Đào tạo theo hệ thống tín chỉ là một hình thức đào tạo hướng đến tính năng động và lợi ích tối cao của người học, được đưa vào áp dụng trong các khoa ở trường ĐHĐN chưa lâu.. Nhận thức t
Trang 2Lời khai mạc hội thảo
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY – HỌC
THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
ThS Cao Thị Kim Thanh
Trưởng khoa Sư phạm Khoa học Tự nhiên
Kính thưa Quý vị Đại biểu!
Kính thưa quý Thầy cô giáo!
Thực hiện kế hoạch hoạt động khoa học năm học 2010- 2011, Khoa Sư phạm Khoa học Tự nhiên trường Đại học Đồng Nai tiến hành tổ chức Hội thảo
khoa học với chủ đề: “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng Dạy - Học
theo hệ thống tín chỉ” nhằm mục đích nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân
lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới
Trước hết thay mặt cho toàn thể cán bộ giảng viên trong khoa, tôi nhiệt liệt chào mừng và cảm ơn sự nhiệt tình của Quý vị đã đóng góp tham luận, chuẩn bị
ý kiến và sắp xếp công việc, thời gian tham gia hội thảo
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ là một hình thức đào tạo hướng đến tính năng động và lợi ích tối cao của người học, được đưa vào áp dụng trong các khoa ở trường ĐHĐN chưa lâu Vì vậy, trong thời gian qua mặc dù đã có nhiều cố gắng tìm hiểu và áp dụng vào tổ chức giảng dạy trong khoa Sư phạm Khoa học Tự nhiên cũng như trong toàn trường nhưng chúng ta thực sự còn gặp nhiều vướng mắc, lúng túng, nhất là trong việc tìm ra các phương pháp dạy học hiệu quả tương ứng với hình thức đào tạo mới này Hình thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ được tiếp nhận từ các nước phát triển, nhưng khi áp dụng một hình thức hoạt động đã thể nghiệm thành công ở các nền giáo dục tiên tiến, chúng ta cần tính tới một giải pháp tổng thể bao gồm chương trình, tài liệu, hình thức và cách thức đánh giá, yêu cầu về trình độ và điều kiện làm việc của giảng viên Phương pháp Dạy - Học là vấn đề khá phức tạp, lâu dài và có tính quyết định đến sự thành
Trang 3công của hình thức đào tạo mới Với những điều kiện về mọi mặt hết sức đặc thù của khoa Sư phạm Khoa học Tự nhiên trường ĐHĐN, cũng như các trường Cao đẳng và Đại học khác trong cả nước, chắc chắn chúng ta cần phải tiếp tục trao đổi kinh nghiệm và các ý tưởng để vận dụng các phương pháp Dạy - Học một cách thành công
Như trên đã nói, có nhiều yếu tố cấu thành hình thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ, trong đó khâu trọng yếu để đạt được là phương pháp Dạy - Học Các yếu
tố khác chúng ta có thể dễ dàng nhận ra và hoàn thiện từng bước, riêng phương pháp Dạy - Học phải được chú trọng đầu tư nghiên cứu, trao đổi để tạo ra tính đột phá và tính thuyết phục đối với cả hệ thống giáo dục, trong đó có sinh viên – những người đang thụ hưởng các hoạt động giáo dục ở các trường Cao đẳng và Đại học hiện nay
Hội thảo khoa học của khoa Sư phạm Khoa học Tự nhiên lần này chú trọng vào việc đánh giá thực trạng và đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng Dạy - Học theo hệ thống tín chỉ, cuộc hội thảo này được xem như là một khởi đầu cho những bàn luận tiếp theo về vấn đề này tại các cuộc hội thảo cấp trường và khu vực sẽ diễn ra trong tương lai gần
Ban tổ chức hội thảo hi vọng rằng những ý kiến tham luận hôm nay sẽ từng bước làm rõ những vấn đề mà mọi giảng viên ở các trường ĐH và CĐ thường vấp phải trong quá trình giảng dạy Hội thảo đặc biệt chú trọng vào việc bàn thảo những phương pháp Dạy - Học hiệu quả và cụ thể hóa chúng bằng những thao tác, những hình thức thực hiện nhằm nâng cao tính ứng dụng và tạo thuận lợi cho giảng viên đang giảng dạy trong các trường CĐ, ĐH nói chung, ĐHĐN nói riêng Hội thảo cũng rất vui mừng nhận được sự cộng tác để chia sẻ kinh nghiệm trong giảng dạy theo hệ thống tín chỉ của PGS.TS Biền Văn Minh; TS Tôn Thất Dụng; TS Đặng Thị Ngọc Phượng đến từ trường ĐHSP - ĐH Huế, của GVCC.TS Lê Văn Phúc đến từ tường ĐHSP – TP Hồ Chí Minh Đây cũng là những kinh nghiệm quý để chúng ta tham khảo vận dụng vào việc giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của khoa, trường
Trang 4Chúng ta tin tưởng rằng, sau hội thảo này, những tham luận, những trao đổi
của quý vị sẽ góp phần làm cho chúng ta hiểu rõ hơn “Thực trạng và giải pháp
nâng cao chất lượng Dạy - Học theo hệ thống tín chỉ” của khoa, trường ta
Với những ý nghĩa quan trọng đó, tôi xin long trọng khai mạc Hội thảo của khoa Sư phạm Khoa học Tự nhiên năm học 2010 - 2011
Kính chúc Quý vị đại biểu, cùng toàn thể các thành viên tham dự hội thảo sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong cuộc sống
Chúc hội thảo thành công tốt đẹp
Xin trân trọng cảm ơn
Biên Hòa, ngày 21 tháng 05 năm 2011
Trang 5BÁO CÁO ĐỀ DẪN
“THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DẠY – HỌC THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ”
ThS Cao Thị Kim Thanh
Kính thưa quý vị Đại biểu!
Thưa tồn thể các thành viên tham dự Hội thảo!
Sự phát triển của thế giới và sự thay đổi nhanh chĩng của nền kinh tế tri thức tồn cầu đã đặt nền giáo dục các nước đang phát triển trong đĩ cĩ Việt Nam, đặc biệt đối với trường ĐHĐN trước nhiều thách thức lớn về chất lượng đào tạo Bối cảnh đĩ địi hỏi giáo dục phải nhanh chĩng đổi mới để cĩ thể hồn thành sứ mệnh đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cĩ chất lượng cao cho đất nước nĩi chung
và Đồng Nai nĩi riêng- một tỉnh cĩ thế mạnh về cơng nghiệp Sản phẩm của giáo dục là những con người cĩ khả năng sáng tạo, thích ứng với cơng việc mới, cĩ hồi bão trở thành những nhà khoa học, các nhà doanh nghiệp, các nhà lãnh đạo xuất sắc
Thực hiện Nghị quyết của Chính phủ về đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay, việc chuyển đổi Dạy – Học theo hệ thống tín chỉ là một bước quan trọng và mang tính tất yếu trong đào tạo Đại học, phù hợp với xu thế hội nhập khu vực và quốc tế
Từ năm học 2009 – 2010, khoa Sư phạm Khoa học Tự nhiên đã chính thức triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở tất cả các tổ bộ mơn Bước đầu chúng ta gặp nhiều thuận lợi nhưng cũng khơng ít khĩ khăn Trong điều kiện và khả năng
cho phép, khoa Sư phạm Khoa học Tự nhiên đã chọn vấn đề: “Thực trạng và giải
pháp nâng cao chất lượng Dạy - Học theo hệ thống tín chỉ” làm nội dung cho
cuộc hội thảo lần này Chúng tơi cho rằng trong quá trình tổ chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ, phương pháp Dạy - Học phù hợp là một trong những khâu quan trọng nhất Từ nhận thức đĩ, khoa Sư phạm Khoa học Tự nhiên trường ĐHĐN
đã tích cực chuẩn bị cho hội thảo Sau một thời gian, ban tổ chức đã nhận được
Trang 6gần 30 bài tham luận của các đại biểu, các nhà khoa học, các nhà quản lí các giảng viên đang trực tiếp giảng dạy trong và ngồi trường
Đây là một niềm vinh dự và cũng là một sự khích lệ lớn cho khoa Sư phạm Khoa học Tự nhiên chúng tơi Với sự tham gia nhiệt tình của các quí vị, ban tổ chức hi vọng Hội thảo sẽ làø dịp cho chúng ta trao đổi, làm sáng tỏ, gợi mở những cách làm mới hiệu quả trong Dạy – Học
Nội dung các bài tham luận tập trung vào ba nội dung chính sau đây:
Nhận thức về đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy trong đào tạo tín chỉ
Một số vấn đề liên quan đến đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Thay mặt ban tổ chức hội thảo của khoa, chúng tơi xin tổng thuật sơ bộ nội dung các bài viết như sau:
1 Nhận thức thêm về đào tạo theo hệ thống tín chỉ:
Tập trung cho vấn đề này cĩ các báo cáo “Những khĩ khăn và thách thức
trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại Trường Đại học Đồng Nai” của NCS Trần
Minh Hùng; Giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy Đại học theo hệ thống tín
chỉ của GVC.TS Nguyễn Duy Anh Tuấn; Báo cáo “Áp dụng hệ thống đào tạo theo hệ thống tín chỉ" của NCS Nguyễn Ngọc Duy; "Trao đổi về đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ” của GVC.ThS
Cao Thị Kim Thanh
2 Vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ: Đây là chủ đề trọng tâm của Hội thảo Vì vậy, nhiều báo cáo tập trung bàn về vấn đề này Đáng chú ý là các bài của GV Lê Quang Tân viết về “Đổi mới cách dạy
học ở các trường Đại học và Cao đẳng Sư phạm trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ”, Báo cáo của PGS.TS Biền Văn Minh- Trường ĐHSP – ĐH Huế: “Đổi mới biên soạn giáo trình mơn học ở Đại học đáp ứng đào tạo theo hệ thống tín chỉ”; báo
cáo của GVCC TS Lê Văn Phúc “Một số giải pháp nâng cao chất lượng Dạy - Học
theo hệ thống tín chỉ”; của ThS Ngơ Thạch Tín báo cáo về “Tổ chức tốt việc tự học cho sinh viên trong học phần Lí luận dạy học cơng nghệ nhằm nâng cao chất lượng
Trang 7đào tạo theo hệ thống tín chỉ” Báo cáo về “Đổi mới phương pháp dạy học ngữ văn trong đào tạo đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Trường Đại học Đồng Nai” của ThS
Nguyễn Thị Mỹ Dung, “Giải pháp nâng cao hiệu quả trong giờ thảo luận nhĩm” của
ThS Trương Văn Minh, “Nghĩ thêm về thực tập sư phạm trong đào tạo theo hệ
thống tín chỉ” của TS Tơn Thất Dụng (ĐHSP - ĐH Huế)
3 Một số vấn đề liên quan đến đào tạo theo hệ thống tín chỉ:
Với nội dung này, cĩ các báo cáo của GV Võ Hồng Phúc về “E-learning và
sử dụng e-learning để hỗ trợ việc đào tạo theo hệ thống tín chỉ”; “Dạy học theo
dự án” của ThS Lê Anh Tuấn, “Xây dựng đĩa CD hỗ trợ sinh viên tự học” của
GV Lê Thị Ngọc Hiếu “Ứng dụng cơng nghệ thơng tin trong dạy học theo hệ
thống tín chỉ” của ThS Nguyễn Minh Trí “Vai trị của đội ngũ cố vấn học tập
trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ” của TS Đặng Thị Ngọc Phượng (ĐHSP –
ĐH Huế)
Các bài viết đã thể hiện những cách nhìn, những kinh nghiệm bước đầu, những giải pháp tâm huyết, ý thức trách nhiệm của người thầy trước vấn đề đổi mới phương pháp Dạy - Học phù hợp với hệ thống tín chỉ Cĩ thể nĩi những kinh nghiệm từ các nhà quản lí, những người trực tiếp giảng dạy tuy là bước đầu nhưng đã cĩ tác dụng thiết thực, gĩp phần đổi mới phương pháp giáo dục
Do thời gian cĩ hạn, hơn nữa để hội thảo tập trung vào những vấn đề chính của việc đổi mới phương pháp Dạy- Học theo hệ thống tín chỉ, chúng tơi đề nghị quí vị đại biểu, thầy cơ giáo bàn thêm những vấn đề cụ thể sau:
Chúng ta làm thế nào để gĩp phần nâng cao nhận thức và hành động của giảng viên trong đổi mới phương pháp Dạy - Học theo hệ thống tín chỉ?
Vai trị của người thầy trong đổi mới đào tạo theo hệ thống tín chỉ?
Làm gì để nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ?
Mối quan hệ giữa đổi mới cách dạy và đổi mới cách học trong đào tạo theo
hệ thống tín chỉ?
Những đổi mới về quản lý đào tạo gắn với đổi mới phương pháp giảng dạy
Trang 8Vấn đề kiểm tra đánh giá trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Vấn đề ứng dụng CNTT trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Vấn đề kiến tập, thực tập trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Thay mặt Ban tổ chức, chúng tôi chân thành cảm ơn các nhà khoa học, các nhà quản lí, thầy cô đã nhiệt tình cộng tác, tham gia để hội thảo thành công và thật sự là diễn đàn trao đổi những ý kiến quí báu về một công việc rất cần thiết với mỗi chúng ta
Trân trọng cảm ơn
Trang 9NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ THÁCH THỨC TRONG TỔ CHỨC ĐÀO TẠO
THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI
NCS Trần Minh Hùng
Q hiệu trưởng trường ĐH Đồng Nai
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ không chỉ là một giải pháp mang tính công
nghệ cao mà còn báo hiệu một cuộc cải cách lớn trong giáo dục Đại học Để thực
hiện thành công phương thức đào tạo mới này tại Trường Đại học Đồng Nai,
chúng ta thấy rằng:
Cộng đồng xã hội mà giáo dục Đại học phục vụ đã và đang thay đổi Đó là
một sự thay đổi không ngừng nghỉ, thay đổi trên mọi bình diện mà không một cá
nhân nào, một tổ chức nào có thể dự đoán chính xác được tốc độ, mức độ, quy
mô thay đổi
Sau nhiều thế kỷ, giáo dục Đại học truyền thống chỉ quen với việc “truyền
giáo” truyền bá văn minh, khoa học cho cộng đồng xã hội, đã đến lúc, chúng ta
phải tổ chức lại việc quản lý, thay đổi nội dung chương trình, phương thức đào
tạo để hội nhập giáo dục khu vực và thế giới
Hiểu và áp dụng hình thức đào tạo này không phải là một chuyện dễ dàng,
vì ảnh hưởng của đào tạo theo niên chế khá nặng nề Bởi vậy, những khó khăn và
thách thức đang đặt ra trong tổ chức và đào tạo theo hệ thống tín chỉ là không thể
tránh khỏi
2 Những đặc trưng cơ bản của hệ thống tín chỉ
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ có các đặc điểm cơ bản sau đây:
Kiến thức được cấu trúc thành các mô đun (học phần) Mỗi môn học có thể
bao gồm nhiều học phần Mỗi học phần được giảng dạy trong một học kì và được
đánh giá độc lập với các học phần khác Đơn vị đo khối lượng học tập của sinh
viên là tín chỉ Mỗi tín chỉ tương ứng với 15 tiết lý thuyết trên lớp
Quá trình học tập là quá trình tích lũy kiến thức theo học phần Để đạt được
bằng cử nhân, sinh viên thường phải tích lũy đủ từ 120-150 tín chỉ Tuy nhiên,
Trang 10tùy theo mỗi nước mà số tín chỉ tích lũy có khác nhau: Hoa Kỳ: 120-136; Nhật Bản: 120-135; Thái Lan 120-150…
Lớp học tổ chức theo học phần
Chương trình đào tạo mềm dẻo, có tính liên thông cao, ngoài học phần bắt buộc còn có học phần tự chọn để sinh viên có điều kiện tích lũy thêm tín chỉ và định hướng chuyên môn, nghề nghiệp
Đào tạo theo tín chỉ có hệ thống cố vấn am hiểu về chương trình đào tạo và nắm vững tình hình học tập cụ thể của sinh viên
Thi tuyển và tổ chức đào tạo theo học kỳ
Tính kế hoạch hóa cao Đầu mỗi học kỳ, kế hoạch giảng dạy của các môn học phải được công bố cho sinh viên để họ sắp xếp, lựa chọn và đăng ký các môn học thích hợp với năng lực và hoàn cảnh của họ Kế hoạch này phải được duy trì
và giữ ổn định trong suốt cả học kỳ Giảng viên phải thực hiện thời khóa biểu một cách nghiêm túc, vì không có khả năng tổ chức các buổi học bù, do thời khóa biểu của từng sinh viên trong một lớp học rất khác nhau
3 Những khó khăn và thách thức
Trường Đại học Đồng Nai được thành lập theo Quyết định số TTg ngày 20/8 năm 2010, trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Sư phạm, trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai Trong những năm qua quy mô đào tạo của nhà trường ngày một mở rộng, thu hút một lượng lớn sinh viên, học viên theo học ở nhiều ngành nghề khác nhau Năm học 2010-2011, trường có hơn 11.000 sinh viên, học viên theo học ở cả hai hệ chính quy và không chính quy Thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ năm học 2009 – 2010, nhà trường đã chính thức triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ Việc triển khai tổ chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ hiện còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng và khi triển khai thì chưa đạt kết quả mong muốn
1572/QĐ-Theo chúng tôi sở dĩ còn khó khăn và kết quả không cao do các nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Thứ nhất: đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên của trường chưa hiểu đúng
và đầy đủ về việc đào tạo theo hệ thống tín chỉ Năng lực giảng dạy của giảng
Trang 11viên và năng lực quản lý của cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu của đào tạo theo
hệ thống tín chỉ;
Thứ hai: bản thân sinh viên chưa được chuẩn bị đầy đủ cả về nhận thức,
tâm lý, phương pháp học tập và làm việc, đặc biệt là phương pháp tự học, tự nghiên cứu tài liệu, chuẩn bị bài lên lớp…
Thứ ba: nhà trường chưa chuẩn bị đầy đủ điều kiện về cơ sở vật chất như
thư viện và tài liệu dạy- học, đội ngũ giảng viên, đặc biệt là chương trình chi tiết,
đề cương bài giảng, giáo trình môn học Thói quen dạy- học và quản lý đào tạo theo kiểu niên chế còn rất lớn
Thứ tư : thiếu sự nhất quán kiên quyết và liên tục trong việc lập kế hoạch, chính sách, chỉ đạo thực hiện và tổng kết đánh giá từng giai đoạn trong quá trình triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Thứ năm: công tác xây dựng phần mềm ứng dụng đào tạo tín chỉ chưa đáp
ứng được nhu cầu cấp thiết hiện nay
Thứ sáu: điều kiện để công nhận tín chỉ tương đương của các môn học
trong trường chưa được thống nhất ban hành Biện pháp quản lý đào tạo đối với sinh viên cùng học một lúc hai chương trình tại một trường khác chưa có thông tin cụ thể
Thứ bảy: việc đánh giá kết quả học tập của SV theo quy chế 43 (tỉ trọng
điểm thành phần và điểm quá trình khá cao từ 30-50%) nhất là các lớp đông chưa
có biện pháp khắc phục
4 Các điều kiện cần thiết để triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Theo chúng tôi để triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ có kết quả tốt tại trường ta, cần có các điều kiện sau:
Ñội ngũ cán bộ phải đáp ứng yêu cầu đào tạo theo tín chỉ:
Đội ngũ này phải hiểu đúng và đầy đủ về hệ thống tín chỉ Phải có tài liệu hướng dẫn chi tiết về tổ chức và quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ; tổ chức nhiều hội thảo, tọa đàm trong đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, nhân viên với
sự tham gia, hướng dẫn của các chuyên gia Cần thành lập một nhóm chuyên gia
Trang 12tìm hiểu về vấn đề này: thu thập và nghiên cứu các tài liệu trong và ngồi nước
về hệ thống tín chỉ; tìm hiểu tình hình tổ chức đào tạo theo tín chỉ của các trường Đại học trong nước và một số trường Đại học nước ngồi; tổ chức hội thảo trong nhĩm về tín chỉ và lộ trình chuẩn bị đào tạo theo tín chỉ; biên soạn tài liệu hướng dẫn tổ chức và quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ Sau khi nhĩm chuyên gia hồn thành các cơng việc trên sẽ tổ chức các cuộc hội thảo trong đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên để mọi người hiểu về hệ thống tín chỉ và đĩng gĩp cho hội thảo lộ trình chuyển đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Các giảng viên phải hiểu biết về các phương pháp Dạy- Học, kiểm tra - đánh giá tiên tiến theo yêu cầu của hệ thống tín chỉ và cĩ kỹ năng sử dụng các thiết bị giảng dạy hiện đại Để cĩ điều kiện này, phải giúp đỡ các đơn vị đào tạo
tổ chức các đợt tập huấn cho đội ngũ giảng viên về các phương pháp Dạy - Học, kiểm tra - đánh giá tiên tiến Các đơn vị đào tạo cũng cần thành lập bộ phận hoặc giao nhiệm vụ cho một bộ phận quản lý, hướng dẫn, cung cấp dịch vụ sử dụng các thiết bị Dạy- Học hiện đại cho giảng viên và sinh viên
Các chuyên viên của các phịng quản lý đào tạo được trang bị kiến thức về phương thức quản lý theo học tín chỉ, về kỹ thuật xây dựng thời khố biểu mơn học theo đăng ký của người học và hệ thống phần mềm cơng nghệ thơng tin đáp ứng cơng việc ấy Cĩ đủ đội ngũ cố vấn am hiểu về chương trình đào tạo để hướng dẫn người học chọn mơn học và xây dựng kế hoạch học tập
Trường phải xây dựng được chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ:
Xây dựng lại chương trình đào tạo cũng là dịp để nghiên cứu và vận dụng các lý luận về thiết kế chương trình hiện đại theo tiêu chuẩn của các trường Đại học tiên tiến, đáp ứng yêu cầu hiện tại và tương lai của đất nước đối với ngành đào tạo và yêu cầu hội nhập quốc tế Khi xây dựng chương trình khung đào tạo theo học tín chỉ nên rà sốt lại để bỏ bớt những mơn khơng cần thiết, bổ sung các mơn học mới cập nhật hơn, kế thừa những yếu tố tích cực, phù hợp của khung chương trình đào tạo hiện cĩ Trong điều kiện của ta hiện nay, khoảng 130-140 tín chỉ cho một chương trình đào tạo bậc Đại học 4 năm và sinh viên bắt buộc phải tích luỹ là con số phù hợp
Trang 13Đối với các mơn khoa học lý luận Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cần chuyển thời lượng các mơn học này sang tín chỉ theo tỷ lệ như các mơn học khác
cĩ tính đến đặc thù của các mơn này (nặng kiến thức lý luận) và trong quá trình chuyển đổi cần cơ cấu lại nội dung theo hướng giảm giờ lên lớp lý thuyết tăng thời gian cho các hoạt động tự nghiên cứu, tìm hiểu và vận dụng thực tế
Từng môn học phải có chương trình chi tiết;
Các môn học phải đủ giáo trình, bài giảng, tài liệu tham khảo;
Các văn bản pháp quy liên quan tới việc tổ chức đào tạo theo tín chỉ cần được chuẩn bị kịp thời;
Cĩ quy định (hoặc hướng dẫn) đào tạo theo hệ thống tín chỉ, trong đĩ nội dung quy định trách nhiệm của giảng viên và sinh viên trong hệ thống tín chỉ; một trong các trách nhiệm của giảng viên là phải cĩ đề cương mơn học (sylabus) phát cho sinh viên trước hoặc trong buổi học đầu tiên;
Nghiên cứu ban hành các văn bản hướng dẫn chế độ, chính sách đối với cán
bộ quản lý, giảng viên, nhân viên trong hệ thống tín chỉ
Đảm bảo điều kiện vật chất tối thiểu đạt yêu cầu đào tạo theo tín chỉ:
Đủ thiết bị giảng dạy hiện đại giúp giảng viên đỡ mất thời gian viết bảng hoặc trình bày, giảng bài trên lớp;
Đủ phịng học, hội trường, phịng thí nghiệm, phịng đọc ở thư viện để bố trí lớp học theo yêu cầu đăng ký của sinh viên và tạo điều kiện cho sinh viên tự học ngồi giờ lên lớp;
Cĩ hệ thống phần mềm, cơ sở dữ liệu quản lý đào tạo sinh viên theo hệ thống tín chỉ;
Đổi mới phương thức hoạt động của các tổ chức Đảng, Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong nhà trường Xác định các phương thức quản lý và hoạt động phù hợp trong điều kiện tổ chức đào tạo theo tín chỉ (kết hợp quản lý người học theo khố và theo mơn học)
Trang 145 Kết luận
Việc chuyển từ đào tạo Đại học hệ niên chế sang đào tạo liên thông theo hệ thống tín chỉ là một bước chuyển mang tính tất yếu, phù hợp với xu thế hội nhập khu vực và quốc tế Để thực hiện tốt quá trình đào tạo này cần tập trung thực hiện tốt các nội dung sau:
Cần thay đổi nhận thức trong cán bộ và SV về đào tạo theo hệ thống tín chỉ Cần mạnh dạn trong việc đổi mới chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội và hội nhập quốc tế
Tập trung vào việc xây dựng cơ sở vật chất để đáp ứng yêu cầu đào tạo
Có kế hoạch, chính sách, chỉ đạo thực hiện và tổng kết đánh giá từng giai đoạn của ngành giáo dục và đào tạo trong quá trình triển khai hệ thống tín chỉ Cần phải học hỏi kinh nghiệm của các trường Đại học trong và ngoài nước
đã đào tạo theo hệ thống tín chỉ, nhưng không bê nguyên khuôn mẫu, áp dụng máy móc Để đảm bảo sự chuyển đổi thành công thì mô hình lựa chọn phải thích hợp với tình hình thực tế của trường ta
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án phát triển GV THPT và TCCN (2009), Tài
liệu Hội thảo - Tấp huấn: Mô hình đào tạo, chương trình đào tạo, quản lý
đào tạo và biên soạn giáo trình trong đào tạo giáo viên, Hà Nội - 2009
[2] Quy chế đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ (Ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT )
[3] Một số trang Web
Trang 15THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC,
QUẢN LÍ ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
TS Lê Hữu Cần Phó Hiệu Trưởng Trường ĐH Hồng Đức
1 MỞ ĐẦU
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ là xu thế tất yếu hiện nay trên thế giới, với nhiều ưu điểm vượt trội hơn so với đào tạo theo niên chế Hệ thống tín chỉ là hình thức đào tạo được xem là tiên tiến vì mục đích đào tạo là hướng vào sinh viên, coi người học là trung tâm trong quá trình đào tạo Với hình thức này, người học chủ động hơn trong việc tiếp thu kiến thức và lập kế hoạch học tập cho mình, nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu Đào tạo theo hệ thống tín chỉ là phương thức đào tạo tích cực, hạn chế được tình trạng dạy và học theo lối kinh viện, đem lại hiệu quả giáo dục cao, tạo tính mềm dẻo và khả năng thích ứng về quản lí và giảm được giá thành đào tạo Phương thức đào tạo này đang được các trường Đại học, Cao đẳng trong cả nước quan tâm và áp dụng nhằm mục đích nâng cao chất lượng đào tạo phù hợp với giai đoạn phát triển mới của nền giáo dục nước nhà
Việc chuyển sang hệ thống tín chỉ đem lại một cơ hội cho các trường Đại học Việt Nam thay đổi mô hình giảng dạy để trở thành một hệ thống dựa trên mục tiêu học tập, đặt trọng tâm vào việc học tập của sinh viên và có thể so sánh được với hệ thống tín chỉ của các trường Đại học trên thế giới
Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng mô hình đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở một số trường Đại học, Cao đẳng ở Việt Nam nói chung, đại học Hồng Đức và đại học Đồng Nai nói riêng, kết quả mang lại chưa thật sự như mong muốn
2 THỰC TRẠNG
Nhìn lại thực tế cách tổ chức đào tạo theo mô hình tín chỉ ở nhiều trường Đại học, Cao đẳng hiện nay, những lợi ích của mô hình đào tạo này đem lại còn khá khiêm tốn Dường như chúng ta chỉ mới chuyển mình từ niên chế sang tín chỉ ở hình thức bên ngoài theo kiểu cơ học, còn nội dung bên trong vẫn còn mang đậm bản chất của mô hình niên chế
Điều đó thể hiện trước hết ở chương trình đào tạo Chương trình đào tạo trong mô hình tín chỉ phải mềm dẻo, có tính liên thông cao, ngoài học phần bắt
Trang 16buộc còn có học phần tự chọn để sinh viên có điều kiện tích lũy thêm tín chỉ tùy theo định hướng chuyên môn, nghề nghiệp Tuy nhiên, chương trình đào tạo hiện nay ở nhiều trường vẫn chưa có sự thay đổi phù hợp, chỉ sử dụng lại và thay đổi hình thức từ khung chương trình đào tạo niên chế Mặc dù tổ chức đào tạo theo
hệ thống tín chỉ những việc lập kế hoạch đào tạo cho từng năm học vẫn theo kiểu niên chế Các học phần tự chọn trong khung chương trình được chú ý bổ sung, nhưng việc tổ chức giảng dạy thực tế trong còn quá khiêm tốn Vì vậy chưa phát huy tính mềm dẻo của mô hình đào tạo tín chỉ, đồng thời chưa thật thuận lợi cho việc chủ động đăng kí học tập của sinh viên và không tạo được điều kiện tốt để sinh viên tự định hướng chuyên môn theo sở thích khi tham gia học tập theo mô hình mới này
Do kế hoạch đào tạo vẫn được lập theo kiểu niên chế nên việc tổ chức các lớp học phần chưa được linh hoạt và thuận lợi cho việc đăng kí học của sinh viên Tư duy quản lí của các cán bộ nhân viên phòng đào tạo vẫn còn mang nặng phương thức quản lí theo niên chế, nên cách tổ chức vẫn còn cứng nhắc, chưa linh hoạt và chưa theo kịp với những yêu cầu của mô hình mới
Toàn bộ hệ thống quản lí đào tạo, quản lí sinh viên phải vận hành theo yêu cầu riêng của từng sinh viên làm cho quá trình quản lí trở nên hết sức phức tạp so với đào tạo theo phương thức niên chế Trong khi đó, nhiều trường vẫn tổ chức quản lí đào tạo theo hình thức thủ công nên chưa hiệu quả; chưa chú trọng dầu tư
để tin học hóa các hoạt động quản lí tác nghiệp, chưa trang bị phần mềm quản lí đào tạo tín chỉ, hoặc cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu, nên việc đăng kí tín chỉ qua mạng còn gặp rất nhiều khó khăn, gây phiền hà cho người học Đăng kí học phần theo kiểu thủ công nên rất khó khăn trong quản lí học vụ
Hiện nay, không phải trường nào cũng có khả năng trang bị đầy đủ cơ sở vật chất để đáp ứng được yêu cầu của đào tạo tín chỉ Phòng học, phòng thực hành, thiết bị dạy học cũng như đội ngũ giảng viên chưa thật đầy đủ nên việc xếp thời khóa biểu cũng gặp phải không ít khó khăn Để thực hiện đào tạo tín chỉ, lịch giảng dạy phải thực hiện nghiêm ngặt, tuân thủ kể hoạch đã được công bố từ đầu học kì, trong khi tình trạng các thầy cô đi dạy thêm cho các trường ngoài, các trường dân lập, các lớp tại chức ở các tỉnh, v.v là rất phổ biến Điều này làm một
số học phần không được giảng dạy phân bố đều trong học kì theo kế hoạch mà
Trang 17tập trung vào một khoảng thời gian nhất định, gây ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng giảng dạy
Theo quy chế đào tạo thuộc hệ thống tín chỉ, việc xử lí học vụ sau mỗi học
kì, sau mỗi năm học có liên quan chặt chẽ đến kết quả học tập của sinh viên, làm cho sinh viên rất dễ rơi vào trường hợp bị buộc thôi học Đã có trường hợp hàng trăm sinh viên của một trường Đại học bị buộc thôi học trong cùng một học kì Điều này một phần xuất phát từ sự khác biệt trong cách tính điểm của quy chế tín chỉ (áp dụng quy chế 43/2007/QĐ-BGDĐT), trong khi các giảng viên và sinh viên vẫn chưa kịp thích nghi Tâm lý sinh viên vẫn dựa trên nguyên tắc tính điểm của "thang điểm l0", nên khi điểm tổng cộng trên 5,0 thì yên tâm cho rằng mình
đã đạt yêu cầu Còn đối với giảng viên, vẫn đánh giá trình độ học vấn của sinh viên ở thang điểm bình quân theo "thang điểm l0", mà không dựa theo "thang điểm 4" nên trong quá trình cho điểm, cũng dừng lại ở mức điểm 5 cho sinh viên
và cho rằng đó là điểm đạt
Như vậy, nguyên nhân chủ yếu là sinh viên không đọc hiểu và không tuân thủ nghiêm túc quy chế đào tạo mới (mặc dù đã được in trong sổ tay sinh viên và phát vào đầu năm học, được đăng tải trên website của trường); không hiểu được vai trò của cố vấn học tập để yêu cầu được tư vấn trong quá trình đăng kí học phần; không biết lựa chọn khối lượng học tập phù hợp trong từng học kì Điều
đó dẫn đến những sai lầm khi đăng kí học phần và phải gánh chịu hậu quả là kết quả học tập kém và có thể bị buộc thôi học Một số sinh viên muốn học nhanh nhưng không lường hết những khó khăn khi học thêm một vài học phần cứng có những quyết định sai lầm tương tự Người học chưa có thói quen lập kế hoạch học tập toàn khóa, từng học kì cho phù hợp với năng lực và điều kiện cụ thể của bản thân dưới sự giúp đỡ của giảng viên chủ nhiệm Bên cạnh đó, sinh viên chưa hiểu dược vai trò của các điểm thành phần đối với điểm học phần nên còn chưa chịu khó học tập hàng ngày mà chỉ tập trung vào các dịp kiểm tra và thi kết thúc học phần dẫn đến kết quả học tập yếu kém
Ở một số trường Đại học, Cao đẳng, vai trò tư vấn của giảng viên chủ nhiệm, cố vấn học tập đối với sinh viên còn mờ nhạt, chưa được chú ý đúng mức Một số thầy cô chủ nhiệm khi kí xác nhận vào bảng đăng kí học phần mà không
hề tư vấn cho sinh viên Việc chấm và công bố điểm kiểm tra, thi hết học phần
Trang 18cho sinh viên nói chung còn chậm nên gây khó khăn cho việc đăng kí học phần của sinh viên
Trong mô hình đào tạo tín chỉ, vai trò của cố vấn học tập hết sức quan trọng đối với sinh viên Đó là người đưa ra ý kiến để định hướng và giúp sinh viên lập kế hoạch học tập phù hợp và có định hướng đúng đắn về chuyên môn Tuy nhiên, đội ngũ cố vấn học tập còn mỏng, chưa am hiểu về chương trình, về quy chế đào tạo tín chỉ, chưa nắm vững tình hình học tập cụ thể của sinh viên Vì vậy, chưa phát huy được vai trò và trách nhiệm của đội ngũ cố vấn học tập
Việc phân công giảng dạy từ phía các khoa, các bộ môn vẫn còn đào tạo theo niên chế Đa số các học phần chỉ có vài giảng viên đảm nhận cho tất cả các lớp và cho tất cả các hoạt động Chính vì vậy một số giảng viên giảng dạy vẫn mang tính “độc quyền", áp đặt Điều này vẫn chưa phù hợp với hình thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ và ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
Về phía nguời dạy, cũng còn một bộ phận giảng viên quen với kiểu lên lớp truyền thống chủ yếu là thầy giảng - trò ghi, thầy chiếu - trò chép, nên còn gặp khó khăn trong đổi mới phương pháp dạy học, chưa tạo được thuận lợi cho sinh viên phát huy tính tích cực trong học tập một cách triệt để Phần lớn giảng viên đã quen với phương thức đào tạo theo niên chế, ít có cơ hội tiếp cận thực tế
mô hình đào tạo theo tín chỉ, điều này là một trở ngại rất lớn cho việc dạy học theo tín chỉ Về phía giảng viên dạy lí thuyết có hiện tượng giảng viên không cô đọng được nội dung giảng dạy dẫn đến dạy quá nhiều nội dung trong thời gian ngắn làm cho sinh viên khó tiếp thu và hoang mang Những buổi học tổ chức chemina còn mang tính hình thức, chưa phát huy được tính chất chủ động, sáng tạo của sinh viên, nên hiệu quả các giờ thảo luận trên lớp còn thấp
Công tác quản lí sinh viên vẫn còn những bất cập như mối quan hệ giữa nhà trường cố vấn học tập và sinh viên còn lỏng lẻo Cố vấn học tập chưa thực sự nắm chắc tình hình học tập của sinh viên Việc tổ chức lớp học thành lớp sinh hoạt và lớp học phần đã gây không ít khó khăn cho công tác tổ chức vả quản lí sinh viên; phong trào đoàn, hội sinh viên hoạt động cũng gặp nhiều khó khăn
Về phương pháp học tập, đào tạo theo hệ thống tín chỉ là tạo sự chủ động cho người học trong quá trình học tập, nhưng ý thức chủ động học tập của sinh viên vẫn chưa cao, chưa bắt kịp với đào tạo theo hệ thống tín chỉ, sinh viên chưa
Trang 19thực sự chủ động trong việc học tập Thói quen tư duy thụ động được hình thành
từ phổ thông, chưa có phương pháp tự học, tự nghiên cứu; ngại tranh luận, diễn thuyết giữa đám đông; không có thói quen đọc tài liệu, chuẩn bị bài trước khi đến lớp
Theo kết quả khảo sát, tỷ lệ sinh viên có mặt thường xuyên trên lớp học trong tất cả các lớp học phần chiếm khoảng 85%, điều này đã thể hiện được ý thức học tập của sinh viên, nhưng cũng còn khoảng 15% sinh viên có ý thức học tập không cao, rất ít đến lớp học Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều sinh viên đi học muộn Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến kết quả học tập của sinh viên giảm sút
Mô hình đào tạo mới đòi hỏi sự tự giác của sinh viên trong việc tự học ở nhà, và theo quy chế đào tạo tín chỉ, để chuẩn bị cho một giờ học lí thuyết trên lớp, sinh viên cần chuẩn bị ở nhà ít nhất 2 giờ Nếu lấy trung bình 1 ngày sinh viên học 4 tiết thì thời gian tự học là 4 x 2 giờ = 8 giờ Nhưng theo kết quả khảo sát, với gần 80% số lượng sinh viên dành thời gian tự học ít hơn 4 giờ/ngày, chứng tỏ sinh viên dành cho việc tự học vẫn còn quá ít, không đáp ứng được yêu cầu của theo quy chế đào tạo tín chỉ, dẫn tới chất lượng học tập kém và ảnh hưởng không ít tới phương pháp dạy của giảng viên Do đó trong hội thảo khoa học của khoa Sư phạm Khoa học Tự nhiên trường Đại học Đồng Nai lần này tôi mong các bạn đồng nghiệp hãy chia sẽ những giải pháp khả thi nhằm theo dõi, kiểm tra, đánh giá, có hiệu quả phần chuẩn bị ở nhà (tự học) của sinh viên đây là một mảng chìm nhưng rất quan trọng trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Việc hỗ trợ sinh viên trong quá trình học tập theo hệ thống tín chỉ rất quan trọng, trong đó có việc lập kế hoạch học tập và đăng kí các học phần cho từng học kì Qua số liệu khảo sát, sinh viên chủ yếu dựa vào sổ tay sinh viên (47%) để
tự đăng ký các học phần, bên cạnh đó sinh viên nhờ thông tin trên website và tự tìm hiểu Đặc biệt, vai trò của giảng viên chủ nhiệm tư vấn cho sinh viên hiện nay khá mờ nhạt (8%) Đây là trở ngại lớn đối với sinh viên trong quá trình đăng
kí và học tập Điều này đã dẫn đến việc sinh viên đăng kí không đúng các học phần hoặc đăng kí quá số học phần trong học kì ảnh hưởng đến việc xét kết quả học tập
Như vậy, việc áp dụng mô hình đào tạo mới vẫn chưa phát huy được sức mạnh của nó; người học vẫn chưa là trung tâm, sinh viên vẫn chưa thể thiết lập
Trang 20được kế hoạch học tập theo sự lựa chọn riêng của mình Bản chất ưu việt của phương thức đào tạo mới vẫn chưa thể hiện rõ ràng trong những năm đầu áp dụng mô hình đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở nhiều trường Đại học, Cao đẳng trong đó có trường Đại học Hồng Đức Thanh Hóa
3 CÁC GIẢI PHÁP
Để phát huy bản chất của đào tạo theo mô hình tín chỉ, cần dựa trên những kinh nghiệm trong quá trình triển khai mô hình này để đưa ra các giải pháp tích cực và đồng bộ cải thiện cả về chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, phương pháp quản lí, phương pháp Dạy - Học
Rà soát chương trình và nội dung đào tạo, trong đó cần vận dụng các lí luận về thiết kế chương trình hiện đại theo chuẩn của các trường Đại học tiên tiến, đáp ứng được yêu cầu hiện tại và tương lai của đất nước đối với các ngành đào tạo và yêu cầu hội nhập quốc tế Bỏ bớt những nội dung trùng lặp trong các học phần có tên gọi khác nhau; bổ sung các học phần mới cập nhật hơn, kế thừa những yếu tố tích cực, phù hợp của khung chương trình đào tạo hiện có, cập nhật nội dung kiến thức khoa học công nghệ các học phần, điều chỉnh thời lượng giảng dạy trên lớp phù hợp, cải tiến cách đánh giá phù hợp với mục tiêu của từng chuyên ngành
Khối kiến thức đào tạo chuyên ngành cần phải có nhiều học phần tự chọn
để sinh viên có điều kiện thuận lợi cho việc lựa chọn theo định hướng phát triển nghề nghiệp đúng với khả năng Trường Đại học Hồng Đức cũng như trường Đại học Đồng Nai về lâu dài là một trường Đại học đa nghành do đó các bạn cần sớm quan tâm đến các giải pháp này
Chương trình đào tạo và kế hoạch học tập phải ổn định, công khai, đồng thời mềm dẻo để thuận lợi cho việc tổ chức các lớp học phần, chuyển đổi chương trình đào tạo cho sinh viên hoặc tạo điều kiện để sinh viên học cùng một lúc hai chương trình
Thường xuyên cập nhật, hoàn chỉnh đề cương chi tiết học phần, tăng cường giới thiệu hệ thống bài tập, tài liệu tham khảo các học phần trên Website của trường Đặc biệt xây dựng chuẩn đầu ra cho từng học phần làm tiêu chí đánh giá để sinh viên có hướng phấn đấu và được tự chủ hơn trong học tập Trong đề cương học phần cần mô tả đầy đủ nội dung của học phần với các chương mục,
Trang 21mục đích, yêu cầu của học phần, hình thức thi, cách đánh giá kết quả học tập của sinh viên, giáo trình chính và các tài liệu tham khảo…Đề cương thể hiện rõ lịch trình giảng dạy trong đó phân rõ tuần dạy lí thuyết, tuần thảo luận, bài tập, thực hành…, các điểm và tỉ trọng đánh giá thành phần, đánh giá thi kết thúc học phần Các đề cương chi tiết học phần này được công bố cho sinh viên vào đầu mỗi học
kì giúp cho sinh viên chủ động rất nhiều trong việc tham khảo tài liệu, chuẩn bị
lên lớp, tự học và thi ; về phía Trường thì thông qua các đề cương này có thể
quản lí nội dung giảng dạy, nhất là đối với học phần có nhiều giảng viên cùng tham gia giảng dạy
Tổ chức tốt công tác quản lý đào tạo là một tiêu chí quan trọng trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo theo hệ thống tín chỉ Bồi dưỡng nghiệp
vụ cho đội ngũ cán bộ quản lí đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu của đào tạo theo tín chỉ Đội ngũ này phải hiểu đúng vả đầy đủ về hệ thống tín chỉ Các chuyên viên của phòng đào tạo được trang bị kiến thức quản lí, kỹ thuật xây dựng thời khóa biểu học phần theo đăng kí của người học và hệ thống phần mềm công nghệ thông tin đáp ứng công việc ấy
Phải có tài liệu hướng dẫn chi tiết về tổ chức và quản lí đào tạo theo hệ thống tín chỉ; tổ chức nhiều hội thảo, toạ đàm trong đội ngũ cán bộ quản lí, giảng viên, nhân viên với sự tham gia, hướng dẫn của các chuyên gia Cần nghiên cứu
và học tập các mô hình đào tạo tín chỉ thành công ở trong và ngoài nước về hệ thống tín chỉ; biên soạn tài liệu hướng dẫn tổ chức và quản lí đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Quản lí đào tạo được tin học hoá tối đa bằng các phần mềm chuyên dụng thống nhất trong toàn đơn vị đào tạo Các thông tin về tổ chức đào tạo, quy chế đào tạo phải đưa lên website và cập nhật thường xuyên Với việc ứng dụng công nghệ thông tin, công tác quản lí đào tạo của các trường sẽ đạt hiệu quả cao, được quy trình hóa và mang tính khoa học Các vấn đề được giải quyết đồng bộ, chính xác và nhanh gọn Để đảm bảo liên thông, liên kết phối hợp tổ chức đào tạo giữa các ngành, việc quản lí đào tạo thường được tổ chức tập trung ở phòng đào tạo của nhà trường với đội ngũ quản lý tinh thông nghiệp vụ và có tính chuyên nghiệp cao Do đó theo tôi trường Đại học Đồng Nai một trường Đại học công lập mới được thành lập cần phải nhanh chóng cải cách bộ máy phòng đào tạo vì
Trang 22đây là một phòng chức năng tham mưu cực kỳ quan trọng cho Hiệu trưởng trong
đó trưởng phòng đào phải là một người có tư chất thực sự năng động sáng tạo để góp phần quản lí đào tạo theo hệ thống tín chỉ có hiệu quả
Đồng thời, hướng phân cấp mạnh mẽ và toàn diện về cho các khoa, cấp khoa phải chịu hoàn toàn về các mặt trước hiệu trưởng nhà trường Khoa phải có trách nhiệm xây dựng hệ thống văn bản chặt chẽ chi tiết về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của khoa trong công tác quán lí đào tạo…
Cần phổ biến sâu rộng kiến thức về đào tạo tín chỉ đến người dạy, người học để người học cần biết mình phải chuẩn bị những gì và học như thế nào, người dạy cần biết mình phải trang bị những gì và dạy như thế nào theo tinh thần
hệ thống tín chỉ
Mỗi khoa cần có một đội ngũ cố vấn học tập, là những người am hiểu cấu trúc chương trình, nội dung của các khối kiến thức có trong chương trình, nội dung và vị trí của từng học phần được nhà trường tổ chức giảng dạy Các cố vấn này hướng dẫn sinh viên lựa chọn các học phần để xây dựng kế hoạch học tập riêng, vừa phù hợp với yêu cầu của ngành đào tạo, vừa phù hợp với điều kiện riêng của sinh viên (năng lực, sở thích, điều kiện sinh hoạt hoàn cảnh kinh tế) Bản đăng kí các học phần của sinh viên phải có chữ kí của cố vấn học tập xác nhận là đã được tham khảo ý kiến mới được nhà trường xem xét để xếp lớp học
Tăng cường cơ sở vật chất để đáp ứng được tính mềm dẻo và linh hoạt của
mô hình đào tạo tín chỉ Đầu tư trang thiết bị, hệ thống phòng học, giảng đường phù hợp để tổ chức các giờ dạy lí thuyết, thảo luận, bài tập; các giảng đường đều phải trang bị hệ thống thiết bị hỗ trợ giảng dạy cố định, làm việc tin cậy và ổn định; phòng thực hành đầy đủ, đạt tiêu chuẩn; đầu tư đầy đủ trang thiết bị phục
vụ dạy học theo phương pháp mới; nâng cấp hệ thống thông tin nội bộ, mạng Intemet, trang Web, tăng cường thiết bị thí nghiệm…; thư viện phải tăng cường các nguồn giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo Toàn bộ hệ thống phục
vụ giảng đường và thư viện phải hoạt động một cách mềm dẻo và linh động để phục vụ nhu cầu tự học của sinh viên
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ đòi hỏi nhà trường phải có những đổi mới cơ bản về tư duy tổ chức đào tạo để đáp ứng với yêu cầu lấy người học làm trung tâm Áp dụng các phương pháp dạy học mới trên cơ sở khai thác triệt để các ưu
Trang 23điểm của phương pháp truyền thống như phương pháp diễn giảng Tuy nhiên cần phải đổi mới bài diễn giảng cho phù hợp với hình thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ và vận dụng linh hoạt một số phương pháp Dạy - Học tiên tiến, trong đó giảng viên cần tăng cường vai trò tổ chức, hướng dẫn, định hướng, điều khiển hoạt động học, hoạt động tư duy sáng tạo và rèn luyện kĩ năng của sinh viên thông qua các bài tập lớn, tổ chức seminar theo các lớp học phần Đặc biệt, thúc đẩy và tăng cường hoạt động sinh viên tập làm nghiên cứu khoa học ngay trong các học phần cơ sở chuyên ngành
Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên không chỉ bằng các bài kiểm tra và bài thi cuối học phần mà còn bằng các hoạt động trên lớp (số buổi
có mặt, thái độ theo dõi bài giảng, thảo luận), tự học ở nhà (qua nội dung phát biểu thảo luận trên lớp, thời gian và chất lượng hoàn thành bài tập ở nhà do giảng viên giao), làm việc ở phòng thí nghiệm, đi thực tế
Cần duy trì công việc lấy ý kiến góp ý của sinh viên vào cuối mỗi học kì thông qua các kênh như sinh viên gửi ý kiến qua website, tiếp nhận phiếu góp ý kiến của sinh viên đồng thời tổ chức đối thoại giữa lãnh đạo trường và các phòng, ban, bộ môn với cán bộ lớp, cán bộ đoàn của các lớp nhằm thu thập thông tin để nhà trường có đầy đủ cơ sở đánh giá hoạt động đào tạo đồng thời đề ra các giải pháp thích hợp chấn chỉnh hoạt động giảng dạy của trường cũng như không ngừng nâng cao trách nhiệm của giảng viên và cán bộ lãnh đạo nhà trường
Trang 24TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ompom Regel (1992), The Academic Credit System in Higher Education: Effectivness and Relevance ỉn Developing Country , The World Banh
2 Đặng Quốc Bảo (2004), Nguyễn Đắc Hưng, Giáo dục Việt Nam hướng tới
tương lai vấn đề và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
3 Phạm Văn Hai (2009), Sơ kết 3 năm thực hiện hệ thống tín chỉ tại Trường Cao đẳng
Công nghệ Thông tin Đại học Đà Nẵng, Kỷ yếu Hội nghị khoa học "Nâng cao chất lượng đào tạo Cao đẳng theo hệ thống tín chỉ", Đà Nẵng
4 Lê Đức Ngọc(2004), Giáo dục Đại học - Quan điểm và giải pháp NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội
5 Lâm Quang Thiệp, Về việc áp dụng hệ thống tín chỉ trên thế giới và ở Việt
Nam Link: http://ktmt.phpnet.us/tinchi/ve_viec_ap_dung.htm
6 Quy chế đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ, ban
hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục vả Đào tạo
7 Quy chế công tác học sinh - sinh viên trong các trường đào tạo, ban hành kèm
theo quyết định số 42/BGD - ĐT ngày 13 thảng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo
Trang 25GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY ĐẠI HỌC
THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
TS Nguyễn Duy Anh Tuấn
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giảng dạy theo hệ thống tín chỉ
Dạy học về bản chất chính là quá trình tổ chức các hoạt động để truyền thụ kiến thức về mọi lĩnh vực cho người học Chất lượng giáo dụcphụ thuộc vào sự hình thành năng lực tư duy, sáng tạo, khả năng phân tích và các phương pháp tiến hành hoạt động lĩnh hội.Nếu trong quá trình dạy học chỉ địi hỏi ở người học sự ghi nhớ thụ động, sự rập khuơn máy mĩc cứng nhắc, luơn chờ đợi sự chỉ dẫn của người dạy, thì kết quả cao nhất cũng chỉ hình thành ở người học khả năng ghi nhớ máy mĩc, tính thụ động chứ khơng thể hình thành được tư duy tích cực, sự sáng tạo và tinh thần khám phá học hỏi
Theo quan niệm truyền thống, trong quá trình dạy học, phương pháp đĩng vai trị quan trọng hàng đầu, quyết định chất lượng dạy học Do vậy, việc lựa chọn, sử dụng phương pháp phù hợp luơn cĩ ý nghĩa quyết định đối với chất
lượng dạy học và giáo dục Trước đây chúng ta lấy người dạy làm chủ thể, nhưng theo quan niệm mới thì ngược lại phải lấy người học làm trung tâm
Lối học ở Việt Nam, từ xưa đến nay là lối học “từ chương” Ở trường Cao đẳng-Đại học, giảng viên chủ yếu thuyết giảng hàng loạt kiến thức ở các bài giảng, giáo trình, sách giáo khoa Hệ quả là sinh viên chỉ lắng nghe, ghi chép, cố nhớ để lặp lại các kiến thức đã thu nhận được Để đáp ứng lối học này, về phương diện tâm lý, người học phải vận dụng trí nhớ Người quản lý giáo dục chỉ cần kiểm sốt, đánh giá năng lực tiếp nhận kiến thức của người học, qua việc tổ chức các kỳ thi cuối khĩa, tốt nghiệp, với những đề thi gợi lại trí nhớ
Nhiều năm trước đây, hệ thống "học phần" đã ra đời, được triển khai trong tồn bộ các trường Cao đẳng-Đại học trên tồn quốc và đã đạt được nhiều thành tựu khá khả quan nhưng cũng là một nền giáo dục hồn tồn từ chương Hiện nay, việc đổi mới giáo dục nĩi chung và giáo dục Đại học nĩi riêng trên tồn quốc đã
Trang 26từng bước chuyển sang hệ thống đào tạo theo hệ thống tín chỉ Nhưng vẫn chưa cĩ
trường ĐH nào trên tồn quốc xây dựng được mơ hình hồn thiện về đào tạo theo
hệ thống tín chỉ Với quy chế đào tạo theo hệ thống tín chỉ vừa mới ban hành, việc
chuyển đổi đào tạo từ hệ thống niên chế sang hệ thống tín chỉ được xem là một
thách thức lớn cho cả người dạy lẫn người học, cán bộ quản lý của các trường Cao đẳng - Đại học
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ, lần đầu tiên được tổ chức tại trường Đại học
Harvard, Hoa kỳ vào năm 1872 Sau đĩ lan rộng ra khắp Bắc Mỹ và thế giới Đây là phương thức đào tạo theo triết lý “tơn trọng người học, xem người học là trung tâm của quá trình đào tạo” Theo đánh giá của Tổ chức Ngân hàng thế giới
(World Bank), thì đào tạo theo hệ thống tín chỉ, khơng chỉ cĩ hiệu quả đối với
các nước phát triển mà cịn rất hiệu quả đối với các nước đang phát triển Ở nước
ta, trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai đào tạo theo
hệ thống tín chỉ từ năm học 1993-1994 và đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp
Trong “Chương trình hành động của chính phủ” thực hiện nghị quyết số 37/2004/QH11 khĩa XI, kỳ họp thứ sáu của Quốc hội về giáo dục đã chỉ rõ: “Mở
rộng, áp dụng hệ thống tín chỉ trong đào tạo Đại học, Cao đẳng, trung học chuyên
nghiệp …” Đề án đổi mới giáo dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 đã
được Chính phủ phê duyệt cũng khẳng định: “… xây dựng hệ thống tín chỉ thích
hợp cho giáo dục Đại học ở nước ta và vạch ra lộ trình hợp lý để tồn bộ hệ
thống giáo dục Đại học chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ…” Cho đến
nay, cả nước đã cĩ hơn 20 trường trong tồn quốc chuyển đổi sang đào tạo theo
hệ thống tín chỉ với lộ trình và bước đi hợp lý [1]
Trong bối cảnh của giai đoạn đổi mới giáo dục nĩi chung và giáo dục Đại học nĩi riêng, tham luận này chính là dịp đúc kết, chia sẻ kinh nghiệm và tìm tịi những phương pháp, biện pháp mới cĩ hiệu quả
1.2 Đánh giá thực trạng:
Trường Cao đẳng Sư Phạm Đồng Nai nay là Trường Đại học Đồng Nai đã đào tạo theo hệ thống tín chỉ bắt đầu từ khĩa 34 Mặc dù cán bộ giảng dạy đã tìm cách đổi mới và áp dụng nhiều biện pháp khác nhau nhưng vẫn chưa thu được kết quả khả quan Một trong những nguyên nhân làm hạn chế kết quả dạy và học
Trang 27chính là chưa cĩ sự tham gia tích cực học tập của sinh viên Nếu khơng cĩ sự đổi mới thái độ, phương pháp học tập của sinh viên và thay đổi phương pháp dạy học của giảng viên thì dù nhà trường cĩ vận hành theo phương thức nào thì cũng khơng thể đạt mục tiêu đề ra Tình hình học tập của sinh viên ở trường ta (hay nĩi chung ở các trường Cao đẳng-Đại học nĩi chung) cĩ thể chia thành các nhĩm như sau:
Nhóm thứ 1: đây là nhĩm gồm những sinh viên biết nhận thức được mục
tiêu, cĩ động cơ học tập đúng đắn, tự giác và biết tổ chức cơng việc học tập phù hợp với thời gian riêng của mình, biết xây dựng kế hoạch học tập trong suốt khĩa học Những sinh viên này thường đạt kết quả cao, thậm chí rất cao Trong đĩ cĩ một số sinh viên với thời gian eo hẹp mà vẫn đạt được nhiều khĩa học khác nhau
Nhĩm thứ 2: nhóm này bao gồm những sinh viên khơng cĩ động cơ học tập, khơng cĩ mục tiêu phấn đấu, thụ động, đối phĩ “được chăng hay chớ”, khơng hề cĩ một phương pháp học tập nào, trung bình chủ nghĩa Những sinh viên này thường đạt kết quả trung bình thậm chí cịn ở mức yếu
Nhĩm thứ 3: đây là nhĩm gồm những sinh viên học tập qua loa, khơng chăm chú nghe giảng, học thì lơ đễnh, đi học trễ, bỏ giờ nếu cĩ đi học cũng chỉ đối phĩ với điểm danh Thi thì mong chờ quay cĩp Chất lượng học tập những sinh viên này dĩ nhiên rất kém
Tĩm lại khi ban hành hệ thống tín chỉ phần đơng sinh viên cĩ những khuyết điểm cơ bản sau:
Số lượng sinh viên chuyên cần thì ít Số sinh viên đi học trễ, bỏ giờ, đi học
để đối phĩ khi giảng viên điểm danh thì nhiều Thậm chí ở một số trường Đại học khác cịn cĩ tình trạng sinh viên thuê người “đi học giùm” (trường Đại học Đồng Nai chưa cĩ báo cáo nào về sự phát hiện trường hợp này) Vì theo các em khơng cần đến lớp, chỉ cần xem giảng viên dạy gì và học tủ là “đủ đậu” mơn học
đĩ
Sinh viên quen kiểu “thầy đọc trị chép” Hiện nay là “thầy chiếu trị chép”, chưa cĩ thĩi quen tự nghiên cứu bài trước khi đến lớp
Trang 28Sinh viên tập trung chưa cao trong giờ học, ồn ào khơng chú ý nghe giảng, chưa cĩ khả năng làm việc nhĩm, trình bày thuyết giảng khơng sâu sắc chưa hiểu bản chất vấn đề
SV Khơng biết tìm kiếm khai thác thơng tin, khơng đầu tư tìm tịi mở rộng bài giảng, chỉ tập trung học những gì giảng viên trình bày
- Phần đơng sinh viên học tập là để đối phĩ với các kỳ thi hết học phần nên thời gian dành cho học tập chủ yếu tập trung vào giai đoạn gần đến kỳ thi
2 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ:
2 1 Đặc điểm của hệ thống tín chỉ
2.1.1 Đối với giảng viên:
Với hệ thống tín chỉ, giảng viên chúng ta lâu nay quen giảng dạy theo
phương pháp thuyết giảng sẽ khơng khỏi lúng túng vì phải thay đổi suy nghĩ và cách dạy Giáo viên phải nhanh chĩng làm quen với phương pháp giảng dạy hiện đại, tăng cường việc hướng dẫn sinh viên biết tự nghiên cứu ở nhà, phải biết tổ chức các loại hình học tập cho sinh viên: học nhĩm, thảo luận nhĩm Ngồi ra, giảng viên chúng ta cịn phải tiếp tục tích lũy thêm kiến thức để sẵn sàng giải đáp thắc mắc của sinh viên Nếu giảng viên khơng cập nhật (nhất là các ngành khoa học phát triển rất nhanh như: Cơng nghệ thơng tin, kinh tế…) thì sẽ nhanh chĩng lạc hậu với chính kiến thức của mình, dĩ nhiên sẽ khơng cĩ khả năng giải đáp các thắc mắc do sinh viên đặt ra
2.1.2 Đối với sinh viên:
Với hệ thống tín chỉ, sinh viên sẽ cĩ nhiều thuận lợi Sinh viên được phép
chủ động xây dựng kế hoạch, chọn mơn học cần thiết, lập thời khĩa biểu học tập các mơn Tạo cơ hội cho sinh viên tiếp nhận kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau.Nhưng những thuận lợi đĩ cũng chính là thách thức cho sinh viên, buộc sinh viên phải biết sử dụng quyền chủ động của mình đúng mục đích, cĩ kế hoạch hợp lý
2.1.3 Đối với nhà quản lý:
Với hệ thống tín chỉ, các nhà quản lý sẽ gặp nhiều khĩ khăn Bộ phận đào tạo phải cĩ năng lực, cĩ kiến thức về cơng nghệ thơng tin, cĩ khả năng sử dụng
Trang 29các phần mềm để quản lý sinh viên, phân chia thời khóa biểu để không trùng lắp
lịch dạy của giảng viên, lịch học của sinh viên Họ phải có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động đào tạo, sắp xếp lịch học, tổ chức thi cử, xét tốt nghiệp cho từng cá nhân sinh viên trên máy tính Nhà trường phải có hệ thống máy tính mạnh, đường truyền internet tốc độ cao, hệ thống wifi phủ khắp toàn trường để phục vụ công tác kiểm tra và trả lời thắc mắc của sinh viên cũng như tiện sinh viên tra cứu điểm
Ngược lại hệ thống tín chỉ có một số tính chất ưu việt mà các nhà quản lý cần
khai thác:
Tính mềm dẻo: có thể tuyển sinh nhiều lần trong 1 năm, nhiều lớp học có
thể xuất hiện cùng một lúc trong cùng một môn để sinh viên chọn giờ học thích hợp, có thể định thời gian học theo điều kiện bản thân
Tính đa dạng: đầy đủ các môn học để sinh viên chọn lựa, một môn học có
thể dành cho nhiều lĩnh vực khác nhau Ví dụ: Nhập môn tin học rất nhiều ngành học đều có trong chương trình
Tính dễ dàng chuyển đổi giữa hệ chính quy và phi chính quy, giữa các
trường trong nước và nước ngoài Có thể xây dựng chung một khung chương trình giữa các trường đễ dễ dàng liên thông
2.2 Kiến thức về đổi mới trong việc dạy và học theo hệ thống tín chỉ
2.2.1 Đối với giảng viên
Theo tôi, với tư cách là một giảng viên, theo xu thế đổi mới của ngành, thông qua sách báo, internet… cũng xin lạm bàn một số kiến thức về hệ thống tín chỉ như sau:
Chúng ta cần quan niệm đúng về dạy học theo hệ thống tín chỉ, không nên quan niệm đơn thuần chỉ là sự điều chỉnh chương trình, cắt giảm thời lượng lên lớp của giảng viên, tăng thời lượng thực hành thảo luận của sinh viên Bản chất của dạy học theo tín chỉ là sinh viên chuyển cách học từ chỗ bị động sang chủ động Giảng viên phải tạo ra môi trường dạy học tích cực, thân thiện, giúp sinh viên hiểu nhanh, hiểu sâu kiến thức, biết tìm tòi sáng tạo nhằm thích ứng với những vấn đề
Trang 30mới của khoa học và cuộc sống… Để đạt được điều đó giảng viên và sinh viên cần phải có một tư duy giảng dạy và học tập mới
Tư duy giảng dạy mới là người thầy phải chỉ ra logic của quá trình nhận thức đối với vấn đề cần truyền thụ Như vậy, sinh viên sẽ được định hướng phát triển, mở mang nhận thức, rèn luyện kỹ năng Vì vậy, việc gợi ý để sinh viên phân tích các khái niệm, nắm chắc các định lý, quy tắc hay những nội dung cơ bản của môn học là việc làm cần thiết của giảng viên Giảng viên phải chỉ ra những vấn đề đòi hỏi sinh viên phải tìm tòi, nghiên cứu tài liệu một cách nghiêm túc mới có thể giải quyết đúng vấn đề Nếu không có những "bài toán" như vậy thì khó kích thích hứng thú tự học, tự nghiên cứu của sinh viên
Chúng ta cần xây dựng một môi trường học tập thân thiện Trong môi trường
học tập thân thiện đó, điều đầu tiên được nói tới là sự tương tác thầy - trò Trong giờ học lý thuyết, tương tác thầy - trò được thể hiện qua việc chuẩn bị nội dung bài giảng, cách nêu vấn đề và thể hiện ý tưởng bài giảng, ngôn ngữ và thái độ của giảng viên đối với sinh viên Từ đó đòi hỏi sinh viên cần nắm bắt nhanh cốt lõi của bài học, biết nghiên cứu tài liệu để cụ thể hóa các vấn đề cốt lõi đó, phải tập thói quen suy nghĩ thận trọng, tránh ghi nhớ thụ động Sự tương tác thầy - trò, trò - trò phải được phát huy tối đa trong các giờ thảo luận nhằm tạo nên môi trường học tập thân thiện Khi đó sinh viên cần tranh luận nhiều, ưu tiên cho đặt câu hỏi hơn là câu trả lời, tăng cường trao đổi theo nhóm, trao đổi với giảng viên để sớm có những giải đáp thỏa đáng nhằm bổ sung hoặc điều chỉnh cách hiểu của mình, tiến tới giải các bài tập một cách độc lập, sáng tạo và tự tin
Kết hợp linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tối đa tính tích cực của sinh viên như sử dụng các thiết bị hỗ trợ học tập một cách hợp lý trong giờ lên lớp; sử dụng nhiều phương pháp dạy học trong một giờ lên lớp; tổ chức cho sinh viên tham gia các diễn đàn, các hoạt động của Đoàn, Hội để có thêm hứng thú và động lực học tập Sinh viên phải biết tìm thông tin cần thiết trên mạng internet và Website của trường, chia sẻ những cảm nhận sau mỗi giờ học để thu nhận kiến thức và tự điều chỉnh cách học của mình Nhờ vậy, sinh viên sẽ được tăng cường khả năng nói, khả năng hợp tác, chia sẻ, phân tích và tổng hợp
Trang 31Việc đánh giá một giờ lên lớp hay cả quá trình thực hiện nhiệm vụ dạy học của giảng viên có ý nghĩa hết sức quan trọng và cần thiết cho việc nâng cao chất lượng đào tạo Các tiêu chuẩn đánh giá hiện nay đang có chỗ bất cập, cần phải điều chỉnh cho phù hợp với hình thức đào tạo tín chỉ, thông qua đó giảng viên tự đánh giá quá trình tổ chức dạy học của mình để tìm biện pháp khắc phục những hạn chế và phát huy những ưu điểm nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Việc đánh giá sinh viên một cách khách quan, chính xác, công bằng là động lực thúc đẩy quá trình học tập của sinh viên Hiện nay, điểm của môn học tín chỉ
là kết quả tổng hợp của rất nhiều bài kiểm tra, thực hành, thảo luận, tổ chức hoạt động nhóm… Do đó, người thầy phải có khả năng đáp ứng cho học trò về nhiều mặt: kiến thức, kỹ năng, nhân cách Thầy cần khuyến khích, hướng dẫn sinh viên tự đánh giá mình và biết tìm biện pháp tự điều chỉnh mình cho kết quả học tập tốt hơn
2.2.2 Đối với sinh viên
Sinh viên cần thấy rõ vai trò chủ động của mình trong học tập Họ cần chủ động xây dựng kế hoạch học tập, chọn các môn cần học theo hệ thống chương trình chung, lập thời gian biểu cho các môn, tự theo dõi tiến độ học tập của mình Sinh viên cần tích cực tham gia viết bài và dự các buổi thuyết trình Trong các buổi thuyets trình nêu lên các ý kiến riêng của bản thân
Tích cực tham gia các nhóm học tập, thảo luận nhóm trong các giờ giảng của giảng viên khi có yêu cầu
Tiếp thu kiến thức có sàng lọc từ các nguồn khác nhau như sách báo, thư viện, internet…
SV cần nắm rõ nội qui, qui chế đào tạo, các trường trường hợp lên lớp, học lại, thi lại, ở lại lớp, khen thưởng
2.3 Biện pháp nâng cao kiến thức về hệ thống tín chỉ
Để đạt được kết quả tốt đẹp, ngoài các đợt tập huấn của Bộ GD-ĐT, các đơn vị giáo dục như Viện Nghiên cứu giáo dục (trường ĐH Sư phạm TP.HCM), VUN, Hiệp hội các trường ĐH-CĐ ngoài công lập và một số trường ĐH đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo liên quan đến việc thực hiện HCTC Riêng VUN, 2/3
Trang 32cuộc hội thảo gần đây nhất tại Nha Trang (tháng 12.2006) và Hải Phịng (tháng 9.2007) đã dành chủ đề hội thảo cho đề tài này
Trường ta, cần cĩ nhiều cuộc hội thảo về hệ thống tín chỉ Theo tơi được biết các cuộc họp được tổ chức ở trường ta trong thời gian qua là để đối phĩ, gấp rút hối thúc giảng viên hồn thành cơng việc chuyển đổi từ hệ thống niên chế sang hệ thống tín chỉ Sự thật là chưa cĩ cuộc hội thảo nào cĩ mục đích về việc nâng cao "kiến thức hệ thống tín chỉ" cho các giảng viên trực tiếp giảng dạy Nhà trường cịn rất nhiều vướng mắc trong việc hoạch định chiến lược đào tạo theo hệ thống tín chỉ Chúng ta thiếu các giải pháp hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy và học, hình thức thi cử, phục vụ đào tạo theo tín chỉ như: phần mềm thư viện số, phần mềm trung tâm khảo thí và E-Learning Các vấn đề khác như
sử dụng thẻ thơng minh đa chức năng kết hợp với thanh tốn điện tử trong các trường CĐ-ĐH cũng cần được đề cập để giúp các trường nhận rõ hơn các bước
đi Đối với giảng viên, nhà trường cần tổ chức nhiều buổi hội thảo, nhằm giúp giảng viên hiểu rõ hơn về các đặc điểm của hệ thống tín chỉ Đúc kết, trao đổi kinh nghiệm nhằm đưa ra phương pháp tối ưu để giảng dạy theo hệ thống tín chỉ Bồi dưỡng giảng viên cách đánh giá, cách tính điểm học tập của SV Vạch ra các phương hướng, trao đổi kinh nghiệm để phát huy các điểm mạnh của hệ thống tín chỉ Tìm ra các điểm yếu của hệ thống tín chỉ (nếu cĩ) để cĩ cách khắc phục Đối với sinh viên, nhà trường cần cĩ các buổi báo cáo các vấn đề sau: Nội qui, qui chế đào tạo theo hệ thống tín chỉ, chỉ rõ trường hợp lên lớp, học lại, thi lại, ở lại lớp, khen thưởng và phải cĩ sự thống kê cụ thể về năm học trước Tạo nếp suy nghĩ để sinh viên tự hoạch định việc học tập của mình
Trình chiếu hình ảnh của sinh viên tham gia làm đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng thực tiễn trong hoặc ngoài trường khác Từ đĩ kích thích sự sáng tạo của sinh viên
2.4 Ứng dụng
2.4.1 Các yêu cầu và biện pháp triển khai
Hiện nay cĩ nhiều phương pháp dạy học mới dựa trên quan điểm phát huy tính tích cực của người học, đề cao vai trị tự học của sinh viên, kết hợp với sự
Trang 33hướng dẫn của thầy đang được áp dụng rộng rãi Tơi xin nêu một vài ý kiến về triển khai giảng dạy theo hệ thống tín chỉ:
2.4.1.1 Các yêu cầu đối với sinh viên:
Tự tìm tịi để xác định những nguồn thơng tin giúp giải quyết vấn đề
do giảng viên nêu ra Trên cơ sở vấn đề được nêu ra, sinh viên phải chủ động tìm kiếm thơng tin liên quan ở nhiều nguồn khác nhau (sách tham khảo, Internet,
phim, ảnh ) để tự trang bị kiến thức để tiếp cận với vấn đề
Thảo luận và làm việc theo nhĩm: Sinh viên được khuyến khích làm
việc theo nhĩm, nhằm hỗ trợ cho người học cĩ được nhiều nguồn thơng tin, kiểm tra kiến thức cũng như lĩnh hội được nhiều ý tưởng khác nhau
2.4.1.2 Các yêu cầu đối với giảng viên:
Giảng viên phải nắm vững mục tiêu, nội dung chính bài giảng nhằm nêu lên được các vấn đề cốt lõi trong mơn học và yêu cầu sinh viên cần giải quyết GV phải là người định hướng, trợ giúp sinh viên giải quyết các vấn đề đã đặt ra Các bước thực hiện cho ra kết quả thì cho sinh viên tự suy nghĩ nghiên cứu, sau đĩ GV cùng với sinh viên giải quyết từng bước một cho đến kết quả
Mỗi một mơn học, giảng viên phải phân chia nhĩm để giao đề tài Giảng viên đánh giá kết quả thực hiện đề tài của nhĩm bằng các buổi seminar Khi bảo vệ đề tài, các nhóm có thể phản biện lẫn nhau Giảng viên lúc này đĩng vai trị cố vấn
Giảng viên nên giao bài tập về nhà bằng những vấn đề cĩ liên quan đến bài học Các vấn đề lấy từ tài liệu bằng tiếng nước ngồi hoặc tài liệu liên quan tự tìm kiếm trên thư viện, trên mạng Sau đĩ cĩ sự kiểm tra kết quả cuối cùng mà sinh viên đã thực hiện
Giảng viên tham mưu cho khoa, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về chuyên mơn, kết hợp với quảng bá rộng rãi ngành, nghề nhà trường đào tạo và thành lập các diễn đàn câu lạc bộ, tạo điều kiện cho sinh viên tự tìm tịi, học hỏi lẫn nhau
Tĩm lại, giảng viên phải là người cuối cùng đánh giá, hệ thống hĩa kiến thức, khái quát hĩa các kết luận cho sinh viên
Trang 34Rõ ràng việc dạy theo theo hệ thống tín chỉ, đạt được ba tiêu chí lớn: thay đổi tích cực cách học, phát huy mạnh mẽ tính chủ động của người học, khai thác triệt để công nghệ mới
2.4.1.3 Các biện pháp triển khai
Như trên tôi đã đề cập trên, có hai nội dung lớn tôi đã triển khai: hình thức thảo luận nhóm và hệ thống website E-learning để kiểm tra và trao đổi thông tin
Biện pháp 1: Thảo luận nhóm:
Sau đây là phương pháp tổ chức thảo luận nhóm:
Tổ chức lớp học: Phân nhóm làm việc, bình quân 1 nhóm 10 sinh
viên Sinh viên ngồi học theo vị trí nhóm
Tài liệu tham khảo, bài giảng: Giảng viên cung cấp vào thời điểm đầu
môn học Những loại tài liệu yêu cầu truy cập Internet giảng viên sẽ cung cấp từ khóa, sinh viên tự chọn dưới sự đồng ý của giảng viên Để tăng cường khả năng
tự học, khả năng tiếng Anh chuyên ngành, sinh viên được khuyến khích truy cập các tài liệu nước ngoài, dịch và biên soạn trước khi trình bày
Sinh viên trao đổi những thắc mắc Giảng viên trả lời phát vấn
Giảng viên đặt vấn đề mở rộng và kết hợp thêm các chức năng khác trên một vấn đề cơ sở Sinh viên giải quyết vấn đề Giảng viên hướng dẫn hoàn chỉnh vấn đề đặt ra
Làm các bài tập tại lớp theo nhóm
Hình thức 2: Áp dụng với 50% thời lượng còn lại của đợt học cho những
vấn đề thực tế
Trang 35Giảng viên cung cấp các tài liệu cần nghiên cứu (về các vấn đề đã nêu) cho sinh viên chọn
Sinh viên làm việc theo nhĩm với sự hướng dẫn của giảng viên
Các nhĩm trình bày các vấn đề nghiên cứu của nhĩm mình dạng slide Giảng viên đặt câu hỏi, các sinh viên các nhĩm khác sẽ trao đổi và trả lời Giảng viên hệ thống lại kiến thức, uốn nắn phần lệch lạc, nhận xét, gĩp ý về hình thức cũng như nội dung
Nhĩm trưởng sửa chữa lại bảng thuyết minh và các slide thuyết trình, ghi đĩa nộp cho giảng viên Trong đĩa cĩ bản nhận xét về quá trình làm việc của nhĩm, cơng việc thực tế của các thành viên trong nhĩm, những thành viên cĩ tên nhưng chưa tham gia
Biện pháp 2: Trao đổi, kiểm tra bài trên mạng máy tính
Để triển khai biện pháp này, tơi đã tiến hành thử nghiệm nhiều lần bằng cách
sử dụng mạng cục bộ với nhiều phần mềm E-learning: exe… trên một số lớp Tôi đã tạo 1 Website Elearning học tập, giải đáp thắc mắc và kiểm tra qua mạng bằng các mã nguồn mở Nhưng do thời gian qua do bận đi học nên biện pháp này cịn đang dở dang
2 4.1.4 Yêu cầu kết quả đạt được
Các nhĩm sinh viên biết cách khai thác cĩ chất lượng các nguồn thơng tin sẵn cĩ Biết nắm bắt tri thức một cách vững chắc, sáng tạo, phát huy năng lực và khả năng tự nghiên cứu
Làm việc theo nhĩm cĩ hiệu quả
Khai thác các tiện ích của cơng nghệ thơng tin trong bài giảng của mình và trình bày báo cáo trên Power point
2 4.1.5 Yêu cầu về phương tiện giảng dạy
Bài giảng của giảng viên đầy đủ, rõ ràng, cập nhật
Phịng học cĩ đầy đủ phương tiện hỗ trợ hoạt động dạy học
Thư viện cĩ đầy đủ các tài liệu liên quan
Trang 36Riêng để triển khai học tập qua mạng theo tôi nhà trường phải có hệ thống Website hỗ trợ E-learning, đường truyền Internet mạnh, hệ thống wifi phủ khắp khuôn viên trường (để phục vụ chi sinh viên học mọi lúc, mọi nơi)…
2.4.2 Kết quả triển khai giảng dạy
Tôi xin dẫn ra việc triển khai phương pháp giảng dạy trên ở môn “Lý Thuyết Đồ Họa” học kỳ 4 - lớp SP tin K32 Mặc dầu thời điểm triển khai phương pháp này, nhà trường chưa ban hành đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tôi đã sử dụng biện pháp 1, hình thức 2 để triển khai
2.4.2.1 Các biện pháp triển khai
2.4.2.1.1 Yêu cầu đối với sinh viên
Trên cơ sở các tổ đã được phân chia theo đơn vị lớp (bình quân khoảng
10-12 SV), tôi đã đưa ra các đề tài cho từng tổ gồm:
* Tháp Hà Nội
* Bài toán 8 con Hậu
* Bài toán Mã đi tuần
* Thiết kế hệ thống Menu cấp 2 chọn lệnh bằng phím
Các tổ tự tìm tòi để xác định nguồn thông tin giúp sinh viên giải quyết vấn
đề được giao
Thảo luận và làm việc theo nhóm: SV được khuyến khích làm việc theo
nhóm, phân chia mỗi cá nhân một phần công việc nhằm đạt được kết quả chung Trình bày trước lớp các chủ đề của mình
2.4.2.1.2.Yêu cầu đối với giảng viên
Trình bày các kiến thức cơ bản về kỹ thuật thể hiện các đối tượng đồ họa trên máy tính, nêu được các vấn đề cốt lõi trong môn học và yêu cầu SV cần giải quyết Định hướng các bài tập và trợ giúp sinh viên giải quyết các vấn đề đã đặt ra Đánh giá, hệ thống hóa kiến thức, khái quát hóa các kết luận cho sinh viên
và cho điểm
2.4.2.1.3 Hình thức tổ chức
Trang 37Tổ chức theo hình thức 2, sau khi giảng dạy được 50% thời lượng còn lại của môn học
Giảng viên cung cấp các tài liệu cần nghiên cứu cho các nhóm sinh viên Sinh viên làm việc theo nhóm với sự hướng dẫn của giảng viên
Các nhóm trình bày các vấn đề nghiên cứu của nhóm mình dạng slide cuối thời gian của môn học
Giảng viên đặt câu hỏi, các sinh viên các nhóm khác sẽ trao đổi và trả lời
Hệ thống lại kiến thức, uốn nắn phần lệch lạc, nhận xét, góp ý về hình thức cũng như nội dung
Nhóm trưởng sữa chửa lại bảng thuyết minh và các slide thuyết trình, ghi đĩa nộp cho giảng viên
3 Kết quả
Các nhóm sinh viên đã tự mình hoàn thiện các chủ đề đã được giao với tinh thần chủ động
Đã hệ thống lại kiến thức, các bản thuyết minh do nhóm trưởng sữa chửa lại
và ghi đĩa nộp cho giảng viên
Sinh viên được đánh giá thông qua buổi thảo luận, đánh giá được khả năng
tự học của sinh viên
Điểm của bảng thuyết minh được tính trọng số 20%
3 KẾT LUẬN
Trên đây tôi chỉ xin góp một vài ý kiến nhỏ về việc đổi mới phương pháp dạy và học theo hệ thống tín chỉ Dựa trên nhiều tài liệu, các bài tham luận, các buổi thảo luận,…trên internet có thể thấy rằng: việc chuyển từ đào tạo niên chế sang tín chỉ là một xu thế mới của thế giới, của đất nước chúng ta Là sự chuyển mình trong phương pháp dạy và học Và cũng là một thách thức lớn không những cho các nhà quản lý mà còn cho các giảng viên chúng ta Việc chuyển từ hình thức đào tạo trong đó sinh viên “thụ động” thu nhận kiến thức chuyển sang “tích cực” trong việc thu nhận kiến thức, tự mình tìm tòi học hỏi cái mới thông qua sự dẫn dắt của người thầy
Trang 38TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Phan Quang Thế, “Đào tạo theo hệ thống tín chỉ có phải là nguyên nhân
đào thải nhiều sinh viên”, Bài viết gửi báo Giáo dục và Thời đại, Thanh
niên, Tuổi trẻ
[2] Phan Quang Thế, “Đổi mới phương pháp dạy học trong đào tạo theo hệ
thống tín chỉ”, Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - Đại học Thái
Trang 39ÁP DỤNG HỆ THỐNG ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
I MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, đổi mới phương pháp nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo và hội nhập quốc tế là một trong những nhiệm vụ lớn của sự
nghiệp giáo dục nước nhà Trước tình hình đó, hệ thống giáo dục Cao đẳng, Đại
học trong tòan quốc đã không ngừng thay đổi, cải tiến phương pháp giảng dạy,
quản lý, nghiên cứu khoa học để đáp ứng yêu cầu cấp thiết của công cuộc đổi
mới Để thực hiện thành công sứ mệnh đổi mới giáo dục, chúng ta cần nhiều yếu
tố, trong đó, quy chế giáo dục đào tạo là một trong những yếu tố quan trọng hàng
đầu cần được quan tâm Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 15 tháng 8
năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo về quy chế đào tạo Cao đẳng,
Đại học theo hệ thống tín chỉ đã khẳng định rõ tính cấp thiết của việc chuyển đổi
từ niên chế sang hệ thống tín chỉ Việc thực hiện theo chế độ tín chỉ là một bước
ngoặt quan trọng của quá trình tiếp cận và đạt được chất lượng giáo dục sánh với
các nước phát triển trên thế giới, mặc dù hiện tại của chúng ta vẫn còn nhiều khó
khăn, vướng mắc cần được giải quyết Sự thay đổi về quy chế đào tạo sẽ kéo theo
nhiều vấn đề cần phải xem xét, chẳng hạn như điều chỉnh, bổ sung chương trình
đào tạo sao cho phù hợp để đạt được hiệu quả cao nhất, việc xây dựng nội dung
chương trình, phân phối thời gian, cơ sở vật chất… của các ngành học, các bộ
môn khoa học cho đến công tác quản lí, kiểm tra, đánh giá là một việc làm tất
yếu Việc áp dụng hệ thống tín chỉ còn mới mẻ so với chúng ta, khi thực hiện vẫn
còn lúng túng cần được phân tích và đưa ra giải pháp để đạt được kết quả như
mong đợi Dưới đây là một số kinh nghiệm, nhận xét mà tác giả bài viết này rút
ra được trong quá trình học tập và công tác ở một số trường (Đại học Đà Lạt, Đại
học Cần Thơ, Đại học Xây dựng Hà Nội, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh )
đã thực hiện theo hệ thống tín chỉ trong những năm qua
1 Vấn đề chung của hệ thống tín chỉ
1.1 Một số nét đặc trưng của hệ thống tín chỉ
Kiến thức cấu trúc thành các mô đun (học phần), đòi hỏi sinh viên phải tích
luỹ kiến thức theo từng học phần (đơn vị tín chỉ)
Trang 40Quy định khối lượng kiến thức phải tích luỹ cho từng văn bằng Xếp năm học của người học theo khối lượng tín chỉ tích luỹ
Chương trình đào tạo mềm dẻo: cùng với các học phần bắt buộc cịn cĩ các học phần tự chọn cho phép sinh viên dễ dàng điều chỉnh ngành nghề đào tạo Sinh viên được hệ thống cố vấn học tập hướng dẫn trong suốt khóa học Dạy học lấy sinh viên làm trung tâm
Đơn vị học vụ là học kỳ Mỗi năm cĩ thể chia thành 2 học kỳ (15 tuần), 3 học kỳ (15 tuần) hoặc 4 học kỳ (10 tuần)
Sinh viên ghi danh học đầu mỗi học kỳ, lớp học tổ chức theo mỗi học phần
1.2 Một số thuận lợi và khĩ khăn
1.2.1 Thuận lợi
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ lấy người học làm trung tâm Người học cĩ thể chủ động lập kế họach học tập cho riêng mình, cĩ thể lựa chọn tiến độ học tập tùy theo khả năng của bản thân Ngồi ra, người học cịn cĩ sự lựa chọn thêm những kiến thức mở rộng trong phần chương trình tự chọn phù hợp với nhu cầu
xã hội và bản thân
Quá trình đào tạo trở nên mềm dẻo hơn, các nội dung kiến thức cĩ thể được lựa chọn linh họat và chi tiết hơn nhờ vào việc phân chia các học phần theo nhiều tín chỉ
Tính liên kết và chuyển đổi cao nhờ vào sự tích lũy những kiến thức cần thiết đã cĩ Chúng ta cĩ thể mở rộng thêm chương trình với một số tín chỉ phù hợp với nhu cầu thực tiễn mà khơng nhất thiết phải thay đổi tịan bộ kết cấu nội dung chương trình Do đĩ, nhà trường và người học dễ dàng thực hiện việc mở rộng ngành học một cách tiện lợi và nhanh chĩng
Khả năng thực hiện việc hợp tác đào tạo với các trường ở các nước trong khu vực và trên tịan thế giới một cách dễ dàng, điều này cũng giúp cho việc trao đổi chuyên mơn, nghiệp vụ và cập nhật kiến thức mới đạt hiệu quả cao hơn Khai thác tối đa năng lực và thực hiện sự chuyên mơn hĩa cao đối với đội ngũ giáo viên