1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Chính sách an sinh xã hội đối với dân cư vùng khó khăn, vùng dân tộc, miền núi nước ta, giai đoạn 2015 2020

26 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách an sinh xã hội đối với dân cư vùng khó khăn, vùng dân tộc, miền núi nước ta, giai đoạn 2015 - 2020
Trường học Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính sách và phát triển
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 140 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A A MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài tiểu luận Đối với nước ta, bảo đảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội luôn là một chủ trương, nhiệm vụ lớn của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất tốt đ.

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I

CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI DÂN CƯ VÙNG KHÓ KHĂN, VÙNG DÂN TỘC, MIỀN NÚI NƯỚC TA,

GIAI ĐOẠN 2015 - 2020 Chuyên đề Tự chọn số 11

Họ và tên học viên: Cao Thanh Tuấn

Lớp: Cao cấp lý luận chính trị tỉnh Nghệ An

Khóa học: 2014 - 2016

Hà Nội, tháng 12 năm 2015

Trang 2

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài tiểu luận

Đối với nước ta, bảo đảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi

xã hội luôn là một chủ trương, nhiệm vụ lớn của Đảng và Nhà nước, thể hiệnbản chất tốt đẹp của chế độ ta và có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ổn địnhchính trị - xã hội và phát triển bền vững của đất nước

Bảo đảm an sinh xã hội (ASXH) không chỉ là bảo vệ quyền của côngdân như đã nêu trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, mà còn là mộtnhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển Tuy nhiên,mức độ, quy mô, phạm vi an sinh xã hội và phúc lợi xã hội của các nước có

sự khác nhau, tùy thuộc vào quan niệm, chế độ chính trị - xã hội, trình độ pháttriển và chính sách của mỗi quốc gia Đối tượng cần được ASXH quan tâm ởViệt Nam khá đa dạng bao gồm nhiều thành phần dân cư, dân tộc, xã hội thuộc diện người nghèo, người yếu thế

Với ý nghĩa đó, trong quá trình nghiên cứu học tập, bản thân tôi lựa

chọn vấn đề:“Chính sách an sinh xã hội đối với dân cư vùng khó khăn, vùng dân tộc, miền núi nước ta, giai đoạn 2015 - 2020” để nghiên cứu làm

đề tài tiểu luận Khối kiến thức thứ IV, Cao cấp LLCT không tập trung

2 Mục đích

Nghiên cứu đề tài tiểu luận “Chính sách an sinh xã hội đối với dân cư vùng khó khăn, vùng dân tộc, miền núi nước ta giai đoạn 2015 - 2020" sẽ

giúp chúng ta hiểu rõ hơn thế nào là An sinh xã hội, các bộ phận, cấu trúc của

an sinh xã hội, ý nghĩa của việc triển khai chính sách an sinh xã hội ở nước tahiện nay, thực trạng chính sách an sinh xã hội, để từ đó tiếp tục xác định cácmục tiêu, biện pháp giải quyết vấn đề

Trang 3

3 Giới hạn

3.1 Đối tượng

Đối tượng ASXH ở vùng nông thôn, vùng nghèo, vùng khó khăn, vùngdân tộc và miền núi là nhóm cộng đồng dân cư cần có nhiều nhu cầu hỗ trợtoàn diện và cấp bách nhất trong các đối tượng cần được quan tâm, cụ thể:

- Vùng nông thôn: là địa bàn sinh sống chủ yếu của người nông dân,trong đó có nông dân là người dân tộc thiểu số Nông thôn vùng dân tộc thiểu

số và miền núi là khu vực có nhiều khó khăn trong phát triển xây dựng nôngthôn mới, ít có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ để phát triển cơ sở hạ tầng,giáo dục, y tế

- Vùng nghèo, vùng khó khăn: Chủ yếu là vùng mà các cộng đồng dân

cư có mức sống thấp, bấp bênh, ít có cơ hội và năng lực để vươn lên thoátnghèo Trong đối tượng dân cư vùng nghèo đó, thì vùng dân tộc thiểu sốchiếm tỷ lệ đáng kể Đối tượng xóa đói giảm nghèo, chương trình 135 hai giaiđoạn, chương trình 134, chương trình 63 huyện nghèo đều có liên quan đếnvùng đồng bào dân tộc thiểu số

- Vùng dân tộc miền núi là địa bàn sinh sống của cộng đồng nhiều dântộc anh em với những điều kiện khó khăn về cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất

và tiếp cận với các dịch vụ công để tồn tại bình thường, hội nhập và pháttriển Trong nhiều năm qua, tuy khu vực này được đầu tư không nhỏ trongthực hiện các chính sách dân tộc, chính sách phát triển kinh tế - xã hội songđời sống của không nhỏ bộ phận dân cư, dân tộc trong khu vực còn nhiều khókhăn

Như vậy trên bình diện chung của quốc gia, đối tượng chịu tác độngcủa chính sách ASXH khu vực trên đây là đối tượng đặc thù Trong chiếnlược phát triển của quốc gia từ nay đến 2020 ngoài các chính sách cụ thể(chính sách dân tộc, chính sách phát triển kinh tế - xã hội ) thì các chính sách

Trang 4

dưới góc độ ASXH cần được quan tâm đâu tư, lên kế hoạch trong việc xácđịnh rõ hơn các nhóm đối tượng và lộ trình tác động để có hiệu quả cao vàđảm bảo tính bền vững.

3.2 Không gian: Nghiên cứu tiểu luận về Chính sách an sinh xã hội

đối với dân cư vùng khó khăn, vùng dân tộc, miền núi

3.3 Thời gian: Giai đoạn 2015 - 2020.

4 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu tài liệu, các văn bản chỉ đạo của Trung ương, tỉnh, huyện

về chính sách an sinh xã hội, đề án phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2020

2015 Phân tích biện chứng

5 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu tiểu luận “Chính sách an sinh xã hội đối với dân cư vùng khó khăn, vùng dân tộc, miền núi nước ta, giai đoạn 2015 - 2020” sẽ cho thấy

vai trò và ý nghĩa to lớn của hệ thống an sinh xã hội đối với sự phát triển và

ổn định kinh tế - xã hội nước ta hiện nay và trong tương lai, cụ thể:

Thứ nhất, an sinh xã hội góp phần ổn định đời sống của người lao

động Hệ thống an sinh xã hội sẽ góp phần thay thế hoặc bù đắp một phầnthu nhập khi người lao động bị ốm đau, mất khả năng lao động, mất việclàm, hoặc chết Nhờ có sự thay thế hoặc bù đắp thu nhập kịp thời mà ngườilao động khắc phục nhanh chóng được những tổn thất về vật chất, nhanhphục hồi sức khỏe, ổn định cuộc sống để tiếp tục quá trình hoạt động bìnhthường

Thứ hai, an sinh xã hội góp phần đảm bảo an toàn, ổn định cho toàn

bộ nền kinh tế - xã hội Để phòng ngừa, hạn chế tổn thất, các đơn vị kinh tếphải đề ra các quy định chặt chẽ về an toàn lao động buộc mọi người phảituân thủ Khi có rủi ro xảy ra với người lao động, hệ thống an sinh xã hội kịp

Trang 5

thời hỗ trợ, tạo điều kiện cho người lao động nhanh ổn định cuộc sống vàsản xuất Tất cả những yếu tố đó góp phần quan trọng làm ổn định nền kinh

tế - xã hội

Thứ ba, hệ thống an sinh xã hội, trong đó có bảo hiểm xã hội (BHXH)

làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa người lao động, người sử dụng laođộng và Nhà nước Người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước đềutham gia đóng góp vào quỹ BHXH, điều đó làm cho người lao động có tráchnhiệm hơn trong công việc, trong lao động sản xuất Người sử dụng laođộng tham gia đóng góp quỹ BHXH cho người lao động được hưởng các chế

độ BHXH cũng thấy rõ trách nhiệm của mình đối với người lao động Nhànước vừa tham gia đóng góp, vừa điều hành hoạt động của quỹ BHXH, đảmbảo sự công bằng, bình đẳng cho mọi đối tượng thụ hưởng… Điều đó làmtăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa Nhà nước - người sử dụng lao động -người lao động, góp phần ổn định nền kinh tế - xã hội

Thứ tư, hệ thống an sinh xã hội góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

và công bằng xã hội Quỹ an sinh xã hội, trong đó có quỹ BHXH là nguồntài chính tập trung khá lớn, được sử dụng để chi trả các chế độ cho người laođộng và gia đình họ, phần nhàn rỗi được đầu tư vào các hoạt động sản xuất,kinh doanh để bảo tồn và tăng trưởng quỹ Như vậy xét trên cả phương diệnchi trả các chế độ, cũng như đầu tư tăng trưởng quỹ, hoạt động của quỹ ansinh xã hội đều góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế

Bên cạnh đó, phân phối trong an sinh xã hội là sự phân phối lại theo

hướng có lợi cho những người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhậpcủa những người khỏe mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người

ốm, yếu, gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trongcuộc sống Vì vậy, an sinh xã hội góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữangười giàu và người nghèo, góp phần bảo đảm sự công bằng xã hội

Trang 6

An sinh xã hội là một trong những chính sách xã hội cơ bản thể hiệnđường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta hướng vào mục tiêu pháttriển con người, thúc đẩy công bằng và tiến bộ, nâng cao chất lượng cuộcsống của nhân dân, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước Đểchính sách này đảm bảo tốt hơn đời sống cho người dân, đặc biệt là dân cưvùng khó khăn, vùng dân tộc và miền núi, góp phần tích cực vào việc ổnđịnh, an toàn xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước thìviệc xây dựng và hoàn thiện Pháp luật về an sinh xã hội ở Việt Nam là hếtsức cần thiết Pháp luật an sinh xã hội phải trên cơ sở kế thừa và phát huynhững thành tựu lập pháp đã đạt được cũng như điều chỉnh các quan hệ mớitheo điều kiện thực tế để Việt Nam có được một hệ thống an sinh xã hội pháttriển, đủ sức chống đỡ với các rủi ro xã hội.

6 Cấu trúc tiểu luận:

Trang 7

B NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận của chính sách an sinh xã hội

Hệ thống an sinh xã hội (ASXH) là một bộ phận trong mô hình pháttriển xã hội để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,văn minh Hoạt động của hệ thống ASXH là nơi thể hiện rõ nhất tính “địnhhướng xã hội chủ nghĩa” của nền kinh tế thị trường, trong đó, con người luôn

có được, bao gồm cả cảm nhận được, một cuộc sống yên ổn và an toàn, cókhả năng phòng ngừa những cú sốc và có những “chiếc phao cứu sinh” khigặp phải những biến cố, rủi ro bất thường

Từ nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổchức thực hiện các chính sách ASXH, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là độnglực để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội Diện thụ hưởng chínhsách ngày càng mở rộng, mức hỗ trợ được nâng lên Nguồn lực đầu tư pháttriển các lĩnh vực xã hội ngày càng lớn Nước ta đã đạt được nhiều thành tựuquan trọng, nhất là trong giảm nghèo, tạo việc làm, giáo dục và đào tạo, y tế,trợ giúp người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Đời sống vật chất và tinh thầncủa người người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số được cải thiện và đã đượcquốc tế ghi nhận và đánh giá cao

Tuy nhiên, trên thực tế, hệ thống chính sách ASXH của nước ta hiện cònphân tán, chồng chéo, hiệu quả chưa cao, tạo việc làm và giảm nghèo chưabền vững, tỉ lệ hộ cận nghèo, tái nghèo còn cao; mức trợ cấp xã hội còn thấp;giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; công tác bảo vệ, chămsóc sức khoẻ người dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào vùng sâu,vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế; tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡngcòn cao và giảm chậm; tỉ lệ người tham gia BHXH, BHYT còn thấp; đời sốngcủa một bộ phận người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số chưa bảo đảm được

Trang 8

mức tối thiểu và có sự chênh lệch giữa miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu

số với mức trung bình của cả nước

Những hạn chế trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự thiếu thốngnhất trong nhận thức về nội dung, vai trò và vị trí của ASXH trong mô hìnhphát triển xã hội nên hệ thống ASXH chưa theo kịp sự phát triển kinh tế,nguồn lực thực hiện bảo đảm ASXH còn hạn chế, chủ yếu phải dựa vào Nhànước, chưa khuyến khích người dân và các đối tác xã hội tích cực chủ độngtham gia

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đặt ra nhiệm vụ “Phải coi trọng việckết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng

xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần củanhân dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, đặc biệt

là trong tình hình kinh tế khó khăn, suy giảm”… “Tiếp tục sửa đổi, hoànchỉnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xãhội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, trợ giúp mọi thành viên trong xãhội, nhất là các nhóm yếu thế dễ bị tổn thương vượt qua khó khăn hoặc cácrủi ro trong đời sống”; “tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình xoáđói, giảm nghèo ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn”

Nghị Quyết số 15 của Ban chấp hành TW Đảng về “Một số vấn đề vềchính sách xã hội giai đoạn 2012-2020” cũng yêu cầu “Chính sách xã hội phảiđược đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triểnkinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thờikỳ ”, đồng thời thực hiện có trọng tâm, trọng điểm; bảo đảm mức sống tốithiểu và hỗ trợ kịp thời người có hoàn cảnh khó khăn

Với quan điểm đó, Chính phủ đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020 cơ bảnhình thành một hệ thống ASXH bao phủ toàn dân nhằm bảo đảm để ngườidân có việc làm, thu nhập tối thiểu; tham gia BHXH, bảo đảm hỗ trợ những

Trang 9

người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, ngườicao tuổi thu thập thấp, người khuyết tật nặng, người nghèo…); bảo đảm chongười dân tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu (y tế, giáodục, nhà ở, nước sạch, thông tin), góp phần giảm nghèo bền vững, ổn địnhchính trị và phát triển kinh tế-xã hội

2 Thực trạng thực hiện chính sách An sinh xã hội ở Việt Nam những năm qua

2.1 Ưu điểm

Thực hiện đường lối Đổi mới, trong hơn 25 năm qua, công tác bảo đảm

an sinh xã hội ở nước ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng Hệ thống ansinh xã hội ngày càng đồng bộ và hoàn thiện với diện bao phủ không ngừngđược mở rộng Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừngđược cải thiện An sinh xã hội đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho ngườinghèo và đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội, góp phần hình thành xã hộikhông còn nhóm xã hội bị loại trừ và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩacủa sự phát triển đất nước

Về mặt thể chế, trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước

ta đã hoạch định và triển khai nhiều chính sách an sinh xã hội quan trọng, huyđộng được nhiều nguồn lực của toàn xã hội để trợ giúp cho các đối tượng(người dân tộc thiểu số, người nghèo, người già cô đơn, trẻ em và các đốitượng dễ bị tổn thương) vươn lên trong cuộc sống Các chính sách và giảipháp bảo đảm an sinh xã hội được triển khai đồng bộ trên cả 3 phương diện:(1) Giúp các đối tượng thụ hưởng tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ côngcộng, nhất là về y tế, giáo dục, dạy nghề, trợ giúp pháp lý, nhà ở, ; (2) Hỗ trợphát triển sản xuất thông qua các chính sách về bảo đảm thị trường, tín dụng,việc làm; (3) Phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu cho các địa phương phục vụngười dân tốt hơn

Trang 10

Đến nay công tác bảo đảm an sinh xã hội đã đạt được nhiều thành tựunổi bật, được nhân dân đồng tình, quốc tế đánh giá cao: số hộ nghèo giảm từ29% (năm 2002) xuống còn 9,5% (năm 2011); chỉ số phát triển con người(HDI) tăng từ mức 0,683 (năm 2000) lên mức 0,728 (năm 2011), xếp thứ128/187 nước, thuộc nhóm trung bình cao của thế giới; năm 2011 nước ta đãhoàn thành 6/8 nhóm Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) do Liên hợpquốc đề ra cho các nước đang phát triển đến năm 2015

Hệ thống pháp luật về an sinh xã hội ngày càng hoàn thiện hơn, đã trởthành căn cứ pháp lý quan trọng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội

Hệ thống bảo hiểm xã hội được quan tâm phát triển với nội dung và hìnhthức ngày càng phong phú, nhằm chia sẻ rủi ro và trợ giúp thiết thực chonhững người tham gia Bảo hiểm xã hội được triển khai đồng bộ với 3 loạihình là: bảo hiểm bắt buộc (bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế), bảo hiểm tựnguyện và bảo hiểm thất nghiệp Số người tham gia bảo hiểm bắt buộc tăngnhanh, từ 4,8 triệu (năm 2001) lên 9,7 triệu (năm 2011) Sau gần 3 năm triểnkhai bảo hiểm xã hội tự nguyện, đến năm 2010 có khoảng 96,6 nghìn ngườitham gia Năm 2011 có khoảng 7,6 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp.Bảo hiểm y tế tăng nhanh từ 13,4% dân số (năm 2000) lên khoảng 62% (năm2010) Đặc biệt, đã thực hiện chính sách bảo hiểm y tế miễn phí cho trẻ emdưới 6 tuổi, một số đối tượng chính sách, người nghèo và hỗ trợ bảo hiểm y tếcho các hộ cận nghèo

Việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo đạt nhiều kết quả khảquan: Thực hiện quan điểm của Đảng, trong thời gian qua, Chính phủ đãgiành nhiều nguồn lực cho xoá đói giảm nghèo thông qua các chương trình dự

án lớn, như: Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khănmiền núi và vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135); Chương trình về địnhhướng kế hoạch phát triển các vùng Tây Nguyên (Chương trình 168); Chương

Trang 11

trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng Sông Cửu Long (Chươngtrình 173); Chương trình phát triển vùng đặc biệt khó khăn 6 tỉnh miền núiphía Bắc (Chương trình 186) và Quyết định 134/2004/QĐ-TTg của Thủ tướngChính phủ về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinhhoạt cho hộ đồng bào nghèo, đời sống khó khăn

Hệ thống chính sách ưu đãi đối với người có công không ngừng đượchoàn thiện Mức trợ cấp ưu đãi năm 2010 tăng 2,2 lần so với năm 2006 Thựchiện chính sách ưu đãi thường xuyên cho hơn 1,4 triệu người có công Đếnnay, hơn 90% gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mứctrung bình của dân cư cùng địa bàn

Việc thực hiện chính sách xã hội đối với đồng bào khó khăn, vùng sâu,vùng xa đã được quan tâm thông qua việc triển khai nhiều chính sách hỗ trợthiết thực: Thời gian qua chính sách này được thực hiện nhằm hỗ trợ học sinhdân tộc ít người ở vùng cao, vùng sâu và vùng có điều kiện kinh tế xã hộiĐBKK học tại các trường hệ công lập chính quy, dài hạn tập trung, miễn giảmhọc phí, tạo việc làm, xã hội hóa giáo dục để người dân có diều kiện tiếp cậngiáo dục rộng rãi, chăm sóc sức khỏe Nhiều văn bản quan trọng đã được rađời tạo cơ sở pháp lý, điều kiện kinh tế và môi trường xã hội để thực hiện cácmục tiệu ASXH đề ra như: Quyết định số 1121/1997/ QĐ-TTg ngày 23 tháng12/1997 và Quyết định số 194/2001/ QĐ-TTg ngày 21 tháng 12/2001 quyđịnh người dân tộc ít người ở vùng cao, vùng sâu và vùng có điều kiện kinh tế

xã hội ĐBKK học tại các trường hệ công lập chính quy, dài hạn tập trungđược hưởng trợ cấp xã hội với mức 140.000đ/người/tháng x 12 tháng/năm;Quyết định số 81/2005/ QĐ-TTg ngày 18 tháng 4/2005 về chính sách hỗ trợdạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn; Thông tư liên tịch số06/2006/TTLT/BTC-BLĐTBXH ngày 19/1/2006 của liên bộ Tài chính và BộLao động - Thương binh và xã hội hướng dẫn thực hiện Quyết định số

Trang 12

81/2005, trong đó quy định: Người dân tộc thiểu số là đối tượng được ưu tiênđược hưởng chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn, mức hỗ trợ tối đa là300.000đ/người/tháng và không quá 1.500.000đ/người/khoá học nghề; VớiQuyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 về việc phê Quyết định số1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt

Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Giáo viên, cán

bộ quản lý dạy nghề thường xuyên phải xuống các thôn, bản thuộc vùng cóđiều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để dạy nghề với thời gian từ 15ngày trở lên trong tháng được hưởng phụ cấp lưu động hệ số 0,2 so với mứclương tối thiểu chung Giáo viên của các cơ sở dạy nghề công lập thuộc cáchuyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có nhiều đồngbào dân tộc thiểu số được giải quyết nhà công vụ như đối với giáo viên ở các

cơ sở giáo dục mầm non đến các cấp học phổ thông

Các chính sách trợ giúp xã hội (thường xuyên và đột xuất) được thựchiện rộng hơn cả về quy mô và đối tượng thụ hưởng với mức trợ giúp ngàycàng tăng Kinh phí trợ giúp thường xuyên từ ngân sách nhà nước và số ngườiđược thụ hưởng tăng nhanh, từ 113 tỉ đồng cho hơn 180 nghìn người (năm2001) tăng lên 4.500 tỉ đồng cho hơn 1,6 triệu người (năm 2010) Hằng nămNhà nước còn trợ cấp đột xuất hàng nghìn tỉ đồng và hàng chục nghìn tấnlương thực, thuốc men, chủ yếu để trợ giúp khắc phục thiên tai.Các phong trào “Tương thân, tương ái”, “Quỹ vì người nghèo“, “Đền ơn đápnghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” được tổ chức thường xuyên và thu hút sựhưởng ứng của nhiều lực lượng xã hội, đóng góp đáng kể vào việc nâng cao

an sinh xã hội cho mọi người, nhất là những người nghèo, vùng khó khăn,miền núi

Trang 13

Như vậy có thể nói, trong thời gian qua, chính sách ASXH đối với dân

cư nông thôn, vùng nghèo, vùng khó khăn, vùng dân tộc và miền núi ở nước

ta đã được triển khai tương đối toàn diện với những kết quả đạt được, đó là:

- Đã xác định tương đối cụ thể đối tượng được tác động của chính sách:

là những địa bàn đặc biệt khó khăn, hộ khó khăn, thôn bản khó khăn, dân tộcđặc biệt ít người khó khăn, vùng khó khăn

- Đã xác định những tiêu chí cụ thể cho từng đối tượng với các địnhmức về mức sống, điều kiện sống, điều kiện tiếp cận với các dịcch vụ công vàcác điều kiện hội nhập khác để tác động chính sách ASXH

- Chính sách tác động tương đối toàn diện nhằm vào các nhóm vấn đềchính như: hỗ trợ về kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, môi trường sống vớicác định mức hỗ trợ, tác động cho từng nhóm đối tượng cụ thể: dân cư, họcsinh, nhà trường, hộ gia đình, dân tộc tương ứng với từng thời kỳ

2.2 Hạn chế

Đến nay, công tác bảo đảm an sinh xã hội ở nước ta vẫn còn nhiều bấtcập và yếu kém: Công tác xây dựng luật, chính sách về an sinh xã hội chưađồng đều ở các địa phương, chưa đáp ứng nhu cầu đổi mới của xã hội; Cácchính sách tác động trên địa bàn, đối tượng đặc thù này có khi mang tínhchuyên biệt, có khi lồng ghép nên hiệu quả có tính ổn định chưa cao; giảmnghèo chưa bền vững, người dân ở vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xacòn nhiều khó khăn, phân hóa giàu nghèo, phân hóa giữa các vùng miền có xuhướng mở rộng Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn, ở vùng đô thị hóa vàthất nghiệp ở thành thị còn nhiều Nguồn lực để thực hiện an sinh xã hội cònhạn chế, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, với diện bao phủ và mức hỗtrợ thấp, chưa theo kịp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướngXHCN Khả năng cân đối giữa nguồn và sử dụng của hệ thống an sinh xã hội,

Ngày đăng: 05/01/2023, 17:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Các bài về vấn đề an sinh xã hội đã được đăng trên các báo Khác
2. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 của Chính phủ Khác
3. Giáo trình An sinh xã hội - PGS, TS Nguyễn Văn Định chủ biên Khác
4. Nguyễn Thị Oanh và nhóm tác giả (1997), An sinh xã hội và các vấn đề xã hội, ĐHMBC TP.HCM Khác
6. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 204 Khác
7. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010 Khác
8. Và các tài liệu liên quan khác Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w