1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực” tại cục Đăng Kiểm Việt nam

51 627 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đào Tạo Và Phát Triển Nguồn Nhân Lực Tại Cục Đăng Kiểm Việt Nam
Tác giả Đặng Hiếu Giang
Người hướng dẫn Thầy Giáo Vũ Xuân Đốc
Trường học Cục Đăng Kiểm Việt Nam
Chuyên ngành Kinh Tế Lao Động
Thể loại Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 224,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận Văn: Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực” tại cục Đăng Kiểm Việt nam

Trang 1

Mở đầu

Trong nền kinh tế thị trờng nhiều biến động, đổi thay và cạnh tranh gay gắt

đòi hỏi các tổ chức muốn tồn tại và phát triển thì cần phải tạo cho mình một độingũ lao động có chất lợng làm việc cao, có khả năng sáng tạo tốt

Nếu đầu thế kỷ 20 ngời ta chỉ tập trung nghiên cứu và đề ra các biện phápnâng cao hiệu quả lao động chân tay của các thành viên trong tổ chức sản xuấtngày nay chất lợng làm việc, khả năng phát huy kkhả năng sáng tạo của chủ thểlao động trí óc lại đóng vai trò quan trọng hàng đầu Do đó đào tạo và phát triểnnguồn nhân lực , là ván đề sống còn của một tổ chức

Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là một trong những nội dung cơ bảncủa môn khoa học kinh tế lao động và quản trị nhân lực, nghiên cứu vấn đề nàygiúp chúng ta hiểu đợc thế nào là đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, thấy đợc

ý nghĩa to lớn của nó đối với mọi cá nhân, mọi tổ chức, mọi quốc gia, biết đợcquá trình của một chơng trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực và việc đánhgiá hiệu quả của chơng trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Qua đó ta cóthể học hỏi, tham khảo thêm đợc các kinh nghiệm quý giá của thực tiễn đào tạo

và phát triển nguồn nhân lực của các tổ chức trong nớc, nớc ngoài để phục vụcho công việc của mình trong tơng lai

Với mong muốn đánh giá đúng thực trạng đào tạo và phát triển nguồn nhânlực của Cục Đăng Kiểm Việt Nam, tìm ra những tồn tại và nguyên nhân của nó,

đa ra một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện công tác đào tạo và phát triểnnguồn nhân lực của cục Đăng kiểm Việt Nam, em đă chọn đề tài nghiên cứu

đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại cục Đăng Kiểm Việt Nam

Q ” tại cục Đăng Kiểm Việt Nam

Do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế nên chuyên đề thực tậpnày không thể tránh khỏi những thiếu sót cần bổ sung, em rất mong nhận đợc sựgóp ý, phê bình của thầy giáo, các cán bộ nhân viên của cục Đăng kiểm ViệtNam và các bạn sinh viên

Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Vũ Xuân Đốc và các cán bộ, nhânviên của phòng tổ chức cán bộ thuộc cục Đăng Kiểm Việt Nam đã giúp đỡ, tạo

điều kiện cho em hoàn thành chuyên đề thực tập này

Chơng I Nguồn nhân lực, vai trò và sự cần thiết phải đào tạo phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức

I Nguồn nhân lực trong tổ chức

Trang 2

1 Khái niệm nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là nguồn lực về con ngời và đợc nghiên cứu dới nhiều khíacạnh trớc hết với t cách là là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồmtoàn bộ dân c có cơ thể phát triển bình thờng( không bị khiếm khuyết hoặc dị tậtbẩm sinh )

Nguồn nhân lực với t cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế – xã hội

là khả năng lao động của xã hội đợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhómdân c trong độ tuổi lao động có khả năng lao động Với cách hiểu này nguồnnhân lực tơng đơng với nguồn lao động

Nguồn nhân lực còn có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những con ngời cụ thểtham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yéu tố về thể chất, tinh thần đợchuy động vào quá trình lao động Với cách hiểu này nguồn nhân lực bao gồmnhững ngời từ giới hạn dới độ tuổi lao động trở lên (ở nớc ta là tròn 15 tuổi ).Các cách hiểu trên chỉ khác nhau về việc xác định quy mô nguồn nhân lực ,song đều nhất trí với nhau đó là nguồn nhân lực nói đến khả năng lao động củaxã hội

Nguồn nhân lực đợc xem xét trên giác độ, số lợng và chất lợng

Số lợng nguồn nhân lực đợc biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc

độ tăng nguồn nhân lực Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quymô và tốc độ tăng dân số Quy mô dân số càng lớn , tốc độ tăng dân số càng caothì dẫn đến quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngợc lại .Tuy nhiên mối quan hệ dân số và nguồn nhân lực đợc biểu hiện sau một thờigian nhất định (vì đến lúc đó con ngời mới phát triẻn đầy đủ, mới có khả nănglao động )

Về chất lợng , nguồn nhân lực đợc xem xét trên các mặt : Trình độ sức khoẻ, trình độ văn hoá , trình độ chuyên môn , năng lực phảm chất …

Cũng giống nh các nguồn lực khác , số lợng và đặc biệt la chất lợng nguồnnhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất và tinhthần cho xã hội

2 Phân loại nguồn nhân lực: tuỳ theo giác độ nghiên cứu mà ngời ta chia ra

2.1 Căn cứ vào nguồn gốc hình thành ngời ta chia ra:

Một là: nguồn nhân lực có sẵn trong dân số Nguồn nhân lực này baogồm toàn bộ những ngời nằm trong độ tuổi lao động, không kể đến trạng thái

có làm việc hay không làm việc theo thống kê của liên hợp quốc, khái niệm

Trang 3

này gọi là dân số hoạt động (population active) có nghĩa là tát cả những ngời

có khả năng làm việc trong dân số tính theo độ tuổi lao động quy định

Độ tuổi lao động là giói hạn về những quy định điều kiện tâm sinh lý –tâm lý xã hội mà con ngời tham gia vào quá trình lao động Giới hạn độ tuổilao động đợc quy định tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế- xã hội của từng nớc

và trong từng thời kỳ Giới hạn độ tuổi lao động bao gồm:

Giới hạn dới: quy định số tuổi thanh niên bớc vào độ tuổi lao động ở

n-ớc ta hiện nay là tròn 15 tuổi

Giới hạn trên: quy định độ tuổi về hu, ở nớc ta quy định độ tuổi này làtròn 55 tuổi đối với nữ và tròn 60 tuổi đối với nam

Hai là: nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động kinh tế, hay còn gọi làdân số hoạt động kinh tế

Đây là số ngời có công ăn việc làm, đang hoạt động trong các nghànhkinh tế và văn hoá của xã hội

Nh vậy, giữa nguồn nhân lực sẵn có trong dân số và nguồn nhân lựctham giá vào hoạt động kinh tế có sự khác nhau Sự khác nhau này là do cómột bộ phận những ngời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhng vìnhiều nguyên nhân khác nhau, cha tham gia vào hoạt động kinh tế (thấtnghiệp, có việc làm nhng không muốn làm việc, còn đang học tập, có nguồnthu nhập khác không cần đi làm… )

Ba là: nguồn nhân lực dự trữ Các nguồn nhân lực dự trữ trong nền kinh

tế bao gồm những ngời nằm trong độ tuổi lao động, nhng vì các lý do khácnhau, họ cha có công việc làm ngoài xã hội Số ngời này đóng vai trò của mộtnguồn dự trữ về nhân lực, gồm có:

+ Những ngời làm công việc nội trợ trong gia đình: khi điều kiện kinh tếcủa xã hội thuận lợi, nếu bản thân họ muốn tham gia lao động ngoài xã hội, họ

có thể rời bỏ công việc nội trợ để làm công việc ngoài xã hội Đây là nguồn nhânlực đáng kể Tuyệt đại bộ phận là phụ nữ, hàng ngày vẫn đảm nhiệm những chứcnăng duy trì, bảo vệ, phát triển gia đình về nhiều mặt Đó là những hoạt động cóích và cần thiết Công việc nộik trợ gia đình đa dạng, vất vả đối với phụ nữ ở cácnớc chậm phát triển (do càn phải làm bằng chân tay nhiều ) Từ đó, dẵn đế mứcnăng suất lao động thấp so với những công việc tơng tự đợc tổ chức ở quy mo lớnhơn, có trang bị kỹ thuật cao hơn

+ Những ngời tốt nghiệp ở các trờng phổ thông và các trờng chuyên nghiệp

đợc coi là nguồn nhân lực dự trữ quan trọng và có chất lợng Đây là nguồn nhânlực ở đọ tuổi thanh niên, có học vấn, có trình độ chuyên môm ( nếu độ tuổi này

Trang 4

đợc đào tạo tại các trờng dạy nghề và các trờng trungung cấp, đại học ) Tuynhiên, khi nghiên cứu nguồn nhân lực này cần phân chia tỷ mỷ hơn:

- Nguồn nhân lực đã đến tuổi lao động, tôt nghiệp trung học phổ thông,không tiếp tục học nữa, muốn tìm việc làm

- Nguồn nhân lực đã đến tuổi lao động, cha học hết phổ thông, không tiếptục học nữa, không muốn tìm viẹc làm

- Nguồn nhân lực ở độ tuổi lao động đã tôt nghiệp ở các trờng chuyênnghiệp (trung cấp, cao đẳng, đại học ) thuộc chuyên môn khác nhau tìmviệc làm

+ Những ngời đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự cũng thuộc nguồn nhân lực

dự trữ, có khả năng tham gia vào hoạt động kinh tế Số ngời thuộc nguồn nhânlực dự trữ này cũng cần phân loại đẻ biết rõ có nghề hay không có nghề, trình độvăn hoá,sức khoẻ … để từ đó tạo công việc làm thích hợp

+ Những ngời trong độ tuổi lao động đang bị thất nghiệp, (có nghề hoặckhông có nghề )muốn tìm việc làm cũng là nguồn nhân lực dự trữ, sẵn sàng thamgia vào hoạt động kinh tế

2.2 Căn cứ vào vai trò của từng bộ phận nguồn nhân lực tham gia vào nềnsản xuất xã hội

Ngời ta chia ra:

- Bộ phận nguồn lao động chính Đây là bộ phận nhân lực nằm trong độtuổi lao động và có khả năng lao động (tơng đơng với nguồn nhân lực cósẵn trong dân số theo cách phân loại ở trên)

- Bộ phận nguồn lao động phụ Đây là bộ phận dân c nằm ngoài độ tuổilao động có thể và cần phải tham gia vào nền sản xuất Trong thực tếcómột bộ phận dân c nằm ngoài độ tuổi lao động vì nhiều nguyên nhânhiện đang tham gia vào nền sản xuất Đặc biệt đối với những nền kinh tếkém phát triển thì nhu cầu làm việc của những ngời này càng cao Tuynhiên, tuỳ theo điều kiện của từng nớc mà quy định độ tuổi này có khácnhau

- Các nguồn lao động khác: Là bộ phận nhân lực hàng năm đợc bổ sungthêm từ bộ phận xuất khẩu lao động, hoàn thành nghĩa vụ quân sự trởvề…

2.3 Căn cứ vào trạng thái có việc làm hay không

Ngời ta chia ra:

Trang 5

- Lực lợng lao động: Bao gồm những ngời trong độ tuổi lao động cókhả năng lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những ngờithất nghiệp song đang có nhu cầu tìm việc làm.

- Nguồn lao động: Bao gồm những ngời thuộc lực lợng lao động vànhững ngời thất nghiệp song không có nhu cầu tìm việc làm (tức là bao gồmnhững ngời đang làm việc trong nền kinh tếquốc dân và những ngời thấtnghiệp)

II Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.

1.Khái niệm về đào tạo và phát triển.

1.1 Khái niệm về đào tạo vàphát triển nguồn nhân lực.

Khái niệm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực sau đây sẽ phần nào đápứng đợc yêu cầu đòi hỏi đối với sự thay đổi, phát triển nhanh chóng đó " Đàotạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên mônnghiệp vụ cho ngời lao động, để họ có thể đảm nhận đợc một công việc nhất

định "

QPhát triển nguồn nhân lực bao gồm các hoạt dộng học tập trang bị kiếnthức kỹ năng để cho ngời lao động làm công việc khó khăn phức tạp hơn và đểphát triển sự nghiệp của mình Q

Đào tạo nguồn nhân lực bao gồm các nội dung :

Đào tạo kiến thức phổ thông

Đào tạo kiến thức chuyên nghiệp Trang bị kiến thức đào tạo đợc chia

ra :

Đào tạo mới : đã đợc áp dụng đối với những ngời cha có nghề

Đào tạo lại : đào tạo những ngời đã có nghề song vì lý do nào đónghề của họ không còn phù hợp nữa

Đào tạo nâng cao trình độ lành nghề : nhằm bồi dỡng nâng cao kiến thức vàkinh nghiệm làm việc để ngời lao động có thể đảm nhận những công việc phứctạp hơn

Trình độ lành nghề của nguồn nhân lực thẻ hiện mặt chất lợng cảu sức lao

động Để đạt tới trình độ nào đó trớc hết phải đào tạo nghề cho nguồn nhân lực.Nghề: đợc hiểu là một tập hợp hay toàn bộ nhỡng công việc tơng tự về nộidung và có liên quan với nhau ở một mức độ nhất định Đòi hỏi ngời lao độngphải có những hiểu biết về chuyên môn và nghiệp vụ, đòi hỏi phải có kinhnghiệm, kỹ năng để thực hiện công việc nào đó

Chuyên môn:biểu thị mức độ chuyên sâu về một nghề

Trang 6

Việc đào tạo và nâng cao trình độ lành nghề cho nguồn nhân lực sự cầnthiết vì hàng năm nhiều thanh niên bớc vào tuổi lao động nhng cha đợc đào tạomột nghề, một chuyên môn nào, ngoài trình độ văn hoá phổ thông Cùng với nềnkinh tế nhiều thành phần, cơ cấu công nghệ thay đổi, sản xuất ngày càng pháttriển cách mạng KHKT phát triển mạnh mẽ, phân công lao dộng sâu sắc, nhièunghề, chuyên môn cũ thay đổi, nhiều nghề chuyên môn mới ra đời Đội ngũnhân lực cần phải đợc đào tạo nâng cao thêm cho phù hợp với yêu cầu của sảnxuất Không chỉ đáp ứng đợc yêu cầu đội ngũ nhân lực trớc mắt mà còn trong t-

ơng lai

1.2.Vai trò của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức.

Đào tạo và phát triển năng lực của ngời lao động có ảnh hởng vô cùng to lớn

đến sự phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia và khả năng cạnh tranh quốc tếcủa các doanh nghiệp

- Đào tạo là cơ sở nền tảng giúp nhân viên thực hiện công việc tốt hơn

- Cập nhật các kỹ năng kiến thức mới cho nhân viên giúp họ có thể áp dụngthành công các thay đổi công nghệ trong tổ chức

- Tránh tình trạng quản lý lỗi thời Các nhà quản trị cần áp dụng các phơngpháp quản lý

- Giải quyết các vấn đề tổ chức Đào tạo và phát triển có thể giúp các nhàquản trị giải quyết các vấn đề về mâu thuẫn Xung đột giữa các cá nhân vàgiữa công đoàn với các nhà quản trị, đề ra các chính sách về quản lý nguồnnhân lực của doanh nghiệp có hiệu quả

- Chuẩn bị đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn kế cận, đào tạo và pháttriển giúp cho nhân viên có đợc những kỹ năng cần thiết cho các cơ hội thăngtiến và thay thế cho các cán bộ quản lý, chuyên môn khi cần thiết

Thoả mãn nhu cầu phát triển cho nhân viên Đợc trang bị những kỹ năngchuyên môn cần thiết sẽ kích thích nhân viên thực hiện công việc tốt hơn

1.3 Mối quan hệ giữa đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.

Theo quan điểm của Cenzo và Robbin, điểm tơng đồng giữa đào tạo vàphát triển là chúng đều có các phơng pháp tơng tự đợc sử dụng nhằm tác độnglên quá trình học tập để nâng cao các kiến thức, kỹ năng thực hành Tuy nhiên,

đào tạo có định hớng vào hiện tại, chú trọng vào công việc hiện thời của cá nhân,giúp các cá nhân có ngay các kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt các công việchiện tại Còn phát triển nhân viên nhằm chú trọng lên các công việc tơng laitrong tổ chức, doanh nghiệp Khi một ngời đợc t hăng tiến lên những chức vụmới, họ cần có những kiến thức, kỹ năng mới theo yêu cầu mới của công việc

Trang 7

Công tác phát triển nhân viên sẽ giúp cho các cá nhânchuẩn bị sẵn các kiến thức

kỹ năng cần thiết đó

2 Nội dung của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức

Trong thực tế có nhiều tiêu thức phân loại nội dung đào tạo

2.1 Theo định hớng nội dung đào tạo, có hai hình thức: đào tạo định hớng

công việc và đào tạo định hớng doanh nghiệp

- Đào tạo định hớng công việc: Đây là hình thức đào tạo về kỹ năngthực hiện một loại công việc nhất định, nhân viên có thể sử dụng kỹ năng này

để làm việc trong những tổ chức khác nhau

- Đào tạo định hớng doanh nghiệp: Đây là hình thức đào tạo về các

kỹ năng, cách thức, phơng pháp làm việc điển hình trong doanh nghiệp Khinhân viên chuyển sang doanh nghiệp khác, kỹ năng đào tạo đó thờng không

áp dụng đợc nữa

2.2.Theo mục đích của nội dung đào tạo, có các nội dung :đào tạo, hớng dẫn

công việc cho nhân viên; đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật;

đào tạo và và phát triển các năng lực quản trị … các hình thức đào tạo rất đadạng

- Đào tạo, hớng dẫn ( hoặc định hớng ) công việc cho nhân viênnhằm cung cấp các thông tin, kiến thức mới và và các chỉ dẫn cho nhân viênmới tuyển về công việc và doanh nghiệp, giúp cho nhân viên mới mau chóngthích nghi với điều kiện, cách thức làm việc trong doanh nghiệp mới

- Đào tạo, huấn luyện kỹ năng nhằm giúp cho nhân viên có trình độlành nghề và các kỹ năng phù hợp để thực hiện công việc theo yêu cầu

- Đào tạo kỹ năng an toàn lao động hớng dẫn nhân viên cách thứcthực hiện công việc an toàn, nhằm ngăn ngừa các trờng hợp tai nạn lao động

Đối với một số công việc nguy hiểm, có nhiều rủi ro nh công việc của thợhàn, thợ lặn, thợ xây, thợ điện …

3 Các yếu tố ảnh hởng đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức.

Trang 8

và đào tạo Cơ chế thị trờng tác động mạnh mẽ đến đội ngũ lao dộng trên cácmặt chủ yếu sau đây :

Sức lao động đã trở thành hàng hoá

Khi sức lao động trở thành hàng hoá dãn đến việc chập nhận sự cạnh tranhtrên thị trờng lao động, ngời lao động muốn có việc làm phải không ngừng họctập, nâng cao trình độ đề khỏi tụt hậu phấn đấu để sức lao động luôn luôn làhàng hoá có chất lợng hàng đầu, mặt khác phải thờng xuyên nâng cấp để thíchứng với yêu cầu của thị trờng lao động Sự cạnh tranh gay gắt trong mục tiêunâng cao năng suất, chất lơng, hiệu quả của nhiều thành phần kinh tế trong cơchế thị trờng dòi hỏi ngời lao động phải hết sức năng động và phải không ngừnghoàn thiện kién thức và kỹ năng lao động để đáp ứng nhu cầu thị trờng đangkhông ngừng biến đổi Khái niệm Qhọc một nghề cho cả đời " ngày nay đã trởnên lạc hậu và đợc thay thế vào đó là khái niệm Qhọc suốt đời "

Cơ chế thị trờng đòi hỏi phải thay thế phơng pháp quản lý

Trong cơ chế quan liêu bao cấp, mọi việc đợc thực hiện theo kế hoạch đãdợc Nhà nớc giao từ mặt hàng sản xuất, ngân sách, các điều kiện sản xuát tiêuthụ sản phẩm, vì thế ngời quản lý trở nên thụ động, máy móc, thiếu sángtạo Nhng với cơ chế hiện nay, tiếp thị trở thành lĩnh vực quan trọng năng lựchiểu biết đáp ứng với cơ chế thị trờng

3.2.Chủ trơng mở cửa của Nhà nớc

Đây là một chủ trơng quan trọng để tạo mọi thuận lợi cho đất nớc ta tiếpcận đợc với nền văn minh, nền sản xuất hiện đại của thế giới để có dịp học hỏi vàtìm cách vơn lên đuổi kịp và vợt họ Chính sách mở cửa phải di cùng với nó làmột đội ngũ lao động từ ngời th ký văn phòng, phiên dịch, ngời công nhân cónăng lực, phẩm chất đủ để làm việc với đối tác nớc ngoài Vấn đề này ngày càngtrở nên cấp thiết hơn đặc biệt trong giai đoạn hội nhập

Trang 9

biết Cách mạng công nghệ làm thay đổi cấu trúc của đội ngũ lao động nguồnnhân lực cho sản xuất của một nớc có thể sơ bộ chia thành sáu nhóm sau:

Các nhà phát minh và đổi mới công nghệ Các nhà quản lý

Các nhà kỹ thuật và công nghệCông nhân lành nghề

Công nhân bán lành nghềLao động giản đơn

Nhiệm vụ chung đặt ra trong quá trình phát triển phải tạo ra sự cân bằnggiữa các nguồn nhân lực để đáp ứng theo sự thay đổi của sản xuất.Theo số liệucủa ILO, một số nớc phát triển thờng có đội ngũ công nhân bán lành nghề vàokhoảng 10% tổng số đội ngũ lao động, công nhân lành nghề khoảng 18% vìphần lớn công nghệ đã đợc tự động hoá, các nhà kỹ thuật công nghệ gia chiếmmột tỷ lệ lớn là khoảng 36%,các nhà quản lý là 22%,các nhà nghiên cứu khoảng14%.Trong khi đó ở các nớc đang phát triển thì ngợc lại :Đội ngũ lao động giản

đơn và bán lành nghề chiếm khoảng 60%,công nhân lành nghề 22%,các kỹ thuật

và công nghệ gia chỉ khoảng 9%,quản lý 6,5%,nghiên cứu và phát minh2,5%.Tình trạng này một phần do thiếu đầu t thích đáng cho việc giáo dục ở cácnớc đang phát triển,thiếu lực lợng lao động có trình độ, đây cũng là một loại lãngphí nguồn nhân lực, thiếu những ngời hỗ trợ cho các nhà khoa học và kỹ s sẽbuộc họ phải dành thời gian để làm những công việc của các công nghệ gia và

nh vậy các nhà khoa học, kỹ s không thể hoàn thành công việc của mình có hiệuquả bởi lẽ quá trình đào tạo của họ không đợc tập trung đầy đủ vào các kỹ năngthực hành

Cách mạng công nghệ đã làm thay đổi diện nghề của nghề của ngời lao

Cách mạng công nghệ dẫn đến việc phải đổi nghề

Trang 10

Cách mạng công nghệ đã và đang làm cho bao nhiêu nghề mới xuất hiện,nhiều nghành nghề cũ mất đi, kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp bị hao mònnhanh chóng Do tiến bộ khoa học kĩ thuật công nghệ không chỉ ảnh hởng đếnlĩnh vực công nghiệp, mà còn ảnh hởng sâu sắc đến nông lâm nghiệp, thủ côngnghiệp truyền thống Ngời nông dân, ngời thợ thủ công các nhà chuyên môn,các cán bộ quản lý cũng phải luôn đổi mới cập nhật và bổ sung kiến thức, mớitiến kịp với sự thay đổi nhanh chóng của kỹ thuật canh tác, chăm sóc cây trồng, Nhiều nhà khoa học dự báo với tốc độ phát triển của khoa học-kỹ thuật, côngnghệ nh hiện nay mỗi ngời lao động ở các nớc phát triển phải đổi nghề trungbình khoảng 4-5 lần trong quảng đời lao động của mình, bởi vậy cần đợc bồi d-ỡng và đào tạo.

III Sự cần thiết phải đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức.

Trong thời đại ngày nay đào tạo và phát triển nhân viên trong các tổ chứctăng nhanh cùng sự phát triển của hợp tác và cạnh tranh quốc tế, công nghệ tiêntiến và những áp lực về kinh tế xã hội Đào tạo đợc xem nh là yếu tố cơ bảnnhằm đáp ứng các mục tiêu của tổ chức Giờ đây, chất lợng nhân viên đã trởthành một trong những lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của các doanh nghiệptrên toàn thế giới Thực tế đã chứng minh rằng đầu t vào nguồn nhân lực có thểmang lại hiệu quả cao hơn hẳn so với việc đầu t đổi mới trang thiết bị kỹ thuật vàcác yếu tố khác của quá trình sản xuất kinh doanh Đó cũng chính là lý do vì saocác nhà lãnh đạo doanh nghiệp giàu kinh nghiệm của hầu hết các nớc trên thếgiới đều chú trọng hàng đầu đến công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lựctrong tổ chức

ở Việt Nam nơi trình độ văn hoá, giáo dục chung của ngời lao động còn rấtthấp, nhu cầu đào tạo và nâng cao trình độ lành nghề cho ngời lao động càng trởnên quan trọng và cần thiết hơn nữa bởi đào tạo và phát triển nguồn nhân lựctrong tổ chức nhằm giúp cho:

Trực tiếp giúp cho nhân viên thực hiện công việc tốt hơn đặc biệt khi nhânviên thực hiện công việc không đáp ứng đợc các tiêu chuẩn mẫu, hoặc khi nhânviên nhận công việc mới

Cập nhật các kỹ năng, kiến thức mới cho nhân viên, giúp họ có thể áp dụngthành công các thay đổi công nghệ, kỹ thuật trong tổ chức

Tránh tình trạng lỗi thời Các nhà quản trị cần áp dụng các phơng phápquản lý sao cho phù hợp đợc với những thay đổi về quy trình công nghệ, kỹ thuật

và môi trờng kinh doanh

Giải quyết các vấn đề tổ chức Đào tạo và phát triển có thể giúp cho cácnhà quản trị giải quyết các vấn đề về mâu thuẫn, xung đột giữa các cá nhân và

Trang 11

giữa công nhân với các nhà quản trị, đề ra các chính sách về quản lý nguồn nhânlực của doanh nghiệp có hiệu quả.

Hớng dẫn công việc cho nhân viên mới Nhân viên mới thờng gặp nhiềukhó khăn, bỡ ngỡ trong những ngày đầu làm việc trong tổ chức, các chơng trình

định hớng công việc đối với nhân viên mới sẽ giúp họ mau chóng thích ứng vớimôi trờng làm việc mới của tổ chức

Chuẩn bị đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn kế cận đào tạo và phát triểngiúp cho nhân viên có đợc những kỹ năng cần thiết cho các cơ hội thăng tiến vàthay thế cho các cán bộ quản lý, chuyên môn khi cần thiết

Thoả mãn nhu cầu phát triển cho nhân viên Đợc trang bị những kỹ năngcần thiết sẽ kích thích nhân viên thực hiện công việc tốt hơn, đạt đợc nhiều thànhtích tốt hơn, muốn đợc trao những nhiệm vụ có tính thách thức cao hơn, có nhiềucơ hội thăng tiến hơn

Do vậy: đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức là hết sức cầnthiết bởi vì nó:

+)Đáp ứng nhu cầu về số lợng và chất lợng nguồn nhân lực trong tổ chức

+)Đào tạo nguồn nhân lực nhằm giúp cho trình độ, khả ngăng hoàn thành côngviệc của cán bộ, nhân viên trong tổ chức ngày càng hoàn thiện , từ đó nâng caonăng suất lao động trong tổ chức

+)Nâng cao vị thế của tổ chức

+) Nó góp phần làm tăng uy tín của tổ chức

+) Góp phần làm cập nhật các thông tin mới về chuyên môn kỹ thuật

Chơng II

Trang 12

Thực trạng công tác đào tạo và sử dụng cán bộ ở Cục

Đăng kiểm Việt Nam trong những năm qua

1 Đặc điểm, tình hình chung của Cục Đăng kiểm Việt Nam

1 1 Quá trình hình thành và phát triển của Cục Đăng kiểm Việt Nam Sự hình thành ngành đăng kiểm phơng tiện thuỷ, tiền thân của ngành đăng kỉểm ph-

ơng tiện giao thông vận tải (đầu thế kỷ 20 đến 1963):

Công tác kiểm tra kỹ thuật, phân cấp vùng hoạt động (chạy) và cấp gấychứng nhận an toàn cho tàu thuỷ (thờng gọi là đăng kiểm) là hoạt động theothông lệ của các nớc trên thế giới Các tổ chức Đăng kiểm lớn trên thế giới đãhình thành và hoạt động từ thế kỷ 18 và ngày càng đóng vai trò quan trọng trongviệc bảo vệ sinh mạng con ngời, bảo vệ tài sản (phơng tiện và hàng hoá), bảo vệmôi trờng và ngày nay còn góp phần chống khủng bố

Tại Việt Nam, những năm đầu thế kỷ 20, thực dân Pháp đẩy mạnh việc khaithác thác tài nguyên thiên nhiên để mang về phục vụ chính quốc đã tạo tiền đềcho ngành hàng hải bắt đầu phát triển Tại các Cảng biển nh Hòn Gai, HảiPhòng, Đà Nẵng, Sài Gòn, nhiều tàu buôn của Pháp và nớc ngoài cập cảng TạiHải Phòng, đã xuất hiện một số xởng sửa chữa và đóng tàu vận tải và tàu khách

cở nhỏ chạy vùng sông Bắc kỳ Hoạt động giám sát an toàn kỹ thuật đợc hìnhthành theo sự phát triển của ngành vận tải thuỷ: ở Bắc kỳ là QHội đồng kiểm soátmáy tàu” tại cục Đăng Kiểm Việt Nam thuộc Phủ Thủ hiến Bắc kỳ đảm trách, ở Nam kỳ là đại diện của tổchức Đăng kiểm Pháp (Bureau Veritas) có trụ sở tại Vũng Tàu, các Sở, Nha Giaothông công chính có ngành vận tải thuỷ phát triển thì có bộ phận đảm tráchgiám sát an toàn

Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, do có lợi thế về sông ngòi và biểncả nên ngành vận tải thuỷ phát triển mạnh Nhiều nhà máy đóng mới, sửa chữatàu thuỷ ở Hải Phòng và một số tỉnh khác đã đợc hình thành để phục sự pháttriển của ngành vận tải sông và ven biển Song trong quá trình đóng mới, sửachữa và khai thác tàu, thuyền, do không coi trọng tính an toàn, nhiều vụ tai nạnnghiêm trọng đã xảy Do vậy, năm 1960, Cục Vận tải đờng thuỷ thuộc Bộ Giao

thông vận tải đã thành lập Phòng "Đăng kí Hải sự" để kiểm tra an toàn và đăng

kí (bao gồm cả đăng ký hành chính và đăng ký kỹ thuật) các tàu sông cỡ lớn vàtàu ven biển, sau đó vào năm 1962, Phòng Đăng ký Hải sự đợc đổi thành Phòng

"Đăng kí giám sát an toàn" làm nhiệm vụ giám sát an toàn và tổ chức sát hạch

thuyền viên đờng sông và ven biển Năm 1963, Phòng "Đăng kí giám giám sát

an toàn" lại đợc Cục Vận tải đờng thuỷ đổi tên thành QPhòng Đăng kiểm” tại cục Đăng Kiểm Việt Nam

- Sự thành lập và xây dựng ngành Đăng kiểm (1964 - 1979):

Trang 13

Từ năm 1964, nền kinh tế miền bắc trên đà phát triển, lợng hàng hoá đợcvận tải bằng đờng thuỷ không ngừng tăng lên, nớc Việt Nam đợc nhiều nớc xãhội chủ nghĩa viện trợ trong đó có nhiều tàu vận tải ven biển, đồng thời các nhàmáy, xởng đóng tàu của ta đã đóng nhiều tàu, sà lan vận tải sông và ven biển.Trong hoàn cảnh đó, Phòng đăng kiểm của Cục Vận tải đờng thuỷ không đápứng kịp thời công tác quản lý an toàn, nên ngày 25.4.1964, Bộ Giao thông vận

tải ra Quyết định thành lập "Ty Đăng kiểm" trục thuộc Bộ Giao thông vận tải,

trong đó quy định chức năng, nhiệm vụ của Ty là cơ quan đăng ký, kiểm tra vànghiệm thu về kỹ thuật an toàn phơng tiện vận tải đờng thuỷ, nồi hơi và thiệt bị

áp lực

Từ 1964 đến 1974 là giai đoạn khó khăn nhất trong quá trình hoạt động,xây dựng của Cục Đăng kiểm Việt Nam: số cán bộ khoa học kĩ thuật rất ít, chỉ

có 23 ngời, trụ sở tại 12 phố Điện Biên Phủ thành phố Hải Phòng Cơ sở pháp lý

kĩ thuật (tiêu chuẩn, qui phạm, hớng dẫn nghiệp vụ) cho công tác đăng kiểm hầu

nh không có, lại tiến hành công tác kiểm tra chất lợng và an toàn trong tình hình

đất nớc vừa sản xuất vừa chiến đấu phục vụ giải phóng đất nớc

Thời gian này, cả nớc tập trung cho công cuộc chống chiến tranh phá hoạicủa đế quốc Mỹ ở niềm Bắc và giải phóng miền Nam Ngành công nghiệp giaothông vận tải tập trung tiềm lực đóng mới, sửa chữa tàu thuỷ, ô tô để vận chuyển

vũ khí, lơng thực, thực phẩm vào Nam Mặc dù cuộc chiến tranh diễn ra rất ácliệt, song công tác đăng kiểm phơng tiện thuỷ phục vụ cho vận tải lơng thực,thực phẩm và cả vũ khí cho các chiến trờng vẫn đợc triển khai ở tất cả các nơi

Để phục vụ công tác đăng kiểm kịp thời nhằm bảo đảm an toàn cho hàng hoáchuyên chở, 4 Chi nhánh Đăng kiểm: Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định và Vinh đã

đợc thành lập Năm 1965 tàu hàng ven biển mang tên Qtàu 20/7” tại cục Đăng Kiểm Việt Nam , lần đầu tiên đã

đợc đóng thành công tại Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, dới sự giám sát kỹ thuậtcủa cán bộ Đăng kiểm Việt Nam

Năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Ty Đăng kiểm Miền Nam đợcthành lập trực thuộc Tổng cục giao thông vận tải Miền Nam, trụ sở đặt tại 22 phốNguyễn Huệ, Thành phố Hồ Chí Minh Các Chi nhánh Đăng kiểm Cần Thơ, NhaTrang, Đà Nẵng trực thuộc Ty Đăng kiểm Miền Nam lần lợt đợc ra đời Sau hơnmột năm hoạt động, Ty Đăng kiểm Miền Nam đợc sáp nhập với Ty Đăng kiểm ởMiền Bắc, trực thuộc Bộ Giao thông vận tải Công tác đăng kiểm phơng tiện giaothông đờng thuỷ đợc thống nhất trong toàn quốc

Từ sau ngày thống nhất đất nớc, nhu cầu vận tải ngoại thơng phát triển,nhiều tàu treo cờ Việt Nam do Đăng kiểm Việt Nam kiểm tra và cấp Giấy chứngnhận an toàn đã cập Cảng Quảng Châu, Hoàng Phố, Hơng Cảng an toàn, theo

Trang 14

đúng Luật pháp Hàng hải quốc tế Năm 1976, những tàu chạy biển xa đầu tiêncủa Việt Nam là Hồng Hà, Sông Hơng với Giấy chứng nhận an toàn của Đăngkiểm Việt Nam đã cập các cảng Nhật Bản an toàn.

Ngành vận tải biển Bắc - Nam, vận tải biển quốc tế phát triển kích thíchngành công nghiệp đóng mới, sửa chữa tàu thuỷ của Việt Nam cùng phát triển.Vấn đề quản lý chất lợng và an toàn của phơng tiện thuỷ theo thông lệ và tậpquán quốc tế đợc Chính phủ quan tâm, vì vậy, ngày 19/7/1979 Chính phủ đã banhành quyết định số 267/CP chuyển Ty Đăng kiểm thành Cục Đăng kiểm Việt

Nam, tại điều 1 đã khẳng định: QCục Đăng kiểm Việt Nam là cơ quan Nhà nớc, trực thuộc Bộ Giao thông vận tải, chịu trách nhiệm đăng ký và kiểm tra kỹ thuật

an toàn, đo dung tích và xác định cấp tàu thuỷ, đăng ký, kiểm tra kỹ thuật an toàn nồi hơi, bình chịu áp lực trong ngành giao thông vận tải.” tại cục Đăng Kiểm Việt Nam

- Thời kỳ phát triển và hội nhập quốc tế (1979-2004):

Bộ luật Hàng hải Việt Nam ban hành năm 1990 quy định rất nhiều vấn đè

về Hàng hải, trong đó có quy định công tác kiểm tra chất lợng và an toàn đối vớitàu biển và giao nhiệm vụ đó cho Cục Đăng kiểm Việt Nam Tiếp theo, Thủ tớngChính phủ đã có Quyết định số 203/TTg, ngày 28/12/1992, quy định tổ chức và

hoạt động Đăng kiểm tàu biển tại Việt Nam và tái khẳng định QCục Đăng kiểm Việt Nam là tổ chức duy nhất tại Việt Nam đợc Chính phủ Việt Nam uỷ quyền thực hiện các hoạt động Đăng kiểm tàu biển theo các tiêu chuẩn, quy phạm kỹ thuật Việt Nam và các Điều ớc quốc tế có liên quan mà Việt Nam ký kết hoặc công nhận” tại cục Đăng Kiểm Việt Nam

Để tiếp cận với nghiệp vụ Đăng kiểm tàu biển chạy tuyến quốc tế và họctập phơng thức hoạt động đăng kiểm nói chung, năm 1980, Đăng kiểm Việt Nam

đã ký hiệp định hợp tác với tổ chức Đăng kiểm Cộng hoà Dân chủ Đức (DSRK)

về uỷ quyền thay thế nhau giám sát kỹ thuật tàu biển, mở ra một giai đoạn mớitrong lĩnh vực hợp tác song phơng về đăng kiểm tàu biển giữa các tổ chức Đăngkiểm trên thế giới Năm 1981, Cục Đăng kiểm Việt Nam đã đợc phép của Nhà n-

ớc gia nhập Hiệp hội Đăng kiểm các nớc xã hội chủ nghĩa (OTHK) Thông quacác hoạt động tích cực của Cục Đăng kiểm Việt Nam trong lĩnh an toàn hàng hảiquốc tế, năm 1984 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 126 của Tổchức Hàng hải Quốc tế (IMO) và trong nhiều năn sau đó, Cục Đăng kiểm ViệtNam đợc Nhà nớc giao nhiện vụ đảm nhận vai trò thờng trực QVăn phòng IMOViệt Nam” tại cục Đăng Kiểm Việt Nam Trong thời gian phụ trách thờng trực Văn phòng IMO Việt Nam,Cục Đăng kiểm Việt Nam đã tiếp nhận đợc nhiều thông tin về an toàn hàng hảiquốc tế và đó chính là cơ hội để Đăng kiểm Việt Nam sớm hội nhập thế gới vềlĩnh vực an toàn hàng hải và nghiệp vụ Đăng kiểm của các tổ chức Đăng kiểm

Trang 15

tiên tiến trên thế giới Với đề xuất của Cục Đăng kiểm Việt Nam, năm 1991 Nhànớc Việt Nam đã tuyên bố gia nhập 6 Công ớc quốc tế của IMO: Công ớc Quốc

tế về an toàn sinh mệnh con ngời trên biển (SOLAS-74), Công ớc Quốc tế về ờng nớc chở hàng của tàu biển (LOAD LINE 66), Công ớc quốc tế về đo dungtích tầu biển (TONNAGE-69), Quy tắc tránh va tàu biển (COLREG-72), Công -

đ-ớc quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm biển do tàu biển gây ra (MARPOL73/78) vàCông ớc quốc tế về đào tạo thuyền viên (STCW 78) bằng việc gia nhập cácCông ớc quốc tế nói trên, mọi hoạt động trên lĩnh vực hàng hải của Việt Namtrong đó có hoạt động đăng kiểm đã tiếp cận và dần dần hội nhập, phù hợp vớithông lệ quốc tế, đồng thời mở ra một không gian hợp tác quốc tế rộng lớn hơncho Cục Đăng kiểm Để thay thế lẫn nhau trong việc giám sát kỹ thuật và cấpgiấy chứng nhận an toàn cho phơng tiện, Cục Đăng kiểm Việt Nam phải hội đủbốn điều kiện:

Có cơ sở pháp lý, thể chế đảm bảo tính hiệu lực và tơng thích với hệ thốngCông ớc quốc tế,

Hệ thống tiêu chuẩn, quy phạm, quy trình để giám sát và cấp giấy chứngnhận an toàn phải phù hợp, đồng nhất và tơng đơng với nhau,

Cơ sở vật chất kỹ thuật phải đợc trang bị thoã mãn để thực hiện giám sát,Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và phong cách làm việc của đội ngũ Đăngkiểm viên phải đợc tổ chức Đăng kiểm đối tác thừa nhận

Cục Đăng kiểm Việt Nam đã ký thõa thuận về hợp tác và thay thế nhaukiểm tra tàu biển của mỗi bên với 22 tổ chức Đăng kiểm của các nớc trên thếgiới: Đăng kiểm Đăng kiểm Lloy’d (Anh), Đăng kiểm Pháp (BV), Đăng kiểmNhật Bản (NK), Đăng kiểm Đức (GL), đăng kiểm Nauy (DNV), Đăng kiểm Mỹ(ABS)

Từ năm 1992, để phục vụ việc quản lý an toàn cho các giàn khoan dầu khítrên vùng biển Vũng Tàu, Cục Đăng kiểm Việt Nam đã thực hiện công tác kiểmtra an toàn và cấp giấy chứng nhận các giàn khoan dầu khí biển và các công trìnhbiển phục vụ công trình dầu khí

Năm 1995, với quy định của Nghị định số 36/CP của Chính phủ về bảo đảmtrật tự an toàn giao thông đờng bộ và đô thị, Bộ Công an đã chuyển giao việckiểm tra an toàn các loại xe cơ giới và việc đào tạo, thi, cấp chứng chỉ lái xe sang

Bộ Giao thông vận tải và Bộ đã giao cho Cục Đăng kiểm Việt Nam đã tiếp nhậncông tác kiểm tra an toàn xe cơ giới phục vụ dân sự Qua kinh nghiệm tổ chức vàthực hiện công tác đăng kiểm phơng tiện thuỷ, Cục Đăng kiểm đã nhanh chóngtriển khai công tác kiểm tra kỹ thuật an toàn cơ giới với một mạng lới hoàn chỉnh

và khắp cả nớc với một phong cách mới: đa thiết bị kiểm tra cơ giới và ứng dụng

Trang 16

tin học vào các quá trình kiểm tra kỹ thuật thay cho việc kiểm tra bằng tay vàbằng mắt của ngành Công an trớc đây, và sau hai năm đã thay thế toàn bộ dâychuyền kiểm tra bằng thiết bị cơ giới tự động, nối mạng trong dây chuyền kiểmtra và nối mạng về cơ quan trung ơng,

Năm 2003, Bộ Giao thông vận tải giao cho Cục Đăng kiểm Việt Nam thựchiện nhiệm vụ kiểm tra chất lợng, kiểm tra an toàn đầu máy, toa xe đờng sắt.Sau 40 năm hoạt động, Đăng kiểm Việt Nam đã từ một tổ chức sơ khaichuyên đăng ký và kiểm tra tính an toàn của các loại tàu vận tải sông và ven biểnViệt Nam, đến nay, Cục Đăng kiểm Việt Nam đã trở thành một tổ chức chuyên

đăng ký, kiểm tra chất lợng, kiểm tra an toàn các loại phơng tiện giao thông vậntải (riêng tàu bay đang chuẩn bị nhân lực và phơng thức kiểm tra để tiếp nhậnkhi đợc Nhà nớc giao) theo thông lệ quốc tế, và đã hoà nhập vào hệ thống các tổchức Đăng kiểm trên thế giới

1 2 Nhiệm vụ của Cục Đăng kiểm Việt Nam

Để đáp ứng các nhiệm vụ do Nhà nớc giao phó cho Cục theo các Quyết

định: số 345/QĐ ngày 25/4/1964 của Bộ Giao thông vận tải về việc thành lập Ty

Đăng kiểm, Quyết định số 267/CP ngày 19/7/1979 của Hội đồng Chính phủ vềviệc chuyển Ty Đăng kiểm thành Cục Đăng kiểm Việt Nam, Quyết định số 203/TTg ngày 28/12/1992 của Thủ tớng Chính phủ về ban hành Quy chế tổ chức vàhoạt động đăng kiểm tàu biển tại Việt Nam, Quyết định số 75/TTg ngày3/2/1997 của Thủ tớng Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộmáy của Cục Đăng kiểm Việt Nam và Quyết định số 2570/QĐ-BGTVT ngày29/8/2003 quy định nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Đăng kiểmViệt Nam, Cục Đăng kiểm Việt Nam có các nhiệm vụ chính sau đây:

1 Tổ chức và tiến hành nghiên cứu khoa học các đề tài phục vụ xây dựngtiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn ngành phục vụ công tác đăng kiểm tàu biển,tàu sông, giàn khoan dầu khí, xe cơ giới đờng bộ, đầu máy, toa xe lửa;

2 Xây dựng quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật và các văn bản pháp lý kỹ thuậtkhác có liên quan đến chất lợng và an toàn trong lĩnh vực đăng kiểm để trình BộKhoa học-Công nghệ, Bộ Giao thông vận tải ban hành;

3 Xây dựng và ban hành các biểu mẫu, chứng chỉ, các hớng dẫn áp dụngquy phạm tiêu chuẩn kỹ thuật và điều ớc quốc tế có liên quan đến hoạt động

đăng kiểm mà Việt Nam tham gia hoặc ký kết;

4 Xét duyệt thiết kế kỹ thuật trong đóng mới, chế tạo lắp ráp, sửa chữa

ph-ơng tiện và thiết bị giao thông vận tải, trên cơ sở các tiêu chuẩn, quy phạm, kỹthuật của Việt Nam và các tiêu chuẩn nớc ngoài;

Trang 17

5 Kiểm tra chế tạo vật liệu, máy móc trang thiết bị lắp đặt trên các phơngtiện giao thông vận tải, cấp giấy chứng nhận vật liệu, trang thiết bị đã đợc kiểmtra thoả mãn quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật;

6 Kiểm tra và cấp giấy chứng nhận an toàn, chứng nhận chất lợng trongquá trình chế tạo, đóng mới, hoán cải, sửa chữa và trong khai thác các loại tàubiển, tàu cá dài trên 20 mét, giàn khoan dầu khí, công trình nổi, nồi hơi bìnhchịu áp lực, thiết bị nâng, container, đầu máy-toa xe lửa, xe cơ giới đờng bộ;

7 Kiểm tra và cấp giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật cho các tàu biển, giànkhoan biển nớc ngoài theo sự uỷ quyền của Chính phủ mà tàu treo cờ, của các tổchức đăng kiểm nớc ngoài hoặc khi chủ tàu nớc ngoài yêu cầu;

8 Đánh giá và cấp giấy chứng nhận phù hợp Hệ thống quản lý an toàn quốc

tế theo Bộ luật Quản lý an toàn quốc tế (ISM Code) cho chủ tàu và tàu biển;

Đánh giá và cấp giấy chứng nhận an ninh tàu biển theo Bộ luật quốc tế về anninh cảng biển và tàu biển; Đánh giá và cấp giấy chứng nhận hệ thống quản lýchất lợng nội bộ theo tiêu chuẩn chất lợng ISO 9000 và ISO 14000 cho các nhàmáy, xí nghiệp, công ty đóng, sửa chữa các loại phơng tiện giao thông vận tải;

9 Xuất bản sổ đăng ký các loại phơng tiện và thiết bị thuộc đối tợng quản

lý của Đăng kiểm

1.3 Các lĩnh vực hoạt động của Cục và các thành tựu đã đạt đợc:

Trên cơ sở các nhiệm vụ đã đợc Nhà nớc quy định tại các Quyết định đã

đ-ợc nêu tại mục 1.3 trên, Cục Đăng kiểm Việt Nam có bốn lĩnh vực hoạt động đđ-ợcthể hiện bằng sơ đồ sau đây:

cố định, di

độngTàu chứa dầu

Phao buộc tàu chứa dầu

Nhà máy khí hoá dầu

Đ ờng ống vận tải dầu, khí

Xe cơ giới

Xe máy, mô tô

Xe máy thi công công trình

Đầu máy toa xe

Vật liệuMáy mócTrang thiết bịNồi hơi, bình chịu áp lựcContainerThử không phá huỷContainer

Trang 18

Tính đến ngày 30 tháng 3 năm 2004, Cục Đăng kiểm Việt Nam đã thựchiện đợc một khối lợng công việc, cụ thể điểm qua một số lĩnh vực nh sau:

1.3.1 Lĩnh vực đăng kiểm phơng tiện thủy đợc thực hiện đúng định kỳ:

1 Đăng kiểm tàu biển:

- Tổng số tàu Việt Nam và tàu treo cờ nớc ngoài : 1010

1 Cục Đăng kiểm Việt Nam độc lập giám sát:

- 5 tàu chứa dầu, trọng tải khoảng 150.000 tấn/tàu, cùng hệ thống phaoneo

- 2 dàn khoan tự nâng,

Trang 19

- 1 dàn bán chìm,

- 1 tàu cẩu, dải ống

2 Cục Đăng kiểm Việt Nam kết hợp với các Đăng kiểm nớc ngoài:

2.1 Với Đăng kiểm Lloyd (Anh):

- Dàn ống đứng cho Vietsovpetro,

- Dàn Ruby cho Petronas,

- Một số hạng mục công trình thuộc mỏ Rạng Đông cho JVPC,

- 120 km đờng ống dẫn khí từ mỏ Bạch Hổ vào Bà Rịa cho Petro Vietnam,

- Trạm hoá lỏng khí tại Dinh Cố và 20 km ống dẫn khí lỏng từ Dinh Cố điPhú Mỹ,

- Giám sát ký thuật và phân cấp : 30 dàn cố định kiểu MSP và dàn nhẹkiểu BK tại mỏ Bạch Hổ và mỏ Rồng của Vietsovpetro

2.2 Với Đăng kiểm ABS (Hoa kỳ)

Kiểm tra một số hạng mục công trình của mỏ Rạng Đông của Hãng JVPC(Nhật bản)

2.3 Với Đăng kiểm DVN (Na Uy)

- Giám sát kỹ thuật cho dàn và Hệ thống đờng ống dẫn khí từ mỏ Lan Tâyvào Vũng tàu (khoảng 175 km) của dự án Nam Côn Sơn của Hãng BP,

- Giám sát kỹ thuật dự án Tổ hợp công nghệ trung tầm số 3 (CPC-3) mỏBạch Hổ của Xí nghiệp liên doanh Việt Xô

1.3.3 Lĩnh vực kiểm tra định kỳ xe cơ giới :

- Tổng số đầu máy truyền động điện: 67 lợt/xe ,

- Tổng số đầu máy truyền động thuỷ lực: 65 lợt/xe ,

- Tổng số guồng máy và ô tô ray: 30 lợt/xe ,

Trang 20

- Tæng sè b×nh chÞu ¸p lùc: 54 lît/chiÕc.

Trang 21

1.3.5 Lĩnh vực chứng nhận sản phẩm công nghiệp

1 Sản phẩm mẫu:

- Container: 34 mẫu

2 Kiểm tra chứng nhận theo lô chế tạo hoặc nhập khẩu và trong sử dụng:

- Vật liệu (thép và hợp kim đóng tàu): 83.000 tấn

- Kiểm tra cấp chứng chỉ theo lô que hàn: 4900 tấn

1.3.6 Chứng nhận theo bộ luật ism, iso 9000:

1 Đánh giá chứng nhận cho cơ quan bên ngoài:

- Đánh giá cấp giấy chứng nhận DOC cho công ty: 66 công ty

- Đánh giá cấp giấy chứng nhận cho SMC cho tàu: 228 tàu

- Đánh giá và cấp giấy chứng nhậnhệ thống quản lý chất lợng nội bộISO 9000 7 công ty

Trang 22

Trong hai lĩnh vực đăng kiểm phơng tiện thuỷ và công trình biển, Cục Đăngkiểm Việt Nam đã ký thỏa thuận với các tổ chức Đăng kiểm nớc ngoài về việcthay thế, hợp tác giám sát kỹ thuật và cấp giấy chứng nhận an toàn cho tàu biển

và giàn khoan biển của nhau, nh sau:

TT Tổ chức Đăng kiểm nớc ngoài (tiếng

QuốcCRS (Czech Register of Shipping) Đăng kiểm CH Séc

JCS Johnson Classification Society) Đăng kiểm Triều

tiên

LR Lloyd” tại cục Đăng Kiểm Việt Nam d Register of Shipping) Đăng kiểm Anh

NK (Nippon Kaiji Kyokai) Đăng kiểm Nhật

BảnMRS (Maritime Register of Shipping) Đăng kiểm NgaPRS (Polski Rejester Statkow) Đăng kiểm Ba Lan

RCB (Registro Cubano De Buques) Đăng kiểm Cu ba

KR (Korean Register of Shipping) Đăng kiểm Hàn

QuốcRINA (Registro Italiano Navale) Đăng kiểm Italia

Indonesia

CR (China Corporation Register ofShipping)

Đăng kiểm Đàiloan

IRS (Indian Register of Shipping) Đăng kiểm Ân độRRR (Russian River of Shipping) Đăng kiểm sông

NgaINSB (International Naval Surveys

Bureau)

Đăng kiểm Hy Lạp

Ukraina

Ngoài việc Cục Đăng kiểm Việt Nam và các tổ chức Đăng kiểm nớc ngoài

ký thỏa thuận thay thế lẫn nhau giám sát kỹ thuật đã đợc nêu ở bảng trên, cácChính phủ hoặc Chính quyền hành chính nớc ngoài sau đây uỷ quyền cho Đăng

Trang 23

kiÓm ViÖt Nam thùc hiÖn gi¸m s¸t kü thuËt vµ cÊp c¸c cÊp giÊy chøng nhËn antoµn cho tµu biÓn cña níc hä qu¶n lý:

Trang 24

TT Tên Chính phủ, chính

quyền hành chính

quyền

1 Cộng hoà Panama Hoàn toàn (cả kiểm tra & cấp GCN) 2002

2 Cộng hoà Bolivia Hoàn toàn (cả kiểm tra & cấp GCN) 2003

3 Cộng hoà Belize Hoàn toàn (cả kiểm tra & cấp GCN) 2003

4 Vơng quốc Cambodia Hoàn toàn (cả kiểm tra & cấp GCN) 2000

5 Honduras Hoàn toàn (cả kiểm tra & cấp GCN) 2003

6 CHDCD Lào Hoàn toàn (cả kiểm tra & cấp GCN) 1996

7 Cộng hoà Mông cổ Hoàn toàn (cả kiểm tra & cấp GCN) 2003

Hoàn toàn (cả kiểm tra & cấp GCN) 2003

2 Công tác đào tạo nguồn nhân lực và sử dụng cán bộ ở Cục trong những năm qua

2 1 Đánh giá chung về công tác đào tạo

2.1.1 Những mặt làm đợc trong công tác đào tạo ở Cục:

Từ 2001 - 2003, Cục Đăng kiểm Việt nam đã chú trọng đẩy mạnh công tác

đào tạo cho cán bộ quản lý, đăng kiểm viên, nghiên cứu viên, nhân viên của Cụctheo hớng đào tạo bổ sung kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đăng kiểm, nângcao trình độ ngoại ngữ, lý luận chính trị, đào tạo lại Việc đào tạo này khôngnhững áp dụng cho cán bộ, đăng kiểm viên mà còn mở rộng cả với cán bộ quản

lý, đăng kiểm viên và nhân viên của các đợn vị đăng kiểm trực thuộc các Sở Giaothông công chính, Sở Giao thông vận tải của cả nớc, cho các cán bộ chuyên môn

đang làm công tác kiểm tra chất lợng sản phẩm, cán bộ thiết kế của các Nhàmáy, Công ty có quan hệ về nghiệp vụ đăng kiểm và kiểm tra chất lợng sảnphẩm nhằm không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý đểthông thạo quá trình kiểm soát chất lợng sản phẩm, quan hệ công tác giữa các b-

ớc công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu của Ngành trong sự nghiệp đổi mới, côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc

Những năm qua, Cục Đăng kiểm Việt Nam đã sử dụng các hình thức đàotạo nh sau:

1) Đào tạo tại Cục:

Trang 25

- Đào tạo lý thuyết (nghiệp vụ chuyên môn) kết hợp với thực hành tại một

đơn vị của Cục có đầy đủ trang thiết bị kiểm tra phù hợp với yêu cầu thực tếcông tác đăng kiểm phơng tiện giao thông vận tải (xe ô tô, mô tô, xe máy, xemáy công trình) Cán bộ sau khi hoàn thành chơng trình đào tạo sẽ làm việc đợcngay, đáp ứng đợc nhiệm vụ đợc giao Hình thức này áp dụng cho cán bộ chuyênmôn có trình độ đại học chuyên ngành cơ khí, đang tập sự tại các đơn vị hoặc bồidỡng, nâng cao nghiệp vụ cho một số cán bộ chuyên môn

- Đào tạo lý thuyết, lý luận cơ bản, sau đó viết thu hoạch giải quyết nhữngtình huống cụ thể đã xẩy ra trong ngành Hình thức này áp dụng đối với cán bộquản lý, nhân viên văn phòng

- Đào tạo lý thuyết (nghiệp vụ chuyên môn), xong gửi học viên đi các Chicục để thực hành nghiệp vụ kiểm tra Đây là hình thức đào tạo áp cho các kỷ svừa ra trờng đợc tiếp nhận về Cục sẽ bố trí làm công tác đăng kiểm phơng tiệnthuỷ và công trình biển Hình thức đào tạo này đòi hỏi học viên phải học với thờigian từ 6 tháng đến một năm Thời gian đào tạo phải kéo dài là do nghiệp vụkiểm tra phơng tiện thuỷ và công trình biển rất phức tạp, bao gồm nhiều hạngmục kiểm tra, chiều chủng loại phơng tiện, mỗi phơng tiện là một công trìnhtổng hợp gồm kết cấu phức tạp, nhiều máy móc, nhiều trang thiết bị

2) Gửi cán bộ đi đào tạo ở bên ngoài: hình thức này áp dụng đối với cán bộ,

Đăng kiểm viên làm nhiệm vụ kiểm tra tàu biển của nớc ngoài (gửi đi đào tạo tạicác tổ chức đăng kiểm nớc ngoài); cán bộ quản lý đợc cử đi đào tạo lý luận chínhtrị, quản lý hành chính, quản lý kinh tế tại các Học viện

Hàng năm Cục dành một khoản kinh phí khoảng 500 triệu đồng chi chocông tác đào tạo Đối với các lớp đào tạo cho cán bộ của cơ quan ngoài, Cục chỉthu lại một khoản kinh phí để chi cho việc in ấn tài liệu cấp cho ngời học, Cụckhông đặt vấn đề thu phí đào tạo mà Cục xem đây là hình thức đầu t từ xa

Về mặt tổ chức, Cục đã nâng cấp bộ phận đào tạo thuộc phòng Tổ chức cán

bộ thành Trung tâm đào tạo để tăng cờng công tác đào tạo, xây dựng chơng trình

đào tạo dài hạn cho cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn

Năm 2004, trên cơ sở các giáo trình chuẩn của các Tổ chức quốc tế, Cục đãban hành Chơng trình đào tạo chuẩn đăng kiểm viên ngành tàu biển, tàu sông và

xe cơ giới, áp dụng cho mọi cán bộ chuyên môn thuộc các lĩnh vực đó Theo đó,

cứ hai năm một lần, các cán bộ chuyên môn quay trở về văn phòng Cục bổ túc,bồi dỡng nghiệp vụ đăng kiểm theo chuyên ngành cảu mình Trờng hợp Nhà nớcban hành mới những quy định, tiêu chuẩn thông qua các Quyết định, Nghị định

có liên quan đến việc sửa đổi tiêu chuẩn đánh giá an toàn phơng tiện giao thông

Ngày đăng: 13/12/2012, 11:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w