Tăng cường huy động tiền gửi khách hàng của Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2008 đang dần khép lại với biết bao sự kiện, diễn biến phức tạp và khólường của nền kinh tế thế giới theo chiều hướng bất ổn rõ nét: Từ cuộc khủng hoảngthị trường nhà đất của Mỹ lan rộng sang khủng hoảng tài chính mang tính toàn cầu,suy thoái kinh tế đã xảy ra ở hầu hết các nền kinh tế chủ chốt như Mỹ, Nhật, Anh vànhiều nước thuộc khu vực Châu Âu… Kinh tế thế giới chuyển từ xu hướng suythoái kinh tế gắn lạm phát cao sang xu hướng thiểu phát và giảm phát đang là nỗi locủa các quốc gia hiện nay
Trong bối cảnh đó, nền kinh tế Việt Nam không những phải đối mặt vớinhững diễn biến khó lường của kinh tế thế giới mà còn phải đối mặt với nhiều khókhăn nội tại như lạm phát tăng mạnh, thâm hụt cán cân thương mại đạt mức kỷ lục,thị trường chứng khoán liên tục sụt giảm Để có thể giữ ổn định kinh tế vĩ mô, hỗtrợ các doanh nghiệp duy trì và mở rộng sản xuất, khuyến khích xuất khẩu trongđiều kiện kinh tế suy thoái thì một nguồn lực có ý nghĩa quyết định không thể thiếuđược, đó chính là vốn, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn
Trước tình hình đó, hệ thống ngân hàng Việt Nam, với vai trò là huyết mạchcho các DNVN trong toàn bộ quá trình phát triển, từ khâu khởi sự, đi vào hoạtđộng, mở rộng sản xuất kinh doanh và hội nhập kinh tế quốc tế … phải đối mặt vớinhững khó khăn thách thức chưa từng có trong hơn hai mươi năm đổi mới Một câuhỏi đang được đặt ra cho thực tiễn hiện nay tại các NHTM Việt Nam nói chung và
NH TMCP Nhà Hà Nội nói riêng làm thế nào để tăng cường huy động vốn, đặc biệt
là huy động tiền gửi khách hàng – một nguồn huy động chiếm tỷ trọng lớn, là cơ sởđáp ứng nhu cầu về vốn cho các hoạt động kinh doanh, cho nhu cầu mở rộng triểnkhai các dịch vụ mới và áp dụng công nghệ hiện đại hóa NH
Xuất phát từ những lý do trên cùng với khoảng thời gian thực tế tại NHTMCP Nhà Hà Nội, được tiếp cận và tìm hiểu nhu cầu, thực trạng về huy động tiềngửi khách hàng tại đây, em nhận thấy quy mô huy động tiền gửi khách hàng còn
Trang 2chưa tương xứng với tiềm lực của ngân hàng Do đó, em lựa chọn đề tài “Tăng
cường huy động tiền gửi khách hàng của Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội” làm đề
tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình
Kết cấu chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1 : Những vấn đề cơ bản về huy động tiền gửi khách hàng của NHTM Chương 2 : Thực trạng huy động tiền gửi khách hàng của NH TMCP Nhà Hà Nội Chương 3 : Giải pháp tăng cường huy động tiền gửi khách hàng của NH TMCP
Trang 3CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI KHÁCH HÀNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm NHTM
Ngay từ xa xưa người ta đã biết dùng tiền làm phương tiện thanh toán, làmtrung gian trao đổi hàng hoá Thông qua tiền, việc trao đổi hàng hoá được tiến hànhmột cách thuận lợi, dễ dàng hơn nhiều, góp phần kích thích sản xuất Xã hội ngàycàng phát triển thì vai trò của tiền tệ ngày càng đươc phát huy, đồng thời các nhucầu về tiền tệ cũng bắt đầu nảy sinh và ngày càng trở nên đa dạng, chính điều này
đã thúc đẩy sự ra đời và phát triển của một loại hình trung gian tài chính chuyênkinh doanh về tiền tệ, đó là các ngân hàng
Ngân hàng thương mại là một trong những loại hình NH trung gian lâu đờinhất Sự ra đời của NHTM là kết quả tất yếu khách quan của quá trình sản xuất, traođổi hàng hóa và phân công lao động xã hội NHTM là một sản phẩm độc đáo củanền sản xuất hàng hoá trong kinh tế thị trường, một tổ chức có tầm quan trọng đặc
biệt trong nền kinh tế: “Là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các
dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.” [Peter Rose (2002), Quản trị Ngân hàng thương mại,
NXB Tài chính]
Trang 4Bản chất, chức năng, các hoạt động nghiệp vụ của các NH hầu như là giốngnhau song quan niệm về NH lại không đồng nhất giữa các nước trên thế giới Sở dĩ
có tình trạng này là do hoạt động NHTM rất đa dạng, các thao tác trong từng nghiệp
vụ NH lại phức tạp và vấn đề này luôn biến động theo sự thay đổi chung của nềnkinh tế Mặt khác, do tập quán, luật pháp của mỗi quốc gia, mỗi vùng khác nhau đãdẫn đến những quan niệm về NHTM không đồng nhất giữa các nước trên thế giới
Theo quan điểm của các nhà kinh tế Mỹ thì “NHTM là một công ty kinh doanh chuyên
cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính”; Ở Pháp, theo điều
1 Luật Ngân hàng Pháp 1941 quy định: “NHTM được hiểu là những xí nghiệp hay cơ sở
nào hành nghề thường xuyên nhận được của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính” ; Ở Việt Nam, theo quy định tại điều 20 Luật các tổ chức tín dụng 1997
thì NH được định nghĩa như sau: “NHTM là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện
toàn bộ hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan” “Hoạt động NH
là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ NH với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi
và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán Tổ chức tín dụng
là loại hình doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ NH với nội dung nhậntiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán.”
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về NHTM, nhưng tựu chung lại về cơ bảnđều phản ánh hoạt động của NHTM là kinh doanh tiền tệ - tín dụng, dịch vụ NH Có thể
hiểu tổng quát: NHTM là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh
trên lĩnh vực tiền tệ với hoạt động chính là huy động tiền gửi dưới các hình thức khác nhau của khách hàng, trên cơ sở nguồn vốn huy động này và vốn chủ sở hữu của NH để thực hiện các nghiệp vụ cho vay, đầu tư, chiết khấu đồng thời thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, môi giới, tư vấn và một số dịch vụ khác cho các chủ thể trong nền kinh tế [Lê
Văn Tư (2005), Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, NXB Tài chính]
1.1.2 Chức năng của NHTM
NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh dịch vụ tiền tệ.NHTM không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất như những doanh nghiệp thuộc
Trang 5lĩnh vực sản xuất kinh doanh nhưng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất,lưu thông và phân phối sản phẩm xã hội bằng cách cung ứng vốn tín dụng, vốn đầu
tư cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế mở rộng kinh doanh, góp phần tăngnhanh tốc độ phát triển kinh tế Vai trò quan trọng của NHTM trong nền kinh tếđược thể hiện qua các chức năng cơ bản của nó như trung gian tài chính, trung gianthanh toán, tạo phương tiện thanh toán
- Trung gian tài chính: Chức năng trung gian tài chính của NH có thể
thấy rõ qua sơ đồ luân chuyển vốn sau:
Sơ đồ 1.1: Luân chuyển vốn trong nền kinh tế
Nguồn: www.saga.vn
NH là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiếtkiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức trong nền kinhtế: một là các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêudùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ cần bổ sung vốn; hai là các cá nhân
và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoảnchi tiêu cho hàng hoá, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm Khi thực hiện chứcnăng trung gian tài chính, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người dư thừa vốn vàngười có nhu cầu về vốn, vì vậy giải quyết được mâu thuẫn tín dụng trực tiếp, gópphần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia, bao gồm: người gửi tiền, NH, người đivay, đồng thời thúc đẩy sự phát triển kinh tế
Chính vì thế NHTM với tư cách là một trung gian tài chính đứng ra nhận tiềngửi tiết kiệm và cung cấp vốn cho nền kinh tế với số lượng và thời hạn phong phú
Cá nhân và DN
Gửi tiền
Ủy thác đầu tư
Cho vay
Đầu tư
Trang 6và đa dạng đáp ứng mọi nhu cầu về vốn của khách hàng có đủ điều kiện vay vốn.Với mạng lưới giao dịch rộng khắp, các dịch vụ đa dạng, cung cấp thông tin nhiềuchiều, hoạt động ngày càng phong phú chuyên môn hoá vào từng lĩnh vực NHTM
đã thực sự giải quyết được những hạn chế của thị trường tài chính trực tiếp, gópphần nâng cao hiệu quả luân chuyển vốn trong nền kinh tế thị trường
Đây được coi là chức năng quan trọng nhất của NH thương mại, quyết định sựtồn tại và phát triển của NH, đồng thời là cơ sở để thực hiện các chức năng khác
- Trung gian thanh toán: Với chức năng này, NHTM đóng vai trò là
“người thủ quỹ” cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi NH là người giữ tài khoảncủa họ và thực hiện các lệnh thu chi của khách hàng K Maxr đã viết: "Công việccủa người thủ quỹ chính là ở chỗ làm trung gian thanh toán Khi NH xuất hiện thìchức năng này được chuyển giao sang NH Tuy nhiên, khác với nghề kinh doanhtiền tệ dưới hình thức ban đầu giản đơn và thuần tuý của nó - nghĩa là tách khỏi chế
độ tín dụng - trong NH, thì chức năng trung gian tín dụng gắn bó một cách chặt chẽ
với trung gian thanh toán NH dùng số tiền của nhà tư bản này để cho vay" Thật
vậy, chức năng này có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với chức năng trung gian tíndụng Việc mở tài khoản của khách hàng, nhận tiền gửi và thanh toán hộ kháchhàng đã tạo ra cơ sở để NH có thêm nguồn vốn để mở rộng cho vay Đồng thời,thông qua việc nhận tiền gửi, NH đã mở cho khách hàng tài khoản để theo dõi cáckhoản thu chi, đó chính là tiền đề để khách hàng thực hiện thanh toán qua NH Chức năng này tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quan hệthanh toán với nhau, làm giảm đi đáng kể những chi phí có liên quan đến lưu thôngtiền mặt đối với từng doanh nghiệp cũng như đối với toàn xã hội Đối với NHTM,chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho NH thông qua việc thu lệ phíthanh toán, tăng nguồn vốn cho vay của NH thể hiện trên số dư Có trong tài khoảntiền gửi của khách hàng
- Tạo phương tiện thanh toán: Khi hệ thống NH phân thành hai cấp
thì NHNN là NH phát hành còn NHTM thực hiện kinh doanh tiền tệ - tín dụng Vớichức năng là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, NHTM có khả năng tạo ra
Trang 7tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM Chức năng tạo tiền là chức năng cực
kỳ quan trọng của NHTM Chức năng này được thể hiện trong quá trình NHTM cấptín dụng cho nền kinh tế và hoạt động đầu tư của NHTM, trong mối quan hệ vớiNHNN đặc biệt trong quá trình thực hiện chính sách tiền tệ mà mục tiêu của chínhsách tiền tệ là ổn định giá trị đồng tiền Từ một lượng tiền cơ sở do NHNN pháthành qua hệ thống NHTM sẽ được tăng lên gấp bội khi NHTM cấp tín dụng chonền kinh tế Như vậy, quá trình tạo tiền chỉ có thể thực hiện được khi có sự tham giacủa cả hệ thống NHTM chứ bản thân một NH không thể tạo ra được
Tóm lại, sự kết hợp giữa chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanhtoán là cơ sở để NHTM thực hiện chức năng tạo tiền gửi thanh toán Thông quachức năng làm trung gian tín dụng, NH sử dụng số vốn huy động được để cho vay,
số tiền cho vay lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụtrong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi làmột bộ phân của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, dịch vụ Nếu
NH chỉ thực hiện chức năng nhận tiền gửi mà chưa cho vay, NH vẫn chưa tạo tiền.Chỉ đến khi thực hiện cho vay, NH mới bắt đầu tạo tiền Đây là một phát minh lớntrong hoạt động NH Có thể thấy, các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặtchẽ, bổ sung hỗ trợ cho nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng
cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng còn lại Đồng thời, khi NHthực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền sẽ góp phần làmtăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng hoạt động tín dụng
1.1.3 Các hoạt động cơ bản của NHTM
Vai trò to lớn của NH đối với sự phát triển kinh tế xã hội xuất phát từ chínhđặc trưng của hoạt động NH NHTM giống như các tổ chức kinh doanh khác là hoạtđộng vì mục đích lợi nhuận song lại ở lĩnh vực kinh doanh đặc biệt: kinh doanh tiền
tệ, một lĩnh vực cực kỳ nhạy cảm trong nền kinh tế và có tác động tới mọi hoạtđộng khác Do nhu cầu tất yếu của nền kinh tế thị trường, các NH không ngừng tăngcường mở rộng các danh mục các sản phẩm NH nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa
Trang 8dạng của khách hàng, sử dụng nguồn vốn có hiệu quả và thu lợi nhuận cao Tuy nhiên,
về cơ bản chúng ta có thể xắp xếp các hoạt động đó vào một trong ba nhóm sau:
- Hoạt động huy động vốn
- Hoạt động sử dụng vốn
- Hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính
Ba hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau và có vai trò quantrọng trong việc quyết định đến sự thành công trong hoạt động kinh doanh của NH
Hoạt động huy động vốn
Một đặc trưng quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM tạo nên sựkhác biệt so với các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực phi tài chính làhoạt động huy động vốn, một nghiệp vụ kinh doanh hết sức quan trọng của NHTM.NHTM sử dụng uy tín và điều kiện sẵn có của mình để tiến hành huy động vốn.Hoạt động này tạo nguồn vốn cho NHTM, vì thế đóng vai trò quan trọng, ảnhhưởng tới chất lượng hoạt động của NH Mặc dù bị giới hạn về mức huy động vốn,song nếu các NHTM sử dụng tốt nguồn vốn này thì không những nguồn lợi của NHđược tăng lên mà còn tạo cho NH uy tín ngày càng cao Qua đó NH có thể mở rộngđược vốn và mở rộng qui mô hoạt động kinh doanh của NH Kết cấu nguồn vốn baogồm: Vốn tự có, tiền gửi, tiền vay và các nguồn vốn khác
Hoạt động sử dụng vốn
Sử dụng và khai thác các nguồn vốn là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhấtcủa NHTM vào mục đích nhằm đảm bảo an toàn trong thanh toán cũng như tìmkiếm lợi nhuận Nghiệp vụ này được thể hiện thông qua nhiều nghiệp vụ cụ thể như:cho vay, đầu tư, hoạt động ngân quỹ Trong đó, cho vay là nghiệp vụ cơ bản nhấttrong sử dụng và khai thác nguồn vốn của NHTM
* Nghiệp vụ cho vay: Là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu và tạo khả năng sinh
lời cao cho NH Trong tổng tài sản có thì nghiệp vụ này chiếm tỷ trọng lớn nhất
* Nghiệp vụ đầu tư tài chính: Các NHTM thực hiện quá trình đầu tư bằng
vốn của mình thông qua các hoạt động hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán
Trang 9trên thị trường với mục đích kiếm lời, phân tán rủi ro qua việc đa dạng hoá cáchoạt động kinh doanh.
* Nghiệp vụ ngân quĩ: Nghiệp vụ này phản ánh các khoản về dự trữ của NH
nhằm đảm bảo an toàn trong thanh toán và thực hiện qui định về dự trữ bắt buộc doNHNN đề ra
Hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính
Là nghiệp vụ của NH thực hiện các dịch vụ cho khách hàng thông qua đó nhậnđược các khoản thu dưới hình thức hoa hồng Các hoạt động trung gian này có độrủi ro thấp hơn hoạt động cho vay và đầu tư trong khi vẫn mang lại nguồn thu lớncho NH Nền kinh tế càng phát triển thì dịch vụ này càng mở rộng, bao gồm:
- NH tiến hành chuyển tiền cho khách hàng, thanh toán hộ khách hàng về cáckhoản tiền mua bán dịch vụ thông qua việc thu hộ, chi hộ khách hàng bằng hìnhthức séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thư tín dụng
- NH đóng vai trò làm trung gian trong việc mua bán hộ cho khách hàng
- NH làm đại lý phát hành và bán chứng khoán cho công ty
Như vậy, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vựctiền tệ, thông qua nghiệp vụ huy động vốn để cho vay, đầu tư và thực hiện cácnghiệp vụ tài chính khác Thông qua các nghiệp vụ, NHTM đã chứng tỏ được sựcần thiết của hệ thống NH trong phát triển nền kinh tế thị trường, là đòn bẩy củanền kinh tế
1.2 Hoạt động huy động tiền gửi khách hàng của NHTM
1.2.1 Khái niệm và vai trò của tiền gửi khách hàng đối với hoạt động của NHTM
1.2.1.1 Khái niệm và kết cấu nguồn vốn của NHTM
NHTM là một trung gian tài chính, ở mỗi nước khác nhau các trung gian tàichính lại được phân chia khác nhau Tuy nhiên, luôn tồn tại một điểm chung là vai tròchủ đạo của các NHTM đóng góp khối lượng tài sản và tầm quan trọng đối với nền kinh
tế Để có được vị trí đó NHTM phải đặt yếu tố lợi nhuận lên hàng đầu và công cụ duynhất mà các NHTM phải có trước tiên là vốn
Trang 10Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc để thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Vốn của các NHTM phần lớn là các khoản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong sảnxuất kinh doanh được gửi vào NH với những mục đích khác nhau NH đóng vai tròtập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển đến các nhà đầu tư có nhucầu về vốn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển Vốn và các hoạt động về huy động vốnquyết định trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của cácNHTM Vốn đóng vai trò chi phối và quyết định đối với việc thực hiện các chứcnăng của NHTM
Kết cấu nguồn vốn NHTM bao gồm : Vốn tự có, vốn huy động và vốn khác
* Vốn tự có là nguồn lực tự có mà chủ NH sở hữu và sử dụng vào mục đích
kinh doanh theo luật định Nguồn hình thành loại vốn này rất đa dạng, tùy theo tínhchất sở hữu, năng lực tài chính của chủ NH, yêu cầu và sự phát triển của thị trường.Vốn tự có tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của NHTM song nó lại làyếu tố cơ bản đầu tiên quyết định sự tồn tại và phát triển của một NH Mặt khác, vớichức năng bảo vệ, vốn tự có được coi như tài sản đảm bảo, gây lòng tin đối vớikhách hàng, góp phần duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp NH gặp thua lỗ.Vốn tự có cũng là căn cứ để tính toán các hệ số đảm bảo an toàn và các chỉ tiêu tàichính trong hoạt động kinh doanh NH
Trong thực tế, vốn tự có không ngừng được tăng lên từ kết quả hoạt độngkinh doanh của bản thân NH mang lại Bộ phận vốn này đóng góp một phần đáng
kể vào vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM, đồng thời góp phần vào nângcao vị thế của NHTM trên thương trường
Như vậy, vốn tự có là nguồn vốn ổn định, NH sử dụng một cách chủđộng Do đó vấn đề đặt ra là NH phải bảo toàn và không ngừng tăng vốn tự có củamình theo yêu cầu của sự phát triển hoạt động kinh doanh theo đúng chính sách,chế độ, đồng thời phải sử dụng vào các mục đích đã định
* Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà NH huy động được từ các tổ
chức kinh tế và cá nhân trong xã hội và được dùng làm vốn để kinh doanh Vốn huy
Trang 11động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, NH chỉ có quyền sử dụng và phảihoàn trả đúng gốc và lãi khi đến hạn Nguồn vốn này luôn biến động, tuy nhiên nóđóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động của NH Đây là khoản vốn chiếm
tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn Các hoạt động sử dụng vốn tồn tại và pháttriển được là nhờ nguồn vốn huy động này
- Vốn huy động từ tiền gửi: Khi một NH bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là
mở tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó NHhuy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và dân cư Đây là nguồnvốn chủ yếu và quan trọng sử dụng để kinh doanh của NH, thường chiếm tỷ trọnglớn trong tổng nguồn vốn của NHTM và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của các
NH Vốn huy động từ tiền gửi bao gồm: tiền gửi khách hàng và tiền gửi khác (tiềngửi của các tổ chức tín dụng, tiền gửi của kho bạc Nhà nước, tiền gửi của các đoànthể xã hội …)
- Vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá: Trong hình thức này NH
chủ động đứng ra thu gom vốn trong xã hội bằng việc phát hành các giấy tờ có giánhư kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu để bổ sung nguồn vốn kinh doanh của NH.Thông thường đây là khoản vay không có đảm bảo Những NH có uy tín hoặc trả lãisuất cao sẽ vay mượn được nhiều hơn Khả năng vay mượn này còn phụ thuộc vàotrình độ phát triển của thị trường tài chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ
nợ dài hạn của NH
- Vốn đi vay từ các NH khác: Đối với nghiệp vụ này các NHTM tiến hành tạo vốn
cho mình bằng cách vay của các TCTD trên thị trường tiền tệ và NHNN dưới hìnhthức tái chiết khấu hay vay có bảo đảm, nhằm tạo sự cân đối trong điều hành vốncủa bản thân NHTM khi mà họ không tự cân đối được trên cơ sở khai thác tại chỗ.Thực tế cho thấy, chi phí của vốn đi vay thường cao hơn chi phí của vốn huy độngtại chỗ cho nên nó chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của NH Tuy nhiên,tính chủ động của vốn đi vay lại cao hơn vốn huy động tại chỗ
* Vốn khác: Ngoài các nguồn vốn chủ yếu trên NHTM còn có các nguồn
vốn khác cũng không kém phần quan trọng như: vốn trong thanh toán, nguồn vốn
Trang 12uỷ thác đầu tư NHTM có thể sử dụng các nguồn vốn này để kinh doanh trongkhoảng thời gian và điều kiện nhất định.
Tóm lại, NHTM có rất nhiều biện pháp nhằm thu hút tối đa các nguồnvốn trong nền kinh tế, đó là: huy động các khoản tiền gửi; huy động thông qua pháthành các giấy tờ có giá; huy động từ việc đi vay các NH khác Vốn huy động đóngvai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của NHNN Mặc dù bị giớihạn về mức huy động vốn, song nếu các NHTM sử dụng tốt nguốn vốn này thìkhông những nguồn lợi của NH được tăng lên mà còn tạo cho NH uy tín ngày càngcao Qua đó NH có thể mở rộng được vốn và mở rộng qui mô hoạt động kinh doanhcủa NH
1.2.1.2 Vai trò của tiền gửi khách hàng đối với hoạt động kinh doanh của NH
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh được thì phải
có vốn bởi vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh.Riêng đối với NH là một doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng hoá đặc biệt là
“tiền tệ” nên nguồn vốn đối với hoạt động kinh doanh của NH lại càng có vai trò
hết sức quan trọng Nói cách khác, nguồn vốn mà NH huy động được nhiều hay ítquyết định đến khả năng mở rộng hay thu hẹp tín dụng
Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi là hình thức huy động cổ điển và mangtính đặc thù riêng có của NHTM Đây cũng là điểm khác biệt giữa NHTM và các tổchức tín dụng phi NH Quy mô của tiền gửi là rất lớn so với các nguồn vốn khác,thông thường nó chiếm trên 50% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng của các
NH
- Là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường bất kỳ doanh nghiệp nào muốn sản xuất kinh doanhcũng cần có vốn, vốn quyết định đến khả năng kinh doanh của doanh nghiệp Đốivới NHTM vốn là đối tượng kinh doanh chủ yếu, là cơ sở để NH tổ chức mọi hoạtđộng kinh doanh của mình Ngoài vốn ban đầu cần thiết tức là đủ vốn điều lệ theoluật định thì để bắt đầu hoạt động kinh doanh của mình, việc đầu tiên mà NH phải
Trang 13làm là huy động vốn, cụ thể là huy động tiền gửi khách hàng Vốn huy động từ tiềngửi sẽ cho phép NH cho vay, đầu tư để thu lợi nhuận Đồng thời, nguồn tiền này
sẽ giúp NH chủ động trong kinh doanh, tránh hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đi vay:vay để cho vay, vay để đầu tư, vay để thanh toán Có thể nói, không có nguồn tiềngửi khách hàng, NHTM sẽ không đủ nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của mình.Nghiệp vụ huy động tiền gửi khách hàng góp phần giải quyết “đầu vào” của NH
- Quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của NH
Ngoài vai trò là cơ sở để NH tổ chức các hoạt động kinh doanh, nguồn vốn
từ huy động tiền gửi khách hàng còn quyết định đến việc mở rộng hoặc thu hẹpkhối lượng tín dụng và các hoạt động khác của NHTM Tiền gửi khách hàng chiếm
tỷ trọng lớn nhất và là nguồn vốn chủ yếu để NH tiến hành các hoạt động kinhdoanh do đó NH nào có nguồn tiền gửi huy động càng lớn thì khả năng cấp tín dụngcho nền kinh tế và các hoạt động khác càng được mở rộng
Thông thường, nếu so với các NH lớn thì NH nhỏ có khoản mục đầu tư chovay kém đa dạng hơn, phạm vi cho vay của các NH này cũng nhỏ hơn Trong khi,các NH lớn cho vay được tại các thị trường trong vùng, thậm chí trong nước vàquốc tế, thì các NH nhỏ bị giới hạn về phạm vi hoạt động hẹp, mà chủ yếu trongcộng đồng Thêm vào đó, do khả năng hạn hẹp nên các NH nhỏ không phản ứngnhạy bén với sự biến động của lãi suất, giảm khả năng thu hút vốn đầu tư từ cáctầng lớp dân cư và các thành phần kinh tế
- Quyết định năng lực cạnh tranh của NH
Với chức năng tập trung và phân phối cho các nhu cầu của nền kinh tế, một nguồntiền gửi huy động dồi dào sẽ tạo cho NH điều kiện để mở rộng hoạt động kinhdoanh, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, không bỏ lỡ cơ hội đầu tư, giảm thiểu rủi
ro, tạo dựng được uy tín cho NH Thực tế đã chứng minh: quy mô, trình độ nghiệp
vụ, phương tiện kỹ thuật hiện đại của NH là tiền đề cho việc thu hút nguồn vốnnhàn rỗi trong dân cư Với tiềm năng vốn lớn từ hoạt động huy động tiền gửi, NH
có đủ khả năng tài chính để kinh doanh đa năng trên thị trường, không chỉ đơnthuần là cho vay mà còn mở rộng hình thức liên doanh, liên kết, kinh doanh trên thị
Trang 14trường chứng khoán Chính các hình thức kinh doanh đa năng này sẽ góp phần phântán rủi ro trong hoạt động kinh doanh và tạo thêm vốn cho NH đồng thời tăng sứccạnh tranh của NH trên thị trường
hệ tín dụng với các thành phần kinh tế cả về qui mô, khối lượng tín dụng, chủ động
về thời gian, thời hạn cho vay, thậm chí quyết định mức lãi suất vừa phải cho kháchhàng Điều đó sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng, doanh số hoạt động của NH
sẽ tăng lên nhanh chóng và NH sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong hoạt động kinhdoanh, đảm bảo uy tín và năng lực trên thị trường
Mặt khác, thông qua nghiệp vụ huy động tiền gửi NHTM có thể đo lườngđược uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng Từ đó,NHTM có các biện pháp không ngừng hoàn thiện hoạt động huy động tiền gửi đểgiữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng
Với những vai trò hết sức quan trọng đó, các NH luôn tìm cách đưa ra
những chính sách quản lý nguồn vốn từ khâu nhận vốn từ những người gửi tiền chođến việc sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả Bên cạnh đó, các nhà quản trị NHcũng luôn tìm cách để đổi mới, hoàn thiện chúng cho phù hợp với tình hình chungcủa nền kinh tế Đó là một trong những điều kiện tiên quyết đưa NH đến thànhcông
1.2.2 Các hình thức huy động tiền gửi khách hàng của NHTM
Đây là hình thức huy động vốn mà NH huy động được từ các tổ chức kinh tế và
cá nhân trong xã hội thông qua hoạt động nhận tiền gửi tiết kiệm, thanh toán hộ, cáckhoản cho vay tạo tiền gửi và các nghiệp vụ kinh doanh khác Đối với hầu hết các NH,tiền gửi luôn là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NH
Trang 15Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có nguồn tiền có chất lượng ngàycàng cao, các NH đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động đa dạng Tùy thuộcvào tiêu thức phân loại và yêu cầu quản lý, người ta có thể phân loại tiền gửi thành nhiềuhình thức khác nhau
Phân loại theo thời hạn
Ngày nay, người ta thường phân chia các khoản tiền gửi theo tiêu thức này
để có thể quản lý tốt lượng tiền gửi, tiền lãi, và là cơ sở để NH xây dựng chiến lược
dự trữ phù hợp Theo tiêu thức này, tiền gửi bao gồm: tiền gửi không kỳ hạn và tiềngửi có kỳ hạn
- Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là khoản tiền gửi đúng như tên gọi của nó là thời
gian gửi tiền không xác định, người gửi tiền có quyền rút ra bất kỳ lúc nào do đó lãisuất thường thấp Mục đích của khách hàng đối với loại tiền này là hưởng những tiệních trong thanh toán khi có nhu cầu chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêudùng Hình thức này chủ yếu là mở cho các doanh nghiệp Vì vậy, đây là bộ phận tiềnchỉ nhàn rỗi tạm thời chứ không phải là khoản để dành
Tiền gửi không kỳ hạn là một trong những nguồn vốn biến động nhiều nhất và
NH khó có thể dự báo về quy mô tiền gửi không kỳ hạn (giao dịch) có thể huyđộng Do tính chất không ổn định của nó nên NH chỉ được sử dụng một tỷ lệ phầntrăm nhất định nào đó của lượng tiền gửi không kỳ hạn nhận được, và NH muốn sửdụng thì phải dự tính về sự ổn định tương đối của lượng tiền này Do vậy, quản lýtiền gửi không kỳ hạn là một phần quan trọng của quản lý dự trữ trong các NH
- Tiền gửi có kỳ hạn: Ngược với tiền gửi không kỳ hạn, đây là loại tiền gửi có sự
thoả thuận giữa người gửi tiền và NH về số lượng, kỳ hạn, lãi suất của khoản tiềngửi Nguyên tắc tiến hành khoản tiền gửi này là người gửi chỉ được rút tiền khi đến thờihạn như đã thoả thuận có thể là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 1 năm hoặc trên thếnữa
Do có sự xác định rõ ràng về kỳ hạn, nên nguồn tiền gửi có kỳ hạn là nguồntiền có sự ổn định cao, NH có thể sử dụng để cho vay với thời hạn tương ứng hoặc
có thể chuyển đổi một phần tiền gửi ngắn hạn để cho vay trung dài hạn Chính vì lý
Trang 16do này mà lãi suất của các khoản tiền gửi kỳ hạn thường cao hơn nhiều lãi suất tiềngửi không kỳ hạn Bởi vì mục đích chính của việc gửi tiền vào NH là tiền lãi, do đóthông thường thì lãi suất tỷ lệ thuận với kỳ hạn, tức là khoản tiền gửi càng lâu thì lãisuất càng cao và ngược lại.
Phân loại theo đối tượng
-Tiền gửi của dân cư: Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời nhàn
rỗi.Trong điều kiện có khả năng tiếp cận với NH , họ đều có thể gửi tiết kiệm với mục
tiêu đảm bảo an toàn và sinh lời đối với các khoản tiết kiệm , đặc biệt là nhu cầu bảo
toàn Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các NH đều khuyến khích dân cưthay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng lưới huy động ,đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn … Đây là một khuvực huy động đầy tiềm năng cho các ngân hàng, và nguồn huy động từ dân cư nàythường khá ổn định
- Tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội: Các doanh nghiệp do yêu cầu của
hoạt đông sản xuất kinh doanh nên các đơn vị này thường gửi một khối lượng lớn tiền
vào NH để hưởng tiện ích trong thanh toán NHTM là một trung gian tài chính, nó quan
hệ với các đối tượng này thông qua việc mở tài khoản, nhận tiền gửi của các tổ chức kinh
tế và đáp ứng yêu cầu thanh toán của họ Do có sự đan xen giữa các khoản phải thu vàcác khoản phải thanh toán nên NH luôn tồn tại một số dư tiền gửi nhất định, điều này lígiải vì sao đây là nguồn huy động chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn, có chi phíthấp và được sử dụng cho vay không chỉ ngắn hạn mà còn cả trung hạn Tuy nhiênnguồn này có hạn chế là tính ổn định và độ lớn phụ thuộc vào quy mô, loại hình củadoanh nghiệp
Phân loại theo mục đích
- Tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền để dành của mỗi cá nhân được gửi
vào NH, nhằm hưởng lãi suất theo qui định Tiền gửi tiết kiệm là bộ phận thu nhập bằngtiền của các cá nhân chưa sử dụng được gửi vào các tổ chức tín dụng Nó là một dạngđặc biệt của tích luỹ tiền tệ trong tiêu dùng cá nhân Những người gửi tiền tiết kiệm là
Trang 17những đối tượng giảm chi tiêu trong hiện tại với hy vọng là sẽ tăng được chi tiêutrong tương lai Đây là hình thức huy động vốn trung và dài hạn khá hiệu quả, cótính ổn định, đồng thời có tác dụng tích cực trong việc hỗ trợ cho người dân muasắm nhà cửa, phương tiện Có hai loại tiền gửi tiết kiệm là tiền gửi tiết kiệm không kỳhạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
- Tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi thanh toán: Đây là khoản tiền của doanh nghiệp hoặc
cá nhân gửi vào NH để nhờ NH giữ và thanh toán hộ Trong phạm vi số dư cho phép,các nhu cầu chi trả của doanh nghiệp hoặc cá nhân đều được NH thực hiện Các khoảnthu bằng tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân đều có thể được nhập vào tiền gửi thanhtoán theo yêu cầu Lãi suất của khoản tiền này rất thấp , thay vào đó chủ tài khoản có thểđược hưởng các dịch vụ của NH với mức phí thấp Mục đích của người gửi tiền khôngphải là để hưởng thu nhập mà là hưởng các dịch vụ của NH Thông thường cáckhoản tiền gửi thanh toán có khối lượng lớn Do đó, khi các khoản tiền này tạm thời
NH có thể sử dụng vào kinh doanh
- Tiền gửi “lai” ( vừa tiết kiệm vừa giao dịch): Đây là loại tiền gửi mà người gửi vừa có
thể yêu cầu NH thanh toán hộ, vừa có thể hưởng lãi suất định kỳ như một khoản tiền gửitiết kiệm.Tuy nhiên, lãi suất của khoản tiền này thường không cao như lãi suất tiền gửitiết kiệm bởi tính cố định của khoản gửi , NH có thể không sử dụng được hoặc sử dụngrất ít số vốn huy động này để cho vay hoặc đầu tư
Phân loại theo tiêu thức loại tiền gửi
- Tiền gửi nội tệ: Đây là khoản tiền gửi quan trọng của các NH, nó phụ thuộc vào
thu nhập trong nước và chiếm tỷ trong rất lớn trong tổng lượng tiền gửi
- Tiền gửi ngoại tệ: Bên cạnh tiền gửi nội tệ thì NH còn nhận tiền gửi dưới dạng
ngoại tệ như USD, GBP, DEM, những khoản ngoại tệ này cũng rất quan trọng chohoạt động NH như kinh doanh ngoại tệ trong nước, tài trợ xuất nhập khẩu, thanhtoán quốc tê,
Để dễ hình dung và nắm rõ hơn, có thể theo dõi các hình thức huy động tiền gửikhách hàng của NHTM qua sơ đồ trang bên:
Trang 18Hoạt động
huy động TGKH
của NHTM
Theo thờihạn gửi
Theo đốitượng gửi
Theo mụcđích gửi
Theo loạitiền gửi
Trang 19Sơ đồ 1.2: Các hình thức huy động tiền gửi khách hàng của NHTM
Nguồn : www.saga.vn
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng huy động tiền gửi khách hàng của NHTM
1.2.3.1 Quy mô, tốc độ tăng trưởng nguồn tiền gửi
Quy mô nguồn tiền gửi được phản ánh qua khối lượng tiền gửi huy động được.Trong tổng nguồn vốn của NH thì quy mô nguồn huy động từ tiền gửi là một bộ phậnchiếm tỷ trọng cao nhất và có vai trò quan trọng hơn cả Công tác huy động tiền gửikhông thể có hiệu quả khi mà nguồn tiền huy động lại không đạt được quy mô nhất địnhtheo kế hoạch huy động của NH hay không đáp ứng nổi nhu cầu về khối lượng vốn chokinh doanh Quy mô tiền gửi lớn sẽ tạo điều kiện cho NH mở rộng hoạt động kinh doanhcủa mình Ngược lại, quy mô tiền gửi thấp sẽ hạn chế khả năng tiếp cận của NHvới cáckhách hàng có nhu cầu vay lớn, hạn chế khả năng mở rộng dịch vụ và quy mô hoạt độngcủa ngân hàng Ngoài ra, có thể sử dụng chỉ tiêu Tổng tiền gửi/tổng vốn huy động đểđánh giá tỷ trọng của nguồn tiền gửi trong tổng nguồn vốn huy động được
Sau khi đã huy động được khối lượng vốn lớn thì cái mà NH cần quan tâm lúc này
là tốc độ tăng trưởng ổn định của nó vì có thể lúc này quy mô vốn lớn, nhưng sẽ là khókhăn cho NH khi đưa ra quyết định cho vay hay đầu tư nếu NH không kiểm soát, không
dự đoán được xu hướng biến động của dòng tiền rút ra và dòng tiền gửi vào Tốc độtăng trưởng lượng tiền gửi huy động được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy
mô tiền gửi hiện tại so với quy mô tiền gửi trong kì trước chia cho quy mô tiền gửitrong kì trước Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức: y = dY/Y × 100(%),
Trang 20trong đó Y là qui mô tiền gửi huy động trong năm trước của NH và y là tốc độ tăngtrưởng Nguồn tiền gửi tăng đều qua các năm khi dY > 0, nghĩa là đạt mục tiêu vềnguồn huy động đặt ra và có độ gia tăng đều đặn là nguồn tăng trưởng ổn định
1.2.3.2 Cơ cấu nguồn tiền gửi
Đối với NH, do mỗi nguồn tiền gửi có những điểm mạnh, điểm yếu riêng trongviệc khai thác và huy động nên cơ cấu tiền gửi biến đổi sẽ dẫn tới sự biến đổi trong cơcấu “đầu ra”: cho vay, đầu tư, bảo lãnh và kéo theo sự thay đổi trong lợi nhuận, rủi rotrong hoạt động kinh doanh Một số chỉ tiêu đánh giá cơ cấu nguồn huy động tiền gửi là:
- Tiền gửi không kỳ hạn/ Tổng tiền gửi và Tiền gửi có kỳ hạn/ Tổng tiền gửi: phảnánh tỷ trọng nguồn tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn trong tổng tiền gửi Nếu tỷ trọngnguồn tiền gửi có kỳ hạn hạn có số lượng lớn chứng tỏ sự ổn định về thời gian của nguồntiền gửi là cao
- Tiền gửi dân cư/Tổng tiền gửi và Tiền gửi của các doanh nghiệp tổ chức kinh tế
xã hội/Tổng tiền gửi: phản ánh tỷ trọng nguồn tiền gửi của dân cư và các doanh nghiệp,
tổ chức kinh tế xã hội trong tổng tiền gửi
- Nội tệ/Tổng tiền gửi và Ngoại tệ/Tổng tiền gửi: phản ánh tỷ trọng tiền gửi nội tệ
và ngoại tệ trong tổng tiền gửi
Cơ cấu nguồn tiền gửi huy động phụ thuộc không chỉ vào một phần kế hoạch của
NH mà còn chịu sự tác động của các nhân tố bên ngoài đòi hỏi NH phải thường xuyênnghiên cứu tiếp cận thị trường để xây dựng cơ cấu hợp lý
1.2.3.3 Chi phí huy động tiền gửi
Có hai lý do chủ yếu mà NHquan tâm khi xác định chi phí huy động tiền gửi:Thứ nhất, vì nguồn tiền gửi là nguồn tiền chủ yếu mà NHsử dụng để kinh doanh, do
đó tính toán tương đối chính xác chi phí huy động tiền gửi là yếu tố cơ bản để xácđịnh mức lợi nhuận mà NHcần thu được từ các tài sản có sinh lời Thứ hai, do đặcđiểm loại hình nguồn tiền gửi mà NHhuy động được và việc sử dụng nguồn tiền gửinày ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất và rủi ro vốn Do đó, phươngpháp xác định chi phí huy động tiền gửi rất hữu ích cho NHđể xây dựng chính sáchkinh doanh có hiệu quả, bao gồm chính sách huy động tiền gửi
Trang 21Chi phí huy động tiền gửi bao gồm: lãi suất huy động và các chi phí khác.
Lãi suất huy động: Đây luôn là mối quan tâm hàng đầu của các chủ thể kinh tế.
Người gửi muốn một lãi suất cao , người vay lại muốn lãi suất thấp Là trung gian đóngvai trò cầu nối giữa hai đối tượng trên, NH phải tìm cách điều chỉnh mức lãi suất sao chohợp lý nhất đối với các bên , đồng thời phải đảm bảo lợi ích của NH Vì vậy trong huyđộng tiền gửi, mỗi NH đều cố gắng áp dụng mọi biện pháp có thể nhằm tìm kiếm đượcnhững nguồn vốn sao cho chi phí huy động vốn bình quân là nhỏ nhất và sử dụng số vốn
đó để cho vay với một mức lãi suất chấp nhận được trên thị trường Chi phí huy độngđược đánh giá qua hệ thống các chỉ tiêu lãi suất huy động bình quân (tính bằng bình quângia quân gia quyền của lãi suất các nguồn theo khối lượng từng nguồn), lãi suất huy độngcủa từng nguồn và đặc biệt là lãi suất cạnh tranh NEC
Mặt khác, cũng với một mức chi phí trả lãi bình quân , sự đa dạng hoá trong lãisuất cho phù hợp với mỗi hình thức huy động vốn là cần thiết Sự đa dạng hoá lãi suấtlàm tăng tính hiệu quả của chính sách lãi suất mà NH đưa ra Nếu có chính sách lãi suấtphù hợp, hiệu quả, NH sẽ tối thiểu hoá được chi phí trong khi vẫn hoàn thành kế hoạch
về nguồn vốn
Chi phí khác: Bên cạnh chi phí chính là lãi suất , trong quá trình huy động tiền
gửi còn có các chi phí khác như chi phí tiền lương cho cán bộ huy động , chi phí in ấnphát hành , chi phí cơ sở vật chất , chi phí giao dịch quảng cáo … Tuy chi phí này chiếmmột tỷ trọng tương đối nhỏ nhưng nếu tiết kiệm được cũng góp phần giảm bớt gánh nặngcho NH
Ngoài các chỉ tiêu chính trên , chất lượng công tác huy động tiền gửi còn đượcđánh giá qua một số chỉ tiêu :
- Mức độ hoạt động của tiền gửi huy động: Được đánh giá qua chỉ tiêu hệ số sửdụng vốn Hệ số sử dụng vốn càng tiến đến 1 càng tốt, điều này thể hiện nguồn vốn huyđộng được sử dụng tối đa
- Mức độ thuận tiện khách hàng : Được đánh giá qua các thủ tục gửi tiền , rút tiền ,các dịch vụ kèm theo của NH …nhằm tiết kiệm được thời gian và chi phí cho kháchhàng
Trang 22- Thời gian để huy động một số lượng tiền gửi nhất định.
- Một số chỉ tiêu khác như : số lượng tiền gửi bị rút ra trước thời hạn , kỳ hạn thực
tế của nguồn tiền gửi…
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng huy động tiền gửi khách hàng của NHTM
1.3.1 Nhân tố chủ quan
1.3.1.1 Các hình thức huy động tiền gửi mà ngân hàng đang sử dụng
Xuất phát từ sự khác nhau về nhu cầu, tâm lý trong dân cư mà các hình thức đầu tưcủa người dân, doanh nghiệp là khác nhau Để có thể tiếp cận được nguồn tiền gửi củakhách hàng, các NH cần phải đáp ứng được nhu cầu của người gửi tiền, giúp cho họ tìmđược cho mình một hình thức đầu tư hợp lý nhất Do đó, khối lượng vốn mà NH huyđộng được phụ thuộc trực tiếp vào các hình thức huy động tiền gửi mà NH áp dụng
Cụ thể, khi các NHTM đưa ra các hình thức huy động tiền gửi ngày càng đa dạng
và hợp lý, cùng với việc mở rộng hệ thống mạng lưới hoạt động và nâng cao chất lượngcác dịch vụ, NH sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với NH, đáp ứng được nhucầu của nhiều đối tượng khách hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho NH trong việc huy độngtiền gửi Ngược lại khi các hình thức huy động của NH chưa đa dạng, phong phú, chấtlượng hoạt động dịch vụ chưa cao, hệ thống mạng lưới còn ít chưa thuận lợi cho kháchhàng trong việc giao dịch với NH, thì nó sẽ ảnh hưởng không tốt tới khả năng huy độngtiền gửi của NH
1.3.1.2 Lãi suất huy động
Lãi suất huy động là một trong những mối quan tâm của hầu hết các cá nhân,
tổ chức và dân cư muốn gửi tiền vào NH Tuy nguồn tiền gửi không chỉ phụ thuộcvào lãi suất cao mà còn phụ thuộc vào các nhân tố khác như kỳ hạn, mức độ rủi ro,điều kiện thanh toán, uy tín, địa điểm của NH nhưng với mức lãi suất linh hoạt,hợp lý thì luôn có tác dụng kích thích người gửi tiền, đặc biệt là các đối tượng gửitiền với mục đích chủ yếu là hưởng lãi như tiền gửi tiết kiệm Điều này hoàn toànhợp lý vì trong nền kinh tế, lĩnh vực có lợi nhuận cao hơn bao giờ cũng thu hút
Trang 23được nhiều người tham gia đầu tư hơn Như vậy, lãi suất là nhân tố ảnh hưởng vì nóquyết định NH huy động được bao nhiêu nhiều hay ít, đặc biệt trong bối cảnh các
NH chủ yếu cạnh tranh bằng lãi suất
1.3.1.3 Chất lượng dịch vụ NH cung cấp
Đây là một yếu tố rất quan trọng giúp NH cạnh trạnh phi lãi suất vì khách hàng
mà NH phục vụ hiện nay không chỉ quan tâm đến lãi suất mà quan tâm đến chất lượng
và loại hình dịch vụ mà NH cung ứng Với cùng một lãi suất huy động như nhau, NHnào cải tiến chất lượng dịch vụ tốt hơn, tạo sự thuận tiện hơn cho khách hàng thì sứccạnh tranh sẽ cao hơn Chất lượng dịch vụ thể hiện ở trình độ công nghệ của NH,trình độ nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên NH
Với một NH có cơ sở vật chất càng khang trang hiện đại, công nghệ tiên tiến sẽmang lại lợi ích thiết thực cho kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi và phục vụ cho kháchhàng tốt hơn, tạo lòng tin cho khách hàng Thực tế khách hàng sẽ tin tưởng yên tâm hơnkhi gửi tiền ở một NH có trình độ công nghệ NH cao Và khi khách hàng đã thực sự yêntâm gửi tiền thì NH sẽ dễ dàng hơn trong việc huy động
Trình độ nghiệp vụ của cán bộ NH là điều kiện quan trọng để thực hiện tốt cácnghiệp vụ NH bởi họ chính là những người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng Cán
bộ NH chuyên nghiệp, nhiệt tình chu đáo, có để lại ấn tượng tốt đẹp với khách hàngthì hình ảnh của NH trong mắt khách hàng sẽ tốt hơn rất nhiều Nhưng nếu họkhông được đào tạo bài bản, được huấn luyện các kỹ năng, thái độ phục vụ khôngtốt sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới hình ảnh ngân hàng, từ đó ảnh hưởng tới công tác huyđộng tiền gửi khách hàng
1.3.1.4 Uy tín của Ngân hàng
Uy tín của NH cũng có ảnh hưởng nhất định đối với lượng tiền gửi huyđộng Có thể coi đây chính là tài sản vô hình của NH, đặc biệt trong công tác huy độngtiền gửi vì NH đã tạo được một hình ảnh riêng của mình trong lòng khách hàng Một
NH lớn, sẵn có uy tín sẽ có lợi thế hơn Sự tin tưởng của khách hàng sẽ giúp cho
NH có khả năng ổn định khối lượng tiền gửi huy động và tiết kiệm chi phí huy
Trang 24động, từ đó, NH có thể đề ra chiến lược dự trữ dễ dàng hơn Thậm chí trong điềukiện lãi suất gửi tiền tại NH uy tín có thấp hơn đôi chút, những người có tiền vẫnlựa chọn NH đó để gửi mà không tìm những nơi trả lãi hấp dẫn hơn vì họ tin rằng ởđây đồng vốn của mình sẽ tuyệt đối an toàn
1.3.1.5 Chính sách truyền thông Marketing
Truyền thông Marketing là việc NH sử dụng các công cụ truyền tin để cungcấp thông tin, hình ảnh, dịch vụ NH nhằm xây dựng mối thông tin hai chiều giữa
NH và khách hàng nhằm đạt được mục tiêu nhất định Một NH với quy mô lớn, mạnglưới rộng khắp chắc chắn sẽ tạo ra uy tín, sự tin tưởng đối với khách hàng đến gửi tiền,hoạt động quảng bá sẽ dễ dàng hơn, tiếp xúc với khách hàng sẽ dễ dàng hơn
Mỗi NH tùy theo chiến lược phát triển sẽ có chính sách truyền thôngMarketing khác nhau, sử dụng các công cụ khác nhau của riêng mình: quảng cáo,khuyến mại, quan hệ công chúng, … Mỗi chính sách sẽ mang lại những hiệu quảkhác nhau, nhưng nhìn chung đều hướng tới mục tiêu quảng bá hình ảnh ngân hàng.Chính sách Marketing thành công sẽ là cầu nối giữa NH với khách hàng, góp phầnthu hút được lượng khách gửi tiền đông đảo, chi phí thấp
1.3.1.6 Mối quan hệ giữa huy động và sử dụng tiền gửi khách hàng
Hoạt động của NH gồm hai khâu cơ bản là huy động và sử dụng vốn Đây là haivấn đề có mối quan hệ mật thiết với nhau, giải quyết tốt mối quan hệ này sẽ góp phầnnâng cao hiệu quả đồng vốn Hoạt động huy động tiền gửi làm nhiệm vụ khơi tăng cácnguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế trong khi hoạt động nghiệp vụ sử dụng vốn thựchiện sử dụng nguồn tiền đó vào sản xuất, kinh doanh, dịch vụ để đem lại khả năngsinh lời, thu lợi nhuận về cho NH
Do vậy, nếu sử dụng vốn không hiệu quả tất yếu dẫn đến việc thất thoát vốn: mộtphần sẽ làm giảm lợi nhuận của NHtrong khi chi phí huy động không thay đổi, mặt khácdẫn đến giảm sút lòng tin của dân chúng vào NH Từ đó sẽ rất khó khăn cho các hìnhthức huy động các nguồn vốn nhàn rỗi, kết quả là quy mô huy động tiền gửi bị thu hẹplại Mặt khác, nếu NH sử dụng vốn có hiệu quả tạo cho các doanh nghiệp, các tổ chứckinh tế kinh doanh có hiệu quả, thu nhập xã hội ngày càng tăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm,
Trang 25đời sống của dân cư ngày càng nâng cao, nguồn vốn nhàn rỗi ngày càng tăng, tạo tiền đềcho nguồn tiền gửi NH huy động ngày càng tăng trưởng để thực hiện đầu tư cho các chu
kỳ sản xuất tiếp theo
1.3.2 Nhân tố khách quan
1.3.2.1 Chu kỳ phát triển kinh tế
Tình trạng phát triển của nền kinh tế là một yếu tố vĩ mô có tác động trựctiếp đến mọi hoạt động của của NHTM nói chung và hoạt động huy động tiền gửi nóiriêng Các chỉ tiêu kinh tế như tốc độ tăng trưởng, thu nhập, tình trạng thất nghiệp, lạmphát … có tác động trực tiếp tới hoạt động huy động và sử dụng vốn của NHTM
Cụ thể, trong điều kiện nền kinh tế phát triển ổn định, thu nhập dân cư đượcđảm bảo và ổn định thì nguồn tiền vào ra của các NH cũng ổn định, lượng tiền gửihuy động được của NH ngày càng tăng lên và cơ hội đầu tư cho vay của NH cũngđược mở rộng do lòng tin của các nhà đầu tư vào nền kinh tế Nếu nền kinh tế suythoái, thu nhập dân cư biến động thì lòng tin về đồng tiền của dân chúng bị giảmsút Khi đó khả năng huy động tiền gửi của NH không những bị giảm xuống màlượng tiền dân cư đã ký gửi vào NH cũng có nguy cơ bị rút ra Và như vậy NH sẽgặp khó khăn trong công tác huy động tiền gửi, quản lý dự trữ và củng cố niềm tincho khách hàng
1.3.2.2 Môi trường chính trị pháp luật
Không một quốc gia nào có thể phát triển nếu môi trường chính trị không ổnđịnh Sự ổn định về chính trị hay về chính sách ngoại giao cũng tác động mạnh mẽ đếnquan hệ vốn của NH với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới Điều này cũng
là nhân tố ảnh hưởng tới công tác huy động tiền gửi khách hàng của NH
Như chúng ta đã biết, hoạt động của NH có mức độ ảnh hưởng, tác động hết sứcmạnh mẽ đối với nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào Cụ thể, việc huy động tiền gửi và
sử dụng vốn của NH đều tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, thunhập của các chủ thể, tốc độ chu chuyển vốn, tình trạng thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát …Chính vì lẽ đó, hoạt động của NH phải chịu sự quản lý chặt chẽ gắt gao hơn so với cácdoanh nghiệp khác Thực tế là NH phải chịu sự điều chỉnh của rất nhiều luật định của
Trang 26chính phủ, NHNN: và hàng loạt hệ thống các quy định cụ thể trong từng thời kỳ về lãisuất, dự trữ, hạn mức… Trong sự ràng buộc về luật pháp, các yếu tố của nghiệp vụ huyđộng tiền gửi bị thay đổi làm ảnh hưởng đến quy mô và chất lượng của hoạt động huyđộng.
Hành lang pháp lý tốt có thể tạo đà mở rộng thông thoáng hơn trên con đườngphát triển của NH nhưng ngược lại, nó cũng có thể kìm hãm sự phát triển một cách đáng
kể nếu không có sự quản lý giám sát một cách phù hợp, đồng bộ giữa các ban ngành liênquan
1.3.2.3 Điều kiện về môi trường cạnh tranh
Hiện nay, hoạt động kinh doanh NH ngày càng có sự tham gia của nhiều loạihình NH mới và các tổ chức tài chính phi NH Nhiều tổ chức tài chính phi NH có thểhuy động tiền gửi có kỳ hạn , thậm chí còn cung cấp các tài khoản không kỳ hạn Do đó,cạnh tranh có xu hướng gia tăng mạnh, làm giảm đi sự khác biệt giữa NHTM với các tổchức tài chính phi NH Thêm vào đó, xu hướng cạnh tranh trong ngành NH càng giatăng do các yếu tố như thay đổi chính sách tài chính tiền tệ , đổi mới tài chính của doanhnghiệp kinh doanh tiền tệ… dẫn đến nguy cơ thu hẹp thị phần huy động tiền gửi của NHtrên thị trường Trong quá trình cạnh tranh với các đối thủ, để có thể tồn tại, NH phảiđịnh ra chiến lược kinh doanh phù hợp, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, thực hiệnmức lãi suất hợp lý, nghiên cứu kỹ thị trường và làm tốt công tác marketing Nhưvậy, cạnh tranh vừa là thách thức vừa là một nhân tố thúc đẩy sự phát triển chấtlượng các hoạt động NH trong đó có hoạt động huy động tiền gửi khách hàng
1.3.2.4 Yếu tố thuộc về văn hóa xã hội, tâm lý khách hàng
Môi trường văn hoá là yếu tố quyết định đến tập quán, tâm lý, thói quen trongviệc sử dụng tiền của dân cư Và những tập quán tiêu dùng này sẽ ảnh hưởng đến hoạtđộng huy động tiền gửi của NH
Ở những vùng mà người dân quen sử dụng số tiền nhàn rỗi dưới hình thức cất trữthì việc huy động tiền gửi của NH sẽ gặp rất nhiều khó khăn Hơn nữa, mức độ chấpnhận rủi ro của xã hội , thói quen tích luỹ ảnh hưởng đến quyết định của những thànhviên trong xã hội về phương thức tiêu dùng và tiết kiệm, giữ tiền ở nhà, gửi tiền ở NH
Trang 27hay đầu tư vào chứng khoán hoặc bất động sản … Thêm vào đó, sự biến động vào racủa các nguồn tiền cũng chịu ảnh hưởng của yếu tố tâm lý Tâm lý tin tưởng vàotương lai của khách hàng có tác dụng làm ổn định lượng tiền gửi vào, rút ra vàngược lại nếu niềm tin của khách hàng về đồng tiền trong tương lai sẽ mất giá gây
ra hiện tượng rút tiền hàng loạt vốn là mối lo ngại lớn của mọi NH
Ngoài ra, các yếu tố như thu nhập, thời vụ chi tiêu, mức độ thường xuyên sửdụng các dịch vụ NH cũng có tác động nhất định đến hoạt động huy động tiền gửicủa NH: Thu nhập ảnh hưởng đến nguồn vốn tiềm tàng mà NH có thể huy độngtrong tương lai Thu nhập gia tăng là điều kiện để gia tăng quy mô và thay đổi kì hạncủa nguồn tiền; Thời vụ chi tiêu ảnh hưởng đến quy mô và tính ổn định của nguồn tiền.Vào dịp tết, nguồn tiền tiết kiệm cũng như tiền gửi của doanh nghiệp có xu hướng giảmsút, đặc biệt là trong điều kiện thanh toán bằng tiền mặt còn phổ biến; Mức độ thườngxuyên của việc sử dụng các dịch vụ NH càng cao, NH càng có điều kiện mở rộngviệc huy động tiền gửi
Tóm lại, huy động tiền gửi khách hàng của NHTM là mối quan hệ kinh tếgiữa ngân hàng và các khách hàng bao gồm dân cư và các doanh nghiệp, tổ chứckinh tế xã hội Hoạt động này được thực hiện trong môi trường kinh tế xã hội nênchịu sự chi phối ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố : cả nhân tố bên trong NH lẫn cácnhân tố bên ngoài NH Việc nắm bắt và phân tích kỹ các nhân tố này cũng như ảnhhưởng của chúng lên hoạt động huy động tiền gửi khách hàng của NHTM sẽ tăngtính chủ động cho các NH trong việc tăng cường huy động tiền gửi khách hàng
Trang 28CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI KHÁCH HÀNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NHÀ HÀ NỘI
2.1 Khái quát về NH TMCP Nhà Hà Nội
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Giai đoạn 1986 – 1990 đánh dấu sự chuyển biến căn bản của hệ thống Ngânhàng Việt Nam Cùng với quá trình đổi mới cơ chế vận hành trong hệ thống NH làquá trình ra đời hàng loạt các NH chuyên doanh cấp 2 với các loại hình sở hữu khácnhau gồm NHTM quốc doanh, cổ phần, NH liên doanh,… NH phát triển NhàThành phố Hà Nội, tiền thân của NH TMCP Nhà Hà Nội ngày nay là một trongnhững NH cổ phần đầu tiên đó
Ngân Hàng TMCP Nhà Hà Nội (HABUBANK) được thành lập từ năm 1989với mục tiêu ban đầu là hoạt động tín dụng và dịch vụ trong lĩnh vực phát triển nhà.Với số vốn điều lệ ban đầu là 5 tỷ đồng, NH được phép kinh doanh các sản phẩm vàdịch vụ ngân hàng trong 99 năm
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam nói chung và hệ thống Ngân hàng ViệtNam nói riêng đang trong quá trình hội nhập, NHTM cổ phần nhà Hà Nội đã xâydựng cho mình 5 mục tiêu chiến lược:
1 Tối đa hoá giá trị đầu tư của các cổ đông; giữ vững tốc độ tăng trưởng lợinhuận và tình hình tài chính lành mạnh
2 Không ngừng nâng cao động lực làm việc và năng lực cán bộ;HABUBANK phải luôn dẫn đầu ngành NH trong việc sáng tạo, phát triển chínhsách đãi ngộ và cơ hội thăng tiến nghề nghiệp cho cán bộ của mình
3 Duy trì sự hài lòng, trung thành và gắn bó của khách hàng vớiHABUBANK, xây dựng HABUBANK thành một trong hai NH Việt Nam có chấtlượng dịch vụ tốt nhất do các doanh nghiệp cầu tiến, hộ gia đình và cá nhân lựachọn
4 Phát triển HABUBANK thành một trong ba NH được tín nhiệm nhất ViệtNam về: quản lý tốt nhất, môi trường làm việc tốt nhất, văn hoá doanh nghiệp chú
Trang 29trọng khách hàng, thúc đẩy hợp tác và sáng tạo nhất, linh hoạt nhất khi môi trườngkinh doanh thay đổi.
5 Góp phần tích cực làm vững chắc thị trường tài chính trong nước
Các mốc lịch sử và thành tựu
Là một trong những NH cổ phần đầu tiên của Việt Nam được thành lập thíđiểm trong thời kỳ đổi mới của đất nước, ngay từ những ngày đầu thành lập,HABUBANK đã mở rộng các hoạt động hợp tác quốc tế và nhận được sự hỗ trợnhiệt tình từ WB, tổ chức ESCAP của UNDP Với sự ra đời của của Pháp LệnhNgân hàng 1992, HABUBANK đã từng bước mở rộng, đa dạng hoá hoạt động vàcung cấp đầy đủ các dịch vụ của một NHTM: huy động tiền gửi và tiết kiệm từ dân
cư và tổ chức, cho vay khách hàng, cung cấp các dịch vụ thanh toán, bảo lãnh trong
và ngoài nước, Sau 19 năm hoạt động HABUBANK đã mở rộng các lĩnh vực kinhdoanh, trở thành NHTM cổ phần đa năng có truyền thống phát triển ổn định, antoàn và hiệu quả, hướng tới mục tiêu trở thành tập đoàn tài chính vững mạnh Đếnnay, HABUBANK đã thành công trong việc xây dựng cho NH một cấu trúc tàichính lành mạnh và an toàn với mức thặng dư vốn đạt trên 40% vốn điều lệ, các chỉ
số an toàn vốn (CAR) đạt trên chuẩn quốc tế, các chỉ số tài chính (ROA, ROE) duytrì liên tục nhiều năm ở mức cao trong thị trường tài chính Việt Nam và Quốc tế Các mốc phát triển quan trọng của Ngân hàng qua các thời kỳ bao gồm:
Ngày 2 tháng 1 năm 1989, HABUBANK khai trương hoạt động tại số 125
Bà Triệu, Hà Nội với số vốn điều lệ ban đầu là 5 tỷ đồng và tên gọi là "NGÂNHÀNG PHÁT TRIỂN NHÀ HÀ NỘI"
Năm 1992, với sự ra đời của Pháp lệnh ngân hàng và Hợp tác xã tíndụng, HABUBANK đã vượt qua sự hữu hạn từ lĩnh vực kinh doanh "ngân hàngnhà" để trở thành NHTM đa năng, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ đa dạng chokhách hàng: Thêm vào đó, cơ cấu cổ đông cũng được mở rộng một cách rõ rệt vớinhiều cá nhân và doanh nghiệp quốc doanh và tư nhân tham gia đầu tư đóng gópphát triển Ngân hàng cũng cũng được đổi tên thành "NGÂN HÀNG THƯƠNGMẠI CỔ PHẦN NHÀ HÀ NỘI"
Trang 30 Năm 1995 đánh dấu một bước ngoặt đáng chú ý trong chiến lược kinhdoanh của HABUBANK với việc chú trọng mở rộng các hoạt động thương mạinhằm vào đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng các cá nhân
và tổ chức tài chính khác bên cạnh việc thực hiện các hoạt động hỗ trợ và phát triểnnhà HABUBANK chính thức được phép cung cấp ịch vụ thanh toán Quốc tế, kinhdoanh ngoại tệ và tăng vốn điều lệ lên 24,396 tỷ đồng
Năm 2001, HABUBANK mua lại Ngân hàng TMCP Nông thôn QuảngNinh và mở chi nhánh đầu tiên tại Quảng Ninh, khai trương WebsiteHABUBANK tại địa chỉ www.habubank.com.vn với những thông tin cơ bản về sảnphẩm dịch vụ, lãi suất cung cấp cho khách hàng Cũng trong năm, HABUBANKtriển khai hệ thống Smartbank trong toàn hệ thống, là một trong những NH đầu tiêncủa Việt Nam thực hiện quản lý dữ liệu tập trung và nối mạng online toàn hệ thống;trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội Viễn thông tài chính liên NH toàn cầu(SWIFT)
Năm 2002, HABUBANK bắt đầu triển khai đề án Nâng cao năng lực kiểmsoát rủi ro, hợp tác với dự án SBV - GTZ (Đức) nhằm đẩy mạnh công tác quản trịrủi ro của Ngân hàng
Năm 2005, triển khai dịch vụ NH tự động Thành lập Trung tâm thẻHABUBANK, phát hành thẻ HABUBANK Vantage và trở thành viên chính thứctrong liên minh thẻ Vietnam Bankcard
Năm 2006, HABUBANK tăng vốn điều lệ lên 1.000 tỷ đồng, thành lập vàđưa vào hoạt động Công ty Chứng khoán HABUBANK Đồng thời, triển khai
dự án Nâng cấp hạ tầng dữ liệu thông tin phục vụ cho hoạt động kinh doanh vàquản trị điều hành Cùng năm này, HABUBANK được Tạp chí The Banker (Anh)trao tặng danh hiệu "Ngân hàng Việt Nam của năm"
Năm 2007, HABUBANK tăng vốn điều lệ từ 1.000 lên 2.000 tỷ đồng, vớitổng vốn chủ sở hữu đạt gần 3.200 tỷ đồng, HABUBANK trở thành NH cổ phần cócấu trúc tài chính tốt nhất trong hệ thống NH cổ phần Việt Nam Đồng thời cũnghoàn thành việc lựa chọn Deutsche Bank là đối tác chiến lược nước ngoài
Trang 31 Năm 2008, tổng vốn điều lệ của HABUBANK đã đạt 2800 tỷ đồng Hiệntại, số chi nhánh và phòng giao dịch của HABUBANK đạt 40 điểm trên toàn hệthống.
Tới nay, qua hơn 20 năm hoạt động, HABUBANK đã có số vốn điều lệ
là 2.800 tỷ đồng với mạng lưới ngày càng mở rộng Hiện tại HABUBANK có 40điểm giao dịch, kinh doanh nhiều loại hình NH như dịch vụ NH doanh nghiệp (kể
cả tài trợ thương mại quốc tế, ngoại hối , quản lý tiền khách hàng), dịch vụ NH cánhân (kể cả huy động, cho vay tiêu dùng, mua nhà) và các hoạt động đầu tư 9 nămliên tục HABUBANK được NH Nhà nước Việt Nam xếp loại A và được công nhận
là NH phát triển toàn diện với hoạt động ổn định, an toàn và hiệu quả
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
HABUBANK hiện có mô hình cơ cấu tổ chức ít tầng báo cáo nhằm giảmthiểu tính quan liêu trong hệ thống cũng như để nâng cao tính năng động của tổchức Đặc tính nổi bật của mô hình HABUBANK là các đơn vị kinh doanh được cơcấu tập trung vào lợi nhuận, kiểm soát rủi ro và phân định trách nhiệm rõ ràng Hiệnnay, cơ cấu tổ chức của HABUBANK bao gồm:
Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của HABUBANK,
quyết định các vấn đề thuộc về nhiệm vụ và quyền hạn được Luật pháp và điều lệHABUBANK quy định Chức năng chủ yếu của Đại hội đồng cổ đông là:
- Quyết định phương hướng, nhiệm vụ của năm tài chính mới thông qua các báo cáocủa HĐQT và Ban kiểm soát
- Quyết định việc tăng vốn điều lệ, vốn cổ phần và phát hành cổ phiếu mới
- Bầu thành viên HĐQT và Ban kiểm soát
Hội đồng quản trị: do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, là cơ quan quản trị NH,
có toàn quyền nhân danh NH để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích,quyền lợi của NH HĐQT có vai trò định hướng chiến lược kế hoạch hoạt độnghàng năm, chỉ đạo và giám sát hoạt động của NH thông qua Ban kiểm soát
Ban kiểm soát: là những người thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động
kinh doanh, quản trị và điều hành của NH Chức năng chủ yếu là:
Trang 32- Kiểm soát các hoạt động kinh doanh, kiểm tra sổ sách kế toán, tài sản, báo cáo,quyết toán năm tài chính và kiến nghị khắc phục những sai phạm.
- Báo cáo trước Đại hội đồng cổ đông sự kiện tài chính bất thường
- Báo cáo định kỳ tình hình kiểm soát cho HĐQT
Ban điều hành: điều hành và chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh hàng
ngày của NH, đồng thời trình HĐQT các báo cáo tình hình hoạt động tài chính vàkết quả kinh doanh của NH
Văn phòng: Làm đầu mối giao dịch, tiếp nhận tổng hợp và xử lý thông tin
quản lý và quan hệ giữa NH với NHNN và các cơ quan khác; Phụ trách công tác cổđông, cổ phần, quản lý lưu trữ hồ sơ và các tư liệu phản ánh tình hình hoạt động củaNH; Phụ trách công tác mua sắm, quản lý sử dụng trang thiết bị CSVC và thực hiệncác công việc khác do Lãnh đạo NH giao
Phòng kiểm tra kiểm toán nội bộ: là phòng nghiệp vụ có chức năng giúp GĐ
kiểm tra giám sát các mặt hoạt động kinh doanh của chi nhánh nhằm đảm bảo việcthực hiện theo đúng pháp luật của NN và cơ chế quản lý của ngành
Phòng công nghệ thông tin: chịu trách nhiệm về mảng máy tính, điện tử,
phần mềm tin học của toàn hệ thống HABUBANK; Xây dựng trang web và một sốphần mềm theo yêu cầu của Ban lãnh đạo
Phòng nguồn vốn ngoại hối và ngân quỹ: chịu trách nhiệm huy động, cân
đối nguồn vốn nội – ngoại tệ cho NH; Thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệtheo các quy điịnh của NHNN VN và của HABUBANK; Tiếp nhận và quản lýnguồn tài trợ cho các dự án qua HABUBANK
Phòng tài chính kế toán: tiếp nhận chứng từ và tổ chức thực hiện việc hạch
toán kế toán trong NH; cung cấp kịp thời chính xác các loại báo cáo tài chính, kétoán theo quy định của NHNN và yêu cầu quản lý điều hành của HĐQT, Ban điềuhành, Ban kiểm soát; lưu trữ đảm bảo bí mật an toàn bộ hồ sơ tài sản, chứng từ kếtoán và các hồ sơ khác có liên quan đến tài chính kế toán của NH
Phòng phát triển kinh doanh: là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với
khách hàng là các cá nhân, doanh nghiệp để khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ,
Trang 33thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của hoạt động tín dụng; quản lý các sảnphẩm cho vay phù hợp với chế độ, thể lệ hiện hành của NHNN và hướng dẫn củaNH.
Phòng Marketing và DVNHCN: Quan hệ và tiếp xúc với báo, đài để tuyên
truyền quảng bá hình ảnh của NH; Lập kế hoạch chương trình, chiến dịch quảngcáo và marketing cho các sản phẩm, dịch vụ của NH…
Phòng thanh toán quốc tế: duy trì và phát triển mối quan hệ của NH với các
NH nước ngoài, thiếp lập quan hệ đại lý với các NH nước ngoài; Xây dựng quytrình, quy chế về TTQT của toàn hệ thống NH, hỗ trợ các chi nhánh trong việc xử
lý các khoản TTQT phức tạp
Mạng lưới phòng giao dịch và các chi nhánh: Hiện tại, HABUBANK có 40
điểm giao dịch và chi nhánh trong toàn hệ thống Với chức năng chủ yếu là:
- Thực hiện các nhiệm vụ NH: nhận và chi trả tiền gửi, nhận chuyển tiền cho kháchhàng, cho vay thu nợ, thu đổi ngoại tệ, chi trả kiều hối, …
- Phát triển khách hàng thông qua tiếp thị, giới thiệu hoạt động của NH với các tổchức, cá nhân, dân cư Củng cố và xây dựng mối quan hệ giữa NH với khách hàngtruyền thống, với đồng nghiệp… tạo môi trường tin cậy hỗ trợ lẫn nhau
Hiện tại, HABUBANK có 1 Hội sở chính, 2 Sở giao dịch và 40 chinhánh, phòng giao dịch với sản phẩm kinh doanh đa dạng Có thể tóm lược cơ cấu
tổ chức của HABUBANK qua sơ đồ sau:
Trang 34Sơ đồ 2.1: CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA NGÂN HÀNG TMCP NHÀ HÀ NỘI
Nguồn: Báo cáo thường niên HABUBANK 2007
Cơ cấu lao động:
Trong 5 năm vừa qua, tiếp nối đà tăng trưởng ổn định, HABUBANK tiếp tục
mở rộng mạng lưới và quy mô nguồn nhân lực Sự thay đổi trong cơ cấu lao độngcủa HABUBANK trong những năm gần đây có thể thấy qua bảng 2.1 sau:
BAN ĐIỀU HÀNH
Văn phòng
Phòng kiểm tra kiểm toán nội bộ
Phòng công nghệ thông tin
Phòng nguồn vốn, ngoại hối và ngân quỹ
Trang 35Bảng 2.1: Tình hình nhân sự trong 5 năm vừa qua của HABUBANK
Nguồn: Báo cáo thường niên HABUBANK 2007
Số lượng nhân viên trong toàn hệ thống HABUBANK không ngừng tăng lên,tính đến cuối năm 2008 đã lên tới 865 cán bộ - tăng trưởng gần 50% so với cùng kỳnăm 2007 Tỷ trọng nhân viên có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học ngàymột tăng Điều này cho thấy HABUBANK không chỉ chú trọng mở rộng mạng lưới,quy mô nguồn nhân lực mà còn quan tâm tới vấn đề đào tạo, nâng cao trình độ chonhân viên, tạo môi trường làm việc thuận lợi thu hút thêm nhiều nguồn nhân lực cóchất lượng cao
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của HABUBANK trong ba năm vừa qua
2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn
Trong những năm gần đây, thị trường tiền tệ có nhiều biến động về lãi suất,tình hình lạm phát phức tạp… Thêm vào đó, nhiều NH mới thành lập, mạng lướicác chi nhánh của các NHTM liên tục được mở rộng, đặc biệt là sự xuất hiện củacác NH nông thôn chuyển đổi lên thành thị, … đã dẫn tới sự cạnh tranh gay gắt vềhuy động vốn giữa các tổ chức tín dụng trong nước Ngoài ra, chính sách thắt chặttiền tệ của NHNN để kiềm chế lạm phát cũng góp phần làm tăng chi phí vốn chocác NH và đẩy lãi suất huy động lên cao với việc “chạy đua” về lãi suất gây ảnhhưởng tới công tác huy động vốn của các NHTM nói chung và HABUBANK nóiriêng
Trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động, mặc dù người dân có xuhướng đổ tiền vào đầu tư chứng khoán, mua vàng tích trữ nhưng tình hình huy độngnguồn vốn của HABUBANK vẫn rất khả quan.Trong những năm vừa qua công táchuy động vốn của NH đã đạt được những bước tiến đáng kể không chỉ về khốilượng vốn huy động mà còn cải thiện cả cơ cấu nguồn vốn
Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn của Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội
Đơn vị: Tỷ đồng
Trang 36Tỷ lệtăng trưởng
Doanhsố
Tỷ lệ tăngtrưởng
Tiền gửi
khách hàng 4,485 8,467 3,982 88.78 11,082 2,615 30.88Tiền gửi và
vay LNH 4,858 10,860 5,948 122.44 8,324 -2,482 -22.97Tổng NV
huy động 9,735 19,970 10,235 105.14 19,770 -200 -1.00
Nguồn: Báo cáo thường niên HABUBANK 2006 – 2008
Về khối lượng vốn huy động, trong năm 2007 đặc biệt có sự tăng trưởng tốt,đạt 19.970 tỷ đồng, tăng 104,9 % so với năm 2006, vượt 50% kế hoạch được giao.Nhưng đến năm 2008, khối lượng vốn huy động được lại giảm nhẹ Tổng huy độngvốn chỉ đạt 19.770 tỷ đồng, giảm 200 tỷ so với năm 2007, chưa hoàn thành chỉ tiêunhư kế hoạch đã đề ra Tuy nhiên nhìn nhận trong tổng quan nền kinh tế, năm 2008
có rất nhiều khó khăn đối với hoạt động của ngành NH nói chung và hoạt động huyđộng vốn nói riêng, do đó không thể nhìn vào con số để đánh giá tình hình huyđộng vốn của NH trong năm 2008 là chưa tốt
Về cơ cấu nguồn vốn của HABUBANK trong những năm gần đây có sựchuyển dịch đáng kể
Bảng 2.3: Cơ cấu nguồn vốn của HABUBANK giai đoạn 2006 – 2008
Nguồn: Báo cáo thường niên HABUBANK 2006 – 2008
Bên cạnh việc triển khai các hoạt động nhằm tăng cường huy động vốn từ tiếtkiệm dân cư, HABUBANK cũng đẩy mạnh tiếp thị và mở rộng quan hệ với cácTCKT có nguồn tiền gửi lớn và các tổ chức tài chính, NH để tăng cường nguồn vốnhuy động Nguyên nhân của sự dịch chuyển tỷ trọng này là do việc mở rộng cơ cấu
Trang 37nguồn vốn của HABUBANK, hướng tới những nguồn vốn trung, dài hạn với chiphí rẻ hơn.
Những biến động về lãi suất trong giai đoạn vừa qua cùng với việc NH nhànước thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát cũng góp phầnlàm tăng chi phí vốn cho các NH và đẩy lãi suất huy động lên cao, đỉnh điểm làcuộc đua lãi suất giữa các NH trong những tháng đầu năm 2008: có những thờiđiểm lãi suất huy động vốn bị đẩy lên mức trên 18% Chính vì vậy, HABUBANK
đã duy trì một biểu lãi suất linh hoạt, đa dạng về kỳ hạn và phong phú về hình thức
để đảm bảo tính cạnh tranh Bên cạnh đó, HABUBANK cũng đẩy mạnh công tácchăm sóc khách hàng cũ, tiếp thị các doanh nghiệp mới để nâng cao số dư tại NH,đồng thời NH cũng chú trọng đến việc phát hành giấy tờ có giá để huy động vốn
Chỉ số an toàn vốn của HABUBANK cũng được đánh giá là tối ưu tronghoạt động tài chính ở một thị trường đang phát triển và tiềm ẩn nhiều rủi ro nhưViệt Nam Tỷ lệ an toàn vốn trong những năm vừa qua của HABUBANK lần lượt
là 8,89% (2005), 14% (2006) và 16% (2007) Đây cũng là một trong những tiêu chíchủ chốt để NH thế giới lựa chọn HABUBANK là một trong những NH giải ngâncho dự án với mục đích nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của dự án hỗ trợ cho các hộkinh doanh cá thể ở các vùng nông thôn Việt Nam
Có thể thấy, trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn như năm 2008, NH đãrất nỗ lực duy trì mức vốn huy động đủ, đảm bảo tốt khả năng thanh toán và phục
vụ hoạt động kinh doanh của mình
2.1.3.2 Hoạt động sử dụng vốn
Cho vay khách hàng: Cùng với sự tăng trưởng liên tục của nền kinh tế trong
những năm vừa qua, nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh của các thànhphần kinh tế cũng không ngừng tăng lên Để đáp ứng được nhu cầu của sự pháttriển, với tiêu chí phục vụ khách hàng, HABUBANK đã không ngừng mở rộng vàphát triển các dịch vụ cả về chiều rộng lẫn chiều sau, trong đó dịch vụ cho vaykhách hàng vẫn là dịch vụ tạo ra nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng
Trang 38Hoạt động tín dụng của HABUBANK có những bước tăng trưởng liên tục và
ổn định qua các năm
Bảng 2.4: Tình hình cho vay của NH TMCP Nhà Hà Nội
Đơn vị: Tỷ đồng
Số tiền Tỷ lệ % Số tiền Tỷ lệ Số tiền Tỷ lệ %
Dư nợ tín dụng 5,983 100 9,419 100 9,510 100
- Trung và dài hạn 1,772 29,61 3,391 36 3,224 33,9
Nguồn: Báo cáo thường niên HABUBANK 2006 – 2008
Tổng dư nợ cho vay năm 2007 tăng 57,43% (tương đương 3,249 tỷ đồng) sovới 2006; sang năm 2008 tốc độ tăng chậm lại: 1,3% so với 2007 (chỉ tăng 119 tỷđồng) Đạt được kết quả trên là do HABUBANK đã không ngừng mở rộng mạnglưới, phát triển nhiều sản phẩm cho vay mới, đưa ra các chính sách tín dụng với lãisuất phù hợp, cải tiến quy trình thẩm định và xét duyệt để đáp ứng được nhu cầukhách hàng một cách nhanh nhất, tốt nhất HABUBANK đã không ngừng mở rộnghợp tác trên nhiều mặt với các tổ chức tín dụng, tài chính theo hình thức Đồng tàitrợ và uỷ thác cho vay để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng trên cơ sở phântán rủi ro cho ngân hàng
Về cơ cấu cho vay theo thời hạn: Trong giai đoạn này, tín dụng ngắn hạn vẫn
là chủ yếu và tỷ lệ giữ ở mức khá ổn định: từ 60 – 70% Tỷ lệ này được đánh giá làkhá phù hợp, vừa đảm bảo cho NH có được nguồn thu nhập vừa giữ được chỉ số antoàn cao Đồng thời, HABUBANK cũng luôn chú trọng các dự án đầu tư trung dàihạn có tính khả thi cao, các dự án trọng điểm nằm trong quy hoạch của chính phủ…
Để đảm bảo nguồn thu nhập đều cho HABUBANK, tỷ trọng dư nợ trung dài hạnngày càng tăng: năm 2006 là 31 %, giảm nhẹ vào 2007 là 29,61% và tăng mạnhtrong 2008 là 40,27%
Bên cạnh đó, với mục tiêu trở thành một NH bán lẻ hàng đầu, HABUBANKngày càng chú trọng đến các khách hàng vừa và nhỏ với hình thức cho vay tiêu
Trang 39dùng và các loại hình cho vay khác ngày càng phong phú nhằm đảm bảo nguồn thunhập đều cho NH đồng thời đáp ứng được nhu cầu về vốn cho các khách hàng Năm
2006, trong tổng dư nợ cho vay thì dư nợ cho vay tiêu dùng chiếm 29%, các dư nợcủa Công ty cổ phần, TNHH chiếm tới 65% và đến năm 2008, tỷ trọng dư nợ củacác Công ty Cổ phần, TNHH đã tăng lên đạt mức 69,14%
Bên cạnh việc phát triển tín dụng để nâng cao hiệu quả hoạt động của ngânhàng, HABUBANK luôn chú trọng việc nâng cao chất lượng tín dụng Xem xét đếntình hình nợ quá hạn của NH ta thấy: Tỷ lệ nợ quá hạn năm 2007 tăng hơn 3 lần sovới năm 2006, đồng thời tốc độ tăng của nợ quá hạn nhanh hơn so với tốc độ tăngcủa tổng dư nợ Tuy nhiên, sang đến 2008, mặc dù NH đang phải hoạt động trongmột nền kinh tế khó khăn, nhưng tỷ lệ này đã có phần giảm xuống Đây là một tínhiệu đáng mừng cho thấy việc nâng cao quản lý tín dụng ở NH đã có hiệu quả
Hoạt động trên thị trường liên ngân hàng:
Nằm trong Top 10 NH TMCP của Việt Nam, HABUBANK được đánh giá làmột trong những NH năng động và phát triển bền vững liên tục trong suốt 20 nămqua Trong các lĩnh vực đầu tư vốn và kinh doanh tiền tệ, HABUBANK luôn đượcđánh giá là một trong những NH có uy tín và có tính thanh khoản tốt nhất trên thịtrường Việc tạo thanh khoản tốt một phần lớn nhờ vào sự phân bổ và sử dụngnguồn vốn có được một cách hiệu quả Bên cạnh việc đăng kí giao dịch trên thịtrường mở, HABUBANK đã thiết lập thêm nhiều mối quan hệ với các NH trên cácđịa bàn mới Doanh số giao dịch trên thị trường liên NH trong năm 2007 tăng 3,5lần so với 2006, đạt 139.086 tỷ đồng, tương đương 526 tỷ đồng/ngày; trong năm
2008 tăng 2,8 lần so với 2007, đạt 400.000 tỷ đồng, tương đương bình quân 1.515
tỷ đồng /ngày
Hoạt động đầu tư:
Với mục tiêu tăng thu nhập và phân tán rủi ro, HABUBANK đã đa dạng hóadanh mục đầu tư chứng khoán để đảm bảo khả năng chuyển đổi ra tiền mặt bất cứlúc nào cao nhất cho Ngân hàng Việc đầu tư chứng khoán hiệu quả kết hợp với các
Trang 40hoạt động liên NH được đẩy mạnh hơn nữa đã giúp tạo nguồn thu lớn hơn choNgân hàng, giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn thu tín dụng.
Kinh doanh ngoại tệ:
Bên cạnh việc tăng cường hoạt động kinh doanh trên thị trường liên ngânhàng, HABUBANK cũng đẩy mạnh việc mở thêm mạng lưới bàn thu đổi ngoại tệ.Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của HABUBANK chủ yếu tập trung để đảm bảocung cấp cho các khách hàng thanh toán Quốc tế của Ngân hàng NH đã thiết lậpcác hạn mức trạng thái cho từng loại ngoại tệ Trạng thái của các loại ngoại tệ đượctheo dõi hàng ngày và các chiến lược phòng ngừa rủi ro được áp dụng để đảm bảotrạng thái các loại ngoại tệ được duy trì trong hạn mức đã thiết lập Thu nhập thuần
từ kinh doanh ngoại tệ trong năm 2007 đạt 1,17 tỷ đồng, đạt 117% kế hoạch; sangnăm 2008 đạt 2,7 tỷ đồng, tăng gấp đôi năm 2007
Thanh toán quốc tế
Dịch vụ thanh toán quốc tế tại HABUBANK được đánh giá có chất lượng rấtcao với phương thức thực hiện nhanh chóng, linh hoạt, không có sai sót nhầm lẫn,đem lại sự hài lòng cho khách hàng Bên cạnh đó, HABUBANK còn hợp tác với
NH nước ngoài để đa dạng loại hình dịch vụ và đáp ứng những nhu cầu khác nhaucủa khách hàng NH đã thiết lập thêm quan hệ đại lý mở rộng mạng lưới tạo điềukiện thuận lợi cho công tác cung ứng dịch vụ Toàn NH đã đạt được những kết quảhết sức khả quan: Hoàn thành vượt mức kế hoạch doanh số thanh toán quốc tế vàthu phí dịch vụ đồng thời nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả của hoạt động.Tổng doanh số TTQT toàn NH năm 2008 đạt hơn 816 triệu USD, bằng 136,15% kếhoạch cả năm và bằng 233,92% so với năm 2007