1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Bản chất pháp lí của hợp đồng đại lí độc quyền " docx

7 1,2K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 122,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, căn cứ vào khái niệm hợp đồng dân sự tại Điều 388 BLDS năm 2005, khái niệm đại lí thương mại tại Điều 166 và khái niệm đại lí độc quyền tại Điều 169 Luật thương mại 2005 có th

Trang 1

TS NguyÔn ThÞ V©n Anh *

Ths TrÇn Quúnh Anh **

gày nay, trong quá trình hoạt động, để

đem lại hiệu quả kinh doanh cao hơn,

thương nhân thường sử dụng các dịch vụ

trung gian thương mại, trong đó có đại lí

thương mại, đặc biệt khi mở rộng kinh

doanh đến thị trường mới Là hình thức của

hoạt động đại lí thương mại, đại lí độc

quyền hiện đang được nhiều thương nhân

ưa chuộng Quan hệ đại lí độc quyền giữa

bên giao đại lí và bên đại lí độc quyền được

thể hiện dưới hình thức pháp lí là hợp đồng

đại lí độc quyền

Giống nhiều loại hợp đồng thương mại

khác, hợp đồng đại lí độc quyền vừa chịu sự

điều chỉnh của các quy định trong Luật

thương mại năm 2005, vừa chịu sự điều

chỉnh bởi các quy định chung về hợp đồng

trong Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005

Ngoài ra, hợp đồng đại lí độc quyền trong

những lĩnh vực đặc thù còn chịu sự điều

chỉnh của các văn bản pháp luật chuyên

ngành như: Luật kinh doanh bảo hiểm năm

2000, Luật cạnh tranh năm 2004, Luật du

lịch lữ hành năm 2005, Nghị định của

Chính phủ số 84/2009/NĐ-CP về kinh

doanh xăng dầu…

Căn cứ vào các quy định của pháp

luật hiện hành, bài viết này tập trung

phân tích bản chất pháp lí của hợp đồng

đại lí độc quyền

1 Pháp luật hiện hành không đưa ra định nghĩa về hợp đồng đại lí độc quyền Tuy nhiên, căn cứ vào khái niệm hợp đồng dân

sự tại Điều 388 BLDS năm 2005, khái niệm đại lí thương mại tại Điều 166 và khái niệm đại lí độc quyền tại Điều 169 Luật thương mại 2005 có thể hiểu: Hợp đồng đại lí độc quyền là sự thoả thuận giữa bên giao đại lí

và bên đại lí, theo đó bên giao đại lí có nghĩa

vụ chỉ giao cho một đại lí mua, bán một hoặc một số mặt hàng hoặc cung ứng một hoặc một số loại dịch vụ nhất định tại một khu vực địa lí nhất định, bên đại lí có nghĩa vụ nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lí cho khách hàng để hưởng thù lao

2 Là một loại hợp đồng đại lí thương mại, hợp đồng đại lí độc quyền vừa có các đặc điểm chung của hợp đồng đại lí thương mại đồng thời cũng có những điểm đặc thù riêng Bởi vậy, hợp đồng đại lí độc quyền có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, về chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đại lí độc quyền

Quan hệ hợp đồng đại lí độc quyền là một loại quan hệ hợp đồng đại lí thương mại

Do đó, trong quan hệ hợp đồng đại lí độc

N

* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế

** Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

quyền, bên giao đại lí và bên đại lí đều phải

là thương nhân, có thể là thương nhân Việt

Nam hoặc thương nhân nước ngoài.(1) Bên

đại lí độc quyền là thương nhân duy nhất

trong phạm vi một khu vực địa lí nhất định

được nhận hàng hoá để làm đại lí bán, nhận

tiền mua hàng để làm đại lí mua hoặc là bên

nhận uỷ quyền cung ứng dịch vụ cho bên

giao đại lí Bên đại lí nhân danh chính mình

giao dịch với khách hàng để mua bán hàng

hoá hay cung ứng dịch vụ thương mại cho

bên giao đại lí và được hưởng thù lao khi

thực hiện dịch vụ này

Thông qua hình thức đại lí độc quyền,

bên giao đại lí không chỉ có được mạng lưới

phân phối hàng hoá, dịch vụ của mình đến

với khách hàng mà còn tránh được sự cạnh

tranh giữa các đại lí của mình Nhờ đó việc

mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ của

bên giao đại lí được bên đại lí độc quyền

thực hiện hiệu quả hơn, đặc biệt ở những

địa bàn mà bên giao đại lí mới thâm nhập

Đối với bên nhận làm đại lí độc quyền thì

việc được là người duy nhất mua, bán hàng

hoá hay cung ứng dịch vụ trong một phạm

vi địa lí nhất định sẽ tạo cho họ không gian

hoạt động mà không bị đại lí khác của cùng

bên giao đại lí cạnh tranh, giúp họ dễ dàng

hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ phân phối

hàng hoá, dịch vụ cho bên giao đại lí để

hưởng thù lao

Thứ hai, về đối tượng của hợp đồng đại

lí độc quyền

Đại lí độc quyền có bản chất là một loại

hình dịch vụ trung gian thương mại, theo đó

bên đại lí chính là bên cung ứng dịch vụ còn

bên giao đại lí là bên sử dụng dịch vụ và

phải trả phí dịch vụ cho bên đại lí dưới hình thức thù lao đại lí Đối tượng của hợp đồng đại lí độc quyền chính là công việc mua, bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ mà bên đại

lí độc quyền phải thực hiện cho bên giao đại

lí để được hưởng thù lao Hàng hoá được thoả thuận mua bán, dịch vụ được thoả thuận cung ứng trong hợp đồng đại lí độc quyền phải là những hàng hoá được phép lưu thông, dịch vụ được phép thực hiện theo quy định của pháp luật mà bên giao đại lí được phép kinh doanh theo giấy chứng nhận đăng

kí kinh doanh của mình

Thứ ba, tính độc quyền trong quan hệ đại

lí độc quyền Tính độc quyền chính là đặc trưng để phân biệt quan hệ đại lí độc quyền với các quan hệ đại lí khác Đây là tiêu chí quan trọng để xác định một quan hệ đại lí có phải là quan hệ đại lí độc quyền hay không? Tính độc quyền của hình thức đại lí độc quyền thể hiện ở việc trong một khu vực địa

lí nhất định, bên giao đại lí cam kết chỉ giao cho một đại lí duy nhất (đại lí độc quyền) thực hiện việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ của mình Khu vực địa lí nhất định này sẽ do các bên tự xác định, có thể là trong phạm vi của một huyện, một tỉnh, một thành phố hoặc một nước

Thương nhân (doanh nghiệp) làm đại lí độc quyền của bên giao đại lí trong quan hệ đại lí độc quyền khác với khái niệm doanh nghiệp có vị trí độc quyền quy định trong Luật cạnh tranh năm 2004 Theo Luật cạnh tranh năm 2004, doanh nghiệp được coi là

có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hoá, dịch vụ

mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị

Trang 3

trường liên quan Do đó, bên làm đại lí độc

quyền có thể giữ hoặc không giữ vị trí độc

quyền phân phối hàng hoá, dịch vụ trên thị

trường liên quan, bởi trên thị trường địa lí

liên quan có thể còn có rất nhiều doanh

nghiệp khác tham gia phân phối loại hàng

hoá, dịch vụ đó Mặt khác, thoả thuận tại

một khu vực địa lí nhất định bên giao đại lí

chỉ giao cho một đại lí mua, bán một hoặc

một số mặt hàng hoặc cung ứng một hoặc

một số loại dịch vụ nhất định trong hợp

đồng đại lí độc quyền không thuộc loại các

thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo Luật

cạnh tranh năm 2004.(2)

Thứ tư, về hình thức của hợp đồng đại lí

độc quyền

Là một hình thức của đại lí thương mại,

do đó, hợp đồng đại lí độc quyền cũng phải

được lập thành văn bản hoặc các hình thức

khác có giá trị pháp lí tương đương (như

telex, fax, thông điệp dữ liệu…).(3) Sự ràng

buộc các bên khi giao kết hợp đồng đại lí

độc quyền phải thực hiện dưới hình thức văn

bản hoặc hình thức khác có giá trị tương

đương nhằm hạn chế tranh chấp giữa các bên

mà việc giao kết hợp đồng bằng lời nói, hành

vi thường xảy ra cũng như giúp các bên có

được bằng chứng về sự thoả thuận khi giải

quyết tranh chấp nếu có

Thứ năm, về nội dung của hợp đồng đại

lí độc quyền

Nội dung của hợp đồng đại lí độc quyền

bao gồm các điều khoản thể hiện quyền và

nghĩa vụ của các bên Theo quy định của

Luật thương mại năm 1997, hợp đồng đại lí

thương mại phải có đầy đủ các điều khoản

chủ yếu như: tên, địa chỉ của các bên; hàng

hoá đại lí; hình thức đại lí; thù lao đại lí; thời hạn hiệu lực của hợp đồng đại lí Để bảo đảm quyền tự do cho các bên khi giao kết, thực hiện hợp đồng đại lí, Luật thương mại năm 2005 đã bỏ quy định về nội dung chủ yếu của hợp đồng đại lí thương mại Theo

đó, các bên giao kết hợp đồng được tự do thoả thuận các điều khoản của hợp đồng theo

ý chí của mình và những thoả thuận này được coi là “luật” đối với các bên trừ trường hợp những thoả thuận đó trái quy định của pháp luật hiện hành

3 Một số vấn đề cần xem xét liên quan đến nội dung của hợp đồng đại lí độc quyền Nội dung của hợp đồng đại lí độc quyền bao gồm các điều khoản do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên Theo pháp luật hiện hành, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng đại lí độc quyền do các bên tự do thoả thuận nhưng không vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã hội Trong trường hợp các bên không có thoả thuận hoặc thoả thuận chưa rõ ràng, cụ thể về các quyền và nghĩa

vụ trong hợp đồng đại lí độc quyền thì bên giao đại lí và bên đại lí độc quyền có các quyền và nghĩa vụ quy định tại các điều

172, 173, 174 và 175 Luật thương mại năm

2005 và các quyền, nghĩa vụ riêng được quy định trong các luật khác như Luật du lịch lữ hành, Luật kinh doanh bảo hiểm Theo những quy định này, một số quyền và nghĩa

vụ của bên đại lí và bên giao đại lí cần xem xét hoàn thiện

Thứ nhất, theo quy định của Luật thương mại năm 2005, bên đại lí độc quyền có một

Trang 4

quyền đặc thù, đó là quyền được là chủ thể

duy nhất thực hiện việc mua, bán hàng hoá,

cung ứng dịch vụ cho bên giao đại lí trong

khu vực địa lí xác định Như vậy, trong quan

hệ hợp đồng đại lí độc quyền, bên giao đại lí

có nghĩa vụ chỉ được giao kết hợp đồng với

một bên đại lí trong phạm vi địa lí nhất định

Trong khi đó, bên đại lí độc quyền được giao

kết hợp đồng đại lí với một hoặc nhiều bên

giao đại lí, trừ trường hợp pháp luật có quy

định cụ thể về việc bên đại lí chỉ được giao

kết hợp đồng đại lí với một bên giao đại lí

đối với một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nhất

định Điều này dẫn đến trong nhiều trường

hợp bên đại lí kí kết hợp đồng với các đối

thủ cạnh tranh của bên giao đại lí do đó ảnh

hưởng đến tính cạnh tranh của sản phẩm

của bên giao đại lí và không loại trừ trường

hợp bên đại lí sử dụng các kĩ năng kinh

doanh, bí mật kinh doanh được bên giao đại

lí trao cho để cạnh tranh trực tiếp hoặc

chuyển giao các kĩ năng, bí mật này cho đối

thủ cạnh tranh của bên giao đại lí Do đó, để

bảo vệ quyền của bên giao đại lí, pháp luật

của nhiều nước trên thế giới đã có quy định

loại trừ trường hợp bên đại lí làm đại lí cho

các bên giao đại lí là các đối thủ cạnh tranh

của nhau Theo quy định tại Điều L134-3

Luật thương mại của Pháp thì: “bên đại lí

có thể nhận làm đại lí cho các bên giao đại

lí khác mà không cần có sự cho phép Tuy

nhiên, bên đại lí không thể nhận làm đại lí

cho một doanh nghiệp cạnh tranh của một

trong các bên giao đại lí mà không có sự

đồng ý của bên giao đại lí”.(4)Hoặc để nhằm

ngăn chặn bên đại lí cạnh tranh với bên giao

đại lí sau khi hợp đồng đại lí chấm dứt, pháp

luật Ai-len quy định trong thời hạn 2 năm sau khi hợp đồng đại lí chấm dứt, bên đại lí không được giao kết hợp đồng đại lí với chủ thể khác liên quan đến khu vực địa lí hoặc một nhóm khách hàng, một số mặt hàng cụ thể đã được giao cho bên đại lí trong hợp đồng đại lí.(5) Vì vậy, pháp luật Việt Nam cần có quy định cụ thể, chi tiết hơn về các trường hợp bên đại lí độc quyền được giao kết hợp đồng đại lí độc quyền với các bên giao đại lí khác nhau

Thứ hai, bên đại lí được quyền hưởng thù lao đại lí Thù lao đại lí do các bên thoả thuận, nếu các bên không có thoả thuận thì theo quy định tại Điều 171 Luật thương mại năm 2005, thù lao đại lí được trả dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá Luật thương mại năm 2005 cũng như Luật thương mại năm 1997 đều quy định cho các bên tham gia quan hệ đại lí độc quyền được quyền tự do thoả thuận về thù lao đại lí Tuy nhiên, Luật thương mại năm 2005 bổ sung thêm quy định về cách xác định thù lao đại lí trong trường hợp các bên không thoả thuận được về mức thù lao tại Khoản 4 Điều 171:

“Trường hợp các bên không có thoả thuận

về mức thù lao đại lí thì mức thù lao được tính như sau: Mức thù lao thực tế mà các bên đã được trả trước đó; Trường hợp không áp dụng được quy định trên thì mức thù lao đại lí là mức thù lao trung bình được

áp dụng cho cùng loại hàng hoá, dịch vụ mà bên giao đại lí đã trả cho các đại lí khác; nếu không áp dụng được 2 cách tính trên thì mức thù lao đại lí là mức thù lao thông thường được áp dụng cho cùng loại hàng hoá, dịch vụ trên thị trường”

Trang 5

Như vậy, theo quy định của pháp luật

Việt Nam, việc thanh toán cho bên đại lí chỉ

được thực hiện trong thời gian hợp đồng đại

lí có hiệu lực Hợp đồng đại lí độc quyền

thường có thời hạn xác định và sau khi chấm

dứt thời hạn hợp đồng, bên đại lí độc quyền

không còn được hưởng thù lao đại lí Ở một

số nước, xuất phát từ quan điểm bảo vệ

quyền lợi của bên đại lí nên đã quy định bên

đại lí có thể được quyền hưởng thù lao đại lí

trong một số trường hợp sau khi quan hệ đại

lí đã chấm dứt Theo pháp luật của Cộng hoà

Pháp, nếu sau khi các bên thanh lí hợp đồng

đại lí thương mại, bên giao đại lí vẫn tiếp tục

kí được các hợp đồng mua bán hàng hoá,

cung ứng dịch vụ mà những hợp đồng này

có thể thiết lập được là có sự đóng góp công

sức của bên đại lí thương mại thì bên đại lí

thương mại vẫn được hưởng thù lao.(6) Do

đó, Luật thương mại cần bổ sung quyền

được hưởng thù lao của bên đại lí trong

trường hợp nói trên

Thứ ba, Luật thương mại năm 2005 của

Việt Nam không quy định bảo vệ quyền sở

hữu danh sách khách hàng trong hệ thống

phân phối của bên đại lí độc quyền Đây là

điểm bất hợp lí vì khi bên đại lí nhận mua

bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ cho bên

giao đại lí thì họ phải thiết lập mạng lưới

khách hàng và họ cần được pháp luật bảo

vệ đối với quyền sở hữu danh sách khách

hàng của mình cũng như những chi phí bỏ

ra để thiết lập mạng lưới khách hàng đó

không chỉ trong thời gian đang làm đại lí

cho bên giao đại lí mà cả trong một khoảng

thời gian nhất định sau khi hợp đồng đại lí

hết hiệu lực

Trong hoạt động kinh doanh, việc tìm kiếm khách hàng có thể được xem là một trong những công việc khó khăn nhất để thương nhân tìm được chỗ đứng trên thị trường Để tạo được mạng lưới phân phối, thương nhân thường mất rất nhiều thời gian

và chi phí Bởi vậy, lợi thế quan trọng của hoạt động đại lí là thông qua đại lí thương mại, các thương nhân giao đại lí đã tiết kiệm được rất nhiều thời gian và chi phí gia nhập thị trường Do vậy, quyền sở hữu đối với danh sách khách hàng là quyền mà các đại lí thương mại cần được bảo vệ Bởi, trong thời hạn hợp đồng đại lí có hiệu lực, bên giao đại lí khi biết được danh sách khách hàng của bên đại lí có thể trực tiếp bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ cho khách hàng của bên đại lí để thu lợi nhuận

mà không phải trả thù lao đại lí

Năm 2005, khi Công ti trách nhiệm hữu hạn nước giải khát Coca-cola Việt Nam khởi kiện đòi nợ các đại lí độc quyền của mình, các đại lí nêu lí do chính của việc nợ tiền là do Coca-cola khi đã nắm danh sách địa chỉ khách hàng trong hệ thống phân phối của các đại lí độc quyền đã trực tiếp bán hàng cho các khách hàng trong hệ thống đó mà không được sự chấp thuận của các đại lí độc quyền Do trong hợp đồng giữa Coca-cola và các đại lí độc quyền không có điều khoản nào xác định hệ thống khách hàng mà các đại lí độc quyền xây dựng được là “tài sản” riêng của họ nên Coca-cola được quyền làm điều đó và các đại lí không có cơ sở pháp lí để bảo vệ quyền lợi của mình Sau đó, các đại lí độc quyền của Coca-cola ở một số khu vực gần

Trang 6

như hết đầu ra, một số gần như phá sản.(7)

Từ vụ việc thực tế này, đòi hỏi cần có cơ

chế pháp lí hiệu quả để đảm bảo quyền sở

hữu đối với tài sản vô hình là hệ thống

khách hàng của các đại lí cũng như bảo đảm

quyền được hưởng thù lao từ kết quả hoạt

động đại lí của bên đại lí độc quyền

Thứ tư, bên giao đại lí có quyền sở hữu

hàng hoá hoặc tiền giao cho bên đại lí Do

đó, mặc dù bên đại lí là chủ thể trực tiếp

thực hiện hợp đồng với khách hàng nhưng

bên giao đại lí vẫn phải là người chịu trách

nhiệm trước khách hàng và trước pháp luật

về chất lượng hàng hoá trừ trường hợp có lỗi

của bên đại lí Nhưng mối quan hệ ba bên

giữa bên giao đại lí, bên đại lí và khách hàng

vẫn chưa được Luật thương mại năm 2005

quy định rõ, đặc biệt trong vấn đề xác định

giới hạn trách nhiệm của bên giao đại lí và

bên đại lí với khách hàng cũng như không

quy định cụ thể vấn đề chuyển rủi ro trong

quan hệ giữa bên giao đại lí, bên đại lí và

khách hàng nên thực tế áp dụng quy định

vẫn còn nhiều lúng túng, đòi hỏi cần có quy

định cụ thể, rõ ràng hơn

Thứ năm, xuất phát từ bản chất của quan

hệ đại lí độc quyền (đó là bên đại lí chỉ là

trung gian giúp bên giao đại lí mua bán hàng

hoá hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại

lí cho khách hàng) nên Luật thương mại năm

2005 quy định bên giao đại lí có quyền ấn

định giá bán hàng hoá hoặc giá cung ứng

dịch vụ và bên đại lí có nghĩa vụ phải mua,

bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách

hàng theo đúng giá hàng hóa, giá cung ứng

dịch vụ mà bên giao đại lí đã ấn định Bên

đại lí độc quyền không được tự ý nâng giá

hoặc giảm giá mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ mà bên giao đại lí đã quy định.(8) Tuy nhiên, theo quy định của Luật cạnh tranh năm 2004, hành vi ấn định giá bán lại của bên giao đại lí cho bên đại lí có thể là hành vi vi phạm Luật cạnh tranh

Hành vi ấn định giá bán lại của bên giao

đại lí cho bên đại lí phản ánh mối quan hệ giữa bên giao đại lí (doanh nghiệp sản xuất hoặc doanh nghiệp bán buôn - doanh nghiệp thuộc ngành trên) với bên đại lí (doanh nghiệp phân phối hoặc doanh nghiệp bán lẻ - doanh nghiệp thuộc ngành dưới) Hành vi này được gọi là hành vi duy trì giá hoặc hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc, nó khác với hành vi ấn định giá trong thoả thuận về giá (hành vi hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang) giữa các doanh nghiệp được quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật cạnh tranh.(9)

Hành vi ấn định giá bán lại của bên giao đại lí cho bên đại lí không đương nhiên vi phạm pháp luật cạnh tranh Luật cạnh tranh năm 2004 chỉ ngăn cấm thực hiện hành vi này trong các trường hợp quy định tại khoản

2 Điều 13 và khoản 1 Điều 14 Theo đó, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền trên thị trường liên quan của sản phẩm đó không được ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng

Như vậy, hành vi ấn định giá bán hàng hoá, dịch vụ của bên giao đại lí đối với bên đại lí chỉ bị coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh khi thoả mãn đầy đủ các điều kiện sau: 1) Bên giao đại lí (chủ thể thực hiện hành vi ấn định giá bán lại) là doanh nghiệp

có vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền trên thị trường liên quan của sản phẩm đó Theo

Trang 7

Luật cạnh tranh, doanh nghiệp được coi là có

vị trí thống lĩnh nếu có thị phần từ 30% trở

lên trên thị trường liên quan hoặc có khả

năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng

kể (khoản 1 Điều 11 Luật cạnh tranh) và

doanh nghiệp có vị trí độc quyền là khi

không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về

hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh

doanh trên thị trường liên quan (Điều 12

Luật cạnh tranh)

2) Giá bán lại được ấn định ở mức tối

thiểu gây thiệt hại cho khách hàng Điều

kiện này được giải thích tại khoản 3 Điều 27

Nghị định số 116/2005/NĐ-CP, đó là việc

khống chế không cho phép các nhà phân

phối, các nhà bán lẻ (các đại lí) bán lại hàng

hoá thấp hơn mức giá đã quy định trước

Theo quy định này, việc bên giao đại lí

ấn định một mức giá bán cụ thể mà bên đại lí

bán cho khách hàng không thuộc trường hợp

ấn định giá bán lại thấp hơn mức giá đã quy

định Trong trường hợp bên giao đại lí ấn

định giá giao đại lí cho đại lí bán hàng hoặc

đại lí cung ứng dịch vụ, tức là bên đại lí

không thể bán hàng hoặc cung ứng dịch vụ

cho khách hàng dưới mức giá giao đại lí và

như vậy thoả thuận này trong hợp đồng đại lí

sẽ bị coi là giá bán lại được ấn định ở mức

tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng và bị

cấm nếu bên giao đại lí ở vào vị trí thống

lĩnh hoặc vị trí độc quyền của sản phẩm giao

cho bên đại lí bán hoặc cung ứng

Bởi vậy, khi giao kết hợp đồng đại lí độc

quyền, các bên phải chú ý quy định của Luật

cạnh tranh để thoả thuận điều khoản về giá

mà bên giao đại lí ấn định cho bên đại lí bán

hàng hoá cho mình bởi theo quy định tại

khoản 1 Điều 5 Luật cạnh tranh: Trong trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Luật cạnh tranh với quy định của luật khác về hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh thì áp dụng Luật cạnh tranh

Tóm lại, đại lí độc quyền với những ưu điểm của mình đang trở thành hoạt động thương mại được ưa chuộng trong nền kinh

tế thị trường Luật thương mại năm 2005

đã có nhiều quy định linh hoạt để điều chỉnh quan hệ hợp đồng đại lí độc quyền giữa các bên Tuy nhiên, để tạo khung pháp lí hoàn chỉnh hơn, giúp bảo vệ tốt hơn quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia quan hệ đại lí độc quyền, đòi hỏi pháp luật phải không ngừng hoàn thiện theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế./

(1).Xem: Điều 167 và khoản 2 Điều 169 Luật thương mại năm 2005

(2).Xem: Điều 8 Luật cạnh tranh

(3).Xem: Điều 168 Luật thương mại năm 2005 quy

định: “Hợp đồng đại lí phải được lập thành văn

bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lí tương đương”

(4) Tuyển tập các văn bản pháp luật cơ bản về

thương mại của Cộng hoà Pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 58

(5) Business law, General editors: Sylvia McNeece &

Dr Anne-Marie Mooney Cotter, Oxford university press, 2003, Page 163

(6).Xem: Điều L134-7 Bộ luật thương mại Pháp (7).Xem: http://dantri.com.vn/c76/s83-50804/cocacola-viet-nam-kien-cac-dai-ly.htm

(8).Xem: Điều 173 Luật thương mại năm 2005 (9).Xem: Nguyễn Ngọc Sơn, “Bàn về khái niệm ấn

định giá bán lại”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 3

năm 2005

Ngày đăng: 24/03/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm