Mục tiêu là nâng cao tính bền vững của hệ thống sản xuất nông nghiệp có tưới, trong đó Hợp phần 3 của Dự án đã hỗ trợ các tỉnh vùng Dự án thiết kế và thực hành nông nghiệp thông minh thí
Trang 2TỔ CHỨC CHỦ TRÌ:
Cục Trồng trọt và Ban Quản lý Trung ương Các dự án Thủy lợi
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
Viện Nghiên cứu Rau quả
TẬP THỂ BIÊN SOẠN:
TS Dương Kim Thoa - Viện Nghiên cứu Rau quả
TS Ngô Thị Hạnh - Viện Nghiên cứu Rau quả
TS Nguyễn Văn Dũng - Viện Nghiên cứu Rau quả
ThS Đặng Thị Hà Giang - Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường
TS Đào Quang Nghị - Viện Nghiên cứu Rau quả
CVC Đoàn Thị Phi Yến - Viện Nghiên cứu Rau quả
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu làm thay đổi cơ cấu mùa vụ, quy hoạch vùng, kỹ thuật tưới tiêu, sâu bệnh, năng suất, sản lượng; làm suy thoái tài nguyên đất, nước, đa dạng sinh học; suy giảm về số lượng và chất lượng nông sản do bão, lũ lụt, khô hạn, xâm nhập mặn,… làm tăng thêm nguy cơ tuyệt chủng của thực vật, làm biến mất các nguồn gen quý hiếm Biến đổi khí hậu sẽ là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến mất an ninh lương thực
Trong những năm qua, Ngành Nông nghiệp Việt Nam đã đạt được các thành tựu to lớn trong sản xuất nông sản phục vụ nội tiêu và xuất khẩu Nhiều tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ thực vật, kỹ thuật tưới tiêu,… đã được nghiên cứu và áp dụng trong thực tiễn sản xuất, góp phần phát triển Ngành Nông nghiệp bền vững, hiệu quả, hạn chế thiệt hại
do biến đổi khí hậu gây ra trong những năm gần đây.Sản xuất nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu (gọi tắt là CSA) - là một trong những giải pháp để giảm nhẹ sự tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu Tuy nhiên, hiện tại chưa có một tài liệu tổng hợp hướng dẫn thực hành CSA nào đối với từng cây trồng, bao gồm áp dụng tổng hợp các quy trình kỹ thuật canh tác như ICM, IPM, một phải năm giảm, ba giảm ba tăng, tưới khô ướt xen kẽ, tưới tiết kiệm,
Từ năm 2014 - 2021, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã triển khai Dự án Cải thiện nông nghiệp có tưới (VIAIP) Mục tiêu là nâng cao tính bền vững của hệ thống sản xuất nông nghiệp có tưới, trong đó Hợp phần 3 của Dự án đã hỗ trợ các tỉnh vùng Dự án thiết kế và thực hành nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu gồm: Áp dụng các gói kỹ thuật
về sản xuất giống cây trồng, gói kỹ thuật canh tác, bảo vệ thực vật, đánh giá nhu cầu và áp dụng các phương pháp tưới tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng; sử dụng nước tiết kiệm và tăng hiệu ích sử dụng nước; tăng thu nhập cho nông dân; giảm tính dễ tổn thương với biến đổi khí
Trang 4hậu, giảm phát thải khí nhà kính; tổ chức và liên kết sản xuất nông sản theo chuỗi giá trị gia tăng, giảm giá thành sản xuất, tăng lợi nhuận cho người dân.Cục Trồng trọt được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao nhiệm
vụ phối hợp với Ban Quản lý Trung ương Các dự án Thủy lợi và các tỉnh tham gia Dự án triển khai các nội dung liên quan đến nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu (CSA) Trên cơ sở tổng kết các kết quả, tài liệu liên quan, Cục Trồng trọt xin giới thiệu Bộ tài liệu “Sổ tay Hướng dẫn gói kỹ thuật canh tác thích ứng với biến đổi khí hậu cho một số cây trồng chủ lực như lúa, màu, rau, cây ăn quả có múi (cam, bưởi), chè, hồ tiêu, điều,
cà phê, nhãn, vải, xoài, chuối, thanh long và sầu riêng” Bộ tài liệu này được xây dựng trên cơ sở thu thập, phân tích, tổng hợp, chuẩn hóa các kỹ thuật canh tác, kỹ thuật tưới, tiêu nước, để hoàn thiện Quy trình thực hành nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu cho các cây trồng nhằm phổ biến đến các tổ chức, cá nhân và các địa phương tham khảo áp dụng rộng rãi trong sản xuất
Đây là một trong những tài liệu đầu tiên được chuẩn hóa về nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực trồng trọt, do vậy không tránh khỏi những thiếu sót, đơn vị chủ trì xin được lắng nghe các góp
ý của quý vị để tiếp tục hoàn thiện
Cục Trồng Trọt và Ban Quản lý Trung ương Các dự án Thủy lợi - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trân trọng cảm ơn Ngân hàng Thế giới (WB) đã tài trợ Dự án VIAIP, tập thể đội dự án, tập thể biên soạn và các chuyên gia đã đồng hành trong việc xuất bản Bộ tài liệu này
CỤC TRỒNG TRỌT
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Bộ TN&MT Bộ Tài nguyên và Môi trường
với biến đổi khí hậu
FAO Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hiệp quốc
VietGAP Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt
(Good Agriculture Practices)
VIAIP Dự án Cải thiện nông nghiệp có tưới Việt Nam
Trang 6RAU ĂN QUẢ
Trang 81 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ LUẬN GIẢI SỰ CẦN THIẾT PHẢI SOẠN THẢO TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình sản xuất rau và sản xuất một số loại rau ăn quả ở Việt Nam
Sản xuất rau có vị trí quan trọng và không thể thiếu trong nông nghiệp Việt Nam Rau xanh vừa là nguồn thực phẩm cho mỗi bữa ăn hàng ngày với yêu cầu ngày càng tăng, vừa là nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
và là mặt hàng nông sản xuất khẩu có tiềm năng và lợi thế so sánh cao.Cũng như hầu hết các nước trên thế giới, ngành sản xuất rau ở nước ta đã hội tụ rất nhiều tiến bộ kỹ thuật mới về giống, quy trình canh tác, công nghệ sau thu hoạch…là tiền đề cho sự gia tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất Tỷ lệ sử dụng giống lai F1 của nhiều loại rau đạt hơn 90% (cà chua, dưa chuột, ớt ngọt, cải bắp, cải bao…); nhiều mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao trên quy mô hàng trăm héc-ta cho năng suất gấp hàng chục lần canh tác thông thường ngoài đồng ruộng; rất nhiều sản phẩm chế biến
từ rau xanh làm gia tăng giá trị dinh dưỡng và tiêu dùng
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2019, diện tích sản xuất rau cả nước là 971,322 ha với sản lượng 17.765 nghìn tấn, tăng 32% về diện tích so với 10 năm trước (năm 2009 là 735,335 nghìn ha) và tăng 49,5% về sản lượng (11.885 nghìn tấn) Đây là một trong nhóm cây trồng có tốc độ tăng diện tích gieo trồng cũng như sản lượng nhanh trong một thập kỷ qua Với thời gian gieo trồng ngắn 3 - 5 tháng/vụ, cây rau cho hiệu quả kinh tế gấp 2 - 3 lần so với trồng lúa Nghề trồng, sơ chế và chế biến rau cũng thu hút lớn lực lượng lao động vốn đang dư thừa ở nông thôn hiện nay Ngoài ra, rau xanh, rau chế biến còn tham gia xuất khẩu đóng góp phần đáng kể lượng ngoại tệ cho đất nước Kim ngạch xuất khẩu rau, quả của Việt Nam tính đến năm 2019 đã đạt 3,7 tỷ đô la Mỹ (trong
đó cây rau là 440 triệu USD) [11]
Trong ngành sản xuất rau, các loại rau ăn quả như cà chua, dưa chuột, ớt cay là những loại rau có diện tích sản xuất hàng hoá lớn, năng suất trên đơn
vị diện tích cao, có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao phục vụ cho nội tiêu và xuất khẩu, được xếp vào nhóm rau chủ lực
Trang 9Cây cà chua
Cây cà chua ((Lycopersicon esculentum Mill) là cây rau ăn quả quan trọng được trồng, tiêu thụ hầu hết các nước trên thế giới Ở Việt Nam, cây cà chua
là cây rau ăn quả được trồng với diện tích lớn Theo số liệu thống kê năm
2019, diện tích sản xuất cà chua cả nước năm 2018 đạt 25,48 nghìn ha, tăng 14,1% so với năm 2010 (21,17 nghìn ha), năng suất đạt 287,0 tạ/ha, sản lượng đạt 731,48 nghìn tấn Với sản lượng trên, tương đương bình quân đầu người khoảng 7,34 kg quả/năm Trong thời gian qua, nhờ việc chuyển giao các tiến
bộ kỹ thuật: giống mới và công nghệ canh tác tiên tiến góp phần gia tăng về năng suất, sản lượng và chất lượng cà chua của Việt Nam [11]
Do tính chất đặc trưng như cơ cấu mùa vụ và điều kiện sinh thái mà cây
cà chua phần lớn được sản xuất tại các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng và tỉnh Lâm Đồng Diện tích và sản lượng cà chua sản xuất ở hai khu vực này chiếm trên 62% sản lượng cà chua cả nước
Với đặc điểm cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nên cà chua là đối tượng
ưu tiên được lựa chọn cho sản xuất ứng dụng công nghệ cao
Cây dưa chuột
Cây dưa chuột (Cucumis sativus L.) là loại cây rau ăn quả có giá trị trao đổi thương mại lớn, được trồng phổ biến làm thực phẩm thông dụng của nhiều nước trên thế giới Dưa chuột có hàm lượng các chất dinh dưỡng và năng lượng thấp nhưng lại có hàm lượng vitamin và chất khoáng cao nên rất được
ưa chuộng ở các nước có khẩu phần ăn giàu năng lượng
Ở Việt Nam, trong số các cây rau ăn quả, dưa chuột có thời gian sinh trưởng ngắn nhưng cho năng suất cao, do vậy hiện nay dưa chuột được coi
là cây mang lại hiệu quả kinh tế cho người sản xuất Thuộc nhóm cây ưa nhiệt, dưa chuột yêu cầu khí hậu ấm áp, ôn hòa, khô ráo nên yêu cầu về nhiệt độ thấp hơn so với các cây khác trong họ Bầu bí Nhiệt độ thích hợp nhất cho dưa chuột sinh trưởng phát triển dao động từ 18 - 240C, nhiệt độ tối thấp là 150C và nhiệt độ tối cao là 330C Do vậy dưa chuột chủ yếu phát triển trong vụ đông (từ tháng 9 đến tháng 11) và vụ xuân hè (từ tháng 02 đến tháng 5) ở các tỉnh đồng bằng của miền Bắc Việt Nam [7]
Trang 10Theo số liệu thống kê năm 2019, diện tích sản xuất dưa chuột cả nước năm 2018 đạt 49,51 nghìn ha, năng suất trung bình đạt 19,4 tấn, sản lượng 960,67 nghìn tấn Đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng có diện tích dưa chuột phát triển hàng năm lên tới 9,69 nghìn ha với năng suất bình quân cao nhất
cả nước đạt trên 27,1 tấn/ha, cung cấp sản lượng lớn cho nội tiêu và chế biến xuất khẩu [11]
Trong những năm gần đây khi các sản phẩm dưa chuột muối, đóng lọ của Việt Nam đang dần chiếm được thị phần trong khu vực và thế giới thì diện tích trồng dưa chuột chế biến ngày được mở rộng Cùng với sự phát triển của các công ty chế biến nông sản, đã hình thành nên những vùng chuyên canh dưa chuột chế biến, tập chung tại các tỉnh Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng Xuất khẩu dưa chuột chế biến đem lại lợi nhận cao cho các doanh nghiệp cũng như người sản xuất Ở nhiều địa phương, do áp dụng đúng quy trình chăm sóc, năng suất dưa chuột được nâng cao nên đã thu lãi trên100 triệu đồng/ha/vụ, đem lại hiệu quả kinh tế cao gấp từ 2 đến 3 lần so với cây lúa
Cây ớt cay
Ớt (Capsicum annuum L.) là cây rau ăn quả được trồng lâu đời và phổ biến
ở hầu khắp các nước trên thế giới Với xu thế gia tăng các sản phẩm giàu vi chất dinh dưỡng và dược lý trong bữa ăn hàng ngày, diện tích và sản lượng
ớt, nhất là ớt cay ngày càng gia tăng Đứng đầu về sản xuất ớt hiện nay là Trung Quốc và Mexico chiếm hơn 57% sản lượng ớt toàn thế giới
Ở nư ớc ta cây ớt đư ợc đư a vào trồng trọt từ rất lâu đời, do thích hợp
đ ược nhiều vùng đất khác nhau và có nhu cầu từ thị trường xuất khẩu nên khả năng mở rộng diện tích rất lớn Những năm gần đây, rất nhiều địa phương phía Bắc: Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình, Thanh Hóa, Bắc Giang, Hà Tĩnh… đã triển khai thành công mô hình trồng ớt xuất khẩu, mở ra hướng đi mới cho bà con nông dân trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng để sản xuất
ra sản phẩm hàng hoá đem lại thu nhập cao Một số vùng còn xem đây là cây xóa đói giảm nghèo, điển hình là các huyện: Kỳ Anh (Hà Tĩnh), Hoằng Hóa, Nga Sơn, Hậu Lộc, Yên Định (Thanh Hóa), Quỳnh Phụ (Thái Bình)… [12]
Trang 11Theo số liệu thống kê (Tổng cục Thống kê, 2019): Năm 2018 diện tích trồng ớt của nước ta là 45,09 nghìn ha, năng suất đạt 13,53 tấn/ ha, sản lượng 609,92 nghìn tấn tăng dần hàng năm cả về diện tích và sản lượng Thống kê này chưa thật đầy đủ vì số liệu tính trên đất nông nghiệp, còn một phần ớt cay được trồng trong vườn nhà chưa được thống kê Các tỉnh phía Bắc có diện tích ớt chỉ chiếm 17% diện tích cả nước và phần lớn trồng trong vụ đông trên đất 2 vụ lúa, với thời gian sinh trưởng ngắn nên năng suất thấp hơn miền Trung và miền Nam [11].
Một số địa phương trồng ớt xuất khẩu truyền thống có diện tích lớn như Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Bình trong đó Thanh Hoá có diện tích và sản lượng ớt lớn nhất với hơn 2.000 ha/năm.Tại các tỉnh phía Nam, ớt được sản xuất nhiều nhất ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt ở các tỉnh Đồng Tháp, An Giang với trên 4.500 ha/năm, tỉnh Tiền Giang với hơn 3.700 ha, Sóc Trăng, Trà Vinh với khoảng 1.500 - 2.000
ha Ở hhu vực Đông Nam Bộ, tỉnh có diện tích sản xuất ớt lớn nhất là Tây Ninh với khoảng 3.500 ha Khu vực duyên hải miền Trung ớt được sản xuất tập trung tại Bịnh Định và Quảng Ngãi với diện tích canh tác khoảng 1,700 - 2000
ha Khu vực Tây Nguyên tập trung tại Lâm Đồng và Gia Lai với diện tích từ 1.600 - 1.800 ha
Trong 3 loại rau ăn quả nói trên, với đặc điểm năng suất cao, giá trị dinh dưỡng và sử dụng lớn cà chua và dưa chuột là 2 loại rau được ưu tiên lựa chọn cho sản xuất ứng dụng công nghệ cao với năng suất thu được ở các nước tiên tiến như Hà Lan, Isarael khoảng 500 tấn/ha, ở Việt Nam một số mô hình thu được năng suất khoảng 200 tấn/ha với cà chua và 100-150 tấn/ha với cây dưa chuột mang lại hiệu quả kinh tế rất cao cho người sản xuất và mở ra hướng canh tác mới trong sản xuất nông nghiệp
Bên cạnh 3 loại rau ăn quả nói trên, lặc lày (mướp Nhật) và các loại mướp khác cũng là những loại rau ăn quả bản địa dễ trồng, diện tích sản xuất lớn (24,11 nghìn ha, sản lượng 368,05 nghìn tấn) mang lại thu nhập cho bà con nông dân ở tất cả các vùng miền trên cả nước đặc biệt những vùng kinh nghiệm thâm canh rau còn ít
Trang 121.1.2 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh của một số loại rau ăn quả (cà chua, dưa chuột, ớt cay, lặc lày, mướp)
Cây cà chua
(1) Yêu cầu về đất trồng
Cà chua là loại cây trồng tương đối dễ tính, tuy nhiên nên sản xuất cà chua trên đất phù sa, hàm lượng hữu cơ lớn hơn hoặc bằng 1,5%, độ pH khoảng 5,5 - 7,0, tốt nhất là 6,5 - 6,8, nên chọn chân đất giàu mùn, tơi xốp, dễ thoát nước
(2) Yêu cầu về nhiệt độ
Cà chua thuộc nhóm cây ưa ấm Nhiệt độ thích hợp nhất cho nảy mầm là 18,5 - 21oC (Wittwer, 1960), còn Thompson (1974) lại cho rằng nhiệt độ tối ưu
là 26 - 32oC Nhiệt độ quá cao sẽ làm chậm sự nảy mầm của hạt, hạt dễ mất sức sống, mầm bị biến dạng (Dẫn theo Kiều Thị Thư, (1998) [10]
Cà chua sinh trưởng tốt trong phạm vi nhiệt độ 15 - 30oC, nhiệt độ tối ưu
là 22 - 24oC (Lorenz Maynard, 1988) Quá trình quang hợp của lá cà chua tăng khi nhiệt độ đạt tối ưu 25 - 30oC, khi nhiệt độ cao hơn mức thích hợp( > 35oC) quá trình quang hợp sẽ giảm dần (Dẫn theo Kiều Thị Thư, (1998) [10]
Nhiệt độ ngày và đêm đều ảnh hưởng đến sinh trưởng sinh dưỡng của cây Nhiệt độ ngày thích hợp cho cây sinh trưởng từ 20 - 25oC (Kuo và cộng sự, 1989), nhiệt độ đêm thích hợp từ 13 - 18oC Theo Claylon (1923), khi nhiệt độ trên 35oC cây cà chua ngừng sinh trưởng và ở nhiệt độ 10oC trong một giai đoạn dài cây sẽ ngừng sinh trưởng và chết (Swiader J.M và cộng sự, 1992) Ở giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, nhiệt độ ngày đêm xấp xỉ 25oC sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình ra lá và sinh trưởng của lá Tốc độ sinh trưởng của thân, chồi và rễ đạt tốt hơn khi nhiệt độ ngày từ 26 - 30oC và đêm từ 18 - 22oC Điều này liên quan đến việc duy trì cân bằng quá trình quang hoá trong cây (Dẫn theo Dương Kim Thoa, (2012) [8]
Nhiệt độ không những ảnh hưởng trực tiếp tới sinh truởng sinh dưỡng mà còn ảnh hưởng rất lớn đến sự ra hoa đậu quả, năng suất và chất lượng của cà chua Khi nhiệt độ không khí trên 30oC/25oC (ngày/đêm) làm tăng số lượng đốt
Trang 13dưới chùm hoa thứ nhất Nhiệt độ không khí lớn hơn 30oC/25oC (ngày/đêm) cùng với nhiệt độ đất trên 21oC làm giảm số hoa trên chùm Nhiệt độ còn ảnh hưởng trực tiếp tới sự nở hoa cũng như quá trình thụ phấn thụ tinh Tỷ lệ đậu quả cao ở nhiệt độ tối ưu là 18 - 20oC Khi nhiệt độ ngày tối đa vượt 38oC trong vòng 5 - 9 ngày trước hoặc sau khi hoa nở 1 - 3 ngày, nhiệt độ đêm tối thấp vượt 25 - 27oC trong vòng vài ngày trước và sau khi nở hoa đều làm giảm sức sống hạt phấn, đó chính là nguyên nhân làm giảm năng suất của cà chua (Kuo và cộng sự, 1998) (Dẫn theo Dương Kim Thoa, (2012) [8].
Sự hình thành màu sắc quả cũng chịu ảnh hưởng lớn của nhiệt độ Nhiệt độ tối ưu để hình thành sắc tố là 18 - 24oC Quả có màu đỏ - da cam đậm ở 24 - 28oC
do có sự hình thành lycopen và caroten dễ dàng Nhưng khi nhiệt độ ở 30 - 36oC quả có màu vàng đó là do lycopen không được hình thành Khi nhiệt độ lớn hơn
40oC quả giữ nguyên màu xanh bởi vì cơ chế phân huỷ chlorophyll không hoạt động, caroten và lycopen không được hình thành Nhiệt độ và độ ẩm cao còn là nguyên nhân tạo điều kiện thuận lợi cho một số bệnh hại phát triển [8]
(3) Yêu cầu về ánh sáng
Cà chua thuộc cây ưa ánh sáng, cây con trong vườn ươm nếu đủ ánh sáng (5000 lux) sẽ cho chất lượng tốt, cứng cây, bộ lá to, khoẻ, sớm được trồng Ánh sáng đầy đủ thì việc thụ tinh thuận lợi, dẫn đến sự phát triển bình thường của quả, quả đồng đều, năng suất tăng
Thành phần hoá học của quả cà chua chịu tác động lớn của chất lượng ánh sáng Theo Brow (1955) và Ventner (1977) cà chua trồng trong điều kiện
đủ ánh sáng đạt hàm lượng axít ascobic trong quả nhiều hơn trồng nơi thiếu ánh sáng
(4) Yêu đầu về độ ẩm
Cà chua có yêu cầu về nước ở các giai đoạn sinh trưởng rất khác nhau,
xu hướng ban đầu cần ít về sau cần nhiều Lúc cây ra hoa là thời kỳ cần nhiều nước nhất Nếu ở thời kỳ này độ ẩm không đáp ứng, việc hình thành chùm hoa và tỷ lệ đậu quả giảm
Nhiều tài liệu cho thấy độ ẩm đất thích hợp cho cà chua là 60 - 65% (Barehyi, 1971) và độ ẩm không khí là 70 - 80% (Dẫn theo Kiều Thị Thư, (1998) [10]
Trang 14Độ ẩm không khí quá cao ( > 90%) dễ làm cho hạt phấn bị trương nứt , hoa
cà chua không thụ phấn được sẽ rụng ( Tạ Thu Cúc, 1983) Tuy nhiên, trong điều kiện gió khô cũng thường làm tăng tỷ lệ rụng hoa Nhiệt độ đất và không khí phụ thuộc rất lớn vào lượng mưa, đặc biệt là các thời điểm trái vụ, mưa nhiều là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng phát triển của cây kể từ khi gieo hạt đến khi thu hoạch (Dẫn theo Dương Kim Thoa, (2012) [8]
(5) Yêu cầu về dinh dưỡng khoáng
Theo More (1978) để có 1 tấn cà chua cần 2,9 kg N, 0,4 kg P, 4 kg K và 0,45 kg
Mg Theo Becseev, để tạo 1 tấn quả cà chua cần 3,8 kg N, 0,6 kg P2O5 và 7,9 kg kali ( Kiều Thị Thư trích dẫn - 1998) Theo Geraldson (1957) để đạt năng suất
50 tấn/ha cần bón 320 kg N, 60 kg P2O5 và 440 kg K2O L.H Aung (1979) khuyến cáo để cà chua đạt năng suất 40 tấn/ha cần bón 150 kg N, 30 kg P2O5 và
160 kg K2O Theo Kuo và cộng sự (1998), đối với cà chua vô hạn nên bón với mức
180 kg N, 80 kg P2O5 và 180 kg K2O, còn với cà chua hữu hạn thì lượng tương ứng
là 120, 80 và 150 Theo nghiên cứu của Trần Khắc Thi và cộng sự (1999) thì trong điều kiện Việt Nam lượng phân bón cho 1 ha cà chua là 25 tấn phân chuồng, 150
kg N, 90 kg P2O5 và 150 kg K2O (Dẫn theo Dương Kim Thoa, (2012) [8]
Cũng như các cây trồng khác cà chua cần ít nhất 20 nguyên tố dinh dưỡng cho quá trình sinh trưởng phát triển bình thường Trong các nguyên
tố đa lượng cà chua cần nhiều kali hơn cả, sau đó là đạm và lân
Cây dưa chuột
(1) Yêu cầu về đất và dinh dưỡng
Dưa chuột có nguồn gốc ở vùng đất ẩm ven rừng nên cây đã thích nghi với điều kiện dinh dưỡng đầy đủ Do có bộ rễ kém phát triển, sức hấp thụ của
rễ lại yếu nên dưa chuột có yêu cầu nghiêm ngặt về đất hơn các cây cùng họ Đất trồng thích hợp là đất có thành phần cơ giới nhẹ như đất cát pha, đất thịt nhẹ, độ pH thích hợp là 5,5 - 6,5
Nghiên cứu về hiệu quả sử dụng khoáng của dưa chuột thấy: Dưa chuột sử dụng kali lớn nhất sau đó đến đạm và ít nhất là lân Trạm Nghiên cứu Ucraina cho biết, nếu bón phân ở mức 60 kg N : 60 kg K2O : 60 kg P2O5 thì dưa chuột
Trang 15sử dụng 92% N, 33% P2O5 và 100% K2O Dưa chuột không chịu được nồng độ phân cao nhưng lại phản ứng rất rõ với hiện tượng thiếu dinh dưỡng.
Phân hữu cơ đặc biệt phân chuồng giúp làm tăng năng suất dưa chuột Dưa chuột là cây lấy dinh dưỡng từ đất ít hơn rất nhiều so với cây rau khác Ví
dụ tăng năng suất dưa chuột lên 30 tấn/ha thì lượng NPK cây lấy đi từ đất là
170 kg/ha, trong khi đó nếu tăng năng suất cải bắp lên 70 tấn/ha thì nó phải lấy đi từ đất là 630 kg NPK Kali thích hợp cho ra hoa đực trong khi phân đạm
có tác dụng ngược lại Bên cạnh đạm, lân, kali, các nguyên tố vi lượng như
bo, kẽm, mangan, đồng, molipden có vai trò quan trọng, làm thay đổi tỷ lệ hoa đực hoa cái
(2) Yêu cầu về nhiệt độ
Dưa chuột thuộc nhóm cây ưa nhiệt rất mẫn cảm với sương giá Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng phát triển là 25 -30oC ban ngày và 18 - 21oC về ban đêm Ở 12oC cây sinh trưởng chậm, ở nhiệt độ thấp kéo dài (15oC) các giống sinh trưởng rất khó khăn, đốt ngắn, lá nhỏ, hoa đực màu nhạt, vàng úa, ở 5oC hầu hết các giống dưa chuột có nguy cơ bị chết rét, khi nhiệt độ lên cao 40oC cây ngừng sinh trưởng, hoa cái không xuất hiện, lá bị héo Khi nhiệt độ dưới
15oC cây mất cân bằng giữa quá trình đồng hoá và dị hoá Do nhiệt độ quá thấp phá vỡ quá trình trao đổi chất thông thường và một số quá trình sinh hoá bị ngừng trệ, toàn bộ chu trình sống bị đảo lộn dẫn đến cây tích luỹ độc
tố Nhiệt độ thấp kéo dài số lượng độc tố tăng lên làm chết các tế bào Qua nghiên cứu ở Việt Nam, trong điều kiện làm lạnh nhân tạo với nhiệt
độ 5 -10oC trong vòng 10 ngày, các giống dưa chuột Việt Nam và Trung Quốc
có sức chịu lạnh hơn các giống châu Á và châu Mỹ Tổng tích ôn từ lúc nảy mầm tới thu quả đầu tiên ở giống địa phương là 900oC, đến thu hoạch là
1650oC
Nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp tới thời gian ra hoa, dưa chuột ra hoa khoảng 20 ngày sau khi nảy mầm, 26 ngày cho ra hoa cái Nhiệt độ càng thấp thời gian ra hoa càng chậm Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng tới sinh trưởng,
ra hoa của cây dưa chuột mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới sự nở hoa cũng như
Trang 16quá trình thụ phấn, thụ tinh Theo các tác giả Nhật Bản hoa bắt đầu nở ở 15oC (sáng sớm) và bao phấn mở ở 17oC Nhiệt độ thích hợp cho sự nảy mầm của hạt phấn 17 - 24oC, nhiệt độ quá cao hay quá thấp so với ngưỡng này đều làm giảm sức sống của hạt phấn, đó cũng chính là nguyên nhân gây giảm năng suất của giống Hầu hết các giống dưa chuột đều qua giai đoạn xuân hoá ở nhiệt độ 20 - 22oC.
(3) Yêu cầu về ánh sáng
Dưa chuột thuộc nhóm cây ưa sáng ngày ngắn Độ dài chiếu sáng thích hợp cho cây sinh trưởng và phát dục là 10 - 12 giờ/ngày Nắng nhiều có tác dụng tới hiệu suất quang hợp, làm tăng năng suất, chất lượng quả, rút ngắn thời gian lớn của quả Cường độ ánh sáng thích hợp cho dưa chuột trong phạm
vi 5 - 17 Klux Cường độ ánh sáng và chất lượng ánh sáng có vai trò quan trọng trong việc hình thành màu sắc quả và thời hạn sử dụng quả dưa chuột
Theo các tác giả Hiệp hội Khoa học Trồng trọt Mỹ (1997), việc tỉa thưa và che bóng đã ảnh hưởng đến động thái tăng chiều dài quả, màu sắc quả lúc thu hoạch và phổ diệp lục của vỏ quả Trong điều kiện cường độ ánh sáng thấp cây sinh trưởng rất yếu và không thể phục hồi được khả năng này.Biểu hiện giới tính của dưa chuột phụ thuộc vào một số yếu tố như mật
độ, nhiệt độ và ánh sáng Tỷ lệ hoa cái giảm nếu trong điều kiện mật độ quá dày, ánh sáng yếu, nhiệt độ cao Hoa cái hình thành nhiều hơn trong điều kiện ngày ngắn còn hoa đực ngược lại hình thành trong điều kiện ngày dài Ánh sáng nhiều làm quả lớn nhanh, mập, chất lượng quả tốt Trong điều kiện ngày ngắn thường có nhiều lá và sai quả hơn
(4) Yêu cầu về độ ẩm
Cây dưa chuột có nguồn gốc nơi ẩm ướt ven rừng, do đất đai nơi nguyên sản màu mỡ nên bộ rễ kém phát triển hơn các cây khác (cây bí ngô, dưa hấu, dưa thơm) Dưa chuột là cây kém chịu hạn và chịu úng Hai yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến dưa chuột là lượng mưa và độ ẩm cùng với nhiệt độ cao là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nhiều cây trong họ Bầu bí nhiễm bệnh ở lá và thân cành
Trang 17Quả dưa chuột chứa tới 95% nước, tuy nhiên tỷ lệ này chưa phải là cao so với lượng nước cây bốc hơi Hệ số bốc hơi nước, hay hiệu quả sử dụng nước của cây, lượng nước cây lấy từ đất vào khoảng 4000 - 7000 Dưa chuột rất mẫn cảm với hạn đất và không khí Chủ yếu do bộ rễ kém phát triển và bộ lá rất lớn
Theo K Sumi (1974) để hình thành 100 kg quả cây dưa chuột cần 9,2 - 11
m2 nước Nhìn chung độ ẩm đất thích hợp cho dưa chuột 85 - 95%, không khí 90 - 95% Khi đất khô hạn, hạt mọc chậm, sinh trưởng thân, lá kém, đồng thời trong cây có sự tích luỹ chất Cucurbitacina gây đắng quả Khi thiếu nước nghiêm trọng sẽ xuất hiện quả dị hình, quả đắng, cây nhiễm bệnh virus Thời
kỳ ra hoa tạo quả là giai đoạn yêu cầu lượng nước cao nhất (xấp xỉ 80%) Hạt nảy mầm yêu cầu lượng nước bằng 50% khối lượng hạt Một số nghiên cứu cho thấy độ ẩm không khí có ảnh hưởng trực tiếp tới thân chính và số cấp cành trên cây Trong điều kiện ngập nước rễ cây dưa chuột bị thiếu oxy dẫn đến cây héo rũ, chảy gôm thân, có thể chết cả ruộng (Dẫn theo Ngô Thị Hạnh, (2011) [7]
Thời kỳ thân lá sinh trưởng mạnh đến ra hoa cái đầu tiên cây cần độ ẩm đất 70 - 80%, thời kỳ ra quả rộ và quả phát triển yêu cầu độ ẩm đất lớn hơn
ớt có thể nảy mầm trong điều kiện độ muối 4000 ppm và pH = 7,6 (Kaliappan và Rạagopal, 1970) (Dẫn theo Viện Nghiên cứu Rau quả, (2019) [12]
Mặc dù ớt ngọt có thể trồng ở mọi loại đất, nhưng đất thịt giữ nước và
pH = 6 - 6,5 là thích hợp nhất
Trang 18(2) Yêu cầu về nhiệt độ
Nhiệt độ ảnh hưởng đến sinh trưởng, số hoa, tỷ lệ đậu quả Nhiệt độ đất
10oC làm cho ớt sinh trưởng chậm, còn ở nhiệt độ 17oC cây sinh trưởng bình thường, ở nhiệt độ >30oC phần trên sinh trưởng bình thường nhưng rễ ngừng sinh trưởng (Rylski, 1972) (Dẫn theo Viện Nghiên cứu Rau quả, (2019) [12].Nhiệt độ ngày/đêm bằng 25oC/28oC là thích hợp nhất cho sự sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng và số hạt/quả Nhiệt độ ban đêm thấp (8 - 10oC và 15oC) làm giảm tỷ lệ đậu quả và thường sinh ra quả không hạt, nhiệt độ ban đêm thích hợp nhất là 20oC trong giai đoạn nở hoa
Quả đạt kích thước đẹp nhất (cả 2 loại hữu thụ và bất thụ) nhận được khi nhiệt độ cao ở giai đoạn nở hoa và nhiệt độ thấp sau đó Nếu nhiệt độ ban đêm mà cao khoảng 24oC kích thích sự rụng hoa (Rylski và Spigelman, 1982) Nhiệt độ có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả Ớt là cây rất dễ nhận được quả không hạt hoặc rất ít hạt trong điều kiện nhiệt độ thấp, ngoài ra nhiệt độ thấp còn làm giảm kích thước và hình dạng quả
(3) Yêu cầu về ánh sáng
Ớt là cây ưa ánh sáng ngày ngắn, nếu chiếu sáng 9 - 10 giờ sẽ kích thích sinh trưởng, tăng năng suất khoảng 21 - 24% và tăng chất lượng quả (Egorova, 1975) Theo Quanlitto (1976) nếu ánh sáng mặt trời giảm 30% thì
sẽ tăng năng suất gấp đôi ớt ngọt do tăng số quả và kích thước quả (Dẫn theo Viện Nghiên cứu Rau quả, (2019) [12]
(4) Yêu cầu về độ ẩm
Ớt rất thích hợp với thời tiết ấm, ẩm, nhưng trong điều kiện khô hạn kích thích quá trình chín của quả Ẩm độ đất thấp không ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu quả nhưng làm tăng tỷ lệ rụng quả Nếu ẩm độ khoảng 10% rụng 71,2%, trong khi ẩm độ 55,6 - 57,4% thì tỷ lệ rụng quả chỉ còn 20 - 30%
1.1.3 Biến đổi khí hậu (BĐKH) và tác động của BĐKH đến sản xuất một số loại rau ăn quả (cà chua, dưa chuột, ớt cay, lặc lày, mướp)
1.1.3.1 Khái niệm về BĐKH
Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu đã định nghĩa: Biến đổi khí hậu là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra
Trang 19những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi, sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên, các hoạt động của hệ thống kinh tế - xã hội, sức khỏe và phúc lợi của con người.
BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập
kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất
Biến đổi khí hậu thường được biết đến như hiện tượng ấm lên toàn cầu, là một sự thay đổi các trạng thái thời tiết lâu dài, bao gồm các hiện tượng nhiệt độ
ấm lên và các thay đổi ở lượng mưa, gió và bão…
Biến đổi khí hậu đang là thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ
21 và đang tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên toàn cầu Với Việt Nam, BĐKH là nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững Các lĩnh vực dễ bị tổn thương và chịu sự tác động mạnh mẽ nhất của BĐKH là tài nguyên nước, đất, nông lâm-ngư nghiệp
1.1.3.2 Nguyên nhân BĐKH
Nguyên nhân BĐKH là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra chất thải khí nhà kính (KNK), khai thác quá mức các bể các-bon như sinh khối, rừng, nguồn lợi thủy hải sản, hệ sinh thái Theo Nghị định thư Kyoto về BĐKH có 6 loại KNK cần phải kiểm soát: CO2, CH4, N2O, HFC, PFC và SF6 Trong đó hoạt động nông nghiệp tạo ra: CO2 do quá trình sử dụng các nguyên liệu hóa thạch trong sản xuất; CH4 từ quá trình lên men các chất thải nông nghiệp, lên men
dạ cỏ ở động vật nhai lại và N2O từ phân bón (các loại phân có chứa đạm) dùng trong trồng trọt
1.1.3.3 Nhận diện BĐKH đến sản xuất các loại rau ăn quả
Sự nóng lên toàn cầu dẫn tới hiện tượng BĐKH gây ra các tác động trực tiếp tài nguyên khí hậu, tới tài nguyên đất và tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật (các yếu tố đầu vào của ngành sản xuất nông nghiệp) gây ra những ảnh hưởng to lớn tới tình hình sản xuất nông nghiệp nói chung và các loại cây rau
nói riêng Các tác động chủ yếu của BĐKH đối với cây rau bao gồm:
Trang 20Nhiệt độ tăng quá cao, hoặc giảm quá thấp.
Lượng mưa tăng quá cao hoặc giảm quá thấp.
Cường độ ánh sáng tăng quá cao hoặc giảm quá thấp.
Ẩm độ không khí và ẩm độ đất tăng quá cao hoặc giảm quá thấp 1.1.3.4 Tác động của BĐKH đến quá trình sản xuất các loại rau nói chung
và rau ăn quả nói riêng
BĐKH gây xói mòn, rửa trôi, thoái hóa đất
- Dưới tác động của mưa lớn, tập trung và kéo dài thường xảy ra hiện tượng chảy tràn, gây rửa trôi đất nếu không có biện pháp bảo vệ hữu hiệu
- Xói mòn làm cho đất mất độ màu mỡ, trai cứng, giảm khả năng giữ nước từ đó giảm sức sản xuất.
- Xói mòn đất làm giảm chất hữu cơ trong đất, dẫn đến giảm hiệu quả
sử dụng phân bón và hoạt động của các vi sinh vật, tăng tính dễ bị xói mòn.
- Nhiệt độ cao sẽ làm cho chất hữu cơ trong đất bị phân hủy nhanh (khoáng hóa mạnh), làm giảm hàm lượng mùn trong đất, dinh dưỡng khoáng sinh ra từ quá trình khoáng hóa dễ bị rửa trôi do mưa lớn, dẫn đến làm giảm kết cấu và chất lượng đất.
BĐKH ảnh hưởng đến tính bền vững của nguồn nước
BĐKH gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán vào mùa khô, lũ lụt vào mùa mưa từ đó ảnh hưởng đến tính ổn định và bền vững của nguồn nước, gây ảnh hưởng nặng nề đến ngành sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau nói riêng.
BĐKH làm tăng hoạt động của sâu bệnh hại
BĐKH gây ra hiện tượng thời tiết nắng, mưa thất thường Trời âm u, mưa nắng xen kẽ là điều kiện rất thuận lợi cho việc phát sinh một số loại sâu hại chính trên cây trồng nói chung và các loại rau ăn quả nói riêng, sau đó kết hợp với nóng và khô hạn sẽ làm cho tình trạng sâu bệnh hại nghiêm trọng hơn như
bọ trĩ hoặc bọ phấn trắng hay nhện đỏ, nhện trắng là những loại côn trùng
Trang 21chích hút phát sinh gây hại nặng trong điều kiện khô hạn, nhiệt độ cao đã bùng phát bệnh xoăn vàng lá virus trên cà chua những năm gần đây, hút nhựa cây gây xoăn lá, xoăn ngọn cà chua, ớt cay và rau họ Bầu bí như dưa chuột, dưa lưới…Đây là những loại sâu bệnh rất khó phòng trừ.
- BĐKH kéo theo hiện tượng thời tiết khắc nghiệt, làm thay đổi các điều kiện thiết yếu của môi trường sống (nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, thức ăn ), một số loại sinh vật có mức độ thích nghi kém sẽ bị chết, dẫn đến làm mất cân bằng sinh thái, gây phát sinh nhiều loại dịch bệnh mới trên rau
BĐKH làm giảm năng suất và chất lượng rau
- Trong rau chứa tới hơn 90% là nước do vậy nhu cầu nước tưới cũng như chất lượng nước tưới có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng phát triển cũng như chất lượng sản phẩm Sinh trưởng, năng suất và chất lượng cây trồng nói chung và các loại rau nói riêng giảm mạnh nếu cây bị thiếu nước, đặc biệt sẽ trầm trọng hơn khi kết hợp với nhiệt độ không khí cao, gió mạnh BĐKH dẫn đến tăng nguy cơ khô hạn, gây ra sự tổn thất lớn cho sản xuất rau thậm chí không sản xuất được do thiếu nước Ngược lại thừa nước hay hiện tượng ngập úng cũng gây ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất Do phần lớn các loại rau có thời gian sinh trưởng ngắn 30 - 90 ngày với các loại rau ăn lá và
60 - 150 ngày với các loại rau ăn quả, bộ rễ rau thuộc dạng rễ chùm, yếu do vậy khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi như khô hạn đặc biệt là khả năng chống úng rất kém Thừa nước dẫn đến hiện tượng cây sinh trưởng chậm Cây bị ngập úng trong khoảng 12 - 24 giờ có thể gây chết hàng loạt gây thiệt hại kinh tế rất lớn
- Các loại rau ăn quả đặc biệt các loại rau có khả năng sản xuất hàng hoá lớn như cà chua, dưa chuột, ớt có yêu cầu khá nghiêm ngặt với điều kiện nhiệt độ và ánh sáng, do vậy có tính thời vụ rất rõ rệt BĐKH dẫn đến nhiệt
độ tăng cao hoặc giảm quá thấp ảnh hưởng đến sinh trưởng, đặc biệt khả năng ra hoa đậu quả của các loại rau do vậy làm giảm năng suất đáng kể hoặc thậm chí cây không ra hoa đậu quả được gây hiện tượng thất thu Một
số trường hợp nhiệt độ tăng cao kết hợp với cường độ ánh sáng lớn, nhất là trong điều kiện vụ hè thu làm cho quả bị cháy nắng hay bỏng do nắng nóng Hiện tượng này hay gặp đối với sản xuất cà chua vụ hè…
Trang 22BĐKH làm giảm diện tích đất canh tác phù hợp cho rau
BĐKH làm cho thời tiết diễn biến thất thường (không tuân theo quy luật cũ), thay đổi về lượng và sự phân phối lượng mưa theo mùa, vùng nhiệt độ bình quân tăng, số ngày cực nóng và cực lạnh tăng dẫn đến những vùng trồng rau chịu tác động mạnh bởi khô hạn, rửa trôi đất bị thoái hóa không còn khả năng phục hồi, kết cấu cũng như chất lượng đất kém không còn phù hợp để trồng rau hay những hiện tượng thiên tai gần đây như mưa lớn gây xói lở đất thậm chí cả một vùng đất rộng lớn bị lở Từ đó làm cho diện tích đất canh tác rau bị giảm.
Từ những vấn đề trên, để ứng phó với BĐKH trên cây rau một cách hiệu quả nhất, cần xây dựng Bộ tài liệu Hướng dẫn gói kỹ thuật canh tác một số loại rau ăn quả (cà chua, dưa chuột, ớt cay, lặc lày, mướp) giúp người sản xuất có được những giải pháp đồng bộ, phù hợp ứng phó với BĐKH, mang lại hiệu quả cao và phát triển sản xuất
1.1.4 Một số nghiên cứu về giải pháp ứng phó với BĐKH trên cây rau ăn quả
Hiện nay, việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp thích ứng với BĐKH là một trong những giải pháp quan trọng để gia tăng hiệu quả kinh tế trên mỗi đơn vị diện tích sản xuất; hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững đã được các nước trên thế giới cũng như Việt Nam ưu tiên nghiên cứu và ứng dụng
Đối với cây rau một số giải pháp ứng phó với BĐKH được tập trung giải quyết gồm:
1.1.4.1 TBKT về chọn tạo giống
Chọn tạo giống thích ứng với BĐKH đã được các tổ chức, các cơ quan nghiên cứu từ rất lâu Các nghiên cứu chọn tạo giống tập trung vào các lĩnh vực: Nghiên cứu chọn tạo giống chịu nhiệt (Chịu nhiệt độ cao hoặc chịu lạnh); Nghiên cứu chọn tạo giống chống chịu sâu bệnh hại; Nghiên cứu chọn tạo giống chịu hạn, úng; Nghiên cứu chọn tạo giống chịu phèn, mặn Trong đó việc nghiên cứu chọn giống chịu nhiệt và chống chịu sâu bệnh hại đã được tập trung nghiên cứu và thu được nhiều thành công hơn cả
Trang 23Với cây cà chua: Các giống có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu
sâu bệnh hại và chịu nhiệt tốt được phổ biến trong sản xuất như các giống sản xuất trong nhà lưới được nhập từ Hà Lan, Isarael gồm: Dufour, Atiza và nhiều giống khác với năng xuất trồng ở các nước bản địa lên đến 500 tấn/ha và trồng ở Việt Nam đạt khoảng 200 - 250 tấn/ha Các giống phục vụ cho sản xuất thương mại ngoài đồng như Savior do Công ty Seminis cung cấp có khả năng chịu nhiệt độ cao và chịu bệnh xoăn vàng lá do virus; Các giống CN3500 do Ấn
Độ sản xuất có năng suất cao, chất lượng tốt; giống cà chua Montavi, Chanoka
và hàng loạt các giống do các công ty giống cung cấp giúp cà chua có thể sản xuất gần như quanh năm tại Việt Nam
Với cây dưa chuột: Các giống trồng trong nhà lưới có khả năng chịu sâu bệnh hại và chịu nhiệt độ thấp như Minikhasib do Công ty RIJK ZWAAN nhập khẩu từ Hà Lan; các giống như Hazera 55003, Tomax, Romya do các công
ty giống nhập khẩu
Các giống dưa chuột phục vụ cho sản xuất ngoài đồng như Sao xanh, PC1, Hữu nghị, Cuc71,…); các giống nhập nội từ Thái Lan, Đài Loan gồm Ninja
179, Amata 765, TN170 phục vụ cho ăn tươi
Các giống cho chế biến như giống địa phương Phú Thịnh, giống nhập nội như Marinda, Ajax, Mirabel, Troka, 266… Các giống địa phương thể hiện sinh trưởng khỏe, chịu bệnh tốt song năng suất thường không cao, không
ổn định Giống nhập nội cho năng suất cao nhưng mức độ chống chịu bệnh chưa cao
Với cây ớt: Các giống do Viện Nghiên cứu Rau quả chọn tạo như: Dạng quả chỉ địa (GL1-1 và GL1-10), giống dạng quả chỉ thiên (GL1-6, GL1-12) đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống cho sản xuất thử Các giống mới chọn tạo này có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, chín sớm và thu hoạch tập trung, năng suất trung bình đạt 25 - 30 tấn/ha, giống có chất lượng quả tốt, hàm lượng chất khô cao 17,5 %, quả chín đỏ đẹp, hình thức sử dụng
đa dạng: xuất khẩu quả tươi, chế biến sấy khô, chế biến muối mặn
Giống ớt cay Lai số 20 của Công ty Giống cây trồng miền Nam: Sinh trưởng mạnh, tán rộng, chống chịu tốt, trồng được nhiều vụ trong năm Cây
Trang 24cho nhiều hoa, dễ đậu quả, thu hoạch 90 - 100 ngày sau gieo, thu hoạch kéo dài Quả to dài, thẳng, màu xanh đậm khi non và đỏ đậm khi chín, thịt dày, cay vừa, thích hợp ăn tươi và chế biến
Giống ớt chỉ thiên 25 & 27 của Công ty Giống cây trồng miền Nam: Sinh trưởng mạnh, phân cành khá, cao 60 - 95 cm Chống chịu bệnh tốt, trồng được quanh năm vùng đồng bằng Bắt đầu thu hoạch 75 - 78 ngày sau gieo Ớt 25 nặng 5 - 6 g/quả, ớt 27 nặng 3,8 - 4,0 g/quả Quả non màu xanh trung bình, chín màu đỏ tươi, bóng đẹp, thịt dày, chắc cứng, rất cay Mỗi cây cho 200 - 280 quả Năng suất 20 - 30 tấn/ha
Các giống lai của Công ty Đông Tây cũng khá đa dạng về mẫu mã và chất lượng quả: Giống ớt cay lai F1 7126 cây phát triển tốt, tán rộng, lá phân bố gọn, chiều cao cây 60 cm Năng suất trung bình 2,5 kg/cây) quả dài 15 cm, trọng lượng quả 20 - 22 g khi chín có màu đỏ tươi, cay và thơm Thu hoạch đợt đầu 80 - 85 ngày sau gieo, kháng bệnh héo xanh và bệnh thán thư
Ớt chỉ thiên Hiểm lai 207: Giống dễ trồng, cây phát triển tốt, cao 50 - 60 cm Năng suất đạt 2 - 3 kg/cây Quả chỉ thiên, thẳng dài 2 - 3 cm, khi chín có màu
đỏ tươi, rất cay và thơm Giống đặc biệt chống chịu tốt bệnh thán thư Thời gian thu hoạch 80 - 85 ngày sau gieo
Giống ớt cay Bạch lý hương 1289 của Công ty giống cây trồng Nông Hữu: Phân nhánh khỏe, nhiều quả, quả dài 14,5 cm, đường kính khoảng 1,4 mm, quả nặng 15g, rất cay, đốt ngắn, kháng bệnh virus
Các giống mướp và lặc lày
Chủ yếu là các giống địa phương có khả năng chống chịu sâu bệnh hại khá tốt Hiện công tác nghiên cứu chọn tạo giống đang dần được quan tâm
và đã có một số giống tốt cung cấp cho sản xuất như:
Giống mướp: VA16, Melo 59…
Giống lặc lày Rado248 của Công ty hạt giống Rạng Đông, Glory 01 của Công ty Tân Lộc Phát, Quý tị 03 của Công ty Phú Điền,…
Trang 251.1.4.2 TBKT về biện pháp kỹ thuật ứng phó với BĐKH trên cây rau ăn quả
Việc ứng dụng khoa học, tiến bộ kỹ thuật trong thay đổi các quy trình sản xuất nhằm thích ứng với BĐKH cũng đã được thực hiện tích cực Các mô hình sản xuất rau sạch, rau an toàn, rau hữu cơ trong nhà màng, nhà lưới sử dụng phương pháp thủy canh, tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước theo công nghệ của Israel ngày càng được mở rộng
Có thể nói, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật là giải pháp tất yếu để giúp sản xuất nông nghiệp thích ứng tốt với BĐKH, đạt hiệu quả kinh tế cao Một số biện pháp kỹ thuật tiên tiến được áp dụng giúp sản xuất rau ứng phó tốt với BĐKH bao gồm:
(1) Sử dụng cây giống gốc ghép kháng bệnh
Sử dụng cây giống gốc ghép kháng bệnh là tiến bộ kỹ thuật của thế giới
mà các nước và vùng lãnh thổ như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc… đầu tiên phát minh và ứng dụng công nghệ này
Hiện nay sử dụng cây giống gốc ghép được đánh giá như một tiến bộ kỹ thuật về chọn giống chống bệnh vì tạo ra được cây giống hoàn toàn kháng được bệnh sinh ra trong đất mà phần ngọn là giống được lựa chọn theo những đặc tính mà người sản xuất mong muốn cả về năng suất, chất lượng… Do vậy
sử dụng cây giống gốc ghép kháng bệnh được đánh giá là biện pháp chọn giống có hiệu quả mà thời gian thành công nhanh, mức độ ứng dụng trong sản xuất lại lớn hơn rất nhiều so với chọn giống kháng đơn thuần vì chọn giống kháng có thể thu được giống có khả năng kháng bệnh nhưng năng suất và chất lượng quả lại không đáp ứng được nhu cầu của sản xuất, trong khi đó sử dụng giống cây gốc ghép tích hợp được đầy đủ các ưu điểm cần thiết cho một giống tốt cho sản xuất thể hiện qua giống có khả năng kháng tốt với một hoặc một số bệnh nào đó sinh ra trong đất do cây gốc ghép quyết định Giống ngọn ghép là giống được người sản xuất lựa chọn theo mục đích
sử dụng có năng suất cao, chất lượng tốt, chịu nhiệt, chịu hạn… Ngoài ra, sử dụng cây gốc ghép giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, năng suất, chất lượng cao hơn hẳn so với cây không ghép và giúp sản xuất rau trái vụ nâng cao hiệu quả kinh tế gấp 1,5 - 2,0 lần sản xuất thông thường
Trang 26Công nghệ sử dụng cây giống gốc ghép được thực hiện thành công và phổ biến nhất trên cây cà chua, cây họ Bầu bí như dưa hấu, dưa chuột và hiện nay đang nghiên cứu trên cây ớt.
Trên cây cà chua sử dụng cây ghép giúp cây chống chịu với bệnh héo xanh vi khuẩn do Ralstonia solanacearum gây nên: Sử dụng gốc ghép cà chua
và gốc ghép cà tím Ngoài ưu điểm như phân tích ở trên mà cả 2 gốc ghép đều có được, giống gốc ghép cà tím còn giúp chịu úng rất tốt cho cây cà chua, giúp sản xuất cà chua trái vụ ở các tỉnh miền Bắc (có thể trồng từ tháng 7 dương lịch) cho hiệu quả kinh tế rất cao Sử dụng cây giống gốc ghép hiện đang được ứng dụng rộng rãi tại nước ta, trong khi tại Lâm Đồng chủ yếu sử dụng gốc ghép cà chua thì ở miền Bắc chủ yếu sử dụng gốc ghép cà tím để sản xuất cà chua trái vụ Gần đây gốc ghép cà chua đã được nghiên cứu thành công và dần được áp dụng trong sản xuất cà chua quanh năm và trái vụ ở các tỉnh miền Bắc, đặc biệt những vùng bệnh héo xanh vi khuẩn gây hại nặng.Trên cây họ Bầu bí (dưa hấu, dưa chuột) sử dụng cây gốc ghép giúp cây chống chịu được với bệnh do nấm Fusarium gây nên Gốc ghép chủ yếu là gốc bí ngô, gốc mướp tuy nhiên diện tích sản xuất ứng dụng kỹ thuật này ở nước ta chưa nhiều và đang trong giai đoạn nghiên cứu hoàn thiện quy trình
(2) Sản xuất cây con giống trên khay bầu, giá thể
Đối với các cây rau, một số nhóm rau có thể gieo trực tiếp trên đồng ruộng, tuy nhiên một phần lớn các cây rau phải trải qua giai đoạn vườn ươm
và trồng bằng cây giống Hạt giống rau được gieo vãi cho tỷ lệ cây sống thấp, chất lượng không đồng đều, thời gian sinh trưởng kéo dài, chi phí hạt giống lớn, đặc biệt là đối với hạt lai F1 dẫn đến chi phí sản xuất cao, giảm hiệu quả sản xuất Việc gieo cây giống để trồng sẽ khắc phục được các hạn chế trên Tuy nhiên, trước đây, việc ươm cây giống rau đều được các hộ nông dân sản xuất trực tiếp trên luống đất ngoài đồng ruộng, có phủ trấu và rơm rạ Do vậy,
sự sinh trưởng, thời gian và chất lượng của cây giống phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết như mưa, gió, nắng nóng, đất khô hạn, đất nhiễm phèn, đất nhiễm mặn Cùng với việc gia tăng chất lượng cây giống và ứng phó với BĐKH, hiện nay, nhiều vùng sản xuất rau đã rất chú trọng tới việc ươm cây
Trang 27giống Cây giống được sản xuất trong nhà ươm cây chuyên dụng, kết hợp với việc sử dụng khay ươm và giá thể phù hợp đã sản xuất được cây giống chất lượng cao Tại Lâm Đồng, hiện nay với diện tích trên 60 nghìn ha sản xuất rau đều sử dụng cây giống để trồng Các tỉnh/thành khác đã dần dần thay đổi tập quán sản xuất cây giống rau truyền thống sang sản xuất trong nhà ươm, trên khay bầu giá, thể, hoặc trong vòm che
Sản xuất cây con giống trên khay bầu, giá thể trong điều kiện che chắn có những ưu điểm nổi bật như sau:
• Gieo cây giống rau trong nhà lưới có mái che sẽ chủ động được thời vụ, tránh được thời tiết bất lợi Sử dụng nhà lưới cách ly côn trùng sẽ hạn chế được sâu bệnh.
• Gieo hạt trên khay bầu sẽ tiết kiệm được lượng hạt giống, dễ dàng chăm sóc Cây giống khỏe, đồng đều, bộ rễ khỏe, không bị đứt rễ khi nhổ do vậy cây nhanh bén rễ hồi xanh sau trồng, rút ngắn được thời gian sinh trưởng
• Tỷ lệ cây xuất vườn cao nên giá thành cây giống thấp, các nguyên liệu làm giá thể có sẵn tại địa phương
• Các loại giá thể ươm cây: Xơ dừa, phân chuồng mục, đất sạch và một số loại phân đa lượng khác là những nguyên liệu sẵn có rất dễ sử dụng do vậy chủ động được các yếu tố đầu vào
(3) Kỹ thuật che phủ mặt luống
Vật liệu che phủ mặt luống gồm: Màng phủ nông nghiệp hai mặt (mặt ánh bạc lên trên và mặt đen ở dưới), rơm rạ, trấu, vật liệu hữu cơ
Sử dụng màng phủ nông nghiệp có một số ưu điểm gồm: Hạn chế cỏ dại
và tăng cường khả năng quang hợp của rau (mặt xám bạc phản chiếu ánh sáng); Giữ ẩm, giữ ấm, hạn chế rửa trôi dinh dưỡng, hạn chế sự xói mòn, giữ cho đất tơi xốp giúp cho bộ rễ cây phát triển lan rộng khắp mặt luống; Hạn chế côn trùng gây hại: Màu xám bạc của màng phủ có tác dụng xua đuổi côn trùng môi giới truyền bệnh virus, rệp, bọ phấn Hạn chế việc cư trú của sâu trưởng thành lẩn trốn dưới đất lên cắn phá cây rau vào ban đêm; Hạn chế bệnh hại: Màng phủ cách ly mầm bệnh tấn công từ đất hay từ rơm, rạ lên
Trang 28cây, bề mặt màng phủ khô nhanh sau khi mưa, bộ lá gốc luôn khô ráo, không thuận lợi cho nấm bệnh phát triển nên giảm được bệnh sinh ra từ đất Tuy nhiên, màng phủ nông nghiệp có nhược điểm là cần có vốn đầu tư và việc thải nylon sẽ gây ô nhiễm môi trường.
(4) Công nghệ sản xuất rau trong nhà màng/nhà lưới
Sản xuất rau trong nhà màng/nhà lưới mang nhiều lợi ích so với phương pháp trồng thông dụng ngoài tự nhiên như: ngăn chặn sự xâm nhập của một
số loại côn trùng, bệnh hại nên ít cần sử dụng thuốc trừ sâu độc hại, hoặc chỉ dùng một lượng rất ít ở giai đoạn nhất định Khắc phục sự bất lợi của thời tiết như nắng, mưa, sương muối, lạnh… Vì vậy có thể tổ chức sản xuất quanh năm, rải vụ theo kế hoạch và nhu cầu thị trường
- Sản xuất rau trong nhà màng/nhà lưới tiêu chuẩn: Thường được áp dụng với sản xuất các loại rau có năng suất và hiệu quả kinh tế cao như cà chua, dưa chuột, dưa lưới, ớt ngọt
Thường ưu tiên ứng dụng công nghệ trồng cây trên túi bầu giá thể, sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt kết hợp bón phân theo hướng công nghệ cao,
do vậy có thể sản xuất được rau trong điều kiện đất xấu nhiều sỏi đá, đất cát, đất không có chất dinh dưỡng
- Sản xuất rau trong nhà Shefter (vòm che cao): Thường được áp dụng với sản xuất các loại rau có năng suất và hiệu quả kinh tế cao như cà chua, dưa chuột, ớt ngọt với những giống sinh trưởng bán hữu hạn, có chiều cao trung bình
Với loại hình này, cây thường được trồng trực tiếp trên nền đất có phủ màng phủ nông nghiệp và sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt kết hợp bón phân.Ngoài sử dụng để sản xuất rau thương phẩm, sử dụng nhà màng, nhà lưới là điều kiện lý tưởng để sản xuất hạt giống, đặc biệt sản xuất hạt giống rau lai F1, một loại hình sản xuất siêu lợi nhuận
(5) Sử dụng phân bón, dinh dưỡng hợp lý cho cây rau
Bón phân cân đối, hợp lý, đúng giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây
là rất quan trọng đặc biệt đối với sản xuất các loại rau ăn quả Bón phân quá
Trang 29thừa làm cây phát triển bộ phận sinh trưởng sinh dưỡng quá mạnh làm giảm
tỷ lệ đậu quả thậm chí không đậu quả được, ngược lại bón quá ít phân làm cây sinh trưởng kém, năng suất giảm Tương tự cung cấp thừa hoặc thiếu một loại phân nào đó cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây.Theo Cục Khuyến nông, Khuyến lâm (1999), ”Bón phân cân đối được hiểu
là cung cấp cho cây trồng đúng các chất dinh dưỡng thiết yếu, đủ liều lượng,
tỷ lệ thích hợp, thời gian bón hợp lý cho từng đối tượng cây trồng, đất, mùa
vụ cụ thể, đảm bảo năng suất”, “Bón phân hợp lý là sử dụng lượng phân bón thích hợp cho cây đảm bảo tăng năng suất cây trồng với hiệu quả kinh tế cao nhất, không để lại các hậu quả tiêu cực lên nông sản và môi trường sinh thái”. Nói cách khác, bón phân hợp lý là thực hiện 5 đúng và 1 cân đối: (i) Bón đúng phân, (ii) đúng lúc, (iii) đúng đối tượng, (iv) đúng thời tiết, mùa vụ và (v) đúng cách Bón phân không cân đối không những không phát huy được tác dụng tốt của các loại phân, gây lãng phí mà còn có thể gây ra những tác dụng không tốt đối với năng suất, chất lượng cây trồng và môi trường Bón phân cân đối có các tác dụng tốt là: i) Ổn định và cải thiện độ phì nhiêu của đất, bảo vệ đất chống rửa trôi, xói mòn; ii) Tăng năng suất cây trồng, nâng cao hiệu quả của phân bón và của các biện pháp kỹ thuật canh tác khác; iii) Tăng phẩm chất nông sản và; iv) Bảo vệ nguồn nước, hạn chế chất thải độc hại gây
ô nhiễm môi trường
Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay, phân bón lá được nông dân sử dụng khá phổ biến nhất là ở các vùng chuyên canh rau màu Phân bón lá có tác dụng kích thích sinh trưởng, tăng khả năng đâm chồi, đẻ nhánh, ra hoa, đậu quả, tăng năng suất, chất lượng nông sản, kéo dài thời gian bảo quản… Nếu so với phân bón gốc thì phân bón lá có giá thành rẻ hơn, sản phẩm
đa dạng về chủng loại Sản phẩm phân bón lá tương đối đa dạng về thành phần và chủng loại, thành phần pha chế khác nhau thì hiệu quả tác dụng của sản phẩm khác nhau, có sản phẩm chuyên biệt cho từng cây trồng, có sản phẩm chỉ dùng cho từng giai đoạn sinh trưởng Do đó, cần tránh sử dụng sai loại phân, phun không đúng liều lượng, không đúng chủng loại cây trồng… không những hiệu quả phun không cao, gây lãng phí, tốn kém mà còn có thể
Trang 30dẫn tới cháy lá, rụng hoa, rụng quả, dị dạng… Thành phần dinh dưỡng của phân bón lá ngoài các nguyên tố đa lượng, trung lượng như đạm, lân, kali, canxi, lưu huỳnh, còn có thêm các nguyên tố vi lượng, các chất điều hoà sinh trưởng, các vitamin A, B, C… và vi sinh vật có lợi cho đất.
Mặc dù cần với hàm lượng rất ít, nhưng các nguyên tố vi lượng lại có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng nông sản phẩm, đặc biệt các loại rau ăn quả như cà chua, dưa chuột lại có nhu cầu cao với các loại phân vi lượng giúp tăng chất lượng, mẫu mã sản phẩm Trên thực tế, do quá trình canh tác lâu năm và việc bổ sung các nguyên tố vi lượng vào đất thường
ít được người dân quan tâm, nên đất nông nghiệp cơ bản đang bị thiếu các nguyên tố vi lượng Vì vậy, khi phun phân bón lá trên những chân đất bị thiếu hụt hoặc không có nguyên tố vi lượng nào đó, hoặc khi bộ rễ bị tổn thương, khả năng hấp thu dinh dưỡng kém thì hiệu lực của phân bón lá cao hơn Phun phân bón lá chủ yếu để bổ sung dinh dưỡng, không thể cung cấp toàn
bộ nhu cầu dinh dưỡng trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng Chính vì vậy, phân bón lá không thể thay thế được phân bón gốc Bón phân vào đất vẫn là biện pháp bón phân chủ yếu và chỉ nên phun phân bón lá ở những thời điểm cần thiết
(6) Ứng dụng nông nghiệp hữu cơ
Sản xuất và tiêu dùng rau hữu cơ đang trở thành một xu hướng phổ biến trên thế giới cũng như ở nước ta Rau hữu cơ phải được sản xuất phù hợp với các nguyên tắc và yêu cầu của Nông nghiệp hữu cơ Với yêu cầu trong quá trình sản xuất hữu cơ các vật tư đầu vào được kiểm soát chặt chẽ bao gồm: Không sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ, chất kích thích sinh trưởng, các chất phụ gia làm hại cho người và môi trường, phá hủy độ phì nhiêu của đất; Sử dụng các biện pháp sinh học như: Các chế phẩm sinh học, phân sinh học, phân hữu cơ, các chất bảo vệ thực vật, sinh học để khống chế sâu bệnh, cỏ dại… tạo dựng độ phì nhiêu cho đất; Không sử dụng sinh vật biến đổi gen (GMO); Bảo vệ sản phẩm khỏi bất kỳ sự ô nhiễm nào và chỉ sử dụng các thành phần tự nhiên trong quá trình sản xuất Với sự tuân thủ quy trình sản xuất nghiêm ngặt, được kiểm soát và đánh giá kỹ lưỡng, rau hữu cơ
Trang 31là sản phẩm đảm bảo chất lượng, giàu dinh dưỡng và an toàn cho sức khỏe của người sử dụng.
Sản xuất hữu cơ cũng là giải pháp quan trọng không những để tạo ra nguồn thực phẩm sạch, có chất lượng mà còn giúp khôi phục hệ sinh thái đất, nước, môi trường tự nhiên giúp chống BĐKH
(7) Quản lý dịch hại cây rau
Các biện pháp kỹ thuật phòng trừ, quản lý dịch hại cũng đã được các cơ quan nghiên cứu quan tâm theo hướng quản lý cây trồng tổng hợp ICM và quản lý dịch hại tổng hợp IPM
Sử dụng giống kháng bệnh là giải pháp quan trọng trong phòng trừ dịch hại ứng phó với BĐKH
Bên cạnh đó, việc sử dụng các chế phẩm hữu cơ, sản phẩm sinh học an toàn cho người sản xuất, người tiêu dùng và thân thiện môi trường, bảo vệ các loài ký sinh, thiên địch, giữ cân bằng hệ sinh thái, hạn chế sự phát sinh các loài dịch bệnh mới cũng là giải pháp giúp cây trồng thích ứng với BĐKH
(8) Sử dụng nước hợp lý trong canh tác
Để ứng phó BĐKH, tuỳ điều kiện vùng trồng cần đưa ra biện pháp kỹ thuật canh tác và sử dụng biện pháp tưới nước hợp lý cho rau nhằm tận dụng tốt nhất nguồn tài nguyên nước cũng như tiết kiệm nguồn tài nguyên nước.Các hình thức tưới nước hợp lý được khuyến cáo áp dụng trong sản xuất rau ăn quả gồm:
Sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt kết hợp với bón phân: Chủ yếu áp dụng ở những vùng khô hạn, xa nguồn nước hoặc thiếu nước Biện pháp tưới này thích hợp cho những mô hình sản xuất rau theo hướng công nghệ cao, các doanh nghiệp, HTX hoặc hộ gia đình sản xuất rau có điều kiện về tài chính
để đầu tư cơ sở hạ tầng, thiết bị tưới Hình thức tưới này có rất nhiều ưu điểm như tiết kiệm phần lớn công lao động, lượng nước tưới, kiểm soát và tiết kiệm được phân bón, giảm phát thải khí nhà kính bảo vệ môi trường đồng thời tăng năng suất, ổn định và đảm bảo chất lượng sản phẩm, mang lại hiệu quả kinh tế cho sản xuất
Trang 32Đối với hệ thống tưới nhỏ giọt kết hợp bón phân, thông qua hệ thống lọc
và châm phân bón, lượng phân bón đa lượng (đạm, kali, ), vi lượng sẽ được cấp tới tận gốc cho cây trồng khi đã được hòa tan Lượng phân bón được cấp vừa đủ cho nhu cầu sinh trưởng của cây trồng từng giai đoạn sinh trưởng, giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, cân đối, hạn chế phát sinh sâu bệnh hại, hạn chế thất thoát so với bón theo phương pháp truyền thống
Tưới rãnh, tưới tự chảy, tưới bơm nước cầm tay: Áp dụng cho tất cả các cây rau nói chung, rau ăn quả nói riêng Biện pháp này thường ứng dụng với khu sản xuất có nguồn nước tốt, gần và có hệ thống mương tưới, mương tiêu thuận lợi
1.2 Luận giải sự cần thiết phải soạn thảo Tài liệu Hướng dẫn gói kỹ thuật canh tác thích ứng với BĐKH trên một số loại rau ăn quả
Như đã phân tích ở trên, sản xuất rau có vị trí quan trọng và không thể thiếu trong nông nghiệp Việt Nam Rau xanh vừa là nguồn thực phẩm cho mỗi bữa ăn hàng ngày với yêu cầu ngày càng tăng, vừa là nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và là mặt hàng nông sản xuất khẩu có tiềm năng cùng lợi thế so sánh cao
Trong ngành sản xuất rau, các loại rau ăn quả như cà chua, dưa chuột, ớt cay, mướp, là những loại rau có diện tích sản xuất hàng hoá lớn, năng suất trên đơn vị diện tích cao, có giá trị dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế cao phục
vụ cho nội tiêu và xuất khẩu, được xếp vào nhóm rau chủ lực
BĐKH thời gian qua đã tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp nói chung, sản xuất rau nói riêng khiến cây trồng giảm năng suất, chất lượng, thậm chí thất thu, đòi hỏi cần có những giải pháp ứng phó, bảo đảm hiệu quả canh tác Gói kỹ thuật canh tác phù hợp là một trong những giải pháp quan trọng giúp cây trồng ứng phó với BĐKH, sinh trưởng phát triển tốt mang lại hiệu quả kinh tế cho người sản xuất Do vậy việc biên soạn và phổ biến bộ tài liệu này là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay
Để xác định được những giải pháp kỹ thuật ngăn chặn và giảm thiểu tác động của BĐKH trên một số loại rau ăn quả trước hết chúng ta cần phải nhận
Trang 33diện được BĐKH tác động đến cái gì, tác động vào đâu trong toàn bộ quá trình sản xuất, đồng thời cũng cần nhận diện được các tác động chủ yếu của BĐKH đối với cây rau gồm những tác nhân nào để đưa ra giải pháp ứng phó
hợp lý Các tác động chủ yếu của BĐKH đối với sản xuất các loại rau nói trên
bao gồm:
Nhiệt độ tăng quá cao hoặc giảm quá thấp
Lượng mưa tăng quá cao hoặc giảm quá thấp
Cường độ ánh sáng tăng quá cao hoặc giảm quá thấp
Ẩm độ không khí và ẩm độ đất tăng quá cao hoặc giảm quá thấp
Dựa trên những kết quả nghiên cứu về các biện pháp ứng phó với BĐKH trên thế giới và trong nước, nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được thực hiện và áp dụng thành công ở nước ta những năm gần đây, kết quả thực hiện các mô hình CSA trên cây rau thuộc Dự án WB 7 thực hiện tại các tỉnh, nhóm tư vấn biên soạn “Tài liệu Hướng dẫn gói kỹ thuật canh tác thích ứng với BĐKH trên một số loại rau ăn quả (cà chua, dưa chuột, ớt cay, lặc lày, mướp)”
nhằm giúp người sản xuất có thể giảm rủi ro tới mức thấp nhất dưới tác động của BĐKH
Bản Tài liệu Hướng dẫn này tập trung vào các giải pháp, biện pháp ngăn chặn, giảm thiểu các tác động của BĐKH tới quá trình sản xuất một số loại rau
ăn quả, từ khâu chuẩn bị đất trồng, trồng cây, chăm sóc, bảo vệ thực vật đến khâu thu hoạch và xử lý sau thu hoạch
Tài liệu này cung cấp cho bạn đọc kỹ thuật canh tác cụ thể có tính chuẩn hóa về các thực hành Nông nghiệp thông minh thích ứng với BĐKH (CSA) trên một số loại rau ăn quả, được trình bày chi tiết trong từng nội dung của Tài liệu Hướng dẫn và phần phụ lục đi kèm với các nội dung sau đây:
- Hướng dẫn thiết kế vùng canh tác cây trồng thích ứng với BĐKH.+ Chọn đất, vùng trồng
+ Yêu cầu về nước tưới
+ Hướng dẫn chuẩn bị nhà trồng cây: Áp dụng cho sản xuất rau theo công nghệ cao, sản xuất trái vụ trong nhà shefter-vòm cao
Trang 34- Hướng dẫn thực hiện gói kỹ thuật canh tác thích ứng với BĐKH.
+ Giống và sản xuất cây giống
+ Sản xuất rau thương phẩm (Thời vụ; Chuẩn bị đất và cải tạo đất; Hướng dẫn kỹ thuật trồng cây; Phân bón và chất phụ gia; Tưới nước; Chăm sóc; Hướng dẫn phòng trừ sâu bệnh hại; Hướng dẫn thu hoạch; Hướng dẫn xử lý chất thải sau thu hoạch)
2 NHỮNG VẤN ĐỀ KHCN CÒN TỒN TẠI, HẠN CHẾ CỦA SẢN PHẨM CÔNG NGHỆ NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC GIẢI PHÁP CẦN GIẢI QUYẾT Ở NHIỆM
VỤ NÀY
2.1 Về giống
Với các loại rau ăn quả đặc biệt là các loại rau có diện tích sản xuất hàng hoá lớn, giá trị kinh tế cao đặc biệt có nhu cầu tiêu thụ lớn phục vụ không những cho tiêu dùng trong nước mà còn có giá trị xuất khẩu cao, là các loại rau chủ lực quan trọng trên cả thế giới và Việt Nam như cà chua, dưa chuột,
ớt cay chủ yếu sử dụng giống lai F1 do các công ty giống nước ngoài sản xuất
và phân phối, một lượng nhỏ do các viện, trường, công ty giống trong nước nghiên cứu, sản xuất
Hiện nay trên thị trường hạt giống rau trong nước hoạt động rất sôi nổi, được bán phổ biến, mỗi chủng loại cùng tồn tại rất nhiều giống, tên giống mới xuất hiện hàng năm, nhiều công ty cung cấp giống, các doanh nghiệp lớn và đơn vị cá nhân nhỏ lẻ cung cấp giống Do vậy, người dân rất khó lựa chọn được giống tốt, giống phù hợp với điều kiện sinh thái đặc biệt trong bối cảnh BĐKH ngày càng gay gắt như nắng nóng, mưa nhiều, sâu bệnh gây hại nặng Do vậy, cần có khuyến cáo, hướng dẫn người dân lựa chọn giống phù hợp với từng mùa vụ, từng địa phương
2.2 Biện pháp kỹ thuật canh tác
Hiện nay có rất nhiều tiến bộ kỹ thuật đã được nghiên cứu và thử nghiệm thành công, có tác dụng tốt trong sản xuất và giúp ứng phó với BĐKH Tuy nhiên, khả năng áp dụng và nhân rộng các TBKT này còn hạn chế, chưa đáp
Trang 35ứng được nhu cầu thực tiễn sản xuất một phần do người dân chưa đủ tiềm lực kinh tế để ứng dụng TBKT mà chỉ dừng lại ở dạng mô hình khi có dự án hoặc khi được hỗ trợ từ các cơ quan, tổ chức.
Một phần người dân có thể áp dụng TBKT nhưng không biết tìm mua ở đâu hoặc không có đơn vị chuyển giao nên áp dụng chưa đúng dẫn đến hiệu quả áp dụng chưa cao Một số sản phẩm khoa học công nghệ được đánh giá khá tốt, tuy nhiên không được phát triển, ứng dụng ngoài sản xuất mà chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu, thử nghiệm do thiếu sự liên kết giữa các đơn
vị nghiên cứu và đơn vị sản xuất kinh doanh Do vậy rất cần có sự liên kết chặt chẽ giữa đơn vị nghiên cứu, các doanh nghiệp cung ứng phân phối sản phẩm, đơn vị chuyển giao, các trung tâm khuyến nông để đưa TBKT được áp dụng trong sản xuất
Một số biện pháp kỹ thuật có hiệu quả tốt trong việc ứng phó với BĐKH, tuy nhiên chi phí còn cao, không phổ biến nên cũng có nhiều hạn chế trong việc mở rộng phát triển mà chỉ dành cho những người có đủ tiềm lực về tài chính như việc sản xuất rau theo công nghệ cao trong nhà lưới, nhà màng,
sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt Hơn nữa hiện nay khi BĐKH ngày càng khốc liệt thì chính việc sử dụng nhà kính nhà màng cũng là nguyên nhân dẫn đến hiệu ứng nhà kính, tăng phát thải khí nhà kính, gây ô nhiễm môi trường, gây hiện tượng lũ lụt nếu sử dụng với quy mô quá lớn (Hiện tượng đang xảy ra ở vùng chuyên canh rau Đà Lạt, Lâm Đồng) lại là tác nhân làm gia tăng BĐKH Trong thực tế nhiều vùng sử dụng phân bón không cân đối, dùng nhiều phân vô cơ, ít sử dụng phân hữu cơ, phân bón vi sinh, do vậy việc cải tạo đất chưa được quan tâm, dẫn đến đất bị chai cứng, bạc màu và phèn hóa,…
Về áp dụng kỹ thuật tưới tiến tiến, tiết kiệm như: Tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt còn hạn chế do chi phí đầu tư lớn Hiện nhiều nơi chủ yếu áp dụng kỹ thuật tưới rãnh, tưới tràn gây lãng phí nguồn nước
Sử dụng thuốc BVTV còn chưa tuân thủ nguyên tắc 4 đúng, đặc biệt về việc lựa chọn đúng thuốc và phun đúng thời điểm của người sản xuất nên hiệu quả phòng trừ sâu bệnh chưa cao Số lần sử dụng thuốc BVTV nhiều gây lãng phí và có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, mất an toàn VSTP.
Trang 36Bên cạnh đó, sử dụng nhiều thuốc trừ cỏ vẫn còn bị lạm dụng tại nhiều vùng sản xuất rau, do vậy đã ảnh hưởng rất lớn đến người sản xuất, người tiêu dùng và môi trường canh tác, đặc biệt đối với các cây rau ngắn ngày.Các quy trình kỹ thuật canh tác của các loại rau mới chỉ là quy trình canh tác cơ bản hoặc quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP chưa có hướng dẫn ứng phó với BĐKH Do vậy, cần có sự đánh giá kết quả áp dụng các quy trình kỹ thuật từ thực tiễn sản xuất, kinh nghiệm thực tiễn sản xuất và kết quả các mô hình có hiệu quả trong sản xuất ứng phó với BĐKH để xây dựng tài liệu hướng dẫn gói kỹ thuật canh tác cho cây rau ăn quả, thích ứng với BĐKH trong giai đoạn hiện nay.
3 CÁCH TIẾP CẬN
3.1 Phương pháp tiếp cận theo hệ sinh thái
Sản xuất rau an toàn bền vững theo hướng tiếp cận hệ sinh thái nhằm giải quyết các vấn đề liên quan tới đất, quản lý tài nguyên nước, hạn chế
sử dụng hoá chất nông nghiệp và ảnh hưởng của BĐKH trong sản xuất Mô hình canh tác rau an toàn bền vững đảm bảo 4 yếu tố: Bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo thu nhập của người sản xuất, an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo vệ môi trường
3.3 Phương pháp tiếp cận kế thừa
Để có được các biện pháp kỹ thuật canh tác rau an toàn hiệu quả, thích ứng với BĐKH trong sản xuất đòi hỏi chúng ta phải kế thừa, chắt lọc toàn
Trang 37bộ những kết quả nghiên cứu của các tác giả, những công trình đã công bố
về thực hành nông nghiệp thích ứng với BĐKH , thực hành sản xuất nông nghiệp tốt GAP trên cây rau, học tập và phát triển những mô hình sản xuất phù hợp, có hiệu quả được người sản xuất rau trên cả nước và thế giới đã áp dụng, tổng kết rút kinh nghiệm từ các mô hình CSA thuộc Dự án WB 7 đã thực hiện tại các tỉnh trên cây rau
3.4 Phương pháp tiếp cận theo chuỗi giá trị
Bộ tài liệu hướng dẫn gói kỹ thuật canh tác một số loại rau ăn quả thích
ứng với BĐKH cần phân tích tính dễ bị tổn thương với thời tiết bất thuận/ BĐKH của từng công đoạn/giai đoạn và của toàn chuỗi trong quá trình sản
xuất rau; đồng thời đánh giá năng lực thích ứng với BĐKH của từng tác nhân trong chuỗi làm căn cứ cho việc xây dựng các giải pháp thích ứng phù hợp
Trang 384 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ÁP DỤNG GÓI KỸ THUẬT CANH TÁC THÍCH ỨNG VỚI BĐKH TRÊN MỘT SỐ LOẠI RAU ĂN QUẢ (CÀ CHUA, DƯA CHUỘT,
ỚT CAY, LẶC LÀY, MƯỚP)
4.1 Kết quả Thực hành CSA thuộc Dự án WB 7
4.1.1 Nội dung thực hiện
Mô hình sản xuất nông nghiệp thông minh thích ứng với BĐKH trên cây rau được thực hiện tại các tỉnh như Hoà Bình, Phú Thọ, Hà Giang, Thanh Hoá,
Hà Tĩnh, Quảng Trị, Quảng Ngãi trong đó cà chua, lặc lày được thực hiện tại Hoà Bình, Phú Thọ, ớt cay chủ yếu được thực hiện tại Thanh Hoá, một diện tích nhỏ thực hiện tại Hà Tĩnh, mướp được thực hiện tại Thanh Hoá
Bảng 1 Tóm tắt các hệ thống CSA xây dựng tại các tỉnh
TT Tỉnh Tên mô hình CSA, quy mô, địa điểm thực hiện
1 Quảng Nam 02 mô hình “Cánh đồng lớn sản xuất rau, màu an toàn áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm trên hệ thống canh tác đất cây trồng cạn” tại các huyện Phú
Ninh và Đại Lộc
2 Quảng Trị 01 mô hình “Sản xuất rau an toàn áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm” tại phường Đông Thanh (TP Đông Hà) Tổng diện tích 2,03 ha Tổng số hộ tham gia 26 hộ
3 Hà Tĩnh 01 hệ thống CSA “Chuyên canh sản xuất rau, củ quả ứng dụng công nghệ cao” tại xã Tượng Sơn, huyện Thạch Hà Tổng diện tích 12,5 ha Tổng số
hộ tham gia 76 hộ
4 Thanh Hóa 01 mô hình CSA ớt xã Yên Phong, huyện Yên Định Tổng diện tích 40 ha
5 Hòa Bình 01 mô hình “Sản xuất rau an toàn” tại huyện Lương Sơn Tổng diện tích 9,51 ha Tổng số hộ tham gia 26 hộ
6 Phú Thọ 01 mô hình “Sản xuất rau, màu an toàn áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm theo hướng cánh đồng mẫu lớn” thuộc xã Tu Vũ, huyện Thanh Thủy Tổng
diện tích 20,83 ha Tổng số hộ tham gia 64 hộ
7 Hà Giang 01 mô hình “CSA thâm canh bền vững sản xuất rau an toàn cấp nông hộ” tại xã Hữu Vinh, huyện Yên Minh Tổng diện tích 1,8 ha Tổng số hộ tham
gia 26 hộ
Trang 394.1.2 Phương pháp thực hiện
Các mô hình CSA được triển khai theo phương pháp khuyến nông có sự tham gia của người nông dân, trong đó nông hộ tham gia về công lao động trực tiếp Dự án hỗ trợ kỹ thuật từ 75% đến 100% thiết bị, máy móc, dụng cụ;
từ 50% đến 100% vật tư triển khai (Phân N, P, K, thuốc BVTV, phân vi lượng), toàn bộ sản phẩm thu được nông hộ hưởng lợi
Việc triển khai xây dựng mô hình có sự tham gia của chính quyền, đoàn thể tại địa phương, thông qua công tác truyên tuyền vận động thực hiện chủ trương của dự án, giám sát kết quả thực hiện và tuyên truyền nhân rộng kết quả của mô hình
Việc xây dựng mô hình thường được tiến hành qua một số bước sau:
- Bước 1: Tiến hành tham vấn, thiết kế mô hình, xây dựng kế hoạch thực hiện mô hình.
- Bước 2: Công khai mục tiêu, nội dung và mức độ đầu tư của dự án và trách nhiệm vốn đối ứng của nông dân tham gia đến các hộ nông dân và chính quyền sở tại.
- Bước 3: Cán bộ kỹ thuật tiến hành hướng dẫn kỹ thuật cho các hộ nông dân và cùng với họ lên kế hoạch triển khai và chăm sóc: Lịch chăm sóc mô hình dựa trên cơ sở các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây trồng.
- Bước 4: Các hộ tham gia mô hình được nhận vật tư tương ứng theo định mức để thực hiện mô hình
- Bước 5: Cán bộ kỹ thuật thường xuyên đi thăm mô hình Các lần theo dõi được tiến hành vào các thời điểm sau: Khi làm cỏ kết hợp bón phân; các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây, chuẩn bị thu hoạch; hoặc khi có yêu cầu của nông dân thực hiện đến xem xét những hiện tượng bất thường nảy sinh trên đồng ruộng Thông qua các buổi đi thăm cán bộ kỹ thuật và nông hộ đánh giá, nhận định và đưa ra các giải pháp chăm sóc phù hợp
- Bước 6: Trên cơ sở kết quả thực hiện mô hình cùng với hộ nông dân tiến hành đánh giá những ưu và khuyết điểm và kết quả đạt được của mô hình
Trang 40Lập kế hoạch và triển khai nhân rộng mô hình đồng thời quảng bá, tuyên truyền, lan tỏa hiệu ích mô hình, dự án.
* Công trình đầu mối
- Trạm bơm cấp 1 bơm nước từ Sông Đà đẩy nước vào đường ống HDPE D140 về bể trữ nước; công suất máy bơm Q = 60 m3/h, H = 25 m, P= 7,5 KW
- Bể trữ nước 700 m3 kết cấu bằng bê-tông thành mỏng, xây dựng ở khu trung tâm Tại đây xây dựng trạm bơm cấp 2 kích thước B x L x H = 9 x 4,5 x 3,2 m kết cấu tường gạch xây mái lợp tôn (có 5 máy bơm có P = 15 KW, Q =
97 m3/h, H = 31 m)
* Hệ thống đường ống tưới và khu tưới mặt ruộng
Lắp đặt hệ thống đường ống dẫn nước tưới HDPE gồm 2.160 m ống HDPE D152; 593 m ống HDPE D110; 2.674 m ống HDPE D90 và hệ thống tưới nhỏ giọt, phun mưa
* Công trình phụ trợ
- Khu nhà sơ chế có tổng diện tích 920 m2 được xây tường rào bao quanh, trong đó bao gồm dãy nhà 1 tầng làm phòng sơ chế kết hợp kho lạnh và phòng làm việc với tổng diện tích 147 m2 (dài 24,5 m, rộng 6 m), tường xây gạch không nung vữa XM M75 kết hợp khung cột BTCT M200 Gian sơ chế có diện tích 100,2 m2, kho lạnh và phòng làm việc mỗi phòng có diện tích 19,3 m2 Gian sơ chế bố trí 3 bộ bàn sơ chế và bồn sục rửa rau
- Ngoài ra, trong khuôn viên khu sơ chế còn bố trí phòng bếp và khu vệ sinh cho cán bộ, diện tích bếp và khu phụ 13,50 m2 Bố trí bể lọc và bể chứa nước trên nóc nhà vệ sinh Nước sau khi qua bể lọc có thể sử dụng để rửa rau