1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN TÌM HIỂU NỀN GIÁO DỤC SINGAPORE QUAN HỆ HỢP TÁC SINGAPORE - VIỆT NAM

51 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề tài Thảo luận Tìm hiểu Nền Giáo dục Singapore Quan Hệ Hợp Tác Singapore - Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thành Được, Trần Thái Vương, Nguyệt Võ Trung Kiên, Lê Xuân Dũng, Trần Thế Tùng, Hà Thị Diễm, Đoàn Công Lịnh, Phạm Hoàng Dũng, Ao Văn Tường, Phạm Hải Chiến, Nguyễn Thị Bích Nguyên, Trần Văn Việt, Trương Nhật Quỳnh, Lềnh Hấm Sô
Người hướng dẫn PGS. TS. Phạm Lan Hương
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính sách giáo dục và quan hệ quốc tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2013
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thốngnhất chuẩn và là một phần của công cuộc xây dựng đất nước, Bộ Giáo dục đã đưa nhàtrường vào một hệ thống quốc gia với chương trình học tập chung, trong khi vẫn chophép các trường

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -ĐỀ TÀI THẢO LUẬN

TÌM HIỂU NỀN GIÁO DỤC SINGAPOREQUAN HỆ HỢP TÁC SINGAPORE - VIỆT NAM

GVHD: PGS TS Phạm Lan Hương

NHÓM 6:

Nguyễn Thị Bích Nguyên Trần Văn Việt

Trang 4

Tóm tắt đề tài i

Lời nói đầu ii

Giới thiệu iii

MỤC LỤC v

1 Tìm hiểu nền giáo dục Singapore 1

1.1 Sơ lược lịch sử phát triển nền giáo dục Singapore 1

1.2 Cấu trúc hệ thống giáo dục ở Singapore 4

1.3 Các vấn đề chung của giáo dục Singapore 4

1.4 Kinh nghiệm đổi mới và hội nhập giáo dục ở Singapore 7

1.5 Kết luận chương 1 10

2 Quan hệ Singapore-Việt Nam và cơ hội hợp tác 11

2.1 Lịch sử phát triển quan hệ Singapore – Việt Nam 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 5

Chương 1Tìm hiểu nền giáo dục Singapore1.1 Sơ lược lịch sử phát triển nền giáo dục Singapore

Nước Cộng hòa Singapore là quốc gia nhỏ nhất Đông Nam Á với diện tích chỉkhoảng 710 km2 và dân số khoảng trên 4,8 triệu người [1] Vốn là một làng chài cá ởphía nam quần đảo Mã Lai, Singapore trở thành thuộc địa của Anh từ thế kỷ 19, giànhquyền tự trị vào năm 1959 và trở thành quốc gia độc lập thuộc Khối thịnh vượngchung từ năm 1965 [2] Chính vì vậy tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến ở đảo quốc này.Quá trình phát triển giáo dục Singapore tính từ 1959 đến nay được chia ra làm nhiềugiai đoạn với những phương châm cải cách giáo dục riêng

1.1.1. Các giai đoạn cải cách giáo dục ở Singapore

Các giai đoạn cải cách giáo dục ở Singapore có thể được chia thành 4 giai đoạnnhư sau:

 Giáo dục để tồn tại (1959-1978)

 Giáo dục lấy hiệu quả làm động lực (1979-1996)

 Giáo dục lấy năng lực làm động lực (1997-2005)

 Giáo dục lấy đổi mới làm động lực (từ 2006)

Những giai đoạn khác nhau không tách rời mà tạo thành một chuỗi liên tục, thờiđiểm chỉ có ý nghĩa đánh dấu cho thuận tiện

1.1.2 Giáo dục để tồn tại (1959-1978)

Từ năm 1959 đến năm 1978, chính phủ non trẻ phải xây dựng một nền giáo dụcđại chúng để đáp ứng nhu cầu cấp bách là gắn kết quốc gia và phát triển kinh tế Đâychính là giai đoạn nền giáo dục được gọi là Giáo dục để tồn tại Tiếp theo nền tự trịvào năm 1959, Chính phủ đã kế thừa một hệ thống giáo dục đa dạng trong đó cáctrường sử dụng các ngôn ngữ khác nhau (tiếng Anh, tiếng Mã lai, tiếng Trung và tiếngTa-min) làm chuyên ngữ để giảng dạy nội dung chương trình rất khác nhau Để thốngnhất chuẩn và là một phần của công cuộc xây dựng đất nước, Bộ Giáo dục đã đưa nhàtrường vào một hệ thống quốc gia với chương trình học tập chung, trong khi vẫn chophép các trường giữ các ngôn ngữ khác nhau làm phương tiện giảng dạy Trong những

Trang 6

năm 1960 và 1970, một loạt các cải cách giáo dục được tiến hành để đảm bảo chuẩn và

sự bình đẳng tương đối giữa tất cả trường theo dòng tiếng Anh và 3 dòng trường khôngphải tiếng Anh (tiếng Mã-lai, tiếng Trung và Ta-min)

1.1.3 Giáo dục lấy hiệu quả làm động lực (1979-1996)

Năm 1979 chứng kiến một biến động lớn tiếp theo trong lịch sử giáo dụcSingapore Một ủy ban do TS Goh Keng Swee, lúc này là Phó Thủ tướng kiêm Bộtrưởng Bộ Quốc phòng, đứng đầu, tiến hành rà soát kỹ nền giáo dục Singapore Việc ràsoát của TS Goh khởi đầu cho một phong trào làm cho hệ thống giáo dục có hiệu quảbằng nhiều cách, trong đó có giảm lãng phí trong giáo dục Những thay đổi về phânluồng và chương trình học tập được đưa vào để phục vụ các nhóm học sinh có nănglực khác nhau đồng thời đề cao các giá trị giáo dục để khuyến khích sự gắn kết xã hộiqua học tập Việc này đánh dấu sự khởi đầu của kỷ nguyên Giáo dục lấy hiệu quả làmđộng lực Phương châm này đã thúc đẩy sự phân quyền phân cấp trong giáo dục, thayđổi về việc cấp bằng và chứng chỉ, mở rộng giáo dục kỹ thuật và dạy nghề, cải tiếngiáo dục đại học để đáp ứng và phù hợp hơn với yêu cầu của nền kinh tế đang biến đổinhanh chóng

1.1.4 Giáo dục lấy năng lực làm động lực (1997-2005)

Từ giữa những năm 1990, thế giới có những biến đổi lớn với sự phát triển mạnh

mẽ của công nghệ thông tin và xu hướng toàn cầu hóa Tầm nhìn cho học sinh ratrường là trở thành những người không những biết đọc, biết viết và biết tính toán màcòn có năng lực về công nghệ thông tin và kỹ năng giải quyết các vấn đề phức tạp củacuộc sống Triết lý giáo dục của Singapore đã chuyển sang một hướng mới là giáo dụclấy năng lực làm động lực

1.1.5 Giáo dục lấy đổi mới làm động lực (từ 2006)

Từ 2006, Singapore đã tiến hành những thay đổi ở tất cả các bậc học trong bốicảnh nền kinh tế tri thức với phương châm hướng đến chất lượng cao trong giáo dục.Những thay đổi này đã khởi đầu cho giai đoạn giáo dục lấy đổi mới làm động lực.1.2 Cấu trúc hệ thống giáo dục ở Singapore

Trang 7

Mục đích của nền giáo dục chính thống ở Singapore là trang bị cho thanh thiếuniên những kỹ năng kiếm sống, có giá trị đạo đức lành mạnh, và khi trưởng thành trởthành những con người có trách nhiệm và những công dân trung thành Quá trình họctập nhằm nuôi dưỡng những tố chất tốt nhất của mỗi trẻ, giúp cho từng em phát huy tối

đa tiềm năng của mình

Hiện nay, hệ thống học tập chủ yếu là tập trung giám sát khoảng 165 trườngtiểu học (trường công và trường được chính phủ hỗ trợ), 156 trường trung học, 12trường hỗn hợp đào tạo, 7 trường độc lập, 13 trường cao đẳng và 1 trường dự bị đạihọc tập trung Giáo dục tiểu học là bắt buộc, với tất cả trẻ em từ 6 tuổi Các em đượchưởng 10 năm giáo dục miễn phí: 6 năm ở bậc tiểu học và 4 năm ở bậc trung học.Giáo dục sau trung học chuyên về học thuật được đưa vào các trường cao đẳng và mộttrường dự bị đại học tập trung, trong khi đào tạo trực tiếp chuẩn bị cho thế giới việclàm được giao cho các cơ sở và các trường đào tạo thuộc Viện Giáo dục Kỹ thuật và 5trường kỹ thuật bách nghệ Hiện nay ở Singapore có 4 trường đại học Hệ thốngtrường học ở Singapore được xây dựng nhằm khuyến khích học sinh hoàn chỉnh ítnhất 10 năm giáo dục cơ sở trước khi bước vào thế giới việc làm

Mô hình giáo dục Singapore được tóm tắt trong sơ đồ sau trong đó phân biệtcác cấp học, và đặc thù của mỗi cấp học tương ứng

Trang 8

Hình 1.1 Mô hình giáo dục Singapore

Trang 9

1.2.1 Giáo dục tiểu học

Giáo dục tiểu học bao gồm 06 năm: 04 cơ bản (từ P1 đến P4) và 02 năm địnhhướng (P5 và P6) Giáo dục tiểu học là một giai đoạn trong việc giáo dục trẻ em Nóđặt nền tảng cho việc học và phát triển cuộc sống sau này của trẻ Học sinh tiểu hoc sẽđược học nhiều môn học và kỹ năng khác nhau Nhìn chung, mục đích của giáo dụctiểu học là nắm được kiến thức về Tiếng Anh, Tiếng mẹ đẻ và môn Toán

 Các môn học: Ngôn ngữ, Toán, Khoa học, Xã hội, Nghệ thuật, Thủ công và Nhạc

 Kỹ năng: Phát triển kỹ năng tư duy, kỹ năng xử lý và kỹ năng giao tiếp

 Phát triển tính cách: Thông qua các hoạt động ngoại khóa, giáo dục đạo đức, giáo dụcthể chất…

Khi hoàn thành xong 6 năm học, học sinh sẽ thi tốt nghiệp tiểu học PSLE(Primary School Leaving Examination) Học sinh quốc tế cũng có thể tham gia kỳ thitôt nghiệp tiểu học quốc tế do cục khảo thí Singapore tổ chức ở các nước (iPSLE –International Primary School Leaving Examination) Bộ giáo dục Singapore sẽ căn cứvào kết quả của bài thi tốt nghiệp tiểu học để xếp học sinh vào các trường trung họcphù hợp Khai giảng năm học mới vào tháng 1 hằng năm

Hình 1.2 Học sinh cấp tiểu học Singapore1.2.2 Giáo dục trung học cơ sở (Secondary Education)

Trang 10

Căn cứ vào kết quả kỳ thi tốt nghiệp tiểu học (PSLE), bộ giáo dục Singapore sẽxếp học sinh vào các trường trung học cơ sở phù hợp: Integrated Programme, Special,Express, Normal (Academic) hoặc Normal (Technical) Kết thúc khóa học, học sinh sẽthi lấy chứng chỉ “O” level (Ngoại trừ Integrated Programme) Chứng chỉ “O” levelđược sử dụng để xét và các trường dự bị đại học (Junior Colleges), học viện công lập(Polytechnics), viện đào tạo (Institutes), trường dạy nghề (Vocational).

Hình 1.3 Học sinh trung học cơ sở Singapore

 Integrated Programme (IP):

Những học sinh đạt kết quả xuất sắc, tốt sẽ có cơ hội được học hệ thống trườngliên thông từ trung học cơ sở cho đến dự bị đại học Thời gian học là 06 năm: 04 nămtrung học cơ sở và 02 năm dự bị đại học Học sinh theo học dòng trường này sẽ khôngphải thi “O” level Nghĩa là học sinh sẽ học liên tục cho tới khi thi chứng chỉ “A” levelkhi đã kết thúc chương trình học 06 năm

 Special/ Express schools:

Những học sinh đạt kết quả thi tốt sẽ được xếp vào dòng trường này Học sinh

sẽ học 04 năm từ Sec 1 đến Sec 4 (tương đương với lớp 7 đến lớp 10) Cuối cấp học

Trang 11

sinh sẽ tham dự cuộc thi “O” level (Ordinary Level) Kết quả của kỳ thi “O” level sẽ làcăn cứ để xét tuyển vào các chương trình giáo dục cao hơn.

 Normal schools (Academic/ Technical):

Những học sinh kém hơn, không đủ điều kiện vào Special/ Express/ Integratedprogramme sẽ phải tham gia học dòng trường Normal Đối với học sinh học dòngtrường này, các em phải học 05 năm Trong đó, học 04 năm đầu để lấy “N” level(Normal level) và học thêm 01 năm nữa để lấy “O” level

1.2.3 Dự bị đại học (Pre- University Education)

Hệ thống giáo dục sau trung học và đại học của Singapore gồm các trường caođẳng, các học viện tập trung, các viện giáo dục kỹ thuật, các trường kỹ thuật bách nghệ

Học sinh có chứng chỉ GCE “A” level sẽ được sử dụng kết quả này để nộp hồ

sơ vào các trường đại học công lập ở Singapore (NUS, NTU, SMU, SUTD), hoặc cáctrường đại học ở các nước khác như Anh, Mỹ, Úc, Thủy Điển,… hoặc các trường họcviện cộng lập,…

Trang 12

Hình 1.4 Học sinh trung học phổ thông Singapore1.2.4 Giáo dục sau trung học (Post –Secondary Education)

Giáo dục sau trung ở Singapore tương đương với các bậc giáo dục đại học, caođẳng hay trung cấp nghề tại Việt Nam

Viện Giáo dục kỹ thuật (ITE) là một trường sau bậc trung học nằm trong hệthống các trường cao đẳng nhằm trang bị cho học sinh tốt nghiệp trung học và ngườilớn các kỹ năng và kiến thức kỹ thuật để đáp ứng nhu cầu về nhân lực cho các ngành.ITE cung cấp nhiều chương trình đào tạo: đào tạo cơ bản toàn phần, các chương trìnhthực tập cho học sinh tốt nghiệp trung học, giáo dục và đào tạo thường xuyên cho côngnhân

Các trường kỹ thuật bách nghệ có xu hướng đào tạo kỹ năng thực hành với cácngành học như cơ khí, kinh doanh, kế toán, hàng hải, chăm sóc sức khỏe, công nghệsinh học, thiết kế phương tiện kỹ thuật số, khoa học ứng dụng, thiết kế sản phẩm vàtruyền thông Ngoài ra có các trường đại học tổng hợp có xu hướng đào tạo nghiên

Trang 13

cứu Riêng việc đào tạo và bồi dưỡng giáo viên cũng như cung cấp các chương trìnhgiáo dục khác được thực hiện tại Học viện giáo dục quốc gia thuộc Đại học Công nghệNanyang Sau khi có được bằng hoặc Chứng chỉ tại các trường này sinh viên mới cóthể học lên các bậc sau đại học.

1.2.4.1 Đại học (Universities)

Hiện nay Singapore có 04 trường đại học công lập:

 Đại học quốc gia Singapore (NUS – National University of Singapore)

 Đại học công nghệ Nanyang (NTU – Nanyang Technological University)

 Đại học quản lý Singapore (SMU – Singapore Management University)

 Đại học công nghệ và thiết kế Singapore (SUTD – Singapore University ofTechnology and Design)

Đại học quốc gia Singapore và Đại học công nghệ Nanyang là những trườngtiên phong trong việc đào tạo các chương trình đổi mới bao gồm chương trình đào tạo

cử nhân, cử nhân kép, cao học, tiến sỹ,…

Đại học quản lý Singapore cung cấp chương trình đào tạo kinh doanh dựa trênphương pháp và nội dung giảng dạy của khoa Wharton thuộc đại học Pennsylvania –Mỹ

Đại học công nghệ và thiết kế Singapore là đại học mới nhất của Singapore.Trường được thành lập năm 2008 với mục tiêu nuôi dưỡng, phát triển và đổi mới xãhội

Trang 14

Hình 1.5 Quy mô các trường đại học công lập Singapore 1.2.4.2 Học viện công lập Singapore ( Polytechinics)

Học viện công lập, Singapore, cung cấp các chương trình đào tạo 03 năm Cáctrường này chấp nhận học sinh dựa trên kết quả GCE “O” level, GCE “A” level orInstitute of Technical Education (ITE)

 Hiện nay Singapore có 05 trường học viện công lập:

 Học viện công lập Singapore (SP – Singapore Polytechnic)

 Học viện công lập Ngee Ann ( NP – Ngee Ann Polytechnic)

 Học viện công lập Temasek (TP – Temasek Polytechnic)

 Học viện công lập Nanyang (NYP – Nanyang Polytechnic)

 Học viện công lập Republic (RP – Republic Polytechnic)

Trang 15

Hình 1.6 Học viện công lập SingaporeCác trường học viện công lập ở Singapore đào tạo rất nhiều các ngành nghềtrong những lĩnh vực khác nhau như: kỹ thuật, kinh doanh, khoa học, truyền thông,công nghệ thông tin, chăm sóc khách hàng…

Sau khi tốt nghiệp các trường học viện công lập, sinh viên có thể tiếp tục theohọc tại các trường đại học Singapore, các trường đại học nước ngoài (Anh, Mỹ, Úc,Thụy Điển,…) hoặc học sinh có thể đi làm luôn với mức lương khởi điểm 1,800-2200SGD/tháng trở lên

1.3 Các vấn đề chung của giáo dục Singapore

Các vấn đề chung của giáo dục Singapore được đầ cập trong đề tài bao gồmnhững vấn đề mục tiêu, phương pháp, cũng như những chính sách mà giáo dụcSingapore đang thực hiện

1.3.1 Mục tiêu giáo dục

Trang 16

Mục đích của nền giáo dục chính thống ở Singapore là trang bị cho thanh thiếuniên những kỹ năng kiếm sống, có giá trị đạo đức lành mạnh, và khi trưởng thành trởthành những con người có trách nhiệm và những công dân trung thành Quá trình họctập nhằm nuôi dưỡng những tố chất tốt nhất của mỗi trẻ, giúp cho từng em phát huy tối

đa tiềm năng của mình

Chính quyền Singapore luôn luôn coi dân số trong nước là nguồn tài nguyênthiên nhiên duy nhất của họ và mô tả nền giáo dục như là sự phát triển nguồn lực củađất nước Mục tiêu của hệ thống giáo dục là phát triển tài năng của từng cá nhân, saocho mỗi ngườị đều có thể đóng góp vào sự nghiệp kinh tế và vào cuộc đấu tranh liêntục nhằm biến Singapore thành một thị trường quốc tế giàu năng suất và mạnh tínhcạnh tranh Kết quả của họ là một hệ thống giáo dục trong đó người ta có thể đánh giá,phát hiện và phân loại học sinh theo từng chương trình tương ứng Những người làmcông tác giáo dục đã thẳng thắn xác định những học sinh mà họ cho là 'sáng giá' hơnnhững bạn đồng môn khác

1.3.2 Phương pháp giáo dục

Kể từ cuối những năm 1970, các trường học tại Singapore đã phân loại học sinhtheo trình độ, giúp họ theo học những chương trình phù hợp với khả năng tiếp thu củamình học sinh không cần phải học và giỏi đều tất cả các môn, mà được quyền lựachọn môn học theo sở thích và thế mạnh của mình Học tập tại Singapore, học sinhluôn được hướng đến những mục tiêu và thành tích đỉnh cao không chỉ trong khuônkhổ nhà trường mà còn vươn cao và xa hơn nữa

Bộ Giáo dục Singapore đưa ra chương trình Giáo dục về Quốc gia trong cáctrường nhằm bồi dưỡng nhận thức và tình cảm của các em học sinh về di sản và vậnmệnh chung của đất nước Trong khuôn khổ chương trình học tập, Giáo dục về Quốcgia được kết hợp vào với các môn như Xã hội học, Sử học và Địa lý Chương trình cònđược hỗ trợ thêm bởi các chương trình và hoạt động ngoại khoá mà các em tham gia.Các em học sinh kỷ niệm các ngày lễ như Ngày lễ Quốc phòng toàn dân, Ngày Hữunghị Quốc tế, ngày Hoà hợp giữa các sắc tộc và ngày Quốc khánh Các em còn thamgia vào các hoạt động như đi tham quan học tập đến những cơ sở giáo dục quan trọng

Trang 17

trong nước Trong Chương trình Tham gia vào Cộng đồng, các em học sinh tham giađược trực tiếp thực hiện các dự án phục vụ cho cộng đồng Thông qua những hoạtđộng này, các em học được sự tôn trọng và sự đoàn kết hợp tác giữa người Singaporekhông phân biệt sắc tộc hay tôn giáo, có được sự hiểu biết sâu rộng và đánh giá đúngmức những thử thách, khó khăn và các điểm yếu mà Singapore đang phải đối mặt hômnay và trong tương lai.

Hệ thống giáo dục Singapore đang tiếp tục hòan thiện mình để trở nên đa dạng

và uyển chuyển hơn, tạo cho người học khả năng tối đa phát huy những thế mạnh của

cá nhân Với triết lý lấy người học làm trung tâm, giáo dục Singapore được xây dựngtheo tiêu chí để người học chủ động lựa chọn ngành học, thiết kế chương trình học,linh động về thời gian, và chủ động tìm đến những nguồn tri thức mới, tiếp xúc vớinhững thành tựu từ đa ngành, đa quốc gia, đa văn hóa

Bên cạnh kiến thức chuyên ngành, người học còn rèn luyện cả về thể thao lẫncác môn nghệ thuật Học sinh được khuyến khích để không chỉ học tập chuyên ngành

mà còn rèn luyện thể thao tùy theo năng khiếu của mình với những chương trình vàđiều kiện cơ sở vật chất hiện đại Sau khi xếp sách lại sau giờ học, một thế giới thểthao, giải trí cùng với những cảnh sắc và âm thanh ngoạn mục sẳn sàng giúp bạn thưgiãn và đáp ứng cho các giác quan của bạn

1.3.3 Chính sách giáo dục

Trong những thập niên 1960 và 1970, với sự bùng nổ số lượng trẻ em do tỉ lệsinh sản cao trong thập niên trước, và với ảnh hưởng của lối sống trong thời kỳ thuộcAnh trước đó, chỉ có một số ít tốt nghiệp đại học với chất lượng cao Số đông còn lạitrong lớp trẻ đã được tách ra từ số học sinh đang theo học trung học, theo sự loại trừcủa những chuẩn mực khất khe Những công dân trẻ tuổi này đã tham gia vào lựclượng lao động của xã hội khi trong tay không có một kỹ năng chuyên môn cụ thể nào.Với cuộc cải cách lớn vào năm 1979, người ta đã theo dõi chặt chẽ quá trình học tậpcủa học sinh để giảm thiểu tỉ lệ bỏ học và để đảm bảo số học sinh ít năng khiếu họcchữ vẫn có được những kỹ năng nghề nghiệp hữu ích cho xã hội Trong thập niên

1980, thêm nhiều biện pháp được áp dụng cho việc giáo dục hướng nghiệp cũng như

Trang 18

cho nỗ lực làm cho những 'sản phẩm' của hệ thống giáo dục đáp ứng đúng nhu cầu vềlao động trong công nghiệp và thương mại.

Năm 1987, khoảng 4% tổng sản phẩm quốc dân (GDP) đã được dành cho giáodục Sau đó tỉ lệ này được tiếp tục nâng dần lên bằng với những quốc gia phát triểnmạnh như Nhật Bản hoặc Hoa Kỳ Giáo dục ở đây không cưỡng chế, nhưng hầu nhưtất cả mọi người đều đi học Học sinh cấp tiểu học được miễn phí ở nhà trường, vàriêng học sinh người gốc Malaya được miễn phí đến đại học Có những quỹ đặc biệt

để đảm bảo không có học sinh nào phải bỏ học vì khó khăn vê tài chính Học phí cấpđại học được thu ở mức sòng phẳng với mục đích để những gia đình khá giả phải chia

sẻ chi phí đào tạo mà kết quả của nó sẽ giúp sinh viên ra trường sẽ có việc làm vớiđồng lương cao Tuy nhiên, đối với những sinh viên có thành tích cao trong học tập sẽđược cho vay, được trợ cấp hoặc được hưởng học bổng, từ đó không có sinh viên giỏinào phải bỏ dở việc học vì thiếu khả năng chi trả học phí Từ năm học 2003-2004, chế

độ cưỡng bức giáo dục đã được đưa vào chính sách giáo dục của Singapore

1.3.4 Chính sách giáo viên

Kênh dạy học nhằm xây dựng trình độ dạy học ưu việt trong khuôn khổ Dịch

vụ giáo dục và tạo các cơ hội phát triển, thăng tiến cho các cán bộ giáo dục, nhữngngười mong muốn tập trung chủ yếu vào nghề dạy học của mình Trong kênh này, cầntạo thêm các cơ hội thăng tiến cho các giáo viên xứng đáng khi bổ nhiệm chức hiệutrưởng và hầu hết các vị trí giáo viên cao cấp Với cách đó, những giáo viên xứng đáng

sẽ được thưởng và được công nhận đối với những gì họ đã làm được Công đoàn giáoviên Singapore (STU) tạo các cơ hội học tập và phát triển cho giáo viên thông qua cáchội thảo, các khóa học bồi dưỡng chuyên môn do các chuyên gia của các học viêntrong nước và nước ngoài thực hiện Những nét nổi bật trong chính sách giảng viênnhư:

 Tuyển dụng:

Bộ Giáo dục cẩn thận lựa chọn giáo viên tương lai từ các lớp tốt nghiệp trườngtrung học Giáo viên nhận được một khoản trợ cấp tương đương với 60% mức lương

Trang 19

giáo viên trong khi đào tạo và cam kết giảng dạy ít nhất là ba năm Công việc giảngdạy được thực hiện sớm thông qua thực tập giảng dạy và không phải chờ đợi.

 Đào tạo

Tất cả giáo viên được tập huấn về chương trình giảng dạy tại Học viện Quốcgia Singapore

 Bồi thường

Mỗi năm, Bộ Giáo dục xem xét một loạt các mức lương khởi điểm nghề nghiệp

và có thể điều chỉnh tiền lương cho giáo viên Lương giáo viên không tăng theo thờigian nhiều như một số ngành nghề khác nhưng có nhiều cơ hội cho giáo viên để đảmnhận vai trò khác

 Đánh giá hiệu quả

Giống như mọi ngành nghề khác tại Singapore, hoạt động của giáo viên đượcđánh giá hàng năm của một số người và nhiều biện pháp, trong đó có đóng góp của họcho sự phát triển giảng dạy và thành tích của tất cả học sinh mình phụ trách, cộng tácvới các cha mẹ và các nhóm cộng đồng, đóng góp của họ và các đồng nghiệp của họ Giáo viên làm công việc xuất sắc, nhận được tiền thưởng từ quỹ tiền thưởng trường

Phát triển sự nghiệp

Tài năng được xác định và nuôi dưỡng chứ không phải được để lại chờ cơ hội.Sau ba năm giảng dạy, giáo viên được đánh giá hàng năm để xem liệu họ có tiềm năngcho ba con đường khác nhau : sự nghiệp giảng dạy, chuyên gia trong chương trìnhgiảng dạy, nghiên cứu, hoặc lãnh đạo nhà trường Các giáo viên có tiềm năng trởthành lãnh đạo nhà trường được chuyển đến đội ngũ quản lý và được đào tạo để chuẩn

bị cho vai trò mới của họ

1.3.5 Chính sách thu hút nhân tài

Đối với bất kì một quốc gia nào trên thế giới nhân tài là một hạt nhân, một yếu

tố trọng yếu góp phần mang lại thành công cho đất nước vì có nhân tài sẽ là một đònbẩy thúc đẩy sự phát triển của đất nước Nguyên Thủ tướng Lí Quang Diệu đã phát

Trang 20

biểu : “ Nếu thắng trong cuộc đua giáo dục sẽ thắng trong cuộc đua kinh tế” tức là nếulĩnh vực giáo dục được đầu tư phát triển, đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao thì

sẽ là một điều kiện thuận lợi đưa đất nước đi tới thành công

Thực trạng Singapore sau khi tách ra khỏi Liên Bang Malaisia rất khó khăn.Chính phủ Singapore nhận thức rằng ngoài tiềm năng con người và vị trí địa lí tựnhiên trời cho, Singapore không có một nguồn tài nguyên nào và cách duy nhất để tồntại và phát triển là đầu tư cho giáo dục, phát triển kĩ năng con người để họ trở thành trụcột của đất nước Thêm vào đó, cuối những năm 70, Singapore phải đối mặt với thựctrạng có 5 % người có trình độ ra đi khỏi Singapore và những khó khăn về nguồn nhântài càng trở nên nghiêm trọng hơn khi các quốc gia phương Tây thay đổi chính sáchnhập cư chấp nhận người di dân châu Á Điển hình như : Australia sửa đổi chính sáchvào tháng 3 năm 1966, Canada tháng 10 năm 1967, Mĩ tháng 7 năm 1968 ( Lí QuangDiệu : “ Tuyển tập 40 năm chính luận ” ) Thủ tướng Lí Quang Diệu đã thực hiệnchính sách thu hút nhân tài ở cả trong và ngoài nước

Chính phủ cho thành lập hai ủy ban phát triển nhân lực trong nước: một ủy ban

có nhiệm vụ giúp những người có năng lực làm đúng nghề và một ủy ban kết hợp họlại thành xã hội Đối với những người thuộc loại xuất sắc ủy ban sẽ có kế hoạch sắpxếp việc làm phù hợp với trình đọ của họ ngay trước khi tốt nghiệp ( hay còn gọi là ủyban dịch vụ tư vấn chuyên gia và chuyên nghiệp (PIPS) Kết quả là vào những nămcủa thập niên 90 dòng nhân tài chảy vào thông qua việc tuyển dụng đạt gấp 3 lần dòngchảy ra ) Lập hai cơ quan thu hút nhân tài từ Ấn Độ và các nước trong khu vực nhằmgiữ chân người có trình độ và thu hút thêm nhân lực có khả năng ở bên ngoài vào ( cónhững chính sách ưu đãi nhà ở, lương bổng, phương tiện đi lại) ( hay còn gọi là ủy banchiêu mộ nhân tài ngoại quốc CATS ( Lí Quang Diệu : “ Tuyển tập 40 năm chính luận

”) Ủy ban này đã đưa ra vài trăm học bổng cho các sinh viên giỏi đến từ Trung Quốc,

Ấn Độ và các nước khác trong khu vực với hi vọng một số sẽ ở lại vì những cơ hộiviệc làm tốt hơn Những người sau này khi trở về nước vẫn có thể giúp đỡ cho cáccông ty của Singapore ở nước ngoài Chính sách thu hút nhân tài ở Singapore chútrọng cả nhân tài trong và ngoài nước vì chính phủ xác định rõ ràng rằng Singapore là

Trang 21

một quốc gia đa dân tộc và đặc điểm này vẫn còn tồn tại tới tận ngày hôm nay vàngười ngoại quốc tới nhập cư tại Singapore cũng chiếm một số lượng đáng kể trongtổng số dân của đảo quốc này Chính vì thế Chính phủ Singapore xác định : “Đối vớingười Singapore vì lợi ích của toàn thể nhân dân, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo,ngôn ngữ cần phải đào tạo những tài năng trẻ ở mức độ cao nhất để phát huy hết tiềmnăng của họ Đồng thời vì những người bình thường ở Singapore chúng ta cần đểnhững người có tài được hưởng thù lao xứng đáng, thưởng cho những đóng góp của họđối với sự phát triển về mọi mặt của đất nước Nếu mất một nhân tài có học vấnSingapore sẽ như người bị chặt mất một khúc cánh tay phải, chẳng làm nên chuyện gìđược ( Lí Quang Diệu : “ Tuyển tập 40 năm chính luận ”) Trong 30 bài phát biểu đượctuyển chọn của thủ tướng Lí Quang Diệu có tới 9 bài đề cập đến vấn đề nhân tài, đàotạo nhân tài, chiêu mộ nhân tài tới định cư, đóng góp của các nhân tài, sự đãi ngộ nhântài…Ông Lí Quang Diệu đã vô cùng sáng suốt khi nhận định rằng “ nếu những kẻ bấttài và cơ hội nắm quyền ở nước ta thì nhân dân sẽ phải trả giá đắt” và “ không gì có thểthay thế được những bộ trưởng tài giỏi” ( Lí Quang Diệu : “ Tuyển tập 40 năm chínhluận” ) Chính phủ Singapore ngoài việcc thu hút nhân tài trong nước còn đề ra nhữngchính sách hấp dân thu hút nhân tài từ nước ngoài đó là khuyuến khích họ định cư tạiSingapore, sau này được hưởng quyền công dân, mua những căn biệt thự cao cấp củaCục nhà ở và phát triển và của công ty phát triển thành phố Cần thu hút những nhântài lao động trí óc, nếu họ là người châu Á học càng có khả năng thích ở lại đây lâudài, nếu họ là người ngoài châu Á (vì ở Singapore đưa ra một điều kiện sống và làmviệc cao hơn và chất lượng hơn các quốc gia của họ) thì chính phủ Singapore tạo nghềnghiệp cho họ suốt đời chứ không phải là hợp đồng nhất thời Thực tế cho thấy nhữngnhân tài từ nước ngoài tới đã đóng góp một phần không nhỏ cho thành công củaSingapore tiêu biểu như : thập kỉ 80 các ngành ở Singapore phần lớn là người nướcngoài lãnh đạo : Chủ tịch Cục quản lí thị trấn Dụ Lang Đường Nghĩa Phương đến từtỉnh An Huy Trung Quốc, Chủ tịch Cục điện tín Dung Vĩnh Thành đến từ ThượngHải…( Lía Quang Diệu : “ Tuyển tập 40 năm chính luận ”) Sự tập trung cao độ nhântài từ bên ngoài vào đã tạo cho giới lãnh đạo Singapore có thêm nguồn nhân lực dồidào và chất lượng cao Do đó ngành giáo dục Singapore cũng là một trọng điểm trong

Trang 22

việc thu hút nhân tài từ nước ngoài vào đó là việc mời nhiều hơn các giảng sư có trình

độ cao hơn để nâng cao chất lượng của trường Đại học đào tạo những sinh viên ưu túhơn Thủ tướng Lí Quang Diệu đã viết trong hồi kí của mình : “Trong trường đại họcthầy cô giáo là người da trắng, da đen, da vàng hay da nâu hay hỗn chủng điều đókhông quan trọng Điều quan trọng là họ có năng lực, có nhiệt tình hay không Nếumuốn có thầy cô giáo tốt chúng ta phải trả lương theo tiêu chuẩn quốc tế Đồng thờichúng ta sẽ khuyến khích để có thêm nhiều hơn nữa học giả Singapore trở thành giảng

sư đại học”( Lí Quang Diệu : “ Tuyển tập 40 năm chính luận ”) Chúng ta thấy rõ rằngđiều quan trọng trong chính sách của Singapore đó là họ đã không phân biệt chủng tộc,tôn giáo, mà chú trọng việc cần đào tạo ra những tài năng ở mức độ cao nhất để pháthuy hết tiềm năng của họ đối với sự phát triển về mọi mặt của đất nước Bộ Giáo dụcSingapore vừa quyết định từ tháng 4-2008 sẽ tăng lương giáo viên Theo luật mới,lương giáo viên được tăng 12% và với người giảng dạy tốt có thể tăng 18% Để đảmbảo đợt tăng lương này, Chính phủ Singapore phải chi thêm 380 triệu đô laSingapore/năm Ngoài ra, tuỳ vào thành tích giảng dạy, giáo viên sẽ được thưởngtương đương 1 tháng đến 2,25 tháng lương Như vậy, mức lương mới của giáo viênđứng lớp bình quân trên 3 năm sẽ tăng từ 52.000 lên 58.000 đô la Singapore, cao nhất

có thể lên đến 65.000 đô la Singapore[1] Mức lương hấp dẫn và đảm bảo cho cuộcsống của họ nên đó sẽ là một điều kiện thuận lợi để họ tập trung cho chuyên môn củamình từ đó mà chất lượng giáo dục sẽ cao lên, hơn nữa cũng là một trong những biệnpháp để hạn chế tình trạng tham nhũng trong ngành giáo dục

1.3.6 Chính sách song ngữ

Năm 1959, Thủ tướng Lí Quang Diệu và cộng sự quyết định dùng tiếng Malaylàm quốc ngữ song sau đó các nhà lãnh đạo đã nhận ra rằng tiếng Anh phải là ngônngữ nơi làm việc và là ngôn ngữ chung Bên cạnh đó tỏng dư luận xã hội có nhiềuluồng phản ứng khi đề nghị chính phủ đảm bảo vị thế của người Hoa như một ngônngữ chung vì người Hoa chiếm một số lượng đông đảo dân số của Singapore Từnhững vấn đề đó chính phủ Singapore đã đưa ra phương án song ngữ nhằm mục đích

để tiếng Anh trở thành ngôn ngữ chung ở Singapore làm cầu nối cho mọi công dân có

Trang 23

nguồn gốc chủng tộc khác nhau Do vậy chính phủ áp dụng xây dựng Giáo trình songngữ hay chính sách tiếng mẹ đẻ và chính sách này đã trở thành một nền tảng của hệthống giáo dục Singapore Anh ngữ là ngôn ngữ duy nhất và là phương tiện giao tiếptrong giáo dục ở nhà trường Phần lớn học sinh sinh viên được yêu cầu học một nămtiếng mẹ đẻ Ở đây 3 ngôn ngữ chính là Hoa, Tamil, Malay Môn tiếng mẹ đẻ là mộtmôn bắt buộc ở kì thi cuối cấp 1 và kì thi GCE( Advanced level )của các trườngSingapore kết hợp cùng trường Cambridge trong chương trình dự bị đại học Sinhviên được yêu cầu đạt được một chuẩn mực thông thạo tiếng mẹ đẻ của họ như là mộtyếu tố tiên quyết được nhận vào các đại học địa phương.

1.3.6.1 Chính sách song ngữ nhằm duy trì hòa bình sắc tộc

Chính sách song ngữ chính thức được công nhận vào năm 1966 nhằm đảm bảo

sự đa dạng văn hóa, thực hiện nguyên tắc song ngữ và bình đẳng của 4 luồng giáo dụcMelayu, Trung Quốc, Anh và Tamil Theo đề nghị này các trường đều phải giảng dạybằng 4 thứ tiếngvà học sinh tiểu học nhất thiết phải học song ngữ đó là tiếng Anh vàtiếng mẹ đẻ.Việc xác định chính sách song ngữ trong giáo dục Singapore là một quyếtsách hoàn toàn đúng đắn vì Singapore là một cộng đồng đa dân tộc, mỗi một tộc người

có một bản sắc văn hóa ,ngôn ngữ riêng và dân tộc nào cũng muốn duy trì bản sắc dântộc đó Singapore không có tôn giáo nào là quốc giáo Theo số liệu điều tra dân sốtháng 7/ 2003 dân số Singapore là 4.608.595 người trong đó người Hoa chiếm 76,4%,

Ấn Độ chiếm 6,4%, người Singapore 14,9%, các dân tộc khác 2,3% (Phạm MộngHoa : “ Địa lí kinh tế xã hội các nước ASEAN ” tập 1 ) Như vậy Singapore vẫn là mộtquốc gia đa dân tộc cho đến ngày nay Chính sách song ngữ là chính sách nhằm mụcđích tạo nên sự hòa bình giữa các sắc tộc Mỗi một thời kì ở Singapore lại có mộtchính sách ngôn ngữ riêng phù hợp với thời kì đó Dưới thời thuộc địa Singapore đã cómột cộng đồng nói nhiều thứ tiếng Người Anh để mặc dân chúng quyết định cách giáodục con cái Chính phủ xây dựng một số lượng giới hạn trường tiếng Anh nhằm đàotạo thư kí, thủ kho, … cũng như những trường dạy tiếng Malay cho người Malay.Người Ấn điều hành các trường tiểu học hoặc các lớp dạy học bằng tiếng Ấn, Tamil.Người Hoa xây dựng trường học nhờ vào tài chính của những người thành đạt trong

Trang 24

cộng đồng để dạy tiếng Hoa Do các sắc tộc khác nhau được dạy dỗ bằng ngôn ngữcủa chính họ cho nên họ có sự gắn bó về mặt tình cảm với tiếng mẹ đẻ rất sâu sắc Họkhông dễ dàng gì từ bỏ ngôn ngữ của mình để nói một ngôn ngữ hoàn toàn khác Họcũng giống như 5 triệu người sống ở Quebec kiên trì giữ gìn tiếng Pháp trong một đạilục có đến 300 triệu người nói tiếng Anh Hơn nữa một vấn đề cấp thiết cần được giảiquyết ngay đó là phải có một ngôn ngữ chung trong lực lượng vũ trang Singapore vì

sẽ rất khó khăn để chỉ huy một tập thể mà nói nhiều thổ ngữ khác nhau cũng như phảiđương đầu với một viễn cảnh bước vào trận chiến mà không hiểu nhau dù có sử dụngbất kì ngôn ngữ nào trong 4 ngôn ngữ chính thức đi chăng nữa Do đó chính sách songngữ đã giữ nguyên tiếng mẹ đẻ trong giáo dục sẽ không làm mất đi truyền thống của

họ làm họ cảm thấy giá trị văn hóa dân tộc mình được lưu giữ giữa một quốc gia đavăn hóa đa dân tộc

1.3.6.2 Tiếng Anh –ngôn ngữ quốc tế

Trong xu hướng toàn cầu hóa như hiện nay, Tiếng Anh là ngôn ngữ quốc tế,ngôn ngữ nơi làm việc và đặc biệt rất phù hợp với một cộng đồng giao thương nhưSingapore Tiếng Anh sẽ phá vỡ những rào cản ngôn ngữ và văn hóa trong giao tiếplớp trẻ đồng thời xóa bỏ đi những bất công trong cơ hội tìm kiếm việc làm giữa các thísinh tốt nghiệp trường tiếng Anh và các trường tốt nghiệp thứ tiếng khác Thông thạotiếng Anh là một công cụ cho họ tiếp cận được những tri thức tiên tiến nhất trên thếgiới hiện nay, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiêp hóa hiện đại hóa, mang đếncho người Singapore sự tự tin và khẳng định mình trong thế giới châu Á mà từ xa xưacon người không biết đến cái tôi của mình và tạo điều kiện cho sự tiếp xúc với văn hóaphương Tây lấy cá nhân làm trung tâm cũng thâm nhập ngày càng mạnh ở nước này.Năm 1971, tiếng Anh trở thành ngôn ngữ quốc gia, ngôn ngữ hành chính thống nhấtcủa Singapore Vì thế chính sách song ngữ được đưa ra là để nguyên giá trị vốn cócủa nó với 4 ngôn ngữ chính thức là tiếng Malay, tiếng Hoa (phổ thông) tiếng Tamil vàtiếng Anh Do đó chính phủ đề ra việc học 3 thứ tiếng Quan Thọai , Malay, Tamil ở cáctrường tiếng Anh và giới thiệu việc học tiếng Anh trong các trường dạy bằng tiếngHoa, tiếng Hoa tiếng Malay và Tamil Thực tế đã chứng minh việc sử dụng đồng thời

Trang 25

cả tiếng Anh là một nhân tố quan trọng Năm 1966 Đại học Nanyang( Natah) là đạihọc dạy bằng tiếng Hoa sau này phải đối đầu với những khó khăn Cơ hội kiếm việclàm cho những người tốt nghiệp ở trường này rất ít Số lượng sinh viên đến học ở Đạihọc Singapore ngày càng tăng vì Đaih học Singapore lúc đó sử dụng giảng dạy cảtiếng Anh trong trường đại học là một điều kiên jthuaanj lợi để sinh viên sau khi tốtnghiệp có cơ hội tìm liếm việc làm cao Những sinh viên giỏi hơn ở các trường tiếngHoa thi lấy chứng chỉ Anh ngữ của trường Cambridge với tư cách là thí sinh tự do để

có thể vào học ở Đại học Singapore Đại học Nanyang phải hạ điểm chuẩn đầu vàocũng như tiêu chuẩn tốt nghiệp nhưng việc làm này đồng nghĩa với việc là giảm đi uytín của trường và giá trị của những người tốt nghiệp (Lí Quang Diệu : “Bí quyết hóarồng ”) Do vậy càng thấy được vai trò của việc học tiếng Anh trong một cộng đồng đasắc tộc ở Singapore là rất cần thiết

1.3.6.3 Sự phản đối của người Hoa

Khi chính sách này của chính phủ được đưa ra họ cũng phải đối mặt với một lànsóng phản đối mạnh mẽ của những người gốc Hoa Khi đề ra chính sách song ngữ thìhiệp hội nhà giáo người Hoa, các ủy ban quản lí trường tiếng Hoa, chủ bút, chủ báo vàphóng viên báo tiếng Hoa đã phản đối Cuối năm 1970 tờ báo tiếng Hoa lớn nhất làNanyang SiangPang viết nhiều bài báo buộc tội chính quyền đàn áp ngôn ngữ, nềngiáo dục văn hóa của người Hoa Họ vẽ chân dung của Thủ tướng Lí Quang Diệu nhưmột kẻ đàn áp trong một chính phủ “toàn những kẻ ngoại lai quên tổ tông” ( Lí QuangDiệu : “ Bí quyết hóa rồng ”)

1.3.6.4 Hạn chế của chính sách này

Tuy chính sách song ngữ có những đóng góp đáng kể trong sự phát triển giáodục, kinh tế, xã hội, con người ở Singapore nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhậnnhững mặt hạn chế của chính sách này như :

Chính sách song ngữ bằng tiếng Anh và tiếng Malay, tiếng Hoa hay tiếng Tamilđều là gánh nặng lên vai học sinh vì 3 ngôn ngữ mẹ đẻ này hoàn toàn không can hệ gìđến tiếng Anh.Tiếng Quan Thoại ( tiếng Hoa phổ thông ) thuộc ngữ hệ Hán Tạng,

Trang 26

tiếng Malay thuộc ngữ hệ Nam Đảo, tiếng Tamil thuộc ngữ hệ Nam Á.Bản thân 3 thứtiếng này cùng nằm trong một châu lục nhưng cũng không có mối liên quan gì tớinhau, chứ chưa xét đến mối liên hệ với một ngôn ngữ phương Tây là tiếng Anh.

Khi dùng tiếng Anh làm ngôn ngữ giảng dạy những giá trị Nho giáo truyềnthống không thể được củng cố trong toàn trường học bởi vì cả giáo viên lẫn học sinhđều là những người thuộc nhiều chủng tộc và sách giáo khoa không được viết bằngtiếng Hoa Chính sách “nhiều tiếng nói một ngôn ngữ” cũng là một nguy cơ làm giảm

đi giá trị truyền thống đạo đức trong sinh viên qua việc tăng tiếp xúc với văn hóaphương tây

Họ được giáo dục bằng tiếng Anh từ nhỏ nên rất thuần thục tiếng Anh Nhữngngười có bằng cấp ở Singapore muốn du học và làm việc tại những môi trường tốt hơnnhư Anh, Úc là điều rất dễ dàng vì họ có trong tay chìa khóa tiếng Anh vì thế đây cũng

là môt hạn chế do nó thúc đẩy tình trạng chảy máu chất xám ở Singapore

1.3.6 Thực trạng học sinh-sinh viên

Chương trình giáo dục ở Singapore mang tính thực hành cao, học sinh đượctrang bị một vốn kiến thức cơ bản vững chắc, nhưng áp lực của chương trình học cũngkhá nặng, và khi ra trường, kiếm được một việc làm phù hợp không phải là dễ dàng

1.4 Kinh nghiệm đổi mới và hội nhập giáo dục ở Singapore

Toàn cầu hóa ngày nay đã trở thành câu cửa miệng và là đề tài được chú ý Sinhviên được tiếp xúc với những nền văn hóa mới cũng như những hệ thống giáo dụckhác là điều rất quan trọng Nắm bắt được điều này, các trường ở Singapore đã đưa rarất nhiều các chương trình trao đổi và giao lưu để sinh viên có cơ hội đi học ở cácnước khác Các khóa học tập trao đổi thường kéo dài từ 2 tuần cho đến 1 hoặc 2 năm ởnhững trường nước ngoài có liên kết với những trường ở Singapore

Singapore xác định đổi mới giáo dục ĐH là tất yếu, là nhu cầu tự thân để pháttriển kinh tế-xã hội Một trong những giải pháp khuyến khích đổi mới chính là Nhànước phải luôn đặt hàng đối với các trường ĐH những yêu cầu mới về đào tạo nguồnnhân lực, phát triển khoa học công nghệ và các dịch vụ xã hội theo nguyên tắc: Nếu

Ngày đăng: 05/01/2023, 18:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w