với ý chí của họ, tơng ứng với giai đoạn phát triển đã cho của lực ợng sản xuất
l-Nền tảng cấu trúc của xã hội đợc hiểu là phức hợp các lực lợng sảnxuất bao gồm: lao động, phơng tiện, công cụ, kỹ thuật, công nghệ, đối tợnglao động, bản thân quá trình lao động và các quan hệ sản xuất tơng ứng với
nó Quan trọng nhất là các quan hệ giai cấp, quan hệ t liệu sản xuất, quan hệtài sản, quan hệ quyền lực Dựa trên nền tảng đó hình thành nên phức hợpkết cấu bao gồm cơ cấu chính trị, luật pháp, tôn giáo, văn hoá Thợng tầngkiến trúc này bị quy định bởi cơ sở hạ tầng, đồng thời biểu hiện và phản ánhtrình độ phát triển nhất định, lực lợng sản xuất bị mâu thuẫn với quan hệ sảnxuất, kết quả là tạo ra nguồn gốc và động lực biến đổi xã hội
K.Marx còn đa ra học thuyết về giá trị thặng d dựa trên cơ sở phântích quan hệ trao đổi và chỉ ra ý nghĩa sâu xa của lao động với t cách vừa làhàng hoá, vừa là nguồn gốc tạo ra giá trị kinh tế Dới chế độ chủ nghĩa tbản, không chỉ lao động trở thành hàng hoá mà các quan hệ xã hội kháccũng trở thành hàng hoá với nghĩa là có thể trao đổi, mua bán để kiếm tiền
Khái niệm lao động cũng mang nội dung và ý nghĩa của hiện tợng xãhội Lao động phụ thuộc vào xã hội, vào cơ cấu giai cấp xã hội Trong xãhội nh xã hội t bản chủ nghĩa, lao động bị tha hoá nghiêm trọng, nó không
còn là phơng thức thể hiện và đáp ứng chức năng phát triển “năng lực ngời”
ở mỗi cá nhân Vận dụng vào trong nghiên cứu việc làm của ngời dẫn khiêu
Trang 7vũ trên địa bàn Hà Nội hiện nay, có thể thấy: ngời dẫn nhảy không chỉ lànhững ngời thực hiện đơn thuần một hình thức lao động duy nhất là dẫnkhiêu vũ, mà dới tác động của cơ chế thị trờng, sự đòi hỏi của thị trờng lao
động việc làm, họ còn tham gia một trong nhiều hình thức lao động khácnữa đó là: làm tiếp tân, phụ trách về kỹ thuật (âm thanh, ánh sáng) và đặcbiệt là dạy khiêu vũ cho những ngời có nhu cầu ngoài giờ làm việc chínhthức Đặc biệt, với trờng hợp những ngời dãn nhảy là sinh viên, thì điều nàylại càng rõ Bên cạnh hình thức lao động duy nhất là học tập và tích luỹ trithức, họ còn tham gia làm một việc làm mà có khi không hề liên quan gì tớingành nghề đang đợc đào tạo trong trờng Điều này có nghĩa, tầng lớp thanhniên ngày nay đã thể hiện chức năng đa vai trò, đa vị thế của họ Phải chăng
đây chính là một sự “tha hoá” trong thanh niên?
Với t cách là nhà xã hội học kinh tế, K.Marx đã chỉ ra chủ thể hoạt
động biến đổi lịch sử là các giai cấp xã hội Quan niệm của Marx về giaicấp không đơn thuần là quan niệm kinh tế học với những phạm trù trongkinh tế nh: tài sản, t liệu sản xuất, lao động, tiền công, lợi nhuận, giá trịthặng d… mà đó là quan niệm xã hội học kinh tế về cơ cấu của xã hội Xãhội học kinh tế dùng khái niệm giai cấp để chỉ hiện tợng xã hội bị phận chiathành các nhóm xã hội, bị qui định bởi điều kiện sản xuất Giai cấp xã hộihình thành thông qua các cơ chế sở hữu tài sản, phân công lao động xã hội,
tổ chức lao động sản xuất, quản lý, phân phối và tiêu dùng
Quá trình hình thành cơ cấu giai cấp diễn ra phức tạp và phụ thuộcvào các điều kiện chủ quan, khách quan khác nhau Mối quan hệ giữa biến
đổi kinh tế và biến đổi xã hội thể hiện thông qua quan hệ giai cấp Qua việcphân tích các tổ chức sản xuất t bản chủ nghĩa, Marx đã chỉ ra các yếu tốcủa quá trình biến đổi xã hội Đó là một chuỗi bao gồm:
Lao động tạo ra hàng hoá -> Hàng hoá trên thị trờng -> Đổi thành tiền ->Dùng làm vốn, t bản -> Làm gia tăng sự bóc lột, tha hoá lao động -> Mâuthuẫn giai cấp, xung đột giai cấp -> Biến đối xã hội
Vận dụng vào quan điểm trên của Marx vào đề tài nghiên cứu có thểnhận thấy: việc làm của ngời dẫn khiêu vũ phụ thuộc nhiều vào qui luậtcung-cầu trên thị trờng lao động Nếu nh họ có sự chuẩn bị tốt về kiến thức,
Trang 8học kinh tế của Marx là đủ “vốn”để có thể đáp ứng đợc qui luật cạnh tranh
của thị trờng lao động thì họ sẽ có việc làm và sẽ tồn tại
Nói tới thị trờng lao động là nói tới khối nhân lực đợc đem ra trao đổitren thị trờng, chủ yếu giữa hai loại ngời: Ngời làm công (ngời đem sức lao
động của mình đi bán) và ngời sử dụng lao dộng (ngời mua lao động sửdụng) Vận dụng vào đề tài ở đây, ngời dẫn khiêu vũ với t cách là ngời bánsức lao động thì phải hội tụ những yêu cầu của ngời lao động đề ra, muốnvậy thì bản thân họ phải tham gia hoạt động lĩnh hội và rèn luyện tri thứctrên mọi hình thức ( học thầy, học qua băng hình, qua bạn bè, qua nhữngngời đồng nghiệp) Lao động đợc mua bán trên thị trờng không phải là lao
động trừu tợng mà phải là lao động cụ thể, phải thể hiện thành việc làm dẫnkhiêu vũ mà họ tham gia
Nguyên lý của phơng pháp luận Mác xít là khách quan quyết địnhchủ quan Do đó khi tiếp cận, đòi hỏi phải nghiên cứu đối tợng một cách có
hệ thống, có nghĩa là khi nghiên cứu thực trạng việc làm của ngời dẫn khiêu
vũ, cũng nh khi lý giải nguyên nhân nào khiến cho họ lựa chọn việc làmnày… thì không phải chỉ dựa trên các đặc điểm chủ quan của ngời dânkhiêu vũ nh: sự đam mê, tâm lý, giới tính, tri thức lĩnh hội đợc, khả nănggiao tiếp… mà còn phải dựa trên mối tơng quan của những vấn đề đó vớinhu cầu xã hội, hoàn cảnh gia đình, nơi ở, nghề nghiệp của những ngờithân… Nh vậy, có thể nói, nghiên cứu tình trạng việc làm của ngời dẫnkhiêu vũ không thể không sử dụng phơng pháp tiếp cận hệ thống Có nh vậymới tránh đợc tình trạng chủ quan, phiến diện trong nghiên cứu
Phơng pháp tiếp cận liên ngành Xã hội học và kinh tế học
Đặc trng của xã hội học kinh tế và lao động là phơng pháp tiếp cậnliên ngành giúp ta khắc phục đợc hạn chế cuả mỗi lý thuyết, mỗi phơngpháp tiếp cận riêng biệt, đồng thời tạo điều kiện để bổ sung và phát huy thếmạnh của từng lý thuyết, từng cách tiếp cận Cần vận dụng các tiếp cận liênngành của nhiều khoa học mà đặc biệt ở đây là xã hội học và kinh tế học đểxem xét mối quan hệ giữa con ngời và xã hội trong nền kinh tế chuyển đổisang cơ chế thị trờng
Cách tiếp cận liên ngành xã hội học- kinh tế học đòi hỏi phải tính
đến những thay đổi thiết chế kinh tế trong việc giải thích sự vật và hiện tợng
Trang 9xã hội Một số tác giả cho rằng: thức chất xã hội học kinh tế là “kinh tế học xã hội” hay còn gọi là “ kinh tế học chính trị”, đợc hiểu là lĩnh vực không
nghiên cứu về sản xuất mà nghiên cứu về các quan hệ xã hội trong sản xuất
và cấu trúc xã hội của sản xuất Từ đó hình thành trờng phái “xã hội học tân kinh tế”với nỗ lực nghiên cứu của các tác giả: H.White, M.Granovtter,
R.Swdberrg và các nhà kinh tế học G.Becker và O.Wiliamson
Theo hớng tiếp cận này, có thể tìm hiểu những thay đổi về nghềnghiệp nh việc xuất hiện nghề mới, phục hồi nghề truyền thống, đa dạnghoá nghề nghiệp, chuyển giao công nghệ và kiến thức nghề nghiệp cùng vớinhững cải thiện về môi trờng chính sách, tài chính-tín dụng và thị trờng
Đồng thời cần phát hiện những cơ cấu kinh tế có khả năng khuyến khíchhay cản trở sự hành nghề, hoạt động sản xuất, buôn bán của các đơn vị kinh
tế Cùng với những khái niệm trong kinh tế học nh:”lao động, thiết bị, công nghệ, vốn t bản”, cách tiếp cận xã hội học kinh tế đã xây dựng và phát triển một loạt khái niệm mới, trong đó có khái niệm: vốn con ngời”(dùng để chỉ học vấn, tay nghề, kỹ năng lao động), vốn xã hội (chỉ qui luật và tính chất
của sự tin cậy lẫn nhau, của các mối tơng quan trong xã hội, quan hệ xã hội,
mạng lới xã hội và sự hợp tác cùng có lợi) Vốn văn hoá (chỉ sự hiểu biết và
thái độ cũng nh ứng xử thắm đợm tinh thần và bản sắc dân tộc) Qua đó cóthể thấy đợc thực chất việc làm của ngời dãn khiêu vũ hiện nay chính là
hành động đã có tích lũy các loại vốn:”Vốn con ngời, Vốn xã hội” và ” Vốn văn hoá”khi bớc vào thị trờng lao động việc làm
5.2 Phương phỏp nghiờn cứu
5.2.1.Phương phỏp phõn tớch tài liệu
Đề tài này sử dụng cỏc nguồn thụng tin thu thập được qua cỏc sỏch,bỏo, tạp chớ, băng đĩa, cỏc thụng tin trờn mạng internet cú liờn quan đếnkhiờu vũ, việc làm của những người dẫn khiờu vũ
5.2.2- Phương phỏp trưng cầu ý kiến
Phiếu trưng cầu được xõy dựng trờn cơ sở của nội dung nghiờn cứubao gồm cỏc cõu hỏi liờn quan đến nội dung nghiờn cứu về nhận thức, về
Trang 10chọn việc làm ở họ và xu hướng tồn tại loại việc làm này trong thời giantới.
Đơn vị nghiên cứu là người lao động (người dẫn khiêu vũ) tại một sốCâu Lạc Bộ đóng trên dịa bàn Hà Nội như: Hà Nội Fastion Club, Câu Lạc
Bộ Thần Vệ Nữ, Câu Lạc Bộ số 1 Tăng Bạt Hổ, Câu Lạc Bộ Khiêu vũ thểthao Dance sport Phương Thi, Câu Lạc Bộ Chí Linh…
Trong nghiên cứu này, chúng tôi triển khai 166 mẫu Các thông tinthu được trong phiếu điều tra với cơ cấu mẫu như sau:
Trang 11Đây là một đề tài mới mẻ, chưa từng được nghiên cứu dưới góc độ xãhội học do vậy chúng tôi sử dụng phương pháp này ( thu thập thông tin địnhtính) nhằm tìm hiểu sâu hơn và khẳng định cho hệ thống thông tin thu đượcqua phương pháp trưng cầu ý kiến Các vấn đề không trực tiếp thu nhậnđược trong phiếu trưng cầu ý kiến được chúng tôi đưa vào nội dung của cácphỏng vấn sâu.
Phương pháp này còn mong muốn tìm kiếm những phát hiện mới vềcông việc của người dẫn khiêu vũ, những thông tin sâu sắc, tế nhị màphương pháp thu thập thông tin định lượng chưa làm được, chẳng hạn như
vấn đề “tiền bo” của khách hàng, những tệ nạn xã hội nảy sinh từ việc tham
gia làm nghề này của một số người
Đối tượng phỏng vấn sâu bao gồm:
- Những người làm nghề dẫn khiêu vũ theo các tiêu chí giới tính,quan hệ hôn nhân, tình trạng gia đình: 10 người
- Phỏng vấn cán bộ văn hoá phường: 04 người (đại diện cho 4phường có vũ trường, câu lạc bộ đóng trên địa bàn này)
- Phỏng vấn chủ các vũ trường, câu lạc bộ: 05
- Phỏng vấn công an phường: 04 người (đại diện cho 4 phường có vũtrường, câu lạc bộ đóng trên địa bàn này)
5.2.4 Phương pháp thảo luận nhóm tập trung
Chúng tôi tiến hành 2 cuộc thảo luận nhóm tập trung bán cấu trúcnhằm làm sáng rõ hơn các vấn đề quan tâm nghiên cứu, đó là:
Trang 12gia, thái độ của họ đối với khách nhảy, thái độ của họ đối với công việc,…
để từ đó có cái nhìn trực quan, sinh động về hiện tượng này nhằm tránhnhững nhận định chủ quan và một chiều, thiếu thực tế
6 GIẢ THUYẾT VÀ KHUNG LÝ THUYẾT
6.1 Giả thuyết nghiên cứu
- Nhận thức của những người dẫn khiêu vũ về khiêu vũ và vềnghề dẫn khiêu vũ còn hạn chế và chưa đầy đủ
- Quyền lợi của những người dẫn khiêu vũ trong một số Câu Lạc
Bộ bị vi phạm
- Nhu cầu của xã hội, kinh tế gia đình và sự đam mê của nhữngngười dẫn khiêu vũ là những nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới sựlựa chọn việc làm ở họ
- Nghề dẫn khiêu vũ sẽ phát triển mạnh và được công nhận nhưmột nghề chuyên nghiệp trong thời gian tới
6.2 Khung lý thuyết
Trang 147 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài được trình bày 115 trang
Bố cục của đề tài gồm: Phần mở đầu; Phần nội dung; Phần kết luận Phần mở đầu gồm: 14 trang
Phần nội dung chính gồm 2 chương
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề
Chương II: Việc làm của người dẫn khiêu vũ trên địa bàn Hà Nộihiện nay
Trang 15PHầN II: NỘI DUNG CHÍNHCHƯƠNG I: CƠ SỞ Lí LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIấN CỨU
Xã hội học về lao động, việc làm và nghề nghiệp là một lĩnh vực rấtphát triển ở nớc ngoài và cũng có không ít những nghiên cứu về nó vớinhững mô hình tổ chức xã hội nhằm hớng tới mục tiêu kết nối hai lĩnh vực:
việc làm và đào tạo Có thể kể ra các mô hình “việc làm căn cứ theo đào tạo”, lấy đào tạo làm nền tảng của Pháp, “đào tạo song song” trong doanh nghiệp và trên giảng đờng của Đức, hay mô hình đào tạo thông qua việc làm” của khối Anh, Mỹ Một báo cáo mới đây của Ngân hàng phát triển Châu á đã nhấn mạnh:” việc phát triển các hoạt động lao động có giá trị thặng d cao đòi hỏi phải tăng cờng tiềm năng công nghệ của các nguồn lao
động- cái mà khu vực Đông Nam á hiện nay đang cần chính là nguồn lao
động có khả năng thích ứng mềm dẻo cao và có trình độ chuyên môn cao”.
Theo báo cáo này thì cần phải có cả hai yếu tố đó, tức là: khả năng tích ứng(đặt trớc) và trình độ đào tạo (đặt sau) thì mới có thể cạnh tranh và thànhcông đợc
Ở Việt Nam trong những năm qua, đó cú nhiều đề tài nghiờn cứu vềviệc làm và giải quyết việc làm Cú thể nờu ra một số đề tài sau:
- TS Nguyễn Hữu Dũng: Giải quyết vấn đề lao động và việc làmtrong quỏ trỡnh đụ thị hoỏ cụng nghiệp hoỏ nụng nghiệp, nụng thụn - Tạp
Trang 16hiện đại hoá và đô thị hoá đồng thời đa ra những phương hướng và giảipháp cơ bản để giải quyết vấn đề lao động và việc làm nông thôn
- PGS TS Nguyễn Sinh Cúc: Giải quyết việc làm ở nông thôn vànhững vấn đề đặt ra, Tạp chí Con số và sự kiện- 2003- số 8 Trong bài viếttác giả đã đề cập những biến động của tính hình dân số ở nông thôn vànhững xu hướng mới tạo việc làm ở nông thôn: từ kinh tế trang trại, khôiphục và phát triển các làng nghề nông thôn, tạo việc làm mới từ phát triểncông nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản theo hớng sản xuất hàng hoá lớn,
từ các chơng trình dự án quốc gia và quốc tế
- TS Vũ Đình Thắng: Vấn đề việc làm cho lao động ở nông thôn,Tạp chí Kinh tế và Phát triển 2002 - số 3 Trong bài viết, tác giả đánh giátầm quan trọng và những kết quả đã đạt được về giải quyết việc làm đặcbiệt là ở khu vực nông thôn bằng cách phát triển các ngành phi nông nghiệpvới phương châm: ly nông bất ly hương
GS TS Phạm Đức Thành: Vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam Tạp chí Kinh tế và Phát triển 2002- số 64 Trong bài viết, tác giả đã đánhgiá hiện trạng việc làm và thất nghiệp trên cơ sở đó đề ra những quan điểm
-và biện pháp giải quyết việc làm cho người lao động
- TS Nguyễn Tiệp: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn:Các giải pháp tạo thêm việc làm, Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 309(6/2004) Trong bài viết, tác giả đề cập đến phát triển doanh nghiệp vừa vànhỏ ở nông thôn là phù hợp với yêu cầu của quá trình CNH,HĐH nôngnghiệp, nông thôn Là kết quả của phát triển lực lợng sản xuất và phân cônglại lao động ở nông thôn Đồng thời, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ởnông thôn còn chịu sức ép giải quyết việc làm, tăng mức cầu lao động trênđịa bàn nông thôn
Trang 17- TS Trương Văn Phúc: Thực trạng lao động việc làm qua kết quảđiều tra 1- 7- 2004, Tạp chí Lao động - xã hội, số 251 (16- 30/11/2004).Trong bài viết, tác giả đề cập đến tình trạng lao động và việc làm của lựcluợng lao động ở các tỉnh, thành phố cũng như ở những vùng kinh tế trọngđiểm Nó đánh giá một cách khái quát những kết quả đã đạt được về giảiquyết việc làm cho lực lượng lao động Trong đó, có đề cập đến lao độngngoại thành, một bộ phận quan trọng cấu thành lực lượng lao động chungcủa xã hội.
- Cuốn: “ Sự hình thành và phát triển thị trường lao động ở Việt Nam” Thạc sĩ Trần Trọng Kim đã hệ thống hoá về thị trường lao động nói
chung và sự phát triển thị trường Việt Nam nói riêng: những điều kiện hìnhthành, cung, cầu trên thị trường lao động, việc làm và thất nghiệp, đặc điểm
di chuyển lao động, sự tác động của chính phủ, vai trò của công đoàn trongthị trường lao động … trên cơ sở phân tích đặc điểm thị trường lao độngcủa nước ta hiện nay, tác giả tìm ra những căn cứ, đề ra những giải phápthích hợp nhằm phát triển, mở rộng thị trường lao động nói riêng và pháttriển kinh tế nước ta nói chung
Tác giả có viết: tốc độ đô thị hoá và khu vực công nghiệp ở nước tađang có xu hướng tăng lên, hiện nay khoảng gần 20% … ở các đô thị, sốngười tìm việc làm ngày càng tăng, từ những người “dôi ra” do sắp xếp lại
tổ chức sản xuất và lao động, từ những người thanh niên thôi học, bộ độixuất ngũ, những người nông thôn vào thành phố tìm kiếm việc làm sinhsống … nhưng nhu cầu thu hút lao động ở các thành phần kinh tế, các đơn
vị đặt hàng thuê mướn lao động của nước ngoài không đáp ứng hết nhu cầuviệc làm Thị trường lao động phát triển trong điều kiện xã hội ở một trình
độ nhất định Trong đó những người tham gia thị trường lao động cũng cần
Trang 18xuất càng cao thì yêu cầu về trình độ người lao động càng cao, nhất là trongđiều kiện của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện nay, xã hội sử dụngngày càng ít lao động giản đơn Nếu người lao động không có đủ trình độ
về tay nghề, kỹ năng … thì không thể tham gia thị trường lao động ở cáclĩnh vực đòi hỏi chất lượng lao động cao
- Thạc sĩ Trần Tuấn Anh trong cuốn “ Một số biện pháp giả quyết việc làm trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường hiện nay” trên
cơ sở xem xét đánh giá về thực trạng lao động, việc làm và các hình thứcgiải quyết lao động việc làm ở nước ta trong thời gian qua để vạch ra nhữngvấn đề cần khắc phục, từ đó đưa ra phương hướng chung và một số giảipháp thiết thực, có hiệu quả Trên cơ sở nhận thức mới về lý luận vàphương pháp luận cơ bản trong lĩnh vực việc làm, tác giả đã phân tíchnhững quan điểm mang tính chất chiến lược của đảng và nhà nước về vấn
đề lao động việc làm trong giai đoạn phát triển kinh tế nhiều thành phần vậnđộng theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả viết: Quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường cũng chothấy, nước ta còn thiếu một đội ngũ lao động có trình độ tổ chức sản xuấtkinh doanh giỏi, thiếu một đội ngũ lành nghề bậc cao trong một số ngành vàlĩnh vực kinh tế Lao động nông thôn nước ta có đặc trưng là trẻ nhưng đại
bộ phận là lao động giản đơn, không được đào tạo, điều kiện tiếp cận vớicông nghệ thông tin và thị trường hạn chế Tóm lại, nước ta có nguồn laođộng rất dồi dào, tốc độ phát triển nguồn lao động ở nước ta ở mức độ cao,lại phân bố không đồng đều phần lớn tập trung ở nông thôn, chất lượngnguồn lao động rất thấp, đặc biệt chưa qua đào tạo, lại đang trong quá trìnhchuyển đổi nền kinh tế dẫn đến tình trạng khó khăn rất lớn về việc làm vàtạo ra cơ cấu lao động hợp lý, đáp ứng yêu cầu của sự thay đổi cấu trúc nềnkinh tế, tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế - xã hội
Trang 19Lao động nụng thụn đang cú xu hướng tăng lờn, bị lốn chặt trongđơn vị diện tớch đất canh tỏc cú xu hướng giảm dần … Cựng với quỏ trỡnhtăng năng suất lao động nụng thụn, quỏ trỡnh đụ thị hoỏ đang diễn ra khỏmạnh mẽ, làm mất đất, nghề nghiệp mất dần, nhất là ở những vựng nụngnghiệp nụng thụn ven đụ thị lớn, thị xó, thị trấn … Cơ cấu lao động nụngthụn đang diễn ra rất chậm chạm Việc làm của lao động nụng thụn hiệnnay rất kộm hiệu quả, năng suất lao động thấp, thu nhập thấp, đời sống connhiều khú khăn … Nguyờn nhõn chủ yếu của nghốo đúi là do thiếu đất vàlàm thuần nụng, lại thiếu vốn, khụng biết làm ăn việc làm thiếu và hiệu quảrất thấp Như vậy việc làm ở nụng thụn đang rơi vào tỡnh trạng nguy cấp,với trỡnh độ kiến thức của người lao động thấp, đất canh tỏc ngày càng bịthu hẹp, đồng thời đú là quỏ trỡnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nụngnghiệp diễn ra chậm chạp và khụng đồng bộ sẽ gõy ra một sức ộp mạnh vềviệc làm trong thời gian tới.
Những nghiên cứu trên tuy đã khái quát một bức tranh chung về việclàm của những cá nhân trong xã hội, những nghề nghiệp với muôn vàn trăntrở trong cuộc sống mà họ phải đối diện cùng với những thái độ khen chêkhác nhau của các tác giả, song vẫn chưa cú cụng trỡnh nào nghiờn cứu vềcụng việc dẫn khiờu vũ trờn cỏc Vũ trường, Cõu Lạc Bộ ở Việt Nam núichung, trờn địa bàn Hà nội núi riờng dưới gúc độ xó hội học Đây chính là
hớng gợi mở trong tôi hớng nghiên cứu đề tài: “Việc làm của ngời dẫn
khiêu vũ trên địa bàn Hà Nội hiện nay”.
2 CƠ SỞ Lí LUẬN
2.1 Hệ thống lý thuyết
2.1.1 Lý thuyết biến đổi xã hội
Lý thuyết biến đổi xã hội chỉ ra rằng, mọi xã hội cũng nh tự nhiênkhông ngừng biến đổi Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định tơng đối Còn
Trang 20hội nào và bất cứ nền văn hoá nào, cũng luôn biến đổi Và sự biến đổi trongxã hội hiện đại ngày càng rõ hơn Con ngời xã hội là đơn vị cơ bản của xãhội, với t cách là chủ thể hoạt động xã hội, nó luôn biến đổi từ khi mới sinh
ra cho tới lúc mất đi Con ngời sinh học ra đời, trởng thành và chết đi, kếtiếp là những lớp ngời mới Tuy nhiên, những lớp ngời mới vẫn tồn tại trongnền văn hoá truyền thống đợc xã hội giữ lại Những mô hình hành vi với tcách là đơn vị của nền văn hoá cũng biến đổi theo thời gian và theo những
điều kiện xã hội Sự biến đổi mô hình hành vi là kết quả thay đổi của các hệgiá trị, chuẩn mực Nền văn hoá xã hội luôn luôn tồn tại Nó không hề mất
đi mà chỉ biến đổi từ hình thức này sang hình thức khác
Có nhiều quan niệm khác nhau về sự biến đổi xã hội
Theo Fichter “Biến đổi xó hội là một sự thay đổi so sỏnh với một tỡnh trạng xó hội hoặc một nếp sống cú trước” Núi cỏch khỏc, đú là một quỏ
trỡnh qua đú những khuụn mẫu của hành vi xó hội, cỏc quan hệ xó hội, cỏcthiết chế xó hội và cỏc hệ thống phõn tầng xó hội được thay đổi qua thờigian
Theo A.Comte “Biến đổi xó hội là chắn chắn sẽ xảy ra, nú theo một con đường phỏt triển, những tiến bộ tất nhiờn hướng tới một xó hội tốt đẹp hơn”.
Theo Fichter “Biến đổi xó hội là một sự thay đổi so sỏnh với một tỡnh trạng xó hội hoặc một nếp sống cú trước” Núi cỏch khỏc, đú là một quỏ
trỡnh qua đú những khuụn mẫu của hành vi xó hội, cỏc quan hệ xó hội, cỏcthiết chế xó hội và cỏc hệ thống phõn tầng xó hội được thay đổi qua thờigian
Theo A.Comte “Biến đổi xó hội là chắn chắn sẽ xảy ra, nú theo một con đường phỏt triển, những tiến bộ tất nhiờn hướng tới một xó hội tốt đẹp hơn”.
Một cách hiểu rộng nhất: là sự thay đổi về thực trạng hoặc một nếp
sống xã hội so với thời điểm trớc đó Các nhà XHH định nghĩa " Biến đổi xã hội là một quá trình, qua đó, những khuôn mẫu của hành vi xã hội, các
Trang 21quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội thay
đổi qua thời gian " [6, tr 276]
Biến đổi xó hội là một hiện tượng phổ biến nhng nú diễn ra khụnggiống nhau giữa cỏc xó hội G.J Lenski cho rằng: tốc độ của sự biến đổi giatăng khi nền kỹ thuật của một xó hội phỏt triển Do đú, biến đổi xó hội ở cỏcnước cú nền kho học kỹ thuật phỏt triển cao sẽ diễn ra nhanh hơn những xóhội cú nền khoa học kỹ thuật kộm phỏt triển Hơn nữa khụng phải mọi yếu
tố văn hoỏ đều biểu hiện những nhịp độ thay đổi nh nhau, mà cú sự "lệchpha" trong sự thay đổi Đõy là quỏ trỡnh cỏc hiện tượng văn hoỏ vật chấtthường cú sự thay đổi nhanh hơn cỏc hiện tượng văn hoỏ tinh thần
Nhỡn chung, cú thể miờu tả biến đổi xó hội bằng cỏc đặc trưng cụ thểsau:
Biến đổi xó hội là hiện tượng phổ biến nhưng nú khụng diễn ra giốngnhau giữa cỏc xó hội
Biến đổi xó hội khỏc biệt về thời gian và hậu quả
Biến đổi xó hội vừa cú tớnh kế hoạch vừa cú tớnh phi kế hoạch
Vận dụng lý thuyết biến đổi xó hội trong việc phõn tớch sự tham giacủa người dẫn khiờu vũ vào hoạt động khiờu vũ hiện nay Sau thời kỳ đấtnước mở cửa, kinh tế hàng hoỏ đẩy mạnh nõng cao mức sống của conngười Quỏ trỡnh hội nhập giỳp con người tiếp cận với những cụng nghệtiờn tiến và giao lưu, hoà nhập với nền văn hoỏ của nhiều nước trờn thế giới,
Sự biến đổi xó hội trước hết biểu hiện ở sự phỏt triển kinh tế, mức sống củangười dõn trong xó hội ngày càng được cải thiện và nõng cao Trong bốicảnh đú, sự biến đổi xó hội mang lại những nhu cầu mới tronghoạt độnggiải trớ của con người trong xó hội núi chung, đặc biệt đối với người dẫnkhiờu vũ núi riờng
Trang 22Sự giao lưu văn hoá đem lại cho con người những nhận thức mới vàquan điểm mới về hoạt động và nhu cầu giải trí Nếu như trong thời kỳ kinh
tế khó khăn, khiêu vũ được đánh giá là một hoạt động ăn chơi xa xỉ và vô
bổ, không thích hợp với giai cấp lao động thì giờ đây, nhiều lợi ích của xãhội được khai thác mà xã hội nhìn nhận Hoạt động khiêu vũ không nhữngđược coi là loại hình giải trí giành cho mọi lứa tuổi, giai cấp, một hoạt độngthể thao nâng cao sức khoẻ mà còn là một phương thức giao tiếp trong xãhội hiện đại Có được những nhận thức tích cực trên về hoạt động khiêu vũ ,ngày càng có nhiều người trong xã hội tham gia vào hoạt động khiêu vũ,đặc biệt là tầng lớp trung niên lứa tuổi có nhu cầu tập luyện sức khoả đềuđặn và thường xuyên nhất
Như vậy sự biến đổi xã hội đã làm xuất hiện những nhu cầu mới củacon người trong hoạt động vui chơi, giải trí và quan hệ xã hội, và nhu cầunày ngày càng có xu hướng gia tăng, thể hiện trong sự tham gia ngày càngđông của nhứng người khiêu vũ
2.1.2 Lý thuyết tương tác xã hội
Tương tác xã hội được coi là một quá trình hành động và hành độngđáp lại của một hành động chủ thể này với một chủ thể khác Các nhà xãhội học thường nghiên cứu ở cấp độ vĩ mô và vi mô Nghiên cứu về cấp độ
vi mô là nghiên cứu ở cấp độ tương tác nhỏ nhất, còn nghiên cứu ở cấp độ
vĩ mô là nghiên cứu tương tác của các cơ cấu xã hội, hệ thống xã hội haygiữa các thiết chế xã hội như tôn giáo, nhà trường…
Như vậy ta cần hiểu tương tác xã hội theo nghĩa rộng: Tương táckhông phải là hành động và phản ứng Đó chính là hình thức thông tin vàgiao tiếp của ít nhất hai chủ thể hành động Trong quá trình này sự tác độngqua lại của các chủ thể sẽ được thực hiện, đồng thời diễn ra sự thích ứng
Trang 23của một hành động và một hành động khác Qua đó họ đạt được sự hiểu biếtnhau vè tình huống, về ý nghĩa của hành động.
Cả hai chủ thể của hành động trong tương tác đều chịu ảnh hưởngcủa các giá trị chuẩn mực xã hội, nhng đồng thời các chủ thể này thờng chịuảnh hưởng các các tiểu văn hoá, thậm chí phản văn hoá khác nhau
Mức độ khác biệt giữa hệ giá trị, một trong những đặc thù của cácchủ thể hành động trong tương tác xã hội là yếu tố cơ bản quyết định mức
độ chích giữa họ
Khi tham gia vào hoạt động khiêu vũ, những người tham gia cónhững tương tác xã hội nhất định Bản thân bộ môn khiêu vũ có những đặcthù về giao tiếp, những vũ điệu và sự đòi hỏi kết hợp hài hoà, nghệ thuật đốivới hai người nam và nữ tham gia Vậy hoạt động khiêu vũ là điều kiện,môi trường cho các tương tác giữa hai chủ thể tham gia khiêu vũ Điều này
lý giải tại sao những người khiêu vũ đẹp thường được nhiều người mờikhiêu vũ cùng hay những mối quan hệ xã hội dễ nảy sinh giữa những người
có cùng niềm đam mê khiêu vũ
2.1.3 Lý thuyết quan hệ xã hội
Mọi sự vật và hiện tượng trong xã hội đều có những mối liên hệ vớinhau Nhưng không phải mối liên hệ nào cũng là quan hệ xã hội
Quan hệ xã hội này được hình thành từ tương tác xã hội Nhữngtương tác này không phải là ngẫu nhiên, mà thường có mục đích, có hoạchđịnh Những tương tác này phải có xu hướng lặp lại, ổn định và tạo lập ramột mô hình tương tác Nói cách khác, các chủ thể hành động các chủ thểhành động trong mô hình tương tác này phải đạt được một mức độ tự độnghoá nhất định nào đố Tức là họ thực hiện gần như không có ý thức, như
Trang 24không nhận ra nhau, hoặc không tiếp tục chào hỏi, trao đổi, trò chuyện…thìgiữ họ chưa thể coi là mối quan hệ xã hội
Ngược lại, nếu như ở những lần gặp sau các cá nhân này lại tiếp tục
sự giao tiếp và phối hợp hành động, thì giữ họ có thể coi là có mối quan hệ
xã hội
Nói tóm lại, quan hệ xã hội là quan hệ bền vững, ổn định của các chủthể hành động Các quan hệ này được hình thành trên những tương tác xãhội ổn định, lặp lại vv.Các tương tác này còn có thể mang những đặc trưngkhác nữa, và qua đó tạo ra các loại quan hệ xã hội khác nhau (6,157-158)
- Chủ thể quan hệ xã hội: Xét ở cấp độ vĩ mô, chủ thể quan hệ xã hội
là các nhóm, các tập đoàn hay toàn bộ xã hội Các nhóm tập đoàn lớn nàythường chiếm giữ các vị trí khác nhau trong xã hội Do đó họ cũng cónhững quyền lực, cơ hội, thu nhập hoặc lối sống khác nhau Những vị trí xãhội khác nhau, thu nhập khác nhau, lối sống khác nhau của các nhóm xã hộinhiều khi lại là tiền tố tạo ra các tương tác xã hội giữa các nhóm Trên cơ sở
đó hình thành những quan hệ xã hội giữa chúng
Cùng ở cấp độ vĩ mô, quan hệ xã hội còn được thể hiện dưới dạngquan hệ giữa các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Thông thường cácnhà khoa học hay đề cập đến bốn lĩnh vực nghiên cứu quan trọng của đờisống xã hội là: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Bốn lĩnh vực này có quan
hệ chặt chẽ, thậm chí quy định lẫn nhau Đặc điểm, tính chất của kinh tếtrong xã hội có ý nghĩa quyết định đến chính trị, văn hoá, xã hội Mặt khác,người ta cũng ghi nhận sự tác động ngược lại Trong số các loại tác độngquan hệ xã hội, quan hệ sản xuất đóng vai trò vị trí đặc biệt quan trọng
Quan hệ xã hội không chỉ được thể hiện ở cấp độ vĩ mô mà còn ở cấp
độ vi mô Tức là cấp độ chủ thể hành động là cá nhân xã hội Các nhà xãhội học phương Tây gần như đồng nhất quan hệ xã hội với quan hệ giữa các
Trang 25cá nhân Thực tế quan hệ xã hội của các cá nhân chỉ tạo thành một bộ phận(mặc dù khá quan trọng) của toàn bộ các quan hệ xã hội mà thôi Tuy nhiên,khi nghiên cứu quan hệ giữa các cá nhân, một vấn đề thường đặt ra là: phảichăng mọi quan hệ giữa con người với con người đều là quan hệ xã hội, haychỉ có một bộ phận trong số này ?
Chúng ta có thể khẳng định rằng mọi quan hệ giữa các cá nhân đãđược thiết lập nhờ những tương tác xã hội có tính chuẩn mực, ổn định, đều
là những quan hệ xã hội Tuy vậy, những quan hệ xã hội này lại khác biệtnhau rất nhiều nếu xét theo nội dung hoặc tính xã hội của từng loại quan hệ.Nói cách khác có những quan hệ mang nhiều tính xã hội trong khi có nhữngloại quan hệ mang ít tính xã hội hơn Những phân tính dưới đây sẽ chochúng ta thấy rõ hơn về mức độ khác biệt trong tính xã hội của quan hệ tìnhcảm và quan hệ xã hội
Vận dụng vào đề tài nghiên cứu, chúng tôi tìm hiểu quan hệ xã hộicủa những người dẫn khiêu vũ dưới chiếu cạnh: quan hệ xã hội giữa nhữngngười dẫn khiêu vũ với những người tham gia (khách hàng), bởi chính sựgiao tiếp trong quá trình nhảy hoặc nghỉ giải lao giữa họ có một mối quan
xã hội, đôi khi nảy sinh quan hệ tình cảm
2.1.4 Lý thuyết hành động xã hội
Hành động xã hội, xét trên phương diện triết học thì chính là mộthình thức giải quyết các mâu thuẫn, vấn đề xã hội Hành động xã hội đượctạo ra bởi phong trào xã hội, các tổ chức, các đảng phái chính trị… Trong
xã hội học, hành động xã hội được hiểu cụ thể hơn và thường gắn với cácchủ thể hành động là các cá nhân Lịch sử xã hội học đã ghi nhận rất nhiềucác quan điểm khác nhau của các nhà xã hội học về hành động xã hội
Trang 26trong” của chủ thể như là nguyên nhân của hành động Và cái “ý nghĩa chủ quan” chính là ý thức, là những hoạt động có ý thức, chủ thể hiểu được
mình thể hiện hành động gì và sẽ thực hịên nó như thế nào khác hẳn vớinhững bản năng sinh học Hành động xã hội được Weber tổng quát địnhnghĩa là hành động được chủ thể gắn cho nó một ý nghĩa chủ quan nào đó
có tích đến hành vi của người khác và vì vậy có định hướng tới người kháctrong đường lối, quá trình của nó
Weber phân loại hành động xã hội thành bốn loại như sau:
Thứ nhất, hành động duy lý – công cụ là hành động được thực hiệnvới sự cân nhắc, tính toán, lựa chọn công cụ, phương tiện, mục đíchsao cho có hiệu quả cao nhất Ví dụ rõ nhất là hành động kinh tế
Thứ hai, hành động duy lý giá trị là hành động được thực hiện vì bảnthân hành động (mục đích tự thân) Thực chất loại hành động này cóthể nhằm vào mục đích phi lý nhưng lại được thực hiện bằng nhữngcông cụ, phương tiện duy lý như hành vi tín ngưỡng…
Thứ ba, hành động duy cảm (xúc cảm) là hành động do các trạng tháixúc cảm hoặc tình cảm bột phát gây ra mà không có sự cân nhắc,xem xét, phân tích mối quan hệ giữa công cụ, phương tiện và mụcđích hành động như hành động của đám đông quá khích, hành động
do tức giận gây ra…
Thứ tư, hành động duy lý - truyền thống là loại hành động tuân thủtheo những thói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán đã được truyền lại
từ đời này qua đời khác
Theo T Parson: Hành động xã hội là một hành động bị điều chỉnhbởi hệ thống biểu tượng mà cá nhân dùng trong tương tác hàng ngày
Theo V Pareto: Trong mỗi chủ thể hành động đều có cả hành độnglogic và hành động phi logic Hành động logic là loại hành động trong đó
Trang 27kết quả khách quan của hành động phù hợp với mục đích chủ quan Cònhành động phi logic là hành động bị chi phối bởi một hành động khác, làkết quả của trạng thái tình cảm của cái phi lý về mặt tâm lý.
Vận dụng lý thuyết vào trong nghiên cứu này, chúng tôi tìm hiểu lý
do gì khiến các cá nhân lựa chọn nghề dẫn khiêu vũ khi chính bản thânnghề này chưa được nhà nước công nhận là một nghề chuyên nghiệp? …
2.1.5 Lý thuyết cơ cấu chức năng
Thuyết cơ cấu chức năng xem xét hệ thống xã hội như một cơ chế tựcân bằng và các tiểu hệ thống luôn có một chức năng xác định trong xã hội.Các địa vị xã hội luôn được phân chia phù hợp với năng lực của từng cánhân Theo quan điểm của lý thuyết này thì các đặc điểm về gia đình, giớitính, trình độ học vấn và những cơ may xã hội luôn có tác động tới côngviệc của từng cá nhân Do đó, xã hội luôn cần thiết có sự di động liên tụcnhằm cơ cấu lại vị trí công việc trong xã hội
Lý thuyết chức năng cấu trúc là một nội dung quan trọng trongnghiên cứu của nhà xã hội học Mỹ, Talcott Parsons Trong lý thuyết nàyông đưa ra bốn yêu cầu bắt buộc đối với mọi hệ thống “hành động” vớilược đồ AGIL nổi tiếng của ông AIGL: một chức năng là “một phức hợpcác hoạt động trực tiếp hướng tới sự gặp gỡ một nhu cầu hay những nhu cầucủa hệ thống” Dùng nghĩa này Parsons tin rằng có bốn yêu cầu tất yếu đốivới đặc điểm của mọi hệ thống - sự thích nghi (A), sự đạt được mục tiêu(G), sự hòa hợp (I), và sự tiềm tàng (L) hoặc là sự duy trì khuôn mẫu
Theo quan điểm của các tác giả trương phái này thì các công việcnặng nhọc và thu nhập thấp thường được đảm nhiệm bởi những người xuấtthân trong điều kiện kém cỏi và không có trình độ, họ thường đảm nhận
Trang 28Nghiờn cứu cần chỉ ra một cấu trỳc bao gồm 2 yếu tố ( thành phần):Ban lónh đạo Cõu Lạc bộ hay vũ trường và người lao động ( người dẫnkhiờu vũ) Dựa vào vị trớ của từng yếu tố trong cấu trỳc này mà mỗi yếu tố
cú những chức năng cụ thể Nhiờn cứu cần xỏc định rừ trỏch nhiệm của Banlónh đạo Cõu Lạc bộ hay vũ trường trong việc đảm bảo quyền lợi của ngườilao động (những người dẫn khiờu vũ), xỏc định trỏch nhiệm của nhữngngười dẫn khiờu vũ là thực hiện đầy đủ cỏc quy chờ lao động và cam kếtvới Ban lónh đạo Cõu Lạc bộ hay vũ trường Ở đõy, khỏi niệm cấu trỳcnhấn mạnh cỏc yếu tố tạo thành khuụn mẫu định hỡnh hệ thống một cỏchtương đối ổn định và mụi trường phỏp lý là luật lao đọng sẽ là cơ sở cho cấutrỳc trờn tồn tại và thực hiện cỏc chức năng của mỡnh Điều đú cú nghĩa cỏcluật định là khuon mẫu để Ban lónh đạo Cõu Lạc bộ hay vũ trường vànhững người dẫn khiờu vũ thực hiện trỏch nhiệm của mỡnh Trong trườnghợp quyền lợi của những người dẫn khiờu vũ khong đảm bảo thỡcú nghĩa là
đó cú những hành vi vi phạm luật định
2.1.6 Lý thuyết về vị trí - vai trò xã hội
Mỗi xã hội có cơ cấu phức tạp bao gồm các vị trí, vai trò xã hội khácnhau Lý thuyết về vị trí- vai trò xã hội cho rằng mỗi một cá nhân có một vịtrí xã hội là vị trí tơng đối trong cơ cấu xã hội, hệ thống quan hệ xã hội Nó
đợc xác định trong sự đối chiếu so sánh với các vị trí xã hội khác Vị thế xãhội là vị trí xã hội gắn với những trách nhiệm và những quyền hạn kèm
theo Vị thế chính “ là bất kỳ vị trí ổn định nào trong một hệ thống xã hội với những kỳ vọng quyền hạn và nghĩa vụ đặc thù ”[6, Tr 208] Các quyền
và nghĩa vụ này thờng tơng ứng với nhau Phạm vi quyền và nghĩa vụ hoàntoàn phụ thuộc và quan điểm của các xã hội, của các nền văn hoá, thậm chícủa các nhóm xã hội nhỏ Nhng khi xem xét vị trí với những quyền và nghĩa
vụ kèm theo, tức là xem xét vị thế xã hội của cá nhân, chúng ta sẽ thấy sựkhác biệt trong thứ bậc xã hội và thay đổi theo từng xã hội, từng khu vực Mỗi cá nhân có nhiều vị trí xã hội khác nhau, do đó cũng có nhiều vị thếkhác nhau Những vị thế xã hội của cá nhân có thể là: Vị thế đơn lẻ, vị thế
Trang 29tổng quát hoặc có thể chia theo cách khác là: vị thế có sẵn- đợc gán cho, vịthế đạt đợc, một số vị thế vừa mang tính có sẵn, vừa mang tính đạt đợc Vai trò xã hội của cá nhân đợc xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tơngứng Nó chính là mặt động của vị thế xã hội, vì luôn biến đổi trong các xãhội khác nhau, qua các nhóm xã hội khác nhau Tơng ứng với từng vị thế sẽ
có một mô hình hành vi đợc xã hội mong đợi Mô hình hành vị này chính là
vai trò tơng ứng của vị thế xã hội Các nhà xã hội học cho rằng:” hành vi con ngời thay đổi khác nhau tuỳ theo bối cảnh và gắn liền với vị trí xã hội của ngời hành động”, rằng:” hành vi phần nào đợc tạo ra bởi những mong
đợi của ngời hành động và những ngời khác” Nh vậy, vai trò xã hội:” là sự tập hợp những hành vi, thái độ, quyền lợi và sự bắt buộc mà xã hội mong
đợi đối với một vị thế xã hội nhất định và sự thực hiện của cá nhân có vị thế
đó”[6, Tr 209]
Vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội Những
đòi hỏi đợc xác định căn cứ vào các chuẩn mực xã hội Trong các xã hộikhác nhau thì các chuẩn mực này cũng khác nhau Vì vậy, cùng một vị thếxã hội, nhng trong các xã hội khác nhau thì mô hình hành vi đợc xã hộitrông đợi cũng khác nhau và các vai trò xã hội cũng khác nhau
Theo thuyết này khi xem xét việc làm của ngời dẫn khiêu vũ qua lăngkính vị thế và vai trò xã hội cho phép mở ra cơ chế cụ thể những liên hệ qualại và tơng tác của nó với những yếu tố cơ cấu xã hội khác và với xã hội nóichung Trong nghiên cứu này, chúng tôi vận dụng lý thuyết vai trò làm cơ sởphơng pháp luận để tìm hiểu mối quan hệ giữa các vị trí và vai trò xã hộicủa Ban lónh đạo Cõu Lạc bộ hay vũ trường và người dẫn khiờu vũ trờn cơ
sở chỉ rừ mối quan hệ chặt chẽ giữa quyền và trỏch nhiệm cũng như mongđợi xó hội giữa cỏc vị trớ này trong Cõu Lạc bộ hay vũ trường
2.2 Khỏi niệm cụng cụ
2.2.1.Khỏi niệm việc làm
Theo từ điển Tiếng Việt: “Việc làm là cụng việc dược giao cho làm
và được trả cụng” (16)
Trang 30Tại điều 13, chương II quy định về việc làm trong Bộ luật Lao động
của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam nêu rõ: "Mọi hoạt động lao động tạo
ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm".(12)
Từ khái niệm được cụ thể hoá thành ba dạng hoạt động sau:
* Làm các công việc để người lao động được nhân tiền công, tiềnlương bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật từ người sử dụng lao động
* Làm các công việc để tự đem lại thu nhập cho bản thân thông quacác hoạt động kinh tế mà bản thân người lao động làm chủ
* Làm công việc đem lại thu nhập cho hộ gia đình mà bản thân ngườithực hiện công việc đó là thành viên của hộ gia đình, do gia đình quản lý
Như vậy, một hoạt động được xem xét có phải là việc làm hay khôngphải là việc làm chủ yếu dựa trên tính hợp pháp của hoạt động đó
Từ khái niệm trên một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãnhai điều kiện:
Thứ nhất, hoạt động đó phải có ích và đem lại thu nhập cho người laođộng và cho các thành viên trong gia đình
Thứ hai, đó là các hoạt động không bị pháp luật ngăn cấm Điều nàychỉ rõ tính pháp lý của việc làm Mọi người lao động, có quyền tự tìm kiếmcho mình những công việc phù hợp với khả năng hoặc cũng có thể tạo việclàm cho người khác, trong khuôn khổ pháp luật Như vậy, quan niệm vềviệc làm khác hẳn so với trước đây Trước đây, chúng ta chỉ coi nhữngngười làm trong biên chế nhà nước mới là có việc làm
Hai điều kiện này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần
và đủ cho một hoạt động được thừa nhận là việc làm Còn tất cả những hoạtđộng khác, có tạo ra thu nhập nhng không được thừa nhận về mặt pháp lýthì không thể được gọi là việc làm Ngược lại, có những hoạt động có ích
Trang 31dự là hợp phỏp nhưng khụng đem lại thu nhập cũng khụng được thừa nhận
là việc làm
- Khỏi niệm Quốc tế (tại hội nghị Quốc tế lần thứ 13 – ILO): “ Người cú việc làm là người làm một việc gỡ đú cú được trả cụng, lợi nhuận hoặc được thanh toỏn bằng hiện vật hay những người tham gia vào cỏc hoạt động mang tớnh chất tự tạo việc làm vỡ lợi ớch hoặc vỡ thu nhập giai đoạn khụng nhận tiền cụng hoặc hiện vật”.
Theo giỏo trỡnh Kinh tế lao động của trờng ĐHKTQD do Phạm ĐứcThành và Mai Quốc Chỏnh chủ biờn thỡ quan niệm việc làm là phạm trự đểchỉ trạng thỏi phự hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn,
tư liệu sản xuất,cụng nghệ ) để sử dụng sức lao động đú (3)
- Theo thông t hớng dẫn và điều tra ngời cha có việc làm của Liên bộ lao
động Tổng cục thống kê năm 1996: Việc làm là những dạng lao động cóích, không bị pháp luật ngăn cấm, nhằm đem lại thu nhập cho gia đình
- Theo điều 13 của Bộ luật lao động năm 1994: Mọi hoạt động lao động tạo
ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật ngăn cấm đều đợc thừa nhận làviệc làm
- Nh vậy, việc làm là mọi hoạt động tạo ra thu nhập không bị pháp luậtngăn cấm Các hoạt động lao động đợc xác định là việc làm bao gồm:các công việc đợc trả công dới dạng bằng tiền, bằng hiện vật hoặc bằngnhững công việc làm để thu lợi nhuận cho bản thân, hoặc tạo thu nhậpcho gia đình mình nhng không đợc trả công bằng tiền hoặc hiện vật
2.2.2 Khỏi niệm nghề nghiệp
Theo từ điển Tiếng Việt: “Nghề nghiệp là cụng việc chuyờn làm theo
sự phõn cụng lao động của xó hội”(1)
2.2.3 Khỏi niệm người quản lý
Trang 32Theo từ điển Tiếng Việt: Người quản lý là người lãnh đạo một đơn vị sản xuất, kinh doanh hoặc đứng đầu một phòng, ban nghiệp vụ hay một chi nhành của một công ty (1)
Người quản lý còn gọi là người sử dụng lao động, là người phải chịu
trách nhiệm hoàn toàn về sự tồn vong của doanh nghiệp trong thời gianquản lý Trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp ngoài quốc doanh, vốn củadoanh nghiệp là do chủ doanh nghiệp là tư nhân hay các nhà đầu tư nướcngoài thành lập hay hợp tác trong nước góp vốn kinh doanh và phải chịutrách nhiệm về các khoản nợ của công ty cũng như đối với việc tăng trưởnghay suy vong của doanh nghiệp
Người quản lý là người thành lập doanh nghiệp, đầu tư vốn và quản
lý doanh nghiệp với tư cách là chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệmtrước pháp luật về mọi hoạt động kinh doanh của mình
2.2.4 Khái niệm người dẫn khiêu vũ
Người dẫn khiêu vũ là người lao động
Theo qui dịnh của Bộ Luật lao động, người lao động là người ít nhất
có đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động.Người lao động sử dụng sức lao động của mình để tạo ra những giá trị vậtchất hay tinh thần trên cơ sở thỏa thuận ( bằng miệng hay bằng văn bản) vớingười sử dụng lao động và ngược lại, người lao động sẽ nhận được mộtkhoản tiền nhất định từ công việc đó do người quản lý (người sử dụng laođộng) trả lương
Như vậy, người dẫn khiêu vũ là người sử dụng sức lao động củamình để tạo ra giá trị tinh thần, là người phải có kỹ năng, có sự hiểu biết cácbước nhảy và kinh nghiệm truyền kỹ thuật khiêu vũ cho người theo vớichuyển động chính xác và tín hiệu của người dẫn thông qua các kết nối
Trang 33Người dẫn khiêu vũ là người giữ vị trí quan trọng trong cặp nhảy trênsàn Người dẫn khiêu vũ không nhất thiết phải là nam và người theo không
nhất thiết là nữ Tuy nhiên trong khiêu vũ, kỹ thuật “dẫn – theo” đối với các
cặp nhảy là một trong những kỹ năng quan trọng nhằm giúp họ thực hiệntốt những bước nhảy của mình một cách chuẩn xác nhất
2.2.5 Khái niệm hợp đồng lao động
Theo qui dịnh của Bộ Luật lao động, hợp đồng lao động là sự thỏathuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trảcông, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ laođộng Có 3 loại hợp đồng lao động được Bộ Luật lao động qui định đó là:
Hợp đồng lao động không xác định thời hạn Đây là loại hợp đồng
mà người sử dụng lao động và người lao động không xác định thờihạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng
Hợp đồng lao động xác định thời hạn Là loại hợp đồng lao đọng cóthời hạn từ đủ từ 12 tháng đến 36 tháng
Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định
có thời hạn dưới 12 tháng
2.2.6 Khái niệm điều kiện làm việc
Đièu kiện làm việc tại nơi l;àm việc là tập hợp các yếu tố của môitrường ( yếu tố tâm lý, thẩm mỹ…) có tác động lên trạng thái, chức năngcủa cơ thể con người, khả năng làm việc, thái độ lao động, sức khỏe quátrình tái sản xuất lao động và hiệu quả lao động của họ trong hiện tại cũngnhư về lâu dài
Trang 34Dựa trên ảnh hưởng của các yếu tố điều kiện làm việc dến người laođọng và nguồn gốc hình thành chúng, có thể chia nội dung điều kiện làmviệc thành những nhóm sau:
Nhóm yếu tố vệ sinh môi trường bao gồm các yếu tố vật lý,hóa học và sinh học Nó được tạo nên chủ yếu dưới tác động củacông cụ lao động, đối tượng lao động và quy trình công nghệ
Nhóm các yếu tố tâm lý được hình thành trong quá trình laođộng bao gồm các yếu tố về bầu khồng khí trong tập thể lao động, thểlực, thần kinh…
Nhóm các yếu tố thẩm mỹ phản ánh xúc cảm và hứng thú làmviệc của người lao động Đó là kiến trúc không gian nơi làm việc, cácmầu sắc, âm thanh và sự hài hòa của máy móc thiết bị, bầu khong khítâm lý tập thể lao động, tâm lý nghề nghiệp
2.2.7 Khái niệm khiêu vũ
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Khiêu vũ là một loạt các động tác thực hiện theo nhạc, có sự tham gia của người nam và người nữ" ( 1 )
Theo từ điển Oxford : “Khiêu vũ được coi là một hoạt động giải trí mang tính nghệ thuật, trong đó các động tác được trình diễn theo một bản nhạc và tiết tấu đặc thù” (8)
3 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ VẤN ĐỀ VI ỆC LÀM
Xuất phát từ những vấn đề đạt được trong 5 năm vừa qua và bối cảnhtình hình giai đoạn 2006-2010, Đảng và Nhà nước ta xác định vấn đề laođộng việc làm vẫn là một vấn đề bức xúc và đã xác định rõ các chỉ tiêutrong 5 năm 2006 dến 2010: "tạo việc làm cho trên 8 triệu lao động, tỷ lệ
Trang 35thất nghiệp ở đô thị dới 5%; lao động nông nghiệp chiếm dới 50% lao động
xã hội"
Một là, xây dựng và hoàn chỉnh khung pháp lý, hệ thống các văn bản
quy phạm pháp luật theo hớng tiếp cận các công ước, thông lệ quốc tế tạođiều kiện thuận lợi cho công tác hội nhập nhằm ổn định môi trường kinh tế
vĩ mô, ban hành các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển thươngmại, xuất khẩu; hoàn thiện thể chế thị trường lao động, tạo khung pháp lýphù hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường lao động hoạt động thôngsuốt, không bị giới hạn về không gian và địa lý; đảm bảo bình đẳng giữangười sử dụng lao động và lao động; luật hoá các chính sách bảo hiểm thấtnghiệp, dạy nghề, tiền lương, xuất khẩu lao động;
Hai là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực lao
động việc làm, trước hết là tăng cường phân cấp, nâng cao trách nhiệm củachính quyền địa phương trong quản lý Nhà nước về lao động, thực hiện dânchủ, công khai, minh bạch, đơn giản các thủ tục hành chính trong cấp phépcho người lao động nước ngoài, cho dịch vụ cung ứng xuất khẩu lao động;tạo điều kiện cho sự chuyển dịnh lao động và xây dựng quan hệ lao độnglành mạnh trong doanh nghiệp; nâng cao năng lực, trình độ, trách nhiệmcủa đội ngũ cán bộ công chức ngành Lao động – Thương binh và Xã hộinói chung và đội ngũ cán bộ làm công tác lao động việc làm nói riêng đểđáp ứng yêu cầu hội nhập;
Ba là, tiếp tục phát triển, nâng cao chất lượng nguồn lao động nhằm
đáp ứng nhu cầu ngày một cao của thị trường lao động, chú trọng đào tạolao động cho các ngành nghề hướng ra xuất khẩu, khu vực doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài, các khu công nghiệp, khu chế xuất, các nghànhnghề công nghệ cao; đồng thời chú ý đào tạo nguồn lao động cho chuyển
Trang 36dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động ở nông thôn, đào tạo nghề để xuấtkhẩu lao động…trên cơ sở xã hội hoá công tác đào tạo nghề;
Bốn là, có cơ chế chính sách khuyến khích, huy động các nguồn lực
trong xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, nhất là nhữngngành, lĩnh vực có khả năng thu hút nhiều lao động, đa dạng hoá các hìnhthức tạo việc làm cho người lao động như khu vực dân doanh, dịch vụ, côngnghệ chế biến nông sản; khôi phục và phát triển các làng nghề thủ công, mỹnghệ sản xuất sản phẩm cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện ddaiju hoá nông thôn để thu hút nhiều lao động nôngthôn tham gia thị trờng lao động tại chổ;
Năm là, đẩy mạnh quá trình sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh
nghiệp Nhà nước để nâng cao hiệu quả sức cạnh tranh trong cơ chế thịtrường, nhất là trong những doanh nghiệp nông nghiệp nhằm hạn chế thấpnhất tác động xấu của quá trình hội nhập, giảm thiểu doanh nghiệp bị phásản, giải thể, đảm bảo ổn định việc làm và thu nhập cho người lao động;
Sáu là, mở rộng và phát triển thị trường lao động ngoài nước sang
các khu vực, các nước có thu nhập cao; tập trung đào tạo nghề, ngoại ngữ,nâng cao nhận thức pháp luật cho lao động xuất khẩu; đồng thời tổ chức sắpxếp, tinh gọn các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, đầu tư xây dựng một sốdoanh nghiệp nhà nước xuất khẩu lao động mạnh, đủ năng lực cạnh tranh
và hội nhập thị trường lao động quốc tế
Bảy là, triển khai thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia về
việc làm và nâng cao hiệu quả Quỹ quốc gia về việc làm để tạo ra nhiềuviệc làm mới cho người thất nghiệp, người thiếu việc làm có cơ hội làmviệc; trong đó tập trung cho vay vốn đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanhhàng hoá xuất khẩu, các làng nghề, trang trại, hộ kinh doanh cá thể và các
dự án góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động tại chổ;
Trang 37Tám là, Phát triển đồng bộ hệ thống giao dich trên thị trờng theo 3
hướng: (1) Quy hoạch và phát triển hệ thống tổ chức giới thiệu việc làm ởcác địa phương và cả nước; tập trung đầu tư hiện đại hoá 3 trung tâm ở 3vùng kinh tế trọng điểm ( Bắc, Trung, Nam) đạt tiêu chuẩn khu vực, sửdụng công nghệ thông tin hiện đại (internet, website) để thực hieejngiaodịch lành mạnh, hiệu quả và chuyên nghiệp: tổ chức tốt công tác tư vấn,giới thiệu việc làm cho người lao động trong thời gian tới (2) Đa dạng hoácác kênh giao dịch trên thị trờng lao động ( thông tin, quảng cáo, trang tìmviệc làm trên báo, tạp chí….) tạo điều kiện cho các giao dịch trực tiếp giữangười lao động và người sử dụng lao động (3) Xây dựng và hoàn thiện hệthống thông tin thị trường lao động quốc gia và nội mạng Trước hết ở cácvùng kinh tế trọng điểm, các thành phố lớn, khu công nghiệp tập trung
CHƯƠNG II VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DẪN KHIÊU VŨ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
HIỆN NAY
1 VÀI NÉT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên - lịch sử
Hà Nội nằm ở vị trí trung tâm Đồng bằng Bắc bộ, từ 20054’ đến
20022’ vĩ độ bắc, 105042’ đến 106000’ kinh độ đông Phía Bắc giáp tỉnh
Trang 38Vĩnh Phúc, tỉnh Thái Nguyên; phía Nam giáp tỉnh Hà Tây, Hưng Yên; phíaĐông giáp tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên; phía Tây giáp tỉnh Hà Tây.
Hà Nội nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, là một trong 3cạnh của tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng- Quảng Ninh, đang đượcChính phủ quan tâm đầu tư để phát triển tương xứng với tiềm năng của Thủ
đô, giữ vị trí đầu não về chính trị, kinh tế và văn hoá của cả nước Sự pháttriển của Hà Nội cũng làm cho các vùng lân cận trong tam giác kinh tế đượcphát triển, trở thành vệ tinh đảm bảo cho sự phát triển mạnh mẽ của cả vùngkinh tế
Hà Nội có tổng diện tích là 920,97 km2, khoảng cách từ Bắc xuốngNam dài trên 50 km, từ Tây sang Đông gần 30 km Hà Nội, có 9 quận nộithành là: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Tây Hồ, Long Biên, Cầu Giấy, Đống Đa,Hai Bà Trng, Hoàng Mai và Thanh Xuân với 128 phờng, diện tích nội thành
là 178,78 km2 chiếm 19,41% diện tích toàn thành phố Khu vực ngoạithành bao gồm 5 huyện là: Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm, Từ Liêm, ThanhTrì với 98 xã và 6 thị trấn, diện tích là 742,19 km2 chiếm 80,59% diện tíchtoàn Thành phố Mật độ dân số bình quân của toàn thành phố là 3.515người/km2 tuy nhiên, sự phân bố dân c của khu vực nội thành và ngoạithành lại không đồng đều ở khu vực nội thành, với mật độ dân số trungbình là 11.314 người/ km2, trong đó cao nhất là quận Đống Đa và HoànKiếm với 37.631 người/km2 và 33.856 người/km2, còn thấp nhất là quậnTây Hồ và Long Biên với 4.550 người/km2 và 3.205 người/km2 Mật độdân số trung bình ở khu vực ngoại thành chỉ là 1.643 người/km2, cao nhất
là huyện Từ Liêm với 3.569 người/km2 và thấp nhất là huyện Sóc Sơn với
875 người/km2 [13, tr.9]
Thủ đô Hà Nội có hệ thống giao thông thuận lợi, nối liền với nhiềuđịa phương trong nước và quốc tế về cả đường bộ, đờng không và đường
Trang 39sắt Hà Nội có sân bay quốc tế Nội Bài (thuộc huyện Sóc Sơn) với khả năngphục vụ trên nhiều triệu lợt khách trong nước và quốc tế mỗi năm.
Về đất đai, Hà Nội cũng có nhiều thuận lợi cho sự đa dạng hoá sinhhọc Trong đó, vùng đồi núi chiếm khoảng 10% diện tích tự nhiên, tập trungchủ yếu ở phía Tây Bắc huyện Sóc Sơn Vùng đồng bằng chiếm khoảng90% diện tích tự nhiên, trong đó phía nam huyện Sóc Sơn và phần lớnhuyện Đông Anh là đất bạc màu, còn lại là đất phì nhiêu, màu mỡ thuận lợicho sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi Theo số liệu của Cục Thống kêThành phố, diện tích đất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản của Hà Nội năm 2005
là 47.025 ha Trong đó, đất nông nghiệp chiếm 38.414 hécta, diện tích mặtnước nuôi thuỷ sản là 3.057 héc ta, đất lâm nghiệp chiếm 5.432 hécta vàdiện tích đất nông, lâm nghiệp - thuỷ sản khác là 122 hécta [13, tr 167].Như vậy, tài nguyên đất phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp vàdiện tích mặt nước phục vụ nuôi trồng thuỷ sản của thành phố còn rất lớn
Thủ đô Hà Nội còn rất thuận lợi trong việc phát triển các ngành dịch
vụ, đặc biệt là ngành du lịch Với lịch sử gần 1000 năm tuổi của mình, HàNội mang trong mình những giá trị văn hoá và tinh thần hết sức to lớn Bêncạnh đó, Hà Nội còn lu giữ những công trình có giá trị lịch sử quan trọng nhkhu Quảng trường Ba Đình, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh nơi gìn giữ thi hàicủa Người và nhiều công trình lịch sử khác, rất thuận lợi cho việc phát triểncác hoạt động tham quan du lịch về nguồn, du lịch lịch sử, văn hoá
Với thuận lợi nêu trên, Thành phố có điều kiện để đề ra những chínhsách phù hợp nhắm từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng hiệnđại Nhờ đó, phát triển mạnh các ngành công nghiệp chế biến và dịch vụ, dulịch cũng nh từng bước hoàn thiện các vùng sản xuất nông sản, thựcphẩm… để từng bước tạo nhiều việc làm cho người lao động của thành phố
Trang 40Trong nhiều năm qua, nhờ tăng trưởng kinh tế liên tục mà thành phố
đã hoàn thành được những chỉ tiêu đề ra Nhiều nhiệm vụ quan trọng là giảiquyết việc làm, nâng cao mức sống, xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa
đã đạt được kết quá cao Vì thế trong giai đoạn 2001 - 2004, Thành phố đãgiải quyết việc làm cho 275.059 lao động và năm 2005, giải quyết việc làmkhoảng 80.000 lao động, trung bình mỗi năm giải quyết việc làm chokhoảng 70.000 lao động Tỷ lệ thất nghiệp của khu vực thành thị từ 7,95%
tù Hoả Lò đã khánh thành xây dựng tôn tạo giai đoạn một, nhng tới nay đãphục vụ trên ngàn lợt khách tham quan Các doanh nghiệp của ngành vănhoá và thông tin Hà Nội năm 1997 tổng giá trị doanh thu của 9 doanhnghiệp đạt 71,446 tỷ đồng, tăng 29,35% so với năm 1996, nộp ngân sách3,419 triệu đồng
Nói tóm lại: Tình hình kinh tế của thủ đô Hà Nội hieej nay trên đàphát triển, song còn bộc lộ những hạn chế nh cơ cấu kinh tế cha thực sự đápứng nhu cầu của người dân, quỹ Thành phố không lớn, phúc lợi xã hội cònkém nên người nghèo hiện tại phải chịu nhiều thiệt thòi
Khác với thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội là một đô thị phát triểnnhanh và mạnh nên có sự khác biệt to lớn trong vấn đề xây dựng và pháttriển nhà ở Cùng với sự phát triển của kinh tế, đời sống cư dân Hà Nội cónhiều biến đổi