1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Các giải pháp đảm bảo phát triển bền vững và bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay " pptx

6 650 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 157,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Th ứ nhất, nghiên cứu để soạn thảo và ban hành các quy định pháp luật về các biện pháp môi trường theo hướng sau: a Phù hợp với các quy định của WTO và pháp luật thương mại quốc tế nói

Trang 1

Ths Nguyễn đức Long * hỏi niệm “phỏt triển bền vững” xuất hiện

trong phong trào bảo vệ mụi trường thế

giới từ đầu những năm 70 của thế kỉ XX

Năm 1987, trong Bỏo cỏo “Tương lai chung

của chỳng ta”, Hội đồng thế giới về mụi

trường và phỏt triển (WCED) của Liờn hợp

Quốc đó định nghĩa “phỏt triển bền vững” “là

sự phỏt triển đỏp ứng được những yờu cầu của

hiện tại nhưng khụng gõy trở ngại cho việc

đỏp ứng nhu cầu của cỏc thế hệ mai sau”

Hội nghị thượng đỉnh trỏi đất về mụi

trường và phỏt triển tổ chức ở Rio de Janeiro

(Brazil) năm 1992 và Hội nghị thượng đỉnh

thế giới về phỏt triển bền vững tổ chức ở

Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm

2002 đó xỏc định “phỏt triển bền vững” là

quỏ trỡnh phỏt triển cú sự kết hợp chặt chẽ,

hợp lớ và hài hoà giữa ba mặt của sự phỏt

triển, bao gồm: phỏt triển kinh tế, phỏt triển

xó hội và bảo vệ mụi trường Tiờu chớ để

đỏnh giỏ sự phỏt triển bền vững là sự tăng

trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ

và cụng bằng xó hội; khai thỏc hợp lớ, sử

dụng tiết kiệm tài nguyờn thiờn nhiờn, bảo vệ

và nõng cao chất lượng mụi trường sống

Quỏ trỡnh tự do hoỏ thương mại đó và

đang đặt ra những thỏch thức giữa phỏt triển

bền vững và bảo vệ mụi trường trong phạm

vi quốc gia cũng như ở tầm quốc tế Về cơ

bản, tự do hoỏ thương mại khụng phải là

nguyờn nhõn đầu tiờn của sự suy thoỏi mụi trường, cũng khụng phải là cụng cụ tốt nhất

để giải quyết vấn đề mụi trường Đối với cỏc nước đang phỏt triển, thương mại là cụng cụ quan trọng để bảo đảm nguồn tài nguyờn cần thiết cho việc bảo vệ mụi trường Những lời hứa hẹn chớnh trị tại Hội nghị Liờn hợp quốc

về mụi trường và phỏt triển (UNCED) năm

1992 về nguồn tài chớnh lớn và chuyển giao cụng nghệ cho cỏc nước đang phỏt triển để giỳp cỏc nước này đỏp ứng cỏc nhu cầu phỏt triển kinh tế và bảo vệ mụi trường đó khụng được thực hiện Do đú, tự do hoỏ thương mại

- tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu của cỏc nước đang phỏt triển lại trở thành cụng

cụ giỳp cỏc nước này thực hiện mục tiờu phỏt triển bền vững

1 Cỏc giải phỏp về chớnh sỏch phỏt triển

Cỏc giải phỏp về chớnh sỏch phỏt triển cú tỏc động rất quan trọng tới việc phỏt triển bền vững và bảo vệ mụi trường

Trong cỏc chiến lược, quy hoạch tổng thể và kế hoạch phỏt triển kinh tế-xó hội của đất nước cũng như của cỏc ngành và địa phương, ba mặt của sự phỏt triển: kinh tế, xó hội và bảo vệ mụi trường cần được kết hợp

và lồng ghộp chặt chẽ với nhau

K

* Giảng viờn Trường cao đẳng kinh tế-kĩ thuật Thỏi Bỡnh

Trang 2

Hiện tại, quan điểm phát triển bền vững

chưa được thể hiện một cách rõ rệt và nhất

quán trong hệ thống chính sách và các công

cụ điều tiết của Nhà nước Một mặt, các

chính sách kinh tế-xã hội chủ yếu nhằm

mục tiêu tăng trưởng nhanh kinh tế và ổn

định xã hội, chưa quan tâm đầy đủ, đúng

mức đến tính bền vững khi khai thác và sử

dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi

trường Mặt khác, các chính sách bảo vệ

môi trường lại chú trọng việc giải quyết các

sự cố môi trường, phục hồi suy thoái và cải

thiện chất lượng môi trường mà chưa định

hướng phát triển lâu dài nhằm đáp ứng nhu

cầu tương lai của xã hội Quá trình lập quy

hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội

và quá trình xây dựng chính sách bảo vệ

môi trường còn chưa được kết hợp chặt chẽ,

lồng ghép hợp lí với nhau Cơ chế quản lí

và giám sát sự phát triển bền vững chưa

được thiết lập rõ ràng và có hiệu lực

Do đó, việc thực hiện giải pháp này sẽ

góp phần gắn kết chặt chẽ giữa hoạt động

kinh tế với bảo vệ môi trường

Khoa học và công nghệ là nền tảng và

động lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá,

thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh và bền vững

đất nước Công nghệ hiện đại, sạch và thân

thiện với môi trường cần được ưu tiên sử

dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất,

trước mắt cần được đẩy mạnh sử dụng ở

những ngành và lĩnh vực sản xuất có tác

dụng lan truyền mạnh, có khả năng thúc đẩy

sự phát triển của nhiều ngành và lĩnh vực sản

xuất khác Chú trọng nâng cao hàm lượng

khoa học-công nghệ của sản phẩm hàng hoá

và dịch vụ

Đổi mới mạnh mẽ hơn nữa cơ chế quản

lí kinh tế nhằm tạo lập môi trường kinh

tế-xã hội theo hướng vừa tạo điều kiện, khuyến khích, vừa ràng buộc các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư vào nghiên cứu đổi mới công nghệ, áp dụng công nghệ sản xuất sạch và thân thiện với môi trường, đổi mới và nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước và ngoài nước Tháo gỡ các khó khăn

để khai thông và mở rộng thị trường khoa học và công nghệ

Thay đổi mô hình và công nghệ sản xuất,

mô hình tiêu dùng theo hướng sạch hơn và thân thiện với môi trường, dựa trên cơ sở

sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên không tái tạo lại được, giảm tối đa chất thải độc hại và khó phân huỷ, duy trì lối sống của cá nhân và xã hội hài hoà và gần gũi với thiên nhiên

Cần có chính sách và biện pháp cụ thể hướng dẫn phương thức tiêu dùng hợp lí, nhất là các chính sách, biện pháp tài chính để khuyến khích tiêu dùng thân thiện với môi trường Áp dụng một số công cụ kinh tế như thuế tiêu dùng để điều chỉnh những hành vi tiêu dùng không hợp lí gây hại cho môi trường Thực hiện quá trình “công nghiệp hoá sạch”, nghĩa là ngay từ đầu phải quy hoạch

sự phát triển công nghiệp gắn với cơ cấu ngành nghề, công nghệ, thiết bị bảo đảm nguyên tắc thân thiện với môi trường; tích cực ngăn ngừa và xử lí ô nhiễm công nghiệp, xây dựng nền “công nghiệp xanh”

Trang 3

Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền

vững Trong khi phát triển sản xuất ngày

càng nhiều hàng hoá theo yêu cầu của thị

trường, phải bảo đảm vệ sinh, an toàn thực

phẩm, bảo tồn và phát triển được các nguồn

tài nguyên: đất, nước, không khí, rừng và đa

dạng sinh học

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,

bên cạnh những tác động tích cực, thương

mại cũng làm gia tăng nguy cơ phá vỡ tính

bền vững của sự phát triển Đẩy mạnh xuất

khẩu đồng nghĩa với gia tăng khai thác tài

nguyên Nếu không bảo vệ, tái tạo đồng thời

từng bước chuyển sang chế biến tinh hơn các

nguồn nguyên vật liệu thì nguồn tài nguyên

thiên nhiên sẽ nhanh chóng bị cạn kiệt, môi

trường bị suy thoái Việc nhập khẩu hàng

hoá chứa những chất độc hại, khó phân huỷ

cũng làm tăng khối lượng chất thải Việc

nhập khẩu vật tư, thiết bị cũ và lạc hậu

không những là tác nhân gây ra ô nhiễm môi

trường mà còn cản trở việc nâng cao năng

suất lao động và hiệu quả sản xuất, kinh

doanh, gây tác hại tới sức khoẻ cộng đồng

Do đó, cần chuyển nền kinh tế từ khai thác

và sử dụng tài nguyên dưới dạng thô sang

chế biến tinh; chuyển dần cơ cấu hàng xuất

khẩu từ những sản phẩm thô sang dạng các

sản phẩm chế biến tinh và dịch vụ

2 Các giải pháp về pháp luật

Các giải pháp về chính sách phát triển

nêu trên sẽ không thể thực hiện được nếu

thiếu các giải pháp về pháp luật

Th ứ nhất, nghiên cứu để soạn thảo và

ban hành các quy định pháp luật về các biện

pháp môi trường theo hướng sau:

a) Phù hợp với các quy định của WTO

và pháp luật thương mại quốc tế nói chung Việc soạn thảo và ban hành các quy định

pháp luật về các biện pháp môi trường phải

phù hợp với các quy định của WTO và pháp luật thương mại quốc tế nói chung Vấn đề đặt ra là: việc áp dụng các biện pháp môi trường (dưới hình thức các quy định về kĩ thuật, tiêu chuẩn và các quy định khác) ở mức độ nào thì bị coi là rào cản đối với thương mại quốc tế Theo pháp luật thương mại quốc tế hiện hành, các thành viên WTO

có thể tự do ban hành các quy định pháp luật nhằm mục tiêu bảo vệ môi trường nhưng phải tuân thủ nguyên tắc không phân biệt đối

xử trong việc soạn thảo, thông qua, áp dụng các quy định kĩ thuật, tiêu chuẩn và nguyên tắc minh bạch

Bên cạnh đó, Đoạn 31 (iii) Tuyên bố Doha (2001) yêu cầu các thành viên WTO phải đàm phán về việc giảm hoặc loại bỏ thuế quan và các hàng rào phi thuế quan đối với “hàng hoá và dịch vụ liên quan đến môi trường” Tuy nhiên, vấn đề thế nào là “hàng hoá liên quan đến môi trường” còn đang trong quá trình tranh luận Điều đó nghĩa là trong tương lai, các nhà lập pháp cần chú ý đến yêu cầu của Đoạn 31(iii) nêu trên b) Phải mang tính bao quát, toàn diện; c) Tính đến năng lực của Việt Nam và các nước đang phát triển nói chung trong việc thực thi các biện pháp môi trường Theo Nguyên tắc 11 của Tuyên bố Rio

về môi trường và phát triển (1992), các tiêu chuẩn môi trường, các mục tiêu và ưu tiên phát triển cần phản ánh bối cảnh môi trường

và phát triển đặc thù của quốc gia Trong

Trang 4

thực tiễn của một số nước, nhất là các nước

đang phát triển, các tiêu chuẩn môi trường

được đặt ra có thể không phù hợp và không

đảm bảo chi phí kinh tế và xã hội Các doanh

nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) thường bị tác

động về vấn đề này

d) Đáp ứng các mục tiêu chính sách

chính đáng của Việt Nam với tư cách là

nước nhập khẩu

Thực tiễn thương mại quốc tế cho thấy:

năm 1982, một số nước đang phát triển thể

hiện sự lo ngại về việc các sản phẩm bị cấm

ở các nước phát triển vì lí do nguy hiểm đối

với môi trường, sức khoẻ hoặc an toàn, tiếp

tục được xuất khẩu sang các nước đang phát

triển Tại Hội nghị bộ trưởng năm 1982 của

GATT 1947, các bên kí kết quyết định xem

xét các biện pháp cần thiết để kiểm soát việc

xuất khẩu DPGs, theo đó tất cả các bên kí

kết đều phải thông báo cho GATT về DPGs

Trên thực tế, hệ thống thông báo này đã

không thành công Năm 1989, GATT 1947

thành lập Nhóm công tác về xuất khẩu các

hàng hoá và các chất nguy hiểm khác bị cấm

ở trong nước (Working Group on the Export

of Domestically Prohibited Goods and Other

Hazardous Substances)

Để đáp ứng các mục tiêu chính sách

chính đáng của Việt Nam với tư cách là

nước nhập khẩu, cần quy định việc cấm nhập

khẩu các DPGs Để làm được điều này cần

tăng cường năng lực kĩ thuật để giám sát và

trong trường hợp cần thiết, phải kiểm soát

được hàng nhập khẩu DPGs

Kinh nghiệm giải quyết các vụ tranh

chấp về nhập khẩu phế liệu và hàng hoá gây

ô nhiễm môi trường ở nước ta trong những năm qua cho thấy một trong những bất cập lớn nhất là các chính sách bảo vệ môi trường vạch ra quá “tổng quát” nhưng các quy định pháp luật lại không đủ chi tiết để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tình huống cụ thể; tiếp đến là vấn đề thiếu năng lực kĩ thuật để thẩm định, giám sát Do đó, việc hoàn thiện các quy định về cấm nhập khẩu, hạn chế nhập khẩu những hàng hoá gây hại đối với môi trường; cấm cho phép hoặc hạn chế tiến hành các dịch vụ gây tác động bất lợi cho môi trường là việc làm cấp bách hiện nay

đ) Làm giảm bớt các tác động thương mại tiêu cực

Một trong các chính sách môi trường liên quan đến thương mại là chính sách trợ cấp Chính sách trợ cấp có thể gây tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với môi trường Trong lĩnh vực nông nghiệp và năng lượng, chính sách trợ cấp thường bị coi là biện pháp bóp méo thương mại nhưng trong một số trường hợp khác lại bị coi là nguyên nhân gây suy thoái môi trường Các nhà bảo vệ môi trường gợi ý rằng các quy tắc thương mại cần mềm dẻo hơn nữa khi quy định về trợ cấp để khuyến khích các hoạt động hoặc công nghệ gây tác động có lợi cho môi trường

Th ứ hai, nghiên cứu việc ban hành và

hoàn thiện các quy định pháp luật về việc sử dụng các công cụ kinh tế để quản lí môi trưởng, như: nhãn sinh thái, quy trình và phương pháp sản xuất (PPMs), các điều kiện

về đóng gói bao bì, thuế và phí môi trường, thuế tiêu dùng…

Trang 5

- Nói chung, các thành viên WTO nhất

trí rằng các hệ thống nhãn môi trường tự

nguyện, có sự tham gia rộng rãi, dựa trên

yếu tố thị trường và minh bạch là các công

cụ kinh tế hữu hiệu để thông tin cho người

tiêu dùng về các sản phẩm thân thiện với

môi trường Tuy nhiên, các hệ thống nhãn

môi trường có thể bị lạm dụng để bảo hộ thị

trường nội địa Do đó, các hệ thống nhãn

môi trường này phải không mang tính phân

biệt đối xử và không tạo thành các rào cản

không cần thiết hoặc các hạn chế trá hình đối

với thương mại quốc tế

- Một vấn đề đặc biệt gai góc trong cuộc

tranh luận về nhãn sinh thái là việc sử dụng

các tiêu chuẩn gắn liền với PPMs Các

thành viên WTO nhất trí rằng trong phạm vi

các quyền của mình theo quy định của

WTO, được phép đưa ra các tiêu chuẩn về

cách sản xuất sản phẩm, nếu phương pháp

sản xuất chúng để lại dấu hiệu trên thành

phẩm (ví dụ: việc trồng bông sử dụng thuốc

trừ sâu, do đó có dư lượng thuốc trừ sâu

trên sản phẩm bông)

- Một số nước ban hành chính sách về

đóng gói bao bì, sử dụng lại, tái chế hoặc

hủy vật liệu đóng gói Chính sách này có thể

làm tăng chi phí cho nhà xuất khẩu, giống

như rào cản thương mại tiềm tàng và tạo ra

sự phân biệt đối xử, kể cả trường hợp các

điều kiện giống nhau được áp dụng cho cả

sản phẩm nội địa lẫn sản phẩm nhập khẩu ví

dụ: gỗ được sử dụng để đóng gói bao bì ở

nhiều nước châu Á nhưng lại không được coi

là sản phẩm có thể tái chế ở châu Âu

- Thuế và phí môi trường ngày càng

được sử dụng nhiều ở các nước thành viên

WTO để theo đuổi các mục tiêu chính sách môi trường quốc gia Đối với Việt Nam, cần quan tâm nghiên cứu một số công cụ như: thuế sử dụng các thành phần môi trường; tiếp tục thực hiện thu phí bảo vệ môi trường đối với khí thải, tiếng ồn, sân bay, nhà ga, bến cảng…; nhãn sinh thái; giấy phép xả thải chất gây ô nhiễm.(1) Theo kinh nghiệm của Hoa Kỳ, để kiểm soát lượng khí SO2 phát thải ra không khí, Đạo luật về không khí sạch (Clean Air Act) đã được ban hành năm 1970, trong đó áp dụng phương pháp cấp quota ô nhiễm và tạo thị trường mua bán quota ô nhiễm nhằm giảm bớt sự can thiệp của Chính phủ vào hoạt động của doanh nghiệp.(2)

- Bên cạnh đó, cần nghiên cứu việc áp dụng một số công cụ kinh tế khác, như thuế tiêu dùng để điều chỉnh những hành vi tiêu dùng không hợp lí gây hại cho môi trường và phát triển bền vững

Th ứ ba, hoàn thiện các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường

a) Trước hết, cần hoàn thiện các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại nói chung; tiếp đến là hoàn thiện các quy định pháp luật về môi trường một cách đồng bộ (về phát triển nông nghiệp; hệ thống quản lí và bảo vệ tài nguyên đất đai, tài nguyên nước, các giống cây trồng, vật nuôi, các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác

sử dụng trong nông, lâm, ngư nghiệp; các phương pháp canh tác tiên tiến và vấn đề bảo

vệ môi trường nông nghiệp, nông thôn, ): Luật bảo vệ môi trường; Luật đất đai; Luật khoáng sản; Luật dầu khí; Luật hàng hải;

Trang 6

Luật thủy sản; Luật bảo vệ và phát triển

rừng; các quy định và quy trình kĩ thuật về

sử dụng, bảo vệ và quản lí nguồn nước; các

quy định về đánh giá tác động môi trường;

về bảo tồn đa dạng sinh học; các quy định về

bồi thường thiệt hại, xử lí vi phạm hành

chính và hình sự

Giải pháp này (hoàn thiện khuôn khổ

pháp luật về hoạt động thương mại và giải

quyết tranh chấp thương mại quốc tế liên

quan đến môi trường) là giải pháp căn bản

góp phần xử lí tranh chấp thương mại quốc

tế ở trong nước liên quan đến môi trường,

bảo vệ quyền lợi quốc gia với tư cách nước

nhập khẩu và các doanh nghiệp Việt Nam

trên thị trường nội địa

b) Tích cực tham gia xây dựng pháp luật

thương mại quốc tế liên quan đến môi

trường, nhằm bảo vệ lợi ích thương mại và

môi trường của Việt Nam trong các tranh

chấp thương mại ở nước ngoài và trong

khuôn khổ WTO

Khi kết thúc Vòng đàm phán Uruguay

năm 1994, các vấn đề môi trường liên quan

đến thương mại quốc tế một lần nữa lại được

chú ý cùng với vai trò của WTO trong lĩnh

vực thương mại quốc tế và môi trường Cần

khẳng định rằng WTO không phải là tổ chức

bảo vệ môi trường Thẩm quyền của WTO

trong lĩnh vực thương mại quốc tế và môi

trường được giới hạn ở các chính sách

thương mại và các khía cạnh thương mại của

chính sách môi trường mà nó gây tác động

lớn đối với thương mại Khi quan tâm đến

mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và môi

trường, các thành viên WTO không đặt ra

vấn đề theo đó chính bản thân WTO có thể

giải quyết được các vấn đề môi trường Tuy nhiên, các chính sách thương mại quốc tế và bảo vệ môi trường có thể bổ sung cho nhau Việc bảo vệ môi trường sẽ bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho tăng trưởng kinh tế và tự do hoá thương mại dẫn tới tăng trưởng kinh tế cũng cần phải bảo vệ môi trường tương xứng Do đó, vai trò của WTO

là tiếp tục thúc đẩy tự do hoá thương mại, đồng thời bảo đảm rằng một mặt các thành viên không sử dụng chính sách môi trường như rào cản đối với thương mại quốc tế, mặt khác các quy tắc thương mại quốc tế không làm cản trở việc bảo vệ môi trường trong nước Đảm bảo hài hoà hơn giữa các quy tắc thương mại toàn cầu và chính sách bảo vệ môi trường là yếu tố quan trọng của chiến lược toàn cầu về ngăn chặn suy thoái môi trường tiếp diễn

Thực tế cho thấy hệ thống pháp luật của WTO chưa thực sự hoàn hảo Những bất cập

về vấn đề mối quan hệ giữa thương mại quốc

tế và môi trường cần phải được sửa đổi để bảo vệ quyền lợi của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng./

(1) Nguyễn Hưng Thịnh & Dương Thanh An, Công

c ụ kinh tế trong quản lí môi trường - Thực trạng và

gi ải pháp hoàn thiện, Tài liệu Hội thảo “Đánh giá

thực trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lí môi trường ở Việt Nam hiện nay - Giải pháp hoàn thiện”, Bộ tư pháp (Viện khoa học pháp lí), ngày 23/3/2005

(2) Nguyễn Văn Cương, Sử dụng quota phát thải để

ki ểm soát ô nhiễm môi trường - Kinh nghiệm Hoa Kỳ,

Tài liệu Hội thảo “Đánh giá thực trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lí môi trường ở Việt Nam hiện nay - Giải pháp hoàn thiện”, Bộ tư pháp (Viện khoa học pháp lí), ngày 23/3/2005

Ngày đăng: 24/03/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w