1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề về công tác dân tộc thực trạng và những giải pháp về các dân tộc vùng Tây Bắc nước ta

21 9 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số vấn đề về công tác dân tộc - Thực trạng và những giải pháp về các dân tộc vùng Tây Bắc nước ta
Tác giả Nông Thu Huyền
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính sách dân tộc
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 154 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I MỞ ĐẦU HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I Tên tiểu luận Một số vấn đề về công tác dân tộc thực trạng và những giải pháp về các dân tộc vùng Tây Bắc nước ta Chu[.]

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

Trang 2

Hà Nội, tháng 12 năm 2015

Họ và tên học viên: Nông Thu Huyền Ngày sinh: 08-11-1970

Lớp: Cao cấp LLCT Lạng Sơn 2014 - 2016 Mã số học viên: 14CCKTT0610

Tên Tiểu luận: Một số vấn đề về công tác dân tộc - Thực trạng và những giải pháp về các dân tộc vùng Tây Bắc nước ta.

Khối kiến thức thứ 4 thuộc các chuyên đề tự chọn

Chuyên đề số 8.

Học viên ký và ghi rõ họ tên

Nông Thu Huyền

Điểm kết luận của tiểu luận Chữ kí xác nhận CB chấm tiểu luận

Trang 3

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài tiểu luận

Tây Bắc Việt Nam là một vùng rộng lớn có địa chính trị, kinh tế - vănhóa đặc biệt, có vị trí chiến lược rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước

cả về an ninh - quốc phòng, kinh tế, xã hội và văn hóa Trong sự nghiệp đổi mớihiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương chính sách nhằm thúcđẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dântộc, tạo điều kiện để Tây Bắc phát triển đồng đều và vững chắc, đóng góp vàoviệc thực hiện mục tiêu chung của đất nước là phấn đấu đến năm 2020, nước ta

cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Cùng với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa của cả nước, khu vựcTây Bắc cũng đang đứng trước những thời cơ và thử thách lớn trước nhữngbiến đổi lớn lao trong quá trình cấu trúc lại nền sản xuất xã hội theo hướngcông nghiệp hóa hiện đại hóa

Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng về mặt khoa học và thực tiễntrong việc đóng góp những ý kiến với các nhà hoạch định chính sách, các nhàquản lý để giải quyết những vấn đề nóng của Tây Bắc trên con đường hội nhập

phát triển, em chọn vấn đề “Một số vấn đề về công tác dân tộc - thực trạng và những giải pháp về các dân tộc vùng Tây Bắc nước ta” làm tiểu luận Khối

kiến thức thứ 4, chuyên đề tự chọn số 8

2 Mục đích

Xác định và làm rõ một số vấn đề cơ bản của các dân tộc vùng Tây Bắctrong vùng để nhận định, đánh giá và đề xuất một số giải pháp để giải quyếtmột số vấn đề cơ bản của các dân tộc và đề cập đến mối quan hệ của đời sốngkinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phía Bắc với môi trường sinh thái

3 Giới hạn

- Đối tượng: Thông qua các nguồn tài liệu thứ cấp thu thập được ở

Trung ương và địa phương

- Không gian: Tiểu luận nghiên cứu phạm vi một số vấn đề cơ bản của

Trang 4

các dân tộc vùng Tây Bắc Tập trung nghiên cứu thực trạng những vấn đề vềkinh tế - xã hội - văn hóa của đồng bào trong khung cảnh công nghiệp hóahiện đại hóa đất nước trên cơ sở đó đóng góp những kiến nghị và giải phápcho những những vấn đề cơ bản của Tây Bắc dưới góc độ Dân tộc học/Nhânhọc.

- Thời gian: Giai đoạn hiện nay.

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề cơ bản của các dân tộc vùng Tây Bắc có đốitượng và phạm vi khá rộng, do đó để thực hiện được đề tài này, chúng tôi sẽ

sử dụng cả phương pháp định tính và phương pháp định lượng

Phương pháp định tính là thế mạnh trong nghiên cứu Dân tộc

học/Nhân học Với việc sử dụng các kỹ thuật: phỏng vấn sâu, quan sát thực tế,thảo luận nhóm, chụp ảnh, ghi âm để thu thập các tư liệu liên quan đến chủ đềnghiên cứu

Phương pháp định lượng: Sử dụng bảng hỏi, nhằm thu thập ý kiến của

người dân về các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa và an ninh quốc phòng đangdiễn ra trong đời sống của đồng bào các dân tộc trong vùng

Ngoài ra đề tài còn sử dụng các nguồn tài liệu thứ cấp thu thập được ởTrung ương và địa phương

5 Ý nghĩa thực tiễn

Tập chung nghiên cứu các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, lịch sử, kinh

tế, xã hội văn hóa của vùng Tây Bắc, đi sâu vào hai dân tộc được chọn làmmẫu nghiên cứu là người Thái và người Hmông

6 Cấu trúc tiểu luận

Tiểu luận được kết cấu như sau:

Trang 5

B NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận của nội dung nghiên cứu

1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên vùng Tây Bắc

Tây Bắc là một phức hợp của những bồn địa lớn,nhỏ nằm xen kẹp giữacác dãy núi cao bao bọc xung quanh Nếu tính từ phía Bắc xuống, có dãy Pu

La San, Pu Đen Đin chạy từ phía khu vực thượng lưu sông Đà đến Điện BiênPhủ Song song với chúng là dãy Pu Sam Sao chạy dọc biên giới Việt - Lào

Đặc điểm địa lý cơ bản của vùng Tây Bắc là vùng núi cao, địa hình chiacắt nhiều tầng trên một nền địa chất phức tạp và sự phân hóa khí hậu sâu sắc

Độ dốc chiếm phần lớn diện tích Tây Bắc, thoải dần từ Tây Bắc xuống ĐôngNam

Khí hậu Tây Bắc khá phức tạp, mùa khô hạn kéo dài cộng với lượnggió Tây khô nóng gây khó khăn cho cây trồng và vật nuôi Vào tháng 12tháng 1 thường xuyên có sương muối và băng giá, vào đầu mùa mưa thường

có gió lốc, mưa đá và lũ ống, lũ quét gây ra sự tàn phá bất thường đối với đấtđai, sản xuất và đời sống

Tất cả những khó khăn thuận lợi của tự nhiên đều trực tiếp tác độngđến đời sống kinh tế - xã hội của các cư dân vùng Tây Bắc

1.2 Khái quát lịch sử tộc người, dân cư, dân số dân tộc, địa bàn cư trú các dân tộc vùng Tây Bắc

Tây Bắc là vùng lãnh thổ không chỉ phức tạp về địa hình, có nhiều kmđường biên giới với Trung Quốc và Lào mà còn đa dạng về thành phần dântộc Theo số liệu tổng điều tra dân số 1.4.1999 Tây Bắc có trên 20 dân tộc anh

em với tổng dân số 82.069.8 người Trong số đó, đông nhất là dân tộc Thái718.424 người chiếm 32% dân số trong vùng; dân tộc Mường 551.649 ngườichiếm 24,8%; dân tộc Kinh 462.592 người, chiếm 20,85; dân tộc Hmông289.000 chiếm 13%; dân tộc Dao 68.791 người chiếm 3%; dân tộc Khơmú

24.845 ngưòi chiếm 1,1%; dân tộc Tày 22.713 ngươi chiếm 1%; dân tộc Xinh

mun 17.985 người; dân tộc Kháng 10.114 người; dân tộc Lự 9.567 người; dân

Trang 6

tộc Giáy 9.098 người; dân tộc La Ha 6.825 người; dân tộc Lự 4.443 người;dân tộc Hoa 3.164 người; dân tộc Mảng 2.636 người; dân tộc Cống 1.669người; dân tộc Nùng 969 người; dân tộc Si La 800 người; dân tộc Thổ 736người.

1.3 Sự phân bố các dân tộc vùng Tây Bắc

Một số dân tộc điển hình ở Tây Bắc sinh sống tại các tĩnh Lai Châu;Sơn La; Điện Biên được phân bố như sau:

Tỉnh Lai Châu có 20 dân tộc anh em chung sống, là tỉnh có số dân tộcthiểu số đông nhất trong 64 tỉnh thành trong cả nước Trong số đó, dân tộcThái có số lượng đông nhất 206.001 người chiếm 35,1 % dân số trong tỉnh,xếp thứ hai là dân tộc Hmông 170.460 người, chiếm 29,0 % sau đó là dân tộcKinh 99.094 người Ba dân tộc có dân số từ 10 nghìn đến 40 nghìn người làdân tộc Dao; Khơ mú; Hà nhì Mười dân tộc có số dân từ 1 nghìn người đếndưới 10 nghìn người là các dân tộc: Giáy; La Hủ; Lào; Lự; Kháng; Hoa;Mảng; Cống; Xinh mun; Tày, số còn lại là các dân tộc dưới 1 nghìn người

Tỉnh Điện Biên tính đến 12/2005 có 83.536 ngưòi, gồm nhiều dân tộc,trong số đó dân tộc Hmông có 40.571 người chiếm 48,57 %; Dân tộc Thái có24.500 người chiếm 29,33 %

Tỉnh Sơn La, dân tộc Thái có 48.2985 người; dân tộc Hmông 11.4578người; dân tộc Xinh mun 1.6654 ngưòi; dân tộc Khơ mú 9950 người

Trong bức tranh toàn cảnh của sự phân bố tộc người, chúng ta thấy tạicác tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La của Tây Bắc, dân tộc Thái và dân tộcHmông có số dân cư trú đông nhất, đây cũng là những tỉnh được chọn làmmẫu nghiên cứu, với hai dân tộc Thái và Hmông

1.4 Đặc điểm kinh tế

Sản xuất nông nghiệp là hoạt động kinh tế chủ yếu của hầu hết đồngbào các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc Ngoài ra, họ còn chăn nuôi theo hộ giađình, làm một số nghề thủ công, thực hiện nhiều hình thức chiếm đoạt cácnguồn lợi tự nhiên sẵn có trong rừng quanh khu vực cư trú Nhìn chung, mặc

Trang 7

dù nền kinh tế thị trường đã phổ biến ở đồng bằng và một số khu vực miềnnúi nhưng về cơ bản, các dân tộc vùng Tây Bắc vẫn duy trì các phương thứcsản xuất truyền thống Tuy vậy, ở một số vùng đã có sự xuất hiện của việcphát triển cây công nghiệp, trồng cây ngô và lúa giống mới có năng suất cao,

mở rộng chăn nuôi đại gia súc và chú ý phát triển nghề dệt thổ cẩm truyềnthống

Tuy nhiên, tập quán trồng trọt ở mỗi tộc người tại các vùng thung lũng,vùng rẻo giữa và vùng cao vẫn có những nét riêng biệt, bởi những cách làm

ăn này đã tồn tại qua hàng nghìn năm canh tác của họ1

+ Các hoạt động kinh tế khác

Cho đến nay các tộc người sống ở Tây Bắc vẫn duy trì một số nghề thủ

công gia đình như dệt vải, đan lát, làm mộc, làm rèn, chế tác kim loại làmtrang sức, làm giấy dó Tuy nhiên, mỗi tộc người lại có những nghề nổi trội ví

dụ người Thái, người Lào, người Mường rất nổi tiếng với nghề trồng bông,dệt vải thổ cẩm, người Hmông nổi tiếng vói nghề rèn chế tác công cụ sản xuất

và trồng lanh dệt vải lanh Các công việc thủ công này thường do người phụ

nữ đảm nhiệm, riêng nghề đan lát đồ gia dụng nổi tiếng của nhóm Môn - khơ

me như: Khơ mu, Xinh Mun, Kháng lại chủ yếu do người đàn ông đảmnhiệm

+Trao đổi hàng hóa

Trao đổi hàng hóa là nhu cầu thiết yếu đã có từ lâu đời của các dân tộcthiểu số ở Tây Bắc, họ thường cùng nhau họp chợ tại trung tâm xã, huyệnhoặc ngay ven đường cái Do các tộc người đều cư trú ở vùng sâu vùng xanên họ chỉ họp chợ 5 ngày hoặc 1 tuần 1 lần

Trang 8

Với người Thái Khu vực chúa đất cai quản gọi là mường và có bộ máycai trị cũng như có luật lệ riêng Mỗi mường có một mường trung tâm và cácmường ngoại vi Chúa đất cai quản toàn mường, con trai cả của chúa đất sẽcai quan rmường trung tâm, các con trai thứ và các cháu sẽ cai quản các

mường phụ thuộc Bộ máy thống tri toàn mường lớn gọi là Xiêng hay

Chiềng

Trong quan hệ họ hàng của người Thái có 3 mối quan hệ đặc trưng, đólà:

- Ải nọng bao gồm những thành viên trai của từng dòng họ và có cùng

tổ tiên Quan hệ Ải nọng là quan hệ giữa những người con trai cùng thế hệ có

hôn nhân với người con gái của dòng họ khác

- Quan hệ Lung ta là mối quan hệ giữa những người con gái trong dòng

họ có quan hệ hôn nhân với thành viên của Ải nọng (con gái làm dâu bên Ảinọng)

- Quan hệ Nhinh sao là quan hệ giữa những người con trai dòng họ có

quan hệ hôn nhân với các thành viên gái của Ải nọng (con trai về làm rể Ải

nọng).

Với người Hmông bộ máy Seophảicai quản một bản, thống lý cai quảnmột vùng, ngoài ra còn có các phó thống lý, lý dịch Những người trong bộmáy cai trị thường là người đứng đầu các dòng họ

Trong xã hội truyển thống của người Hmông quan hệ cố kết dòng họ lànét đặc trưng nhất, nó được biểu hiện ở 2 hình thức: Cố kết rộng và cố kếthẹp

+Người Khơmú:

Người Khơ mú có nhiều dòng họ, các dòng họ của họ thường mang têncây, cỏ hay chim, thú Các quan hệ của họ chủ yếu dựa theo nhóm hôn nhân.Với các dân tộc khác như Kháng, XinhMun, tổ chức xã hội truyền thống của

họ cũng tương tự như ở người Khơmú, họ đều có quá trình dài lâu trong Lịch

Trang 9

sử là những người bị phụ thuộc và trở thành người làm công như lệ nông cho

các chúa đất (phía tạo) người Thái.

Qua những nét chính về bức tranh xã hội của phần lớn các dân tộc thiểu

số điển hình ở Tây Bắc trong đó nổi bật là các chúa đất Thái (phía tạo) và

- Nhà ở của các tộc người Thái, Lào, Mường, Khơmú, Xinhmun,

Kháng, Cống đều ở nhà sàn Với người Hmông, Dao lại ở nhà trệt, mái thấp,tường trình

- Về trang phục: Đây là nét đa dạng và độc đáo nhất của bản sắc văn

hóa tộc người thể hiện qua yếu tố văn hóa vật chất của các bộ trang phụ nữ vànam

- Về đồ ăn, uống: Các dân tộc vùng thấp như Thái và các dân tộc vùng

rẻo giữa thường ăn cơm nếp đồ, hiện nay bà con đã ăn cơm tẻ nhiều hơn

Người Thái có món nậm Pịa, mọc, lạp và làm nhiều loại bánh từ bột nếp Người Hmông thì món ăn đặc trưng vẫn là ngô bột được đồ lên (mèn mén),

thắng cố bánh dày được làm vào dịp tết Mông.

- Văn hóa tinh thần

Hầu hết các tộc người thiểu số sống ở vùng Tây Bắc đều theo tín

ngưỡng đa thần và quan niệm về vũ trụ xung quanh con người được tạo bởinhiều tầng thế giới Người Hmông, Dao đều cho rằng thế giới được tạo thànhbởi trời, đất, nước, dưới mặt đất Người Thái lại cho rằng riêng trời được cấutạo bởi 3 tầng thế giới

Về văn học dân gian của các tộc người ở Tây Bắc rất phong phú, nhất

là các dân tộc Thái, Mường, Hmông những nội dung của văn học dân gian

Trang 10

đều phản ánh cuộc sống lao động sản xuất, xã hội tộc người, nguồn gốc lịch

sử của dân tộc mình

2 Phân tích thực trạng nội dung nghiên cứu

2.1 Quan hệ dân tộc trong quá trình phát triển của các dân tộc trong vùng Tây Bắc

Vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc là vấn đề rộng lớn gồm nhiều khíacạnh và lĩnh vực khác nhau liên quan đến sự ổn định và phát triển của mỗidân tộc, mỗi quốc gia, do vậy, vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc luôn là mụctiêu có tầm chiến lược trong các chính sách từ vi mô đến vĩ mô của các quốcgia

Cho đến nay ở vùng Tây Bắc nhất là với 2 dân tộc được chọn làm mẫunghiên cứu thì quan hệ dân tộc mang tính tộc người vẫn giữ vai trò chủ đạo,thông qua quan hệ hôn nhân nội tộc, họ hàng thân thích, láng giềng đồng tộc

để thực hiện các nghi lễ tộc người

Vấn đề cơ bản thứ hai của các các dân tộc Tây Bắc mà chúng tôi muốn

đề cập ở đây là vấn đề đất đai với nhiều yếu tố rất nhậy cảm, để thấy đượcnhững nét cơ bản của tình hình đất đai ở Tây Bắc chúng tôi tập trung vào cácnội dung sau đây

2.2 Thực trạng sử dụng và quản lý đất đai ở các dân tộc vùng Tây Bắc

Tây Bắc là vùng đất rộng, người thưa, chiếm 11,3% diện tích cả nưóc,tiềm năng đất đai, rừng, nguồn nước, hệ sinh thái được xếp vào tốp đứng đầutrong 8 vùng kinh tế của cả nước

Tài nguyên đất ở Tây bắc vô cùng phong phú đây là một tiềm năng tolớn của Tây Bắc.Tuy nhiên, đất đai Tây Bắc còn có nhiều nơi chưa được hợpthức hóa hoặc sử dụng chưa hiệu quả nguồn tài nguyên này

Thứ nhất do việc bất cập trong việc thực hiện Nghị định 364/CP với nộidung phân lại địa giới hành chính tại các địa phương của Tây Bắc; Thứ hai

việc di dân tự do của người Hmông;Thứ ba chúng ta không thể bỏ qua đó là

Trang 11

những vấn đề bất cập trong quản lý sử dụng đất đai gây nên sự bất ổn định xãhội qua việc thực hiện chương trình di dân tái định cư thủy điện Sơn La.

2.3 Đói nghèo của các dân tộc vùng Tây Bắc

Nội dung cơ bản muốn đề cập tới là đói nghèo, đây là vấn đề vừa nangiải vừa bức xúc của Tây Bắc.Trên cơ sở lý thuyết cơ bản về những quanniệm về đói nghèo và các tài liệu chính thống của các cơ quan quản lý vềchính sách xã hội các cơ quan nghiên cứu và quản lý vùng đồng bào các dântộc thiểu số cộng với các tài liệu điều tra tại các địa phương và hai dân tộcđược chọn làm mẫu nghiên cứu chúng tôi đã đưa ra những nhận xét và đánhgiá về các vấn đề sau :

Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động thương binh xã hội đến cuốinăm 2005 - 2010 trên địa bàn Tây Bắc vẫn còn 80.780 hộ nghèo chiếm tỷ lệ58,6% cao nhất trong cả nươc Nếu tổng hợp lại, có thể thấy, nhìn chung tỷ lệ

hộ nghèo ở vùng các dân tộc thiểu số Tây Bắc trong gần một thập niên quadao động trong khoảng trên dưới 40% Với chuẩn nghèo quốc gia mới đâyquy định 200.000 đ/tháng Thu nhập và đời sống dân cư vùng Tây Bắc đếnnay vẫn thấp nhất trong 8 khu vực cả nước

2.4 Một số vấn đề về xã hội

Vấn đề về xã hội, qua đó chúng tôi muốn cung cấp cái nhìn toàn diện

về những vấn đề cơ bản của các dân tộc Tây Bắc qua các vấn đề về an sinh xãhội, tình hình y tế và giáo dục, đây là những vấn đề quan trọng tạo nên sựphát triển bền vững cho vùng Tây Bắc

Vấn đề y tế - giáo dục ở Tây Bắc: Xuất phát từ quan điểm Y tế, chăm

sóc sức khỏe (CSSK) là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu củachiến lược kinh tế - xã hội, nhằm mang lại phúc lợi cho người dân Trongnhững năm qua, việc CSSK đối vói các dân tộc ít người ở Tây Bắc đã có

nhiều bước tiến đáng kể về : về mạng lưới y tế; về sức khoẻ sinh sản cho phụ

nữ; Chăm sóc sức khoẻ trẻ em qua các số liệu cụ thể tại địa bàn nghiên cứu

chúng tôi thấy : Nhìn chung tình hình y tế, chăm sóc sức khỏe của các tỉnh

Ngày đăng: 05/01/2023, 17:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w