Trong Quý I/2013, Tập đoàn đã hoàn thành Dự thảo Điều lệ Công ty mẹ - Tập đoàn Dầu khí Việt Nam trình Chính phủ phê duyệt; giải thể Chi nhánh Tập đoàn Dầu khí Việt Nam - Công ty Nhập khẩ
Trang 1SỐ 4 - 2013 T¹p chÝ cña tËp ®oµn dÇu khÝ quèc gia viÖt nam - petrovietnam
ISSN-0866-854X
Tăng cường giám sát an toàn
TRÊN CÁC CÔNG TRÌNH DẦU KHÍ
Trang 2Giấy phép xuất bản số 100/GP - BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 15/4/2013
TS Phan Tiến Viễn
TS Nguyễn Tiến Vinh
TS Nguyễn Hoàng Yến
Thư ký Tòa soạn
ThS Lê Văn Khoa
ThS Nguyễn Thị Việt Hà
Tổ chức thực hiện, xuất bản
Viện Dầu khí Việt Nam
Tòa soạn và trị sự
Tầng 16, Tòa nhà Viện Dầu khí Việt Nam
173 Trung Kính, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Trang 3Tổng hợp chất ức chế quá trình polymer hóa các sản phẩm lỏng của quá trình nhiệt phân hydrocarbon phân đoạn xăng từ lignin bằng hỗn hợp natrium nitrite và natrium nitrate
Đánh giá khả năng áp dụng công nghệ thu tách CO2 cho các nhà máy nhiệt điện của Petrovietnam
Đánh giá khả năng ảnh hưởng nếu xảy ra sự cố tràn dầu ở khu vực vịnh Cửa Lục
Nghiệm thu dự án Phân xưởng sản xuất Polypropylene Dung Quất
PV Drilling cung cấp giàn khoan cho PVEP POCIraq nâng trữ lượng dầu mỏ lên 150 tỷ thùngSản lượng dầu khí ở Biển Bắc năm 2017
sẽ tăng lên 2 triệu thùng/ngày
48
56
69707172
Trang 4Predicting the quality of Middle Miocene reservoir of some undrilled prospects
in North Song Hong basinApplication of seismic wave absorption and velocity dispersion in petroleum exploration and production
Investigating the mechanism of oil displacement by polymer flooding through Bach Ho Lower Miocene core plugs
Synthesis of -Al2O3 from Tan Binh Al(OH)3 precursor for petrochemical catalystpreparations
Characterisation and evaluation of catalytic activity of MOF-Co catalyst for Tropsch synthesis
Fischer-Synthesis of polymerisation inhibitor by modifying kraft-lignin with the mixture
of natrium nitrite and natrium nitrateEvaluation of possible application of CO2 capture technologies for Petrovietnam’s thermal power plants
Evaluation of possible impacts in case of oil spill accident in Cua Luc BayOfficial acceptance of Dung Quat Polypropylene Plant
PV Drilling supplies drilling rigs to PVEP Iraq raises oil reserves to 150 billion barrels Oil and gas output in the North Sea expected to increase
to 2 million barrels/day in 2017
FOCUSPetroleum production in the first quarter amounts to 27% of the yearly plan
Safety management to be enhanced on petroleum installations
Performance of oil and gas processing plants to be improved
Trang 5Vượt mức nhiều chỉ tiêu quan trọng
Theo ông Trần Quốc Việt - Trưởng Ban Kế hoạch Tập
đoàn Dầu khí Việt Nam, Petrovietnam giữ được nhịp độ
sản xuất kinh doanh tốt và đã hoàn thành vượt mức tất
cả các chỉ tiêu, nhiệm vụ kế hoạch đề ra trong Quý I/2013,
có mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2012 Cụ thể,
Tập đoàn đã ký 1 thỏa thuận và 2 hợp đồng dầu khí mới;
gia tăng trữ lượng dầu khí bằng 28,6% kế hoạch năm
Tổng sản lượng khai thác quy dầu đạt 106,1% so với kế
hoạch, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2012 Đồng thời, Tập
đoàn tiếp tục phối hợp hiệu quả với các Bộ/Ngành liên quan trong việc triển khai các dự án tìm kiếm, thăm dò và khẳng định chủ quyền Quốc gia trên biển
Bên cạnh đó, Tập đoàn đã sản xuất 428,7 nghìn tấn đạm, tăng 62% so với cùng kỳ năm 2012 (trong đó, Nhà máy Đạm Phú Mỹ sản xuất 219,3 nghìn tấn, từ Nhà máy Đạm Cà Mau sản xuất 209,4 nghìn tấn) Sản xuất xăng dầu Quý I đạt 1,66 triệu tấn, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm 2012 (trong đó, Nhà máy condensate Phú Mỹ sản xuất 149,7 nghìn tấn, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất sản xuất 1,51 triệu tấn) Tập đoàn
ĐẠT 27% KẾ HOẠCH NĂM
Ngày 5/4/2013, Tập đoàn Dầu
khí Việt Nam (Petrovietnam) đã tổ
chức họp báo trực tuyến công bố
kết quả sản xuất kinh doanh tại
2 điểm cầu Hà Nội và Tp Hồ Chí
Minh Trên cơ sở tổng sản lượng
khai thác dầu quy đổi Quý I đạt
27% kế hoạch năm, Petrovietnam
đặt mục tiêu sẽ khai thác 6,43
triệu tấn dầu quy đổi trong Quý
II/2013, trong đó có 4,03 triệu tấn
dầu và 2,4 tỷ m 3 khí
TSKH Phùng Đình Thực - Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam chủ trì họp báo Ảnh: PVN
Trang 6đã sản xuất và cung cấp cho lưới điện Quốc gia 4,45 tỷ kWh
điện, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm 2012 Tổng doanh thu
toàn Tập đoàn đạt 178,7 nghìn tỷ đồng, bằng 117,4% kế
hoạch Quý I và 27,6% kế hoạch năm, tăng 3% so với cùng
kỳ năm 2012 Petrovietnam đã nộp ngân sách Nhà nước 43
nghìn tỷ đồng, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm 2012
Trong Quý I/2013, tổng giá trị thực hiện đầu tư đạt
10,7 nghìn tỷ đồng Trong đó, Tập đoàn đã ký hợp đồng
EPC chìa khóa trao tay dự án Lọc hóa dầu Nghi Sơn, khởi
công dự án Hệ thống thu gom và phân phối khí mỏ Hàm
Rồng và mỏ Thái Bình, Lô 102 & 106 giai đoạn 1, khởi công
công trình giàn đầu giếng mỏ Kim Cương, hạ thủy thành
công chân đế Thỏ Trắng và Thăng Long, phát điện thành
công lên lưới điện Quốc gia Tổ máy số 1 và 2 Nhà máy
Thủy điện Hủa Na, đóng điện ngược và thử áp lò hơi Tổ
máy số 1 Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1, khánh thành
Kho chứa LPG lạnh Thị Vải
Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cho biết,
Tập đoàn đang trong quá trình tái cơ cấu mạnh mẽ và
khẩn trương triển khai Đề án tái cơ cấu giai đoạn 2012
- 2015 theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Trong
Quý I/2013, Tập đoàn đã hoàn thành Dự thảo Điều lệ Công
ty mẹ - Tập đoàn Dầu khí Việt Nam trình Chính phủ phê
duyệt; giải thể Chi nhánh Tập đoàn Dầu khí Việt Nam -
Công ty Nhập khẩu và Phân phối than Dầu khí để chức
năng này cho Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam thực
hiện theo quy định của pháp luật; hoàn thành chuyển 2
hợp đồng dầu khí từ Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu
khí về Tập đoàn Dầu khí Việt Nam trực tiếp quản lý; triển
khai các công tác thu gọn đầu mối kinh doanh xăng dầu
và xây dựng phương án tái cấu trúc lĩnh vực kinh doanh
xăng dầu Dự kiến trong Quý II/2013, Tập đoàn sẽ hoàn thành phê duyệt phương án tái cấu trúc cho các đơn vị để các đơn vị có định hướng rõ ràng phát triển; hoàn thành việc rà soát các mục tiêu, nhiệm vụ và tổ chức phê duyệt
Kế hoạch 5 năm và Chiến lược phát triển của các đơn vị thành viên phù hợp với phương án tái cơ cấu đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Phấn đấu khai thác 6,43 triệu tấn dầu quy đổi trong Quý II
Trong Quý II/2013, Tập đoàn sẽ tập trung triển khai
10 giải pháp trọng tâm, phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh chủ yếu
đã đề ra trong Quý II/2013 Trong đó, sẽ triển khai đúng tiến độ và thu xếp vốn cho các dự án đầu tư; phấn đấu
ký 4 - 5 hợp đồng dầu khí mới; đưa 4 mỏ/công trình dầu khí mới vào khai thác (3 mỏ/công trình ở trong nước và 1
mỏ ở nước ngoài) Đồng thời, tổ chức kiểm soát chặt chẽ các hoạt động dầu khí trên biển Đông; kiểm soát chặt chẽ tiến độ các dự án tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ
và khai thác dầu khí, đảm bảo hoàn thành gia tăng trữ lượng và sản lượng khai thác dầu khí năm 2013 theo kế hoạch đề ra Trong đó, sản lượng khai thác Quý II phấn đấu đạt 6,43 triệu tấn dầu quy đổi, ước tổng sản lượng khai thác 6 tháng đầu năm 2013 đạt 13,22 triệu tấn dầu quy đổi Cũng trong Quý II, Tập đoàn sẽ sản xuất 413,2 nghìn tấn đạm, 3,72 tỷ Kwh điện và 1,345 triệu tấn xăng dầu các loại Doanh thu toàn Tập đoàn ước đạt 158,3 nghìn tỷ đồng trong Quý II và 338 nghìn tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2013
Theo TSKH Phùng Đình Thực, phương án mở rộng
và nâng công suất Nhà máy Lọc dầu Dung Quất từ 6,5
Trang 7triệu tấn/năm lên 10 triệu tấn/năm hiện đang gặp một
số thách thức Petrovietnam đã đàm phán với nhiều
đối tác nước ngoài để cùng triển khai dự án này Hiện
đối tác SK Innovation (Hàn Quốc) đang phối hợp với
Petrovietnam tham gia tính toán các phương án đầu tư
mở rộng và nâng công suất Nhà máy Tuy nhiên, với chủ
trương thu hút đầu tư nước ngoài vào dự án mở rộng và
nâng cấp Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Chính phủ đã
giao Petrovietnam chủ động tính toán phương án chỉ
nâng cấp Nhà máy mà không mở rộng như kế hoạch ban
đầu nếu đối tác nước ngoài không tham gia Việc đầu tư
nâng cấp Nhà máy là cần thiết để trong tương lai có thể
sử dụng nguồn dầu thô thay thế dầu Bạch Hổ, đảm bảo
hiệu quả hoạt động của Nhà máy
Đối với các dự án nhiên liệu sinh học và tình hình
kinh doanh xăng E5 tại thị trường Việt Nam, Chủ tịch
HĐTV Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cho biết, các đơn vị
thành viên của Tập đoàn tham gia đầu tư vào 3 dự án
nhiên liệu sinh học Ngoài dự án Ethanol Dung Quất (đơn vị trong Ngành đầu tư 100% vốn), hai dự
án còn lại tại Phú Thọ và Bình Phước các đơn vị trong Ngành đầu tư cùng các đối tác khác trong và ngoài nước (tỷ lệ vốn góp lần lượt là 39% và 29%) Hiện các dự án tại Quảng Ngãi, Bình Phước đã hoàn thiện về cơ bản, đang tiến hành các bước chạy thử cuối cùng trước khi nghiệm thu có điều kiện Năm 2012, sản lượng nhiên liệu sinh học sản xuất được là 25.900m3, trong đó tiêu thụ trong nước được 13.000m3, số còn lại phải xuất khẩu do sức tiêu thụ của thị trường trong nước thấp Mặc dù tình hình sản xuất và kinh doanh nhiên liệu sinh học đang gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên, khi xăng sinh học được
sử dụng trên toàn quốc theo quy định của Chính phủ, các dự án này sẽ phát huy hiệu quả
Theo chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Công Thương, Petrovietnam đã huy động tất cả các nguồn điện (điện khí, thủy điện, phong điện) để đáp ứng nhu cầu điện trong mùa khô Riêng dự án phong điện Phú Quý (Bình Thuận), Lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cho biết, đây là dự án mang ý nghĩa chính trị - xã hội lớn Petrovietnam đang phối hợp với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) tiến tới bảo đảm phát điện 24 giờ/ngày để phục vụ tốt hơn cuộc sống của người dân trên đảo
Bảng 1 Chỉ tiêu kế hoạch Quý II/2013 của Petrovietnam và ước thực hiện 6 tháng đầu năm
Việt Hà
Petrovietnam đã huy động tất cả các nguồn điện để đáp ứng nhu cầu điện trong mùa khô Ảnh: CTV
Trang 8Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác
Nhìn chung công tác an toàn sức khỏe môi trường của
Ngành Dầu khí Việt Nam năm 2012 có nhiều đổi mới, cải
tiến về nội dung, phương thức hoạt động, hiệu quả ngày
càng nâng cao Ông Lê Hồng Thái - Trưởng Ban An toàn
Sức khỏe Môi trường Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cho biết,
bộ máy tổ chức công tác an toàn sức khỏe môi trường của
Tập đoàn và các đơn vị cơ sở đã đảm bảo yêu cầu pháp
luật, thường xuyên được kiện toàn và tiếp tục được củng
cố Hệ thống quản lý an toàn sức khỏe môi trường của Tập
đoàn và các đơn vị tiếp tục được duy trì, hoàn thiện Mô
hình quản lý công tác an toàn sức khỏe môi trường trên cơ
sở rủi ro tiếp tục được khuyến khích và nhân rộng Các quy
định của pháp luật về an toàn sức khỏe môi trường được
Tập đoàn tuân thủ đầy đủ trong quá trình thực hiện các dự
án cũng như trong giai đoạn vận hành Công tác kiểm tra
an toàn, vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ được thực
hiện thường xuyên, liên tục với nhiều hình thức kiểm tra
Công tác quản lý chất thải và giám sát môi trường được
quan tâm, chú trọng Công tác ứng phó tình huống khẩn
cấp và phòng chống lụt bão được triển khai có hiệu quả
Tập đoàn và các đơn vị tích cực hưởng ứng phong trào
an toàn sức khỏe môi trường do Bộ/Ngành phát động với
nhiều hình thức phong phú (hội nghị an toàn sức khỏe môi trường, hội thao phòng cháy chữa cháy, hội thi an toàn sinh viên giỏi), trở thành hoạt động thường niên của nhiều đơn vị và đem lại hiệu quả thiết thực đối với công tác an toàn sức khỏe môi trường Điều kiện lao động, sức khỏe của người lao động được đảm bảo, văn hóa an toàn tiếp tục được thúc đẩy và trong năm 2012, các công trình, nhà máy của Tập đoàn vận hành an toàn, không để xảy ra
sự cố cháy nổ lớn
Hội nghị An toàn - Sức khỏe - Môi trường lần thứ VII cũng là dịp để trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm, nâng cao kỹ năng và kiến thức về an toàn sức khỏe môi trường, phân tích các khó khăn, tồn tại trong quá trình triển khai công tác này tại cơ sở Tại Hội nghị lần này, các đại biểu đã tập trung thảo luận nhiều vấn đề quan trọng: Công tác thống kê, điều tra và báo cáo sự cố, tai nạn lao động tại Nhà máy Đạm Phú Mỹ; An toàn trong khai thác các mỏ dầu khí ngoài biển của Liên doanh Việt - Nga
“Vietsovpetro” - thực trạng và giải pháp; Hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải của Nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học Dung Quất; Kinh nghiệm trong việc xây dựng
kế hoạch ứng cứu khẩn cấp tại Công ty Đường ống khí Nam Côn Sơn; Các nguy cơ tiềm ẩn và biện pháp phòng
TĂNG CƯ NG GIÁM SÁT AN TOÀN
Tại Hội nghị An toàn - Sức
khỏe - Môi trường lần thứ VII,
TS Đỗ Văn Hậu - Tổng giám đốc
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam yêu
cầu các đơn vị cần xây dựng,
duy trì và cải tiến hệ thống quản
lý an toàn sức khỏe môi trường,
đặc biệt nâng cao văn hóa an
toàn cho người lao động, tăng
cường công tác giám sát an toàn
trên các công trình dầu khí
TS Đỗ Văn Hậu - Tổng giám đốc Petrovietnam làm việc tại Nhà máy Đạm Cà Mau Ảnh: CTV
Trang 9ngừa trong quá trình hoạt động; Bài học kinh nghiệm
của Tổng công ty CP Khoan và Dịch vụ khoan Dầu khí
(PV Drilling) trong xây dựng và tích hợp hệ thống HSEQ;
Triển khai áp dụng công ước lao động hàng hải cho đội
tàu của Tổng công ty CP Vận tải Dầu khí Việt Nam (PV
Trans); Công tác quản lý chất thải nguy hại ở Nhà máy
Lọc dầu Dung Quất
Tập trung xây dựng và phát triển văn hóa an toàn
Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, TS Đỗ Văn Hậu - Tổng
giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nhấn mạnh: Công
tác an toàn sức khỏe môi trường luôn được các cấp, các
thế hệ lãnh đạo, người lao động dầu khí đặc biệt quan
tâm ngay từ khi thành lập cho đến nay Đặc biệt, trong
thời gian gần đây, khi Petrovietnam hội nhập sâu vào
hoạt động dầu khí quốc tế, công tác an toàn sức khỏe môi
trường của Tập đoàn đã được nâng lên tầm cao mới Lãnh
đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đánh giá cao nỗ lực của
những người làm công tác an toàn sức khỏe môi trường,
đóng góp quan trọng thành công chung trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của Tập đoàn Lĩnh vực hoạt động của ngành Dầu khí tiềm ẩn nhiều rủi ro, có thể xảy ra sự
cố gây thiệt hại rất lớn, thậm chí trở thành thảm họa nếu không chủ động phòng ngừa Do đó, các đơn vị cần xây dựng, duy trì và cải tiến hệ thống quản lý an toàn sức khỏe môi trường, nâng cao văn hóa an toàn cho người lao động
và tăng cường công tác giám sát an toàn trên các công trình dầu khí Đặc biệt, những người làm công tác an toàn không được phép lơ là, chủ quan để giảm thiểu rủi ro xảy
ra sự cố
Đặc biệt, Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam chỉ rõ một số nhiệm vụ cần tập trung trong từng lĩnh vực hoạt động của Ngành: thăm dò, khai thác dầu khí (nâng cao hiệu quả nhóm công tác đảm bảo an toàn các công trình dầu khí biển); lọc hóa dầu (củng cố điều kiện làm việc của công nhân, đảm bảo an toàn và bảo vệ môi trường); công nghiệp khí (tiếp tục triển khai hệ thống quản lý an toàn sức khỏe môi trường); công nghiệp điện (kiểm soát
Ông Nguyễn Vũ Trường Sơn - Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam chủ trì
Hội nghị Ảnh: PVN
Công tác an toàn sức khỏe môi trường được Petrovietnam đặc biệt coi trọng nhằm
đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh an toàn và hiệu quả Tập đoàn Dầu khí
Việt Nam đã, đang và sẽ áp dụng đồng bộ các giải pháp để hoạt động, sản phẩm,
dịch vụ của mình đạt chuẩn mực về an toàn sức khỏe môi trường; đồng thời loại
trừ/giảm thiểu các rủi ro gây tác hại đối với sức khoẻ và tính mạng con người,
gây thiệt hại tài sản hoặc môi trường Hội nghị An toàn - Sức khỏe - Môi trường
được Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tổ chức thường niên từ năm 2006 đến nay nhằm
đánh giá công tác xây dựng, triển khai, duy trì hệ thống quản lý an toàn sức khỏe
môi trường, công tác bảo hộ lao động, bảo vệ môi trường, phòng cháy chữa cháy,
phòng ngừa và ứng phó sự cố khẩn cấp…
Trang 10Ngọc Linh
chặt chẽ công tác an toàn sức khỏe môi trường đối với các
công trình điện mới được đưa vào vận hành); dịch vụ kỹ
thuật dầu khí (chú trọng công tác an toàn sức khỏe môi
trường để theo kịp tốc độ phát triển và đảm bảo an toàn
trong hoạt động)…
Về hoạt động an toàn sức khỏe môi trường năm 2013,
ông Nguyễn Vũ Trường Sơn - Phó Tổng giám đốc Tập đoàn
Dầu khí Việt Nam nhấn mạnh, cần đẩy nhanh tiến độ xây
dựng hệ thống quản lý an toàn sức khỏe môi trường tại
các đơn vị chưa có hệ thống; tổ chức đánh giá, duy trì
hệ thống, hoàn thiện phần mềm và nâng cao độ tin cậy
của cơ sở dữ liệu an toàn sức khỏe môi trường của Tập
đoàn với mục đích sử dụng các dữ liệu này để đánh giá
và hoạch định công tác an toàn sức khỏe môi trường; tiếp
tục nâng cao nhận thức và ý thức của người lao động, xây
dựng và thúc đẩy văn hóa an toàn; tăng cường trao đổi
kinh nghiệm quản lý an toàn giữa các đơn vị trong Ngành
để nâng cao hiệu quả công tác
Đặc biệt, Tập đoàn sẽ tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm đảm bảo an toàn cho các hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí ngoài khơi; phân tích nguyên nhân xảy ra sự cố, phổ biến bài học kinh nghiệm đến người lao động, triển khai các biện pháp phòng ngừa
sự cố, tai nạn lao động tái diễn Đồng thời, nâng cao năng lực về quản lý và vận hành hiệu quả hệ thống xử lý môi trường tại các nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học, tiếp tục cải tiến và áp dụng các công nghệ sản xuất sạch hơn, giảm thiểu tác động đến môi trường; tuân thủ việc quan trắc và giám sát môi trường định kỳ, tăng cường công tác quản lý chất thải, đặc biệt là chất thải đặc biệt nguy hại Bên cạnh đó, tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị ứng phó tình huống khẩn cấp và ứng phó
sự cố tràn dầu; thường xuyên tổ chức diễn tập giữa các lực lượng; duy trì hệ thống trực tình huống khẩn cấp, bảo đảm sẵn sàng ứng phó kịp thời và hiệu quả mọi tình huống khẩn cấp
Nhà máy xử lý khí Dinh Cố Ảnh: CTV
Trang 11Nâng cao năng lực vận hành, bảo dưỡng
Dưới sự chủ trì của TS Nguyễn Anh Đức - Trưởng
Tiểu ban Hóa - Chế biến Dầu khí, các đại biểu tham dự
Kỳ họp lần thứ V đã dành nhiều thời gian đánh giá công
tác vận hành và bảo dưỡng các nhà máy chế biến dầu khí
của Petrovietnam, từ đó đưa ra giải pháp để đảm bảo vận
hành an toàn và hiệu quả Các tham luận tại Kỳ họp chủ
yếu tập trung vào các vấn đề: Mục tiêu, định hướng vận
hành và bảo dưỡng các nhà máy chế biến dầu khí (Ban
Chế biến Dầu khí - Tập đoàn Dầu khí Việt Nam); Tình hình
vận hành và bảo dưỡng của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất
(Công ty TNHH MTV Lọc hóa Dầu Bình Sơn - BSR); Đề án
nâng cao năng lực vận hành, bảo dưỡng và hiệu quả Nhà
máy Đạm Phú Mỹ (Tổng công ty Phân bón và Hóa chất
Dầu khí - CTCP - PVFCCo); Vận hành và bảo dưỡng của Nhà
máy Đạm Cà Mau (Công ty TNHH MTV Phân bón Dầu khí
Cà Mau - PVCFC)…
Đối với bảo dưỡng định kỳ theo kế hoạch (2 - 3 năm/
lần) hoặc bảo dưỡng đột xuất quy mô lớn, Tiểu ban cho
rằng nên xây dựng đơn vị chuyên môn thực hiện dịch vụ
bảo dưỡng sửa chữa (trang bị máy móc, thiết bị chuyên dụng và có đội ngũ nhân lực có kinh nghiệm, chuyên nghiệp…) để thực hiện được các dịch vụ bảo dưỡng sửa chữa kỹ thuật cao Đối với bảo dưỡng nhỏ/thường xuyên, nên giao cho các nhà máy tự thực hiện để đảm bảo tính an toàn, hiệu quả và linh động trong khi vận hành
Về vật tư thiết bị thay thế, Tiểu ban đề xuất cần hoàn thiện công cụ theo dõi hoạt động các loại thiết bị trong nhà máy, xây dựng các bộ định mức tối ưu và an toàn cho công tác bảo dưỡng, quản lý tồn kho hiệu quả để giảm thiểu chi phí, đồng thời vẫn kịp thời phục vụ công tác bảo dưỡng sửa chữa khi có nhu cầu Trong quá trình vận hành, các nhà máy cần có các giải pháp tối ưu chế độ vận hành
để đưa ra cơ cấu sản phẩm phù hợp khi nhu cầu và giá sản phẩm trên thị trường thay đổi, tăng cường tiết kiệm năng lượng, giảm chi phí bảo dưỡng sửa chữa không theo kế hoạch Tiểu ban Hóa - Chế biến Dầu khí kiến nghị Tiểu ban Kinh tế Quản lý Dầu khí phối hợp nghiên cứu lựa chọn và xây dựng mô hình tổ chức quản lý các nhà máy chế biến dầu khí một cách hiệu quả nhất, giảm thiểu chi phí vận hành; Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng và Chuyển giao
Trong Kỳ họp lần thứ V tổ chức ngày 5 - 6/4/2013 tại Tp Hồ Chí Minh, Tiểu ban - Hóa Chế biến Dầu khí đã dành nhiều thời gian thảo luận và phân tích các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho các nhà máy chế biến dầu khí của Petrovietnam Trong đó, đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác vận hành
và bảo dưỡng; đồng thời nghiên cứu nâng cấp, mở rộng, đa dạng hóa sản phẩm lọc hóa dầu và định hướng các dự án chế biến sâu khí…
Nâng cao hiệu quả hoạt động
Trang 12Công nghệ - Viện Dầu khí Việt Nam (VPI - CTAT) tích cực
làm việc với từng nhà máy để xác định phương pháp theo
dõi, phòng chống và xử lý ăn mòn phù hợp, chú trọng ứng
dụng công nghệ mới nhằm tăng tuổi thọ thiết bị, công
trình, nâng cao năng suất cũng như đảm bảo các vấn đề
an toàn, môi trường
Cụ thể, đối với Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Tiểu ban
cho rằng Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR)
cần tập trung cải tiến các chỉ tiêu vận hành và bảo dưỡng
chính đồng thời nâng cao độ tin cậy, an toàn, hiệu quả
sản xuất và hệ thống quản lý Trong đó BSR tiếp tục phối
hợp với Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chế biến Dầu
khí (VPI - PVPro), Liên doanh Việt - Nga “Vietsovpetro” tìm
giải pháp xử lý một số thách thức cơ bản về nguyên liệu
(nguồn cung cấp, chất lượng, hệ thống tiếp nhận, tối ưu
hóa phối trộn) Ngoài ra, BSR cần phối hợp với VPI - PVPro
và các chuyên gia nước ngoài nghiên cứu tối ưu năng
lượng, giảm tiêu hao phụ trợ, xúc tác, hóa phẩm
Đối với Nhà máy Đạm Cà Mau, PVCFC cần tập trung
nâng cao năng lực và hiệu quả sản xuất thông qua việc
tiết kiệm năng lượng và tối ưu hóa sản xuất, nâng cao
chất lượng sản phẩm hiện có, xây dựng đội ngũ nhân viên
vận hành, bảo dưỡng chuyên nghiệp, xây dựng đội ngũ
chuyên gia trên các lĩnh vực, trang bị các công cụ quản lý
hiện đại (như ERP, CMMS, RBI, RCM), tăng cường liên kết
với các nhà máy trong Ngành để tận dụng nguồn lực về
con người, trang thiết bị phương tiện và vật tư Đối với
Nhà máy Đạm Phú Mỹ, PVFCCo cần tích cực xây dựng và triển khai Đề án nâng cao năng lực vận hành, bảo dưỡng
để đảm bảo Nhà máy vận hành an toàn, ổn định và hiệu quả, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình thực hiện và kết quả thu được với Nhà máy Đạm Cà Mau
Định hướng chế biến sâu khí hiệu quả
Ngoài công tác vận hành - bảo dưỡng, tại Kỳ họp lần này, Tiểu ban Hóa - Chế biến Dầu khí cũng thảo luận một số vấn đề quan trọng khác như: Một số định hướng chế biến sâu khí hiệu quả (VPI - PVPro); Theo dõi, phòng chống và xử lý ăn mòn trong các nhà máy chế biến dầu khí (VPI - CTAT); Những thách thức mới trong hoạt động của nhà máy lọc dầu (IPIP - Rumania)
Về định hướng các dự án chế biến sâu khí hiệu quả, Tiểu ban Hóa - Chế biến Dầu khí cho rằng, cần có các nghiên cứu so sánh đánh giá hiệu quả sử dụng khí cho công nghiệp điện và công nghiệp chế biến sâu khí để chứng minh và báo cáo Nhà nước dành tỷ lệ hợp lý cho việc phát triển hóa dầu từ khí Tiểu ban đề nghị VPI - PVPro cập nhật thông tin đầu vào cho mô hình tính toán (giá nguyên liệu, sản phẩm, chi phí đầu tư); tiếp tục nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước các sản phẩm hóa dầu
từ khí có hiệu quả kinh tế cao, nhất là đối với chuỗi đi từ methane khả thi về mặt nguyên liệu Đồng thời, xem xét thêm hướng: sản xuất các sản phẩm (NH4)2SO4 và NH4Cl
từ NH3; sản xuất soda từ CO2; kết hợp với BTX (benzene, toluene, xylene) từ Nhà máy Lọc dầu Nghi Sơn (hoặc từ Nhà máy Lọc dầu Dung Quất mở rộng)
Đối với việc nâng cấp, mở rộng, đa dạng hóa sản phẩm
để nâng cao hiệu quả hoạt động các nhà máy chế biến dầu khí, Tiểu ban đề nghị BSR so sánh cụ thể hiệu quả giữa nâng cấp và nâng cấp mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất; VPI - PVPro phối hợp với PVFCCo và PVCFC nghiên cứu đa dạng hóa sản phẩm cho các nhà máy đạm nhằm giảm rủi
ro khi giá phân đạm giảm hay việc tiêu thụ phân đạm khó khăn do nguồn cung trong nước cao hơn nhu cầu
Đối với các dự án đang chuẩn bị triển khai hoặc đang triển khai, Tiểu ban cho rằng cần tìm các giải pháp giảm chi phí trong quá trình đầu tư để giảm chi phí cố định, góp phần nâng cao hiệu quả vận hành về sau Đồng thời, chú trọng công tác chuẩn bị đào tạo, nhân sự vận hành nhà máy (như PVGas, PVFCCo, PVCFC và BSR đã thực hiện tốt trong thời gian qua) Ngoài việc đào tạo theo chương trình kế hoạch của Tập đoàn, các đơn vị cần chủ động xây dựng chiến lược, kế hoạch đào tạo phù hợp với nhu cầu
Một góc Nhà máy Lọc dầu Dung Quất Ảnh: CTV
Trang 131 Mở đầu
Bể trầm tích Sông Hồng trải dài từ đất liền châu thổ
Sông Hồng của Việt Nam, xuống phía Nam của đảo Hải
Nam - Trung Quốc theo hình ellipse, dài khoảng 600km
Bể trầm tích này được tạo thành trong Paleogen và
Neogen Chiều dày của các lớp phủ trầm tích, ở trung tâm
bồn trũng có chỗ đạt 17km [2] Điều này cho thấy các cấu
tạo (nhất là ở khu vực trung tâm bồn trũng) đã từng bị
chôn vùi rất sâu Tuy nhiên, do quá trình nghịch đảo kiến
tạo, độ sâu hiện tại của các cấu tạo này không phản ánh
chính xác mức độ chôn vùi trước đó
Quá trình phát triển của bể trầm tích Sông Hồng rất
phức tạp Theo nhận định của nhóm tác giả, quá trình
nén ép dẫn đến nghịch đảo tập trung ở phần phía Bắc
của bể trầm tích (trong đó có Lô 103 & 107 - Hình 1) xảy
ra mạnh trong khoảng thời gian từ 10,5 - 5,2 triệu năm
và sau đó giảm đi Mức độ nâng lên và bào mòn có chỗ
trên 1.000m [8, 9] (dự đoán bởi Idemisu bằng phương
pháp phục hồi mặt cắt - Báo cáo dự báo lô, 1995) Như
vậy, mức độ chôn vùi và bào mòn ở từng cấu tạo rất lớn
và khác nhau, do vậy việc dự báo tính chất chứa theo độ
sâu gặp nhiều khó khăn
2 Phương pháp dự báo chất lượng đá chứa dựa trên tốc độ địa chấn
Cơ sở của phương pháp là tốc độ địa chấn của đất đá
ra sau khi trầm tích xảy ra chủ yếu do trầm tích bị chôn vùi dẫn đến áp suất, nhiệt độ tăng, do tính chất lý hóa của các vật liệu trầm tích, do thời gian…); áp suất thành hệ
Để làm tiền đề cho phương pháp, các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ truyền sóng ngoài độ rỗng được coi là phông chung (background)
Phương pháp dự báo chất lượng đá chứa được đề xuất như sau:
D BÁO CH T LƯ NG ĐÁ CH A T NG MIOCEN TRUNG
C A M T S C U T O PHÍA B C B SÔNG H NG
KS Nguyễn Đương Trung, ThS Trần Như Huy
Công ty TNHH MTV Điều hành Thăm dò Khai thác Dầu khí trong nước
TS Nguyễn Quốc Quân
Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí
Tóm tắt
Bể trầm tích Sông Hồng được hình thành và phát triển trong quá trình va chạm của mảng Ấn Độ vào mảng Á - Âu
và chuyển động trượt ngang theo hệ thống đứt gãy Sông Hồng kèm theo xoay của các vi mảng Do sự dịch chuyển ngang và xoay này mà tùy từng khu vực trong bể, trầm tích bị chôn vùi sau đó lại được nâng lên, bào mòn ở các mức
độ khác nhau Vì vậy, độ sâu hiện tại của vỉa chứa không hoàn toàn phản ánh mức độ chôn vùi của đá trong quá khứ Nếu chỉ thuần túy dựa vào quan hệ suy giảm độ rỗng theo chiều sâu từ các giếng khoan lân cận để dự báo đặc tính vỉa chứa tại các cấu tạo chưa khoan (undrilled prospects) sẽ tiềm ẩn sai số lớn do chưa tính đến ảnh hưởng của quá trình bóc mòn bề dày trầm tích phủ trên.
Khi sử dụng kết hợp tài liệu địa chấn và địa vật lý giếng khoan ở khu vực lân cận có thể giúp giảm thiểu rủi ro trên khi dự báo chất lượng đá chứa của các cấu tạo chưa khoan Sử dụng cách tiếp cận vấn đề như trên, nhóm tác giả dự báo chất lượng đá chứa tầng Miocen trung của các cấu tạo tiềm năng KL và D1 phía Bắc bể Sông Hồng.
Trang 14- Dựng quan hệ độ rỗng theo chiều sâu dựa trên tài
liệu các giếng khoan lân cận Từ đó, xác định được giới hạn
trên và giới hạn dưới của độ rỗng biến đổi theo chiều sâu
Mọi dự đoán cho cấu tạo chưa khoan sẽ nằm trong biên
độ của giới hạn này
- Dùng tốc độ xử lý địa chấn của 1 chiến dịch thu
nổ (1 vintage - để đảm bảo sự đồng nhất của thông số thu nổ, các loại nhiễu có thể ảnh hưởng đến chất lượng phân tích tốc độ khi xử lý) Trong nghiên cứu này, tốc độ địa chấn được lấy từ tài liệu địa chấn 2D được thu nổ và
xử lý năm 2011 bởi Fairi eld Vietnam (Hình 2) Dựng quan
hệ tốc độ xử lý địa chấn trên cấu tạo đã khoan và tốc độ
đo trong giếng khoan để kiểm tra chất lượng vận tốc xử
lý Nếu ở các vị trí kiểm tra thấy rằng sự thay đổi vận tốc xử
lý tương đồng với vận tốc giếng khoan theo chiều sâu thì chất lượng vận tốc xử lý là tốt và có thể dùng để dự báo chất lượng đá chứa
- Dựng quan hệ tốc độ xử lý địa chấn trên cấu tạo muốn dự báo tính chất chứa và tốc độ địa chấn đo được trong các giếng đã khoan lân cận Nếu tốc độ địa chấn của cấu tạo muốn dự báo lớn hơn tốc độ địa chấn đo được ở các giếng khoan ở độ sâu tương ứng, thì tiềm năng chứa của cấu tạo này nằm ở giới hạn dưới của quan hệ độ rỗng chiều sâu đã dựng Kết luận theo hướng ngược lại nếu tốc
độ địa chấn ở cấu tạo muốn dự báo chậm hơn tốc độ địa chấn đo được ở các giếng khoan xung quanh
3 Dự báo chất lượng đá chứa Lô 103 & 107
Lô 103 & 107 nằm ở khu vực ngoài khơi phía Bắc vịnh Bắc Bộ và phía Tây Bắc của bể Sông Hồng (Hình 1) Không
kể móng và bẫy địa tầng, khu vực nghiên cứu tồn tại các bẫy cấu trúc nằm ở đất đá tuổi Oligocen và Miocen Bẫy đất
đá tuổi Oligocen tập trung ở sườn phía Tây của bồn trũng,
là nơi đất đá tuổi Miocen bị bào mòn cắt gọt mạnh bởi nghịch đảo kiến tạo cuối Miocen Bẫy đất đá tuổi Miocen tập trung ở trung tâm bồn trũng, là nơi đất đá Miocen bị nghịch đảo và bào mòn ít Do vậy, bẫy tập trung chủ yếu
ở các đất đá tuổi Miocen, còn Oligocen thường rất sâu (> 4.000m) [4] nên không là đối tượng tìm kiếm, thăm dò.Trong số những cấu tạo chưa tiến hành khoan thăm
dò có các cấu tạo thuộc Oligocen (B và C) và các cấu tạo thuộc Miocen (D và KL ) Từ các giếng khoan thăm dò trong
Lô, quan hệ độ rỗng và chiều sâu được thiết lập (Hình 3)
Từ quan hệ này cho thấy, ở cùng độ sâu, độ rỗng thay đổi trong một dải khoảng 10% Như vậy, việc xác định cấu tạo chưa khoan nằm ở giới hạn trên hay giới hạn dưới là cơ sở quan trọng khi dự báo chất lượng đá chứa
Để xây dựng cơ sở cho việc dự báo định tính chất lượng đá chứa, tốc độ địa chấn xử lý ở cấu tạo đã khoan được vẽ trên cùng một đồ thị với tốc độ địa chấn đo trong giếng khoan để dự báo mức độ lệch của tốc độ xử lý địa chấn và tốc độ thực Hình 4 thể hiện tốc độ xử lý địa chấn
Hình 1 Lô 103 & 107 và cấu tạo triển vọng
Hình 2 Tài liệu 2D địa chấn thu nổ và xử lý năm 2011
bởi Fairfield Vietnam
Hình 3 Quan hệ độ rỗng và chiều sâu của các giếng khoan trong
Lô 103 & 107
Cấu tạo trong đá tuổi Miocen Cấu tạo trong đá tuổi Oligocen Cấu tạo trong đá tuổi Trước Đệ tam Phát hiện khí Phát hiện dầu Bẫy địa tầng
Trang 15và tốc độ địa chấn đo trong 2 giếng khoan 103-HAL-1X và
103-DL-1X và Hình 5 là tốc độ xử lý địa chấn và tốc độ địa
chấn đo trong giếng khoan HD-1X Kết quả cho thấy, gần
như không có sự chuyển dịch nào của 2 loại tốc độ này
cần phải hiệu chỉnh
Vận tốc xử lý địa chấn trên các cấu tạo B, C được thể
hiện trong Hình 6 Sau khi xử lý tốc độ địa chấn đo trong
giếng khoan HD-1X và CQ-1X, tính chất chứa theo độ sâu của các cấu tạo này nằm trong khoảng giữa của giếng HD-1X và CQ-1X đã khoan Kết quả này cho phép dự báo khả năng độ rỗng 10% có thể bảo tồn đến độ sâu khoảng 2.000m (ngoại suy từ quan hệ độ rỗng - chiều sâu trên Hình 3) Tuy nhiên, dự báo này sẽ tiềm ẩn sai số do tập hợp quan hệ độ rỗng, chiều sâu ở Hình 3 chủ yếu là các đá Miocen và không có số liệu của giếng CQ-1X
Với cấu tạo D, vận tốc xử lý địa chấn được dựng cùng với vận tốc địa chấn đo từ giếng HAL-1X (Hình 7) Theo đồ thị này, trong phần sâu dưới 2 giây, quy luật phân bố độ rỗng theo chiều sâu tương tự giếng HAL-1X; còn phần sâu hơn 2 giây, xu thế phân bố độ rỗng chia ra làm 2 hướng: (1) tương tự giếng HAL-1X và (2) có độ rỗng tốt hơn.Cấu tạo KL là cấu tạo có kích thước đặc biệt lớn (khoảng 50km2) ở trong Lô Rủi ro lớn nhất của cấu tạo này
là độ sâu của tầng chứa khá lớn (những địa tầng đã phát hiện khí ở các giếng đã khoan đều sâu trên 3.000m Để dự báo khả năng chứa ở độ sâu trên 3.000m, quan hệ vận tốc
xử lý theo chiều thời gian được dựng ở Hình 8 Trên quan
hệ này, tốc độ địa chấn đo trong giếng khoan DL-1X được đưa vào (giếng khoan này cho thấy độ rỗng được bảo tồn khá tốt ở một số vỉa ở đáy giếng khoan, độ sâu khoảng 3.200m, có lấy được mẫu MDT khí, tuy nhiên không thử được do sự cố, độ rỗng tính từ log khoảng 11%) Từ quan
hệ ở Hình 8, xu hướng độ rỗng theo chiều sâu, có nhiều
Hình 4 Quan hệ tốc độ xử lý địa chấn theo chiều sâu thời gian cấu
tạo HAL, DL
Hình 5 Quan hệ tốc độ xử lý địa chấn theo chiều sâu thời gian cấu
tạo HD
Hình 6 Quan hệ vận tốc xử lý địa chấn theo chiều sâu thời gian cấu
tạo B, C và giếng khoan 102-HD-1X, 102-CQ-1X
Trang 16khả năng nằm ở giới hạn trên của độ rỗng trong quan hệ
độ rỗng - chiều sâu ở Hình 3 Như vậy, từ đồ thị Hình 3,
có thể dự đoán độ rỗng 10% có thể được bảo tồn ít nhất
cho đến 3.500m và lạc quan hơn là đến 4.000m Tất cả các
tầng chứa của cấu tạo KL đều có tuổi Miocen trung hoặc
trẻ hơn, do đó dự đoán lạc quan là có cơ sở
4 Phương hướng nghiên cứu tiếp theo
Do phương pháp dự báo chất lượng đá chứa thông thường (đã trình bày ở phần 2) chưa tính đến khung đá và
áp suất trong lỗ hổng, nên việc dự báo còn nhiều rủi ro Tuy nhiên, phương pháp này vẫn là cơ sở để kết hợp với các phương pháp nghiêu cứu khác (như môi trường trầm tích, địa chấn địa tầng…) cho kết quả chính xác hơn
Dị thường áp suất cao cũng là một yếu tố làm chậm tốc độ địa chấn, do đó có thể ảnh hưởng đến kết quả dự báo Tuy nhiên dị thường áp suất cao lại giúp bảo tồn
độ rỗng
Đối với khung đá, phương pháp được thử nghiệm cho đá trầm tích lục nguyên Với đá carbonate cần được nghiên cứu thêm Riêng đá lục nguyên, thay bằng chỉ dựng các thông số quan hệ theo chiều sâu đơn thuần, có thể phân chia đất đá ra 2 tập lớn là đồng tách giãn (syn-rift) và sau tách giãn (post rift) thì việc dự báo có thể sẽ chi tiết hơn
Đối với số liệu địa vật lý giếng khoan, nếu có được ở các giếng trong cùng một đơn vị kiến tạo và gần thì mức
độ tin tưởng của phương pháp sẽ cao hơn
Tài liệu tham khảo
1 Lê Tuấn Việt, Vũ Sỹ Lý, Nguyễn Hồng Minh Các hoạt động kiến tạo và ảnh hưởng của nó đến quá trình hình thành và phát triển khu vực Tây - Bắc bể trầm tích Sông Hồng
từ kết quả phân tích tài liệu trọng lực và địa chấn mới 2002
2 Ren Jian-Ye, Lei Chao, Wang Shan, Li Tao, Zhang Xiao-Li Tectonic stratigraphy framework of Yinggehai Quidongnan basin and Its Implication for tectonic province division in East Sea 2011
3 Doan Tham, Le Hai An et all Regional Geology Correlation Blocks 103-107 2008
4 Petronas Sequence Stratigraphic study of block 102-106, Song Hong basin Vietnam
5 Anzoil Hanoi basin, geological evaluation 1995
6 Idemitsu Block 102 evaluation report 1995
7 Total.103-T-G-1X correlation and comparison with well 103T-H-1X
8 Idemitsu Final well report (Geology) 102-CQ-1X
9 Idemitsu Final well report (Geology) 102-HD-1X
10 Petronas Post-Drill Evaluation report 106-YT-1X
11 Total Final Well Report (Geology) 103T-H-1X
Hình 7 Quan hệ vận tốc xử lý địa chấn theo chiều sâu thời gian cấu
tạo D và giếng khoan 103-HAL-1X
Hình 8 Quan hệ vận tốc xử lý địa chấn theo chiều sâu thời gian
cấu tạo KL
Trang 1712 Total Final Well Report (Geology) 103T-G-1X
13 Total Final Well Report (Geology) 107T-PA-1X
14 PIDC Final Well Report (Geology) 103-HOL-1X (in
Vietnamese)
15 PIDC Final Well Report (Geology) 103-BAL-1X (in
Vietnamese)
16 Petronas Final Well Report (Geology) 102-TB-1X
17 Petronas Final Well Report (Geology) 106-YT-1X
18 PIDC Exploration master plan, of shore Red River basin (in Vietnamese) 2004
19 Total, Vietnam Evaluation report, gulf of Tokin 1991
20 PVEP-BD Provision of AVO study services blocks
103 & 107 (Landmark Graphics Malaysia) 2010
21 PVEP POC Blocks 103&107 Hong Long - Hac Long
- Dia Long - Bach Long HIIP & Reserves Assessment Report 2011
Predicting the quality of Middle Miocene reservoir of some
undrilled prospects in North Song Hong basin
Nguyen Duong Trung, Tran Nhu Huy
Petrovietnam Domestic Exploration Production Operating Co., Ltd
Nguyen Quoc Quan
Petrovietnam Exploration Production Corporation
Summary
Song Hong basin evolution was related to the extrusion and clockwise rotation of the Indochina block, which were caused
by the collision of the Indian Plate and the Eurasian Plate The extrusion along the Red River Fault Zone accompanied by clockwise rotation of the Indochina block controlled the Tertiary sedimentation and deformation of the North Song Hong basin As the deformation varied along the Red River Fault Zone, the strong uplift and erosion in Late Miocene were only recorded in North Song Hong basin There will be a great uncertainty if we use the relationship of porosity versus depth
of drilled wells in uplifted and eroded prospects to predict that relationship for undrilled prospects of which the uplift and erosion are unknown.
A combination of seismic data and surrounding well data could help minimise the uncertainty in predicting the ship of porosity versus depth in the undrilled prospects That approach was presented in this paper and applied to Middle Miocene reservoir of prospects KL and D in North Song Hong basin.
Trang 18relation-1 Giới thiệu
Thăm dò địa chấn là phương pháp rất hiệu quả để
nghiên cứu cấu trúc địa chất và các tính chất đặc trưng của
môi trường truyền sóng Tuy nhiên, việc nghiên cứu tính chất
môi trường còn gặp nhiều khó khăn do môi trường địa chất
thực tế phức tạp và khác xa với mô hình đàn hồi lý tưởng đã
sử dụng để tính toán lý thuyết Do đó, nghiên cứu tính chất
môi trường đàn hồi không lý tưởng sẽ bổ sung hoàn thiện
mô hình địa chấn gần với môi trường thực tế hơn Nhiều
nước trên thế giới đã sử dụng phối hợp các đặc trưng động
lực của sóng (biên độ, phổ tần số) và các đặc trưng động học
(thời gian và tốc độ) để nghiên cứu thành phần thạch học,
tướng môi trường, dự báo dị thường áp suất, nghiên cứu
đặc điểm chứa và dự báo chất lưu (dầu, khí)…
Trong bài báo này, tác giả giới thiệu kết quả nghiên
cứu về khả năng mới của phương pháp hấp thụ và tán sắc
tốc độ sóng địa chấn và việc ứng dụng hướng nghiên cứu
này trong tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở Việt Nam trong thời
gian gần đây
2 Đặc trưng tán sắc tốc độ sóng địa chấn trong môi
trường chứa dầu khí
2.1 Cơ chế hấp thụ năng lượng và tán sắc tốc độ sóng
địa chấn trong các tầng chứa dầu khí
Ảnh hưởng của tính chất vật lý và trạng thái pha
(khí, lỏng) của chất lưu đến cơ chế tiêu tán năng lượng sóng là một trong những vấn đề chưa được nghiên cứu đầy đủ khi phân tích đặc trưng hấp thụ sóng địa chấn Theo tính toán lý thuyết về hấp thụ sóng, một số nghiên cứu mới đây cho rằng sự tồn tại chất lưu trong không gian rỗng và các bột khí khiến tính chất hấp thụ sóng tăng mạnh, làm thay đổi đặc trưng hấp thụ phụ thuộc vào tần số Điều đó có thể liên quan đến các quá trình xảy ra trong bản thân chất lưu Sự biến đổi trạng thái pha của dầu khí chứa trong vỉa làm thay đổi độ cứng âm học,
do đó làm tăng hệ số hấp thụ năng lượng và xuất hiện sự tán sắc tốc độ sóng trong dải tần số cao
Kết quả tính toán và thực nghiệm cho thấy sự thay đổi hệ số hấp thụ và tốc độ sóng trong môi trường dầu khí đều phụ thuộc vào tần số, đặc biệt sự thay đổi tốc
độ tỷ lệ thuận với căn bậc II của tần số Khác với dầu khí, nước có trạng thái 2 pha, do vậy cơ chế trao đổi vật chất không xảy ra bên ngoài vỉa dầu mà chỉ có thể xảy
ra ở chiều sâu rất lớn hoặc gần nguồn thủy nhiệt; không phụ thuộc vào cơ chế tiêu tán năng lượng địa chấn, sự gia tăng độ hấp thụ phải đi đôi với sự tán sắc tốc độ pha sóng Điều này xuất phát từ nguyên lý cơ bản của
mô hình môi trường đàn hồi không lý tưởng Tuy nhiên, trong nghiên cứu thăm dò địa chấn hiện chưa có công trình nào đề cập đến sự tán sắc tốc độ sóng trong dải tần số thấp
Phương pháp hấp thụ và tán sắc tốc độ sóng (absorption and velocity dispersion - AVD) đã được thử nghiệm ở mỏ Bạch Hổ, Đại Hùng và một số khu vực khác dựa trên tài liệu địa chấn 2D, 3D Kết quả cho thấy, phương pháp này khá hiệu quả, giúp khẳng định các vỉa dầu đã có và phát hiện các dị thường khác ở một số vỉa dầu khí mới Do đó, cần tiếp tục đẩy mạnh việc ứng dụng phương pháp hấp thụ và tán sắc tốc độ sóng địa chấn trong tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở Việt Nam nhằm mở rộng khu vực đang khai thác, tìm kiếm các đối tượng mới, gia tăng trữ lượng dầu khí với chi phí thấp nhất.
Trang 192.2 Dị thường hấp thụ và tán sắc tốc độ sóng địa chấn là
các chỉ thị dầu khí
Theo kết quả nghiên cứu cơ chế hấp thụ sóng, sự thay
đổi các tham số vật lý của chất lỏng trong trạng thái cận
bốc hơi khiến độ chịu nén tăng mạnh, giảm độ dẫn nhiệt
và sức căng bề mặt Từ đó, dẫn đến tăng độ hấp thu sóng
tần số thấp, có sự tác động qua lại giữa độ nhớt quán tính,
độ đàn hồi nhiệt của chất lưu và đất đá xung quanh Các
quá trình biến đổi trong chất lưu là không tuyến tính, độ
hấp thụ cao làm tán sắc tốc độ truyền sóng Khi thay đổi
trạng thái pha, hiện tượng trao đổi vật chất giữa các pha
xảy ra làm tán sắc tốc độ đáng kể và độ hấp thụ tăng cao
hơn so với độ hấp thụ của bản thân chất lưu trong trạng
thái bình thường
Các nhà địa vật lý Học viện Dầu khí Gubkin (Liên bang
Nga) đã nghiên cứu, thử nghiệm cơ chế hấp thụ sóng và
thấy rằng các vỉa dầu khí phân biệt với môi trường xung
quanh bởi dị thường hấp thụ cao, hiệu ứng tán sắc tốc độ
sóng phụ thuộc vào tần số địa chấn (tần số thấp) Theo
kết quả thực nghiệm, mức độ hấp thu sóng dọc trong các
vỉa chứa dầu cao hơn nhiều so với tính toán lý thuyết [1,
3] Khi phân tích số liệu tuyến địa chấn thẳng đứng, đã
phát hiện độ tán sắc tốc độ dương +5% (tăng theo tần
số) trong dải tần số10 - 70Hz tại nhiều giếng khoan có sản
phẩm dầu khí
Vì vậy, các dị thường hấp thụ và tán sắc tốc độ sóng
địa chấn đã trở thành các chỉ thị quan trọng về sự tồn tại
của vỉa dầu khí
3 Phương pháp nghiên cứu tính chất hấp thụ và tán
sắc tốc độ sóng địa chấn
3.1 Xử lý AVD trên tài liệu địa chấn phản xạ
3.1.1 Xác định gia số hấp thụ (absorption decrement)
Đối với môi trường phân lớp mỏng, gia số hấp thụ
phụ thuộc vào tần số có thể tính theo công thức:
Trong đó:
(f) là gia số hấp thụ;
W1(f) và W2(f) là phổ năng lượng được tính ở 2 cửa
sổ mà tâm là 2 thời điểm t1 và t2, cách nhau một khoảng
t = t2 - t1
Theo công thức, việc xác định gia số hấp thụ (f) khá
dễ dàng Tuy nhiên, trên thực tế chiều dày tầng hấp thụ
(hoặc vỉa dầu khí) đa phần chưa được xác định, trừ trường hợp đã có giếng khoan phát hiện dầu khí Do vậy, vấn đề đặt ra là chọn t để t1 và t2 nằm cận trên và cận dưới của tầng nghiên cứu Bên cạnh đó, hiệu quả tính toán phụ thuộc nhiều vào hiểu biết địa chất, kinh nghiệm chọn thông số của người xử lý và phương pháp tính phổ S(f) của sóng địa chấn (phổ biên độ, phổ log)
Việc xác định gia số hấp thụ (f) được thực hiện trên mạch ghi đơn hoặc mạch cộng điểm sâu chung 2D và 3D, dọc theo thời gian quan sát hoặc theo từng đối tượng có triển vọng dầu khí Kết quả xử lý bằng phần mềm AVD cho mặt cắt dị thường hấp thụ theo tuyến quan sát
3.1.2 Xác định độ tán sắc tốc độ sóng (velocity dispersion)
Độ tán sắc tốc độ sóng được xác định bằng cách thực hiện theo các chu trình chuẩn để phân tích tốc độ Các băng ghi nguyên thủy được sắp xếp theo trật tự điểm sâu chung, được lọc qua các dải tần hẹp (15 - 25, 20 - 30, 25 -
35, 30 - 40, 34 - 45, 40 - 50, 45 - 55 Hz), sau đó đưa vào xử
lý Trên mỗi dải tần, tiến hành xác định phổ tốc độ ngang trên các điểm quan sát Các giá trị tốc độ điểm sâu chung thu được trên các tần số khác nhau được thể hiện trên một biểu đồ tốc độ V(f) phụ thuộc vào tần số f và xác định
độ tán sắc tốc độ bằng giá trị dv = v/V (%)
Cần lưu ý rằng, quá trình phân tích độ tán sắc tốc độ sóng rất phức tạp, mất nhiều thời gian, do vậy chỉ nên thực hiện trên khu vực có dị thường hấp thụ, để nâng cao
độ tin cậy của phương pháp AVD
3.2 Xử lý AVD trên tài liệu tuyến địa chấn thẳng đứng
Tính chất hấp thụ và tán sắc tốc độ sóng địa chấn trong lòng giếng khoan có thể được nghiên cứu bằng tài liệu tuyến địa chấn thẳng đứng Quan sát sóng địa chấn trong giếng khoan thuận lợi hơn trên bề mặt, tránh được ảnh hưởng của các loại nhiễu: nhiễu tần số cao; điều kiện thu phát không đồng nhất; giao thoa sóng, sóng phản xạ nhiều lần trong môi trường phân lớp; ảnh hưởng phân kỳ
và khúc xạ
Phương pháp xác định gia số hấp thụ và độ tán sắc tốc độ sóng địa chấn trong giếng khoan được thực hiện theo các bước sau:
- Băng ghi tuyến địa chấn thẳng đứng được tiến hành lọc với các dải tần số hẹp khác nhau (như trong xử lý địa chấn trên mặt) để đưa vào xử lý
- Chọn cửa sổ H = H1 - H2 thích hợp để xác định gia
số hấp thụ theo công thức:
Trang 20- Trong đó, SH(f) là phổ năng lượng tại chiều sâu H
Bằng cách trượt liên tục cửa sổ H từ trên xuống dưới sẽ
thu được giá trị biến thiên của gia số hấp thụ (f) dọc theo
giếng khoan
- Độ tán sắc tốc độ dv(f ) được xác định đồng thời khi
cửa sổ H trượt theo chiều sâu Tại mỗi khoảng H, tốc
độ trung bình của các dải tần số khác nhau Trên biểu đồ
dv(H) thể hiện sự biến thiên và tán sắc tốc độ theo chiều
sâu, qua đó sẽ xác định dị thường tán sắc tốc độ Kết quả
xác định (f) và dv(f) được biểu diễn trên hệ tọa độ thống
nhất theo chiều sâu H sẽ là cơ sở quan trọng để minh giải
và phát hiện các dị thường hấp thụ có liên quan đến tầng
sản phẩm
4 Ứng dụng hiệu ứng hấp thụ và tán sắc tốc độ sóng
địa chấn trong ngành dầu khí
4.1 Dự báo các mỏ dầu khí
Trong giai đoạn tìm kiếm, khi chưa có các giếng
khoan, trên cơ sở xử lý và phân tích địa chấn các dị
thường hấp thụ và tán sắc tốc độ được phát hiện bằng
phương pháp AVD có thể chỉ ra các khu vực có triển
vọng tích tụ dầu khí và loại trừ các cấu tạo (hoặc bẫy)
không có triển vọng Trong quá trình minh giải số liệu
AVD, cần sử dụng thêm các tài liệu địa chất - địa vật lý
khác nhằm tăng độ tin cậy của kết quả minh giải Việc
sử dụng phương pháp AVD trong giai đoạn này sẽ nâng
cao hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của công tác tìm kiếm
dầu khí
4.2 Thăm dò và thăm dò mở rộng các mỏ dầu khí
Trong giai đoạn thăm dò, khi trên mỏ đã có các giếng
khoan phát hiện dầu khí, việc sử dụng phương pháp AVD
để liên kết và đồng nhất các vỉa sản phẩm, xác định ranh
giới mỏ (contour) rất cần thiết và sẽ đem lại hiệu quả cao
Tài liệu tuyến địa chấn thẳng đứng (VSP) cho phép liên kết
một cách tương đối chính xác các dị thường hấp thụ với
các vỉa sản phẩm
Phép so sánh chuẩn hóa số liệu AVD với các số liệu
thử vỉa trong các giếng khoan trên cùng diện tích hoặc
khu vực lân cận cho phép xác định và chính xác ranh giới
vỉa sản phẩm Không phụ thuộc vào dạng bẫy (cấu tạo
hay phi cấu tạo), phương pháp này giúp tăng tỷ lệ thành
công của công tác khoan thăm dò Trong trường hợp này,
sẽ tránh được ảnh hưởng sai số xây dựng bản đồ cấu tạo
và thay đổi thành phần thạch học Ngoài ra, việc phân tích tổng hợp kết quả xử lý tài liệu địa chấn theo AVD và AVO (amplitude versus of set) còn mở ra khả năng phân biệt được loại chất lưu (dầu hay khí), bởi vì dị thường AVD chỉ thị sự hiện diện của dầu và khí, còn dị thường AVO phát hiện vùng bão hòa khí
4.3 Giám sát tình trạng mỏ dầu khí bằng địa chấn (seismic monitoring)
Nhiệm vụ giám sát địa chấn mỏ dầu khí đang khai
thác là rất cần thiết khi số lượng giếng khoan giám sát còn
ít Khả năng xác định ranh giới vỉa sản phẩm bằng AVD có thể ứng dụng để giám sát sự thay đổi vỉa trong quá trình khai thác Trong trường hợp này, tất cả các điều kiện địa chất mỏ vẫn giữ nguyên và chỉ có vỉa dầu khí thay đổi do khai thác Do đó, việc xác định các thông số hấp thụ (f), dv(f) cho phép nghiên cứu sự thay đổi tình trạng mỏ qua thời gian khai thác Công tác giám sát địa chấn được thực hiện bằng cách quan sát địa chấn 4D lặp lại trong một thời gian nhất định
4.4 Kiểm tra các kho tàng trữ khí ngầm bằng AVD
Quá trình này tương tự quá trình giám sát mỏ
4.5 Tăng hệ số thu hồi dầu
Trạng thái 2 pha của chất lưu (khí - lỏng) tạo nên dị thường hấp thụ sóng địa chấn Trên thực tế, trạng thái này không ổn định và chịu tác động của sóng địa chấn rất lớn, dưới áp lực của sóng khối (sóng dọc) trạng thái khí của dầu sẽ tăng độ kết hợp và chuyển từ pha khí sang pha lỏng (dầu) Sử dụng hiệu ứng này có thể giúp tăng sản lượng dầu ở thể lỏng, do đó làm tăng lượng dầu thu hồi ở các mỏ khai thác đến giai đoạn cuối
5 Một số kết quả áp dụng phương pháp AVD ở Việt Nam
Phương pháp AVD đã được sử dụng trong tìm kiếm, thăm dò dầu khí và cho các kết quả rất khả quan ở Tây Siberia (Liên bang Nga), Trung Quốc, Nam Mỹ, vùng biển Barent Trong bài báo này, tác giả chỉ giới thiệu một số kết quả ban đầu của việc áp dụng phương pháp AVD trong tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở Việt Nam
Phương pháp AVD đã được thử nghiệm ở các bể trầm tích Sông Hồng, Cửu Long và Nam Côn Sơn với các điều kiện địa chất khác nhau với mục đích áp dụng thử nghiệm một số tuyến địa chấn 2D, 3D và tài liệu tuyến địa chấn thẳng đứng đã được lựa chọn để xử lý theo phần mềm AVD
Trang 215.1 Nghiên cứu AVD trên tài liệu địa chấn phản xạ
5.1.1 Tuyến A (bể Cửu Long)
Tuyến A cắt ngang qua mỏ Bạch Hổ và qua các giếng
khai thác dầu (420, BT-2, 417) kết quả xử lý có phát hiện
các dị thường hấp thụ (Hình 1) Dị thường A1 (1.1) (x =
141 - 280; t = 2.100 - 2.300ms), có khả năng liên quan đến
các vỉa dầu đã được phát hiện trong tầng Miocen hạ, nằm
kề áp trên móng
Dị thường A2 (1.2) (x = 421 - 505; t = 3.000 - 3.300ms)
có biên độ cao, kích thước lớn, xét về vị trí và chiều sâu
có thể liên quan đến các tích tụ dầu khí trong trầm tích
Oligocen ở cánh sụt phía Đông cấu tạo Bạch Hổ Tuy
nhiên, nếu liên kết với 2 tuyến song song ở phía Bắc
(T A1309 3D và T 0402024) ở thời gian 3.000 - 3.200ms và
giếng khoan 1107, nơi có vỉa dầu, thì đây là phần kéo dài
của vỉa dầu cánh Đông của mỏ này
5.1.2 Tuyến B (bể Sông Hồng)
Tuyến cát cắt qua cấu tạo Bạch Trĩ và giếng khoan
112-BT-1X tồn tại một số dị thường hấp thụ, trong đó các
phát hiện 2 dị thường đáng chú ý hơn cả (Hình 2)
Cần lưu ý, tại giếng khoan 112-BT-1X chỉ phát hiện được một số dị thường nhỏ nằm ở cánh Tây Bắc và Đông Nam, có thể liên quan đến trầm tích Oligocen phủ trên thành hệ trước Kainozoi Điều đó có thể giải thích vì sao giếng 112-BT-1X khoan trúng nóc cấu tạo nhưng không gặp đối tượng chứa dầu khí
5.1.3 Tuyến C và D (bể Nam Côn Sơn)Các tuyến C và D cắt qua mỏ Đại Hùng thuộc bể trầm tích Nam Côn Sơn được chọn để xử lý AVD toàn diện hơn,
sử dụng các phần mềm xử lý hấp thụ và tán sắc tốc độ trên tài liệu địa chấn 3D trên mặt và tài liệu tuyến địa chấn thẳng đứng (các giếng 1X, 3X, 4X và 8X) Gia số hấp thụ được xác định theo 2 phương pháp so sánh phổ và mô hình hóa (so sánh mô hình lý thuyết và thực nghiệm nhằm đạt độ tương ứng tối đa với số liệu thực tế) Sự hiện diện các giếng khoan làm chuẩn đã cho phép chọn các thông số xử lý tối ưu để giải quyết nhiệm vụ phát hiện tầng sản phẩm
Trên tuyến C phát hiện khá nhiều dị thường hấp thụ (Hình 3) trong đó có 3 dị thường đáng lưu ý:
- Dị thường C1 (3.1) (x = 470 - 590; t = 2.200 - 2.400ms, tương đương 2.900 - 3.100m) Số liệu tính gia số hấp thụ
bằng tài liệu tuyến địa chấn thẳng đứng ở giếng 4X cho thấy ở chiều sâu từ 2.800m
có dị thường hấp thụ mạnh Giá trị tán sắc tốc độ sóng ở tọa độ X = 512 và 560, t = 2.300ms đạt đến +5 - 6% Liên kết dị thường này với kết quả thử vỉa tại giếng 4X cho thấy
có sự trùng hợp với tập cát kết chứa dầu tuổi Miocen dưới, nằm trực tiếp trên móng
- Dị thường C2 (3.2) (x = 840 - 9.000;
t = 2.600 - 2.700ms, tương ứng với chiều sâu 3.600 - 4.000m) Độ tán sắc tốc độ đạt đến +5% Dị thường này được thể hiện ở cả 2 chỉ tiêu gia số hấp thụ và độ tán sắc tốc độ trùng hợp và có giá trị cao, do đó có nhiều khả năng liên quan đến vỉa dầu khí
- Dị thường C3 (3.3) nằm ở phần phía Tây (x = 117 - 407; t = 1.600 - 1.700ms, tương đương chiều sâu 1.800 - 2.000m) gồm nhiều đoạn không liên tục và không kéo dài đến vị trí giếng khoan 4X Theo phân tích, dị thường này có thể liên quan đến tập carbonate trong phần trên của trầm tích
Hình 1 Mặt cắt gia số hấp thụ tuyến A
Hình 2 Mặt cắt gia số hấp thụ tuyến 89-850
Trang 22Miocen giữa, phát triển tương đối trên toàn mỏ Theo kết
quả thử vỉa ở GK 1X và 8X, đá carbonate có chứa dầu khí,
nhưng ở giếng 4X không có biểu hiện dầu khí Tại điểm
X = 235 và 274, t = 1.700ms, độ tán sắc tốc độ dv = 0 Vì
vậy, dị thường C3 có độ tin cậy thấp
Trên tuyến D phát hiện một số dị thường tương đối
mạnh (Hình 4)
- Dị thường D1 (4.1) (X = 380 - 580; t = 1.700 -
1.800ms, tương đương với chiều sâu 2.000 - 2.150m), độ
tán sắc tốc độ tại các điểm 407, 528, 540 đạt đến +6% Trong khi đó, tại các điểm
330, 726, 840 nằm ngoài dị thường hấp thụ
dv = 0 Liên kết tài liệu giếng khoan 1X và 8X cho thấy đây là tập đá carbonate có chứa dầu đáng kể
- Dị thường D2 (4.2) nằm trong vùng các giếng 1X và 8X (X = 400 - 600; t = 2.500
- 2.600ms, tương ứng với chiều sâu 4.000 - 4.200m) Ở đây không có số liệu phân tích tốc
độ và bức tranh sóng khá phức tạp Tuy nhiên,
dị thường D2 có thể đồng nhất với vỉa dầu khí
đã được phát hiện trong tập cát kết có tuổi Miocen dưới, nằm trực tiếp trên móng.Qua sự phân bố các dị thường hấp thụ
và tán sắc tốc độ trên 2 tuyến C và D, tác giả cho rằng nếu có mạng lưới tuyến khảo sát dày hơn có thể khoanh được bình độ dị thường, nghĩa là có thể xác định được ranh giới các vỉa sản phẩm
5.2 Nghiên cứu AVD trên tài liệu tuyến địa chấn thẳng đứng
Để kiểm tra độ tin cậy của các dị thường hấp thụ và
nghiên cứu hiệu ứng không đàn hồi trên tần số địa chấn
đã tiến hành xử lý tài liệu tuyến địa chấn thẳng đứng của một số giếng trên mỏ Đại Hùng để xác định gia số hấp thụ
và tán sắc tốc độ pha Ví dụ điển hình ở giếng 8X, ở chiều sâu từ 3.700m xuất hiện dị thường gia số hấp thụ mạnh (Hình 5a) và dị thường tán sắc tốc độ (Hình 5b), chiều sâu các dị thường trùng hợp với nhau và rất phù hợp với tầng sản phẩm trong giếng khoan này Điều đó chứng minh độ tin cậy cao của kết quả xử lý bằng phương pháp này trong giếng khoan
6 Kết luận
Hiệu quả của việc ứng dụng hiệu ứng hấp thụ và tán sắc tốc độ sóng địa chấn phụ thuộc vào tần số trong môi trường chứa dầu khí đã được chứng minh bằng lý thuyết
và thực nghiệm Các thông số này đã trở thành các chỉ thị
sự hiện diện dầu khí trong môi trường trầm tích Phương pháp AVD đã được ứng dụng trong tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở nhiều nước trên thế giới và mang lại hiệu quả kinh tế cao
Phương pháp AVD đã được áp dụng thử nghiệm ở Việt Nam và đem lại kết quả rất khả quan, mở ra hướng mới trong công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu
Trang 23khí Tuy nhiên, cần phải nghiên cứu hoàn thiện và phát
triển phương pháp AVD để mở rộng khả năng ứng dụng
phương pháp này trong công nghệ dầu khí, nhất là ở đối
tượng như móng granite nứt nẻ
Tài liệu tham khảo
1 M.B.Rapoport, L.I.Rapoport, V.I.Ryjkov Seismic
absorption and velocity dispersion - The indicators of
hydrocarbons Special Report 1994
2 A.I Best, C McCann, J Sothcott The relationships
between the velocities, attenuations and petrophysical
properties of reservoir sedimentary rocks Geophysical
Prospecting 1994; 42 (2): p 151-178
3 M.B.Rapoport and V.I.Ryjkov Seismic velocity
dispersion an indicator of hydrocarbons Abstracts of
papers, 64 SEG Meeting Los Angeles 1994
4 Чыонг Минь Определение частотных спектров отраженных волн по сейсмических ансамблям Геология и рaзведка 11/1986 Москва 1986
5 M.B.Rapoport, V.I.Ryjkov, L.I.Rapoport, V.E.Parniket, V.A.Kateli, I.G.Binkin The oil prospecting using seismic attributes as predictors of reservoir properties and l uid saturation 67th Ann, Internat Mtg SEG 1997
6 M.B.Rpoport, V.I.Ryjkov, M.M.Tikhomirov Seismic monitoring system project for Arctic shelf i elds Gubkin Oil
& Gas Academy, Russia
7 M.B.Rapoport, Trương Minh và nnk Các khả năng mới của phương pháp địa chấn trong thăm dò khai thác dầu khí Báo cáo Hội thảo, Hà Nội - Vũng Tàu 10/1998
8 Trương Minh, Phạm Dương và nnk Báo cáo kết quả
xử lý AVD tại Liên bang Nga 1999
Application of seismic wave absorption and velocity dispersion
in petroleum exploration and production
in petroleum exploration to perform the following tasks: identifying petroleum reservoirs in the wells according to vertical seismic proi le (VSP) and acoustic data; predicting and discovering petroleum reservoirs based on surface seismic data; monitoring petroleum reservoirs under production; controlling underground gas storage; and increas- ing oil recovery coefficient.
The “Absorption and Velocity Dispersion - AVD” method has been tested in Vietnam on some 2-D and 3-D seismic data recorded in Bach Ho and Dai Hung fields and in other areas The results obtained show that the effectiveness of the AVD method is quite good, as it confirms the existing petroleum reservoirs and discovers the other anomalies in new hydrocarbon reservoirs It is, therefore, essential to increase the application of seismic wave absorption and velocity dispersion method in petroleum prospecting, exploration and production in order to enlarge the production areas, discover new exploration and production sites, and increase hydrocarbon reserves at the lowest costs
Trang 241 Giới thiệu
Công tác nghiên cứu đánh giá khả năng áp dụng các
biện pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu được tiến hành
từ đầu năm 2000 cho các đối tượng đang khai thác tại
mỏ Bạch Hổ Trong đó, đối tượng cát kết Miocen hạ được
quan tâm nhiều nhất do là đối tượng khai thác truyền
thống, có thể ứng dụng ngay kết quả nghiên cứu để
nâng cao hệ số thu hồi dầu Một số phương pháp hóa học
(hoạt tính bề mặt, dung môi ) được bơm ép thử nghiệm
đã đem lại những kết quả ban đầu, song cũng cho thấy
khó khăn và thách thức khi áp dụng các phương pháp
nâng cao hệ số thu hồi dầu cho các đối tượng khai thác
tại mỏ Bạch Hổ cũng như toàn bể trầm tích Cửu Long
Sau thời gian dài áp dụng phương pháp bơm ép
polymer (từ những năm 70 của thế kỷ XX), các nghiên
cứu cho thấy dung dịch polymer được bơm vào vỉa giúp
cải thiện tỷ số độ linh động và nâng cao hệ số quét Tuy
nhiên, theo kết quả áp dụng thực tế tại một số mỏ thì
dung dịch polymer chỉ làm tăng nhẹ lực đẩy mao dẫn,
do lượng dầu khai thác thêm có cơ chế mao dẫn rất nhỏ
so với dầu được polymer quét mở rộng diện tích theo cả
diện và mặt cắt [3]
Trong những nghiên cứu gần đây, nhiều nhà khoa
học đã đề cập đến khả năng tăng cường hệ số đẩy dầu
của dung dịch polymer có độ nhớt cao [3], [4] (điều chỉnh
giảm mạnh hệ số độ linh động M) Kết quả thí nghiệm
bơm ép dung dịch co-polymer chịu nhiệt với nồng độ
cao qua mẫu lõi Miocen hạ mỏ Bạch Hổ cho thấy tổng lượng dầu gia tăng thêm đạt trung bình 12,1% so với sử dụng phương pháp bơm ép nước [2]
Trên cơ sở kết quả tổng lượng thu hồi dầu qua mô hình vỉa phân lớp [1], một số mô hình sửa đổi đã thực hiện tại Phòng Thí nghiệm Công nghệ mỏ - Viện Dầu khí Việt Nam nhằm chi tiết hóa từng phần dầu thu hồi Từ kết quả thực nghiệm, các cơ chế đẩy dầu và cải thiện hệ số quét của dung dịch polymer được khảo sát và đánh giá hiệu quả Hiểu rõ các cơ chế đẩy - quét sẽ tạo điều kiện thuận lợi khi thiết kế các sơ đồ bơm ép thực tế cho đối tượng nghiên cứu
Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí
ThS Nguyễn Hoàng Đức, ThS Nguyễn Bảo Trung
Viện Dầu khí Việt Nam
Tóm tắt
Vỉa chứa dầu Miocen hạ mỏ Bạch Hổ đang là đối tượng nghiên cứu chính cho các phương pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu bằng bơm ép hóa chất như polymer hay chất hoạt tính bề mặt Những nghiên cứu gần đây đề cập đến khả năng tăng cường hệ số đẩy dầu bằng dung dịch polymer Kết quả thí nghiệm bơm ép dung dịch co-polymer chịu nhiệt với nồng độ cao qua mẫu lõi Miocen hạ mỏ Bạch Hổ cho thấy tổng lượng dầu gia tăng thêm đạt trung bình 12,1% so với sử dụng phương pháp bơm ép nước [1] Hiểu rõ các cơ chế đẩy - quét sẽ tạo điều kiện thuận lợi khi thiết kế các sơ đồ bơm ép thực tế cho đối tượng nghiên cứu, bài báo giới thiệu các kết quả thí nghiệm nhằm khảo sát chi tiết các cơ chế đẩy dầu và cải thiện hệ số quét của dung dịch polymer qua mẫu lõi.
Hình 1 Kết quả khảo sát độ bền nhiệt dung dịch polymer bức xạ
A-806 [2]
Trang 25bức xạ) có một số đặc tính vượt trội so với các loại
polymer khác bởi khả năng chịu nhiệt độ cao tới 130oC
và bền trong môi trường nước có độ khoáng hóa cao
tương đương nước biển Dung dịch polymer A-806 cũng
được pha chế từ nước biển với độ muối tương đương
25.000ppm Kết quả khảo sát độ bền nhiệt thông qua
giá trị độ nhớt của dung dịch (Hình 1) cho thấy dung
dịch tương đối ổn định theo thời gian với độ nhớt trong
khoảng 5cP tại điều kiện vỉa (nhiệt độ 120oC và áp suất
20,4 MPa)
3 Đặc tính tầng chứa Miocen hạ mỏ Bạch Hổ và hiện
trạng khai thác
Thân dầu Miocen hạ mỏ Bạch Hổ thuộc dạng cát
kết phân lớp mỏng, xen kẽ với các lớp bột kết và sét kết
Trên diện tích mỏ, thân dầu được phân chia thành 2 khối
rõ ràng (khối Bắc và khối Trung tâm) theo chế độ thủy
động Lượng dầu tại chỗ của khối Trung tâm là 8 triệu tấn
và của khối Bắc là 11 triệu tấn Theo mặt cắt, thân dầu
gồm 5 tầng sản phẩm (từ tầng 23 - 27) trong đó tầng 23
là tầng sản phẩm chính với chiều dày có thể đạt tới 20m
trong một số giếng khoan Độ thấm của các tầng biến
thiên trong khoảng rộng, từ vài mD tới hàng nghìn mD
(2 - 2.500mD đối với tầng 23) và độ rỗng trung bình đạt
18% Hệ số phân lớp của các tầng tương đối cao (3,25 đối
với tầng 23) [1] Độ bão hòa dầu ban đầu của vỉa có giá
trị trung bình 49% và ranh giới dầu nước toàn đối tượng
nằm tại độ sâu 2.971m
Dầu vỉa thuộc loại có tỷ trọng trung bình với giá trị
trọng lượng riêng dầu đã tách khí đạt 865kg/m3, tỷ số khí
- dầu từ 100m3/tấn (khối Trung tâm) tới 140m3/tấn (khối
Bắc) Nhiệt độ vỉa trung bình từ 90 - 110oC tương ứng với
chiều sâu các tầng sản phẩm từ 2.760 - 3.000mTVDSS Áp
suất vỉa ban đầu được lấy với giá trị 28,8MPa
Tính đến đầu năm 2011, đã có trên 60 giếng được
khoan vào vỉa mỏ Bạch Hổ Hiện có 31 giếng khai thác
và 7 giếng bơm ép đang hoạt động Phương pháp
gaslift được áp dụng cho hầu hết các giếng khai thác
Tổng lượng dầu đã khai thác được từ thân dầu đạt 5,4
triệu tấn, tương ứng với hệ số thu hồi 28,4% Riêng khối
Bắc khai thác 3,8 triệu tấn, đạt 87% lượng dầu có thể
khai thác được Tuy nhiên, độ ngập nước của các giếng
rất cao (trên 72%) Do đó, một lượng lớn dầu (ước tính
khoảng trên 9 triệu tấn) còn nằm lại trong vỉa sau quá
trình khai thác bằng phương pháp bơm ép nước và là
tiềm năng rất lớn cho các phương pháp nâng cao hệ số
thu hồi dầu
4 Thí nghiệm bơm ép polymer cho mô hình vỉa phân lớp
Mô hình vỉa phân lớp được các chuyên gia Vietsovpetro xây dựng từ 4 nửa mẫu lõi tầng chứa Miocen hạ mỏ Bạch
Hổ Các mẫu được lựa chọn để có hai nửa mô hình vỉa có
độ thấm khác biệt nhau: từ 50 - 100mD so với 900 hoặc hàng nghìn mD Mô hình này mô phỏng gần chính xác sự phân lớp bất đồng nhất tự nhiên trong thực tế vỉa chứa, cho phép nghiên cứu xác định hiện tượng dòng chảy chéo xảy ra giữa các lớp trong quá trình bơm ép nước và polymer Trong thực tế khai thác đối tượng Miocen hạ, hiện tượng vọt nước sớm xảy ra ở các lớp có độ thấm lớn
do có sự hỗ trợ năng lượng từ nước biển và nước bơm ép khi áp dụng duy trì áp suất vỉa với tỷ số độ linh động được đánh giá vào khoảng M = 5
Hình 2 Kết quả thí nghiệm bơm ép polymer [1]
Hình 3 Bơm ép polymer qua mô hình phân lớp
Trang 26Thí nghiệm bơm ép polymer nâng cao hệ số thu hồi
dầu qua mô hình phân lớp tại điều kiện vỉa, sử dụng
dầu mô phỏng độ nhớt, nước vỉa và dung dịch polymer
A-806 nồng độ 2.500ppm Dung dịch polymer được
bơm vào thời điểm mô hình vỉa đã bị ngập nước hoàn
toàn (sau khi kết thúc bơm đẩy dầu bởi nước) Thể tích
nút dung dịch polymer bơm ép được lựa chọn bằng
25% thể tích không gian rỗng của mô hình Sau khi bơm
ép hết lượng polymer, nước tiếp tục được bơm vào mô
hình nhằm thực hiện quá trình bơm đẩy dầu một cách
liên tục
Có 8 mô hình vỉa phân lớp đã được thực hiện,
trong đó 7 mô hình thực hiện tại Phòng Thí nghiệm của
Vietsovpetro và 1 mô hình thực hiện tại Phòng Thí nghiệm
Công nghệ mỏ - Viện Dầu khí Việt Nam Kết quả cho thấy
gia tăng thu hồi dầu thay đổi trong khoảng 4,8 - 16,6%,
trung bình đạt 12,1% Theo báo cáo kết quả nghiên cứu
[2] đã khẳng định mức độ cải thiện hệ số quét dầu do ảnh
hưởng dòng chảy chéo giữa các lớp tiếp giáp nhau và có
độ thấm khác biệt lớn (Hình 2 và 3)
Trên cơ sở hợp tác nghiên cứu khoa học và kiểm tra
chéo giữa các phòng thí nghiệm về nâng cao hệ số thu
hồi dầu, Phòng Thí nghiệm Công nghệ mỏ đã thực hiện
mẫu thứ 8 theo mô hình phân lớp Kết quả cho thấy lượng
dầu thu hồi do bơm ép nút polymer đạt tới 16,6%, động
thái đẩy thêm dầu cũng hoàn toàn thống nhất với các thí
nghiệm đã thực hiện tại Vietsovpetro [1]
Cơ chế thu hồi dầu khi bơm ép polymer qua mô hình
phân lớp được đánh giá là sự điều chỉnh hướng chảy của
dòng nước bơm ép từ đới có độ thấm cao lên đới có độ
thấm thấp, làm tăng hệ số quét dầu bởi nước bơm ép
do có tác động của nút polymer
chuyển động chậm (Hình 3) Tuy
nhiên, phân tích sơ đồ và quy
trình bơm đẩy cho thấy ngoài cải
thiện hệ số quét, nút polymer có
độ nhớt cao cũng được đẩy dần
dần trong đới có độ thấm cao
Như vậy, nút polymer này cũng có
khả năng đẩy thêm dầu trong đới
có độ thấm cao, tức là cải thiện
hệ số đẩy dầu trong vùng đã bị
nước quét qua Trong khi đó, kết
quả mới chỉ đưa ra tổng lượng
dầu thu hồi thêm sau khi bơm ép,
động thái khai thác dầu cũng rất
khó phân tích chi tiết
5 Kết quả khảo sát cơ chế đẩy dầu
Từ kết quả đẩy dầu của mẫu thứ 8, nhóm tác giả đã thực hiện khảo sát chi tiết các cơ chế đẩy và quét dầu của nút polymer bằng cách sửa đổi mô hình và quy trình bơm đẩy dầu: đẩy dầu bởi dung dịch polymer trong phần mẫu
có độ thấm lớn sau khi đã bơm nước; đẩy dầu bởi dung dịch polymer trong phần mẫu có độ thấm nhỏ sau khi đã bơm nước
Cả 2 mô hình chi tiết này đều được thực hiện trên cùng điều kiện thí nghiệm (áp suất, nhiệt độ và thể tích bơm đẩy) Các mẫu lõi được lựa chọn với độ đồng nhất cao và được xử lý hết chất lưu (polymer, dầu và nước) trong hệ thống lỗ rỗng sau khi bơm ép Công việc tái tạo mẫu về trạng thái ban đầu được thực hiện bằng cách ngâm mẫu (đã tạo bão hòa nước và dầu ban đầu) trong dầu ở nhiệt
độ cao, thời gian 2 tuần Phần mẫu lõi không mô phỏng
sẽ được lắp đặt các nút đặc bằng thép không có độ rỗng,
độ thấm Tốc độ bơm đẩy nước cũng như nút polymer đều được thiết kế tương đương với dịch chuyển 30 - 60cm/ngày (1 - 2 feet/ngày)
Kết quả bơm đẩy của cả 3 mô hình được trình bày trên Hình 4
Mô hình vỉa phân lớp do Phòng Thí nghiệm Công nghệ mỏ - Viện Dầu khí Việt Nam thực hiện có độ thấm lớn
và hệ số thu hồi dầu tăng thêm do bơm ép polymer đạt giá trị cao nhất với 16,6% Mặc dù hệ số khác nhau tương đối Kcao/Kthấp = 6 nhưng hệ số thu hồi dầu cuối cùng đạt gần 70% và sau bơm ép nước đạt 52% Hai mô hình bơm
ép riêng lẻ cũng cho hệ số thu hồi dầu rất cao khi bơm ép nước và bơm ép polymer
Hình 4 Kết quả bơm đẩy dầu của các mô hình bơm ép polymer sửa đổi
Bơm nước
Bơm polymer (0,25Vrỗng) Bơm nước
Thể tích chất lưu bơm ép, V bơm/Vrỗng
Trang 27Động thái thu hồi dầu do bơm ép nước cho thấy
phần mẫu có độ thấm lớn sẽ thu hồi dầu nhanh hơn
và cao hơn so với phần mẫu có độ thấm thấp Cả 2 mô
hình bơm ép riêng lẻ đều chứng tỏ mức độ đồng nhất
cao trong mẫu, tuy nhiên mẫu có độ thấm nhỏ sẽ đạt
hệ số thu hồi dầu chậm hơn Xét trên mô hình ghép,
động thái thu hồi dầu do bơm ép nước cho thấy nước
đã quét qua cả phần mẫu có độ thấm thấp, đồng thời
lượng dầu thu hồi còn có sự đóng góp của hiện tượng
mao dẫn giữa phần dầu của phần thấm thấp và phần
nước đã quét qua của phần thấm cao hơn (Hình 5) Tổng
lượng dầu thu hồi sau bơm ép nước của các mô hình
riêng lẻ có giá trị cao hơn so với mô hình ghép, nhưng
không nhiều
Kết quả gia tăng thu hồi dầu do bơm ép polymer
của 2 mô hình riêng lẻ chứng tỏ phương pháp này đã cải
thiện đáng kể hệ số đẩy dầu trong hệ thống lỗ rỗng (ED)
Lượng dầu gia tăng thu hồi do bơm ép polymer cho mô
hình độ thấm lớn đạt 7,6% và cho mô hình độ thấm nhỏ
đạt 10,4% Động thái thu hồi dầu cho thấy các phần mẫu
riêng lẻ đã được polymer quét lại đạt khoảng 90% diện
tích mà nước đã quét, nhất là đối với mô hình phần mẫu
có độ thấm lớn Tổng lượng dầu thu hồi gia tăng từ bơm
ép polymer của 2 mô hình riêng lẻ đạt khoảng 18%, cao
hơn so với mô hình ghép 1,4% và thể hiện tính bất đồng nhất của mô hình ghép
Giá trị chênh lệch 1,4% cho thấy hiệu quả quét thêm của nút polymer cho mô hình ghép (với độ thấm lớn) đạt không cao do sơ đồ dòng chảy chéo không đạt được hiệu quả tối đa như các mô hình ghép có độ thấm thấp hoặc trung bình Trên sơ đồ bơm đẩy (Hình 5), dòng chảy chéo chỉ quét thêm phần diện tích nhỏ chứa dầu dư của phần
có độ thấm thấp, trong đó chủ yếu quét lại phần diện tích
mà nước đã quét qua hoặc mao dẫn đã lấy dầu Ngoài ra, khoảng cách giữa 2 nút polymer trong 2 phần mẫu cũng là yếu tố ảnh hưởng tới hiệu suất quét của dòng chảy chéo.Động thái khai thác dầu do bơm ép polymer của các
mô hình cho thấy phần mẫu càng đồng nhất, mặt phân cách polymer - dầu càng ổn định và thời gian nút polymer tới giếng khai thác sẽ lâu hơn nhiều so với mô hình ghép
có tính bất đồng nhất cao hơn Lợi thế tốt nhất của vỉa chứa đồng nhất khi áp dụng bơm ép polymer là hệ số nước (water cut) trong dòng sản phẩm của giếng khai thác sẽ giảm nhanh, mạnh và cũng tăng lại rất nhanh
6 Kết luận
Cơ chế đẩy dầu bằng bơm ép dung dịch polymer cho nâng cao hệ số thu hồi dầu bao gồm cải thiện hệ số quét,
Hình 5 Cơ chế đẩy dầu của polymer qua mô hình phân lớp
Bắt đầu quá trình đẩy nước
Sau quá trình đẩy nước
Trang 28hệ số độ linh động và hệ số đẩy dầu Để áp dụng cho đối
tượng Miocen dưới mỏ Bạch Hổ, dung dịch polymer cần
phải có đặc tính bền nhiệt trong thời gian dài trong điều
kiện môi trường vỉa chứa Dung dịch polymer có số hiệu
A-806 của Viện Nghiên cứu Hạt nhân (Đà Lạt) có thể áp
dụng hiệu quả cho đối tượng nghiên cứu Hệ số gia tăng
thu hồi dầu qua mẫu lõi đạt trên 16% và có thể đạt được
trong thực tế áp dụng với thời gian ngắn do không phải
thay đổi hệ thống khai thác
Bên cạnh đó, cần tiếp tục nghiên cứu: mô phỏng
các cơ chế và phương pháp bơm ép polymer trên mô
hình số, phân tích động thái khai thác vỉa và hiện trạng
các công trình biển, hệ thống khai thác; tối ưu thể
tích nút dung dịch polymer đối với từng giếng và cụm
giếng; tối ưu nồng độ dung dịch polymer cho phù hợp
với tính bất đồng nhất của vùng vỉa; tối ưu thời điểm
bơm ép và kiểm soát nút dung dịch polymer nhằm phát
huy hiệu quả quét chéo giữa các tầng có mức độ bất
đồng nhất cao
Tài liệu tham khảo
1 Lê Đình Lăng và nhóm tác giả Một số nghiên cứu gia tăng thu hồi dầu cho các mỏ Bạch Hổ và mỏ Rồng Tuyển tập báo cáo Hội nghị Khoa học và Công nghệ Quốc tế “Dầu khí Việt Nam 2010 - Tăng tốc phát triển” 2010: p 937 - 948
2 Nguyễn Hải An, Hồ Anh Phong Báo cáo kết quả thử nghiệm bơm ép polymer biến tính bức xạ A-806 Lưu trữ Phòng Thí nghiệm Công nghệ mỏ - Viện Dầu khí Việt Nam
2008
3 Wang Demin, et al Study of the Mechanism of polymer solution with visco-elastic behavior increasing microscopic oil displacement ei ciency and the forming of steady “oil threat” l ow chanels Paper No SPE 68723 SPE Asia Pacii c Oil and Gas Conference and Exhibition April
17 - 19, 2001
4 Yang Fuline, et al High concentration polymer
l ooding is successful Paper No SPE 88454, SPE Asia Pacii c Oil and Gas Conference and Exhibition Oct 18 - 20, 2004
Summary
The Bach Ho Lower Miocene reservoir is currently the main object for research on enhanced oil recovery (EOR) by injecting chemicals such as polymer or surfactant solution Studies in recent years have mentioned the ability of polymer solution to enhance the displacement efficiency The results of experimental high-concentration heat-resistant co-polymer injection through core plugs from Bach Ho Lower Miocene reservoirs showed that the volume of oil displaced was increased by 12.1% as compared with water injection A better understanding of the displacement-sweep mechanism will facilitate the design of actual injection scheme for the study reservoirs This paper presents the results of experiments to examine in detail the displacement mechanisms and improve the sweep efficiency of polymer solution.
Investigating the mechanism of oil displacement by polymer flooding through Bach Ho Lower Miocene core plugs
Nguyen Hai An
Petrovietnam Exploration Production Corporation
Nguyen Hoang Duc, Nguyen Bao Trung
Vietnam Petroleum Institute
Trang 291 Mở đầu
Trong lĩnh vực xúc tác dị thể, alumina (Al2O3) là vật liệu
thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học
do có những tính chất phù hợp để làm vật liệu hấp phụ
và làm chất mang cho xúc tác Trong đó, -Al2O3 là dạng
thù hình được sử dụng phổ biến nhất do có diện tích bề
mặt riêng lớn, cấu trúc xốp đồng đều, có khả năng phân
tán tốt pha hoạt tính, bền nhiệt, bền cơ [1] Đặc tính hấp
phụ của -Al2O3 được dùng để tách các hợp chất đa vòng,
các chất hữu cơ dễ bay hơi, một số chất độc trong khói
thuốc lá hoặc tách asen, l uorine trong nước sinh hoạt
Trong công nghiệp lọc hóa dầu, -Al2O3 có rất nhiều ứng
dụng quan trọng trong việc làm khô chất lỏng và khí, hấp
phụ chọn lọc trong ngành xăng dầu [2] -Al2O3 mao quản
trung bình có thể hấp phụ hỗn hợp của các hydrocarbon
nhẹ (C1 - C3), hoặc các khí có nhiệt độ sôi thấp Để làm giàu
và tinh chế các phân đoạn dầu như phân tách các hợp
chất vòng từ các parai n hay olei n, người ta thường sử
dụng nhôm oxide để hấp phụ hỗn hợp các vòng thơm,
vòng no, các hydrocarbon chưa bão hòa có nhiệt độ sôi
cao, các hợp chất màu từ sáp, dầu, chất béo [3]
Tuy nhiên một trong những ứng dụng quan trọng
nhất của -Al2O3 là làm chất mang trong lĩnh vực xúc tác
do có diện tích bề mặt riêng lớn hỗ trợ sự phân tán đều
các tâm hoạt tính trên bề mặt và cấu trúc mao quản có
thể điều chỉnh dễ dàng -Al2O3 có thể ứng dụng làm xúc
tác cho nhiều loại phản ứng khác nhau: steam reforming
[4], dehydro hóa [5], dehydro hóa đóng vòng [6] Một
ví dụ điển hình khác là -Al2O3 sử dụng làm chất mang cho xúc tác Pt/-Al2O3 trong quá trình isome hóa, trong
đó Pt có chức năng oxy hóa khử xúc tiến cho phản ứng hydro-dehydro hóa còn -Al2O3 đóng vai trò chất mang
có tính acid thúc đẩy cho phản ứng chuyển hóa mạch carbon [3] và hỗ trợ sự phân tán tâm hoạt tính Pt Với đặc tính bền cơ, bền nhiệt, -Al2O3 còn giúp gia tăng độ bền của xúc tác khi hoạt động ở điều kiện phản ứng khắc nghiệt Ngoài ra, chất mang này có chi phí không cao, nguồn nguyên liệu dồi dào Vì vậy, -Al2O3 là chất mang phổ biến nhất hiện nay để tổng hợp các loại xúc tác công nghiệp
Quá trình tổng hợp -Al2O3 trên thế giới chủ yếu được thực hiện theo 2 phương pháp chính: kết tủa và sol-gel [7] Một số công trình nghiên cứu điều chế -Al2O3 theo hướng này thu được sản phẩm có bề mặt riêng khá tốt (150 - 300m2/g) và sự phân bố kích thước lỗ xốp khá đồng đều [8 - 11] Ngoài ra, người ta thường bổ sung vào quá trình điều chế các chất hoạt động bề mặt để nâng cao diện tích bề mặt riêng cũng như thu được các sản phẩm có độ đồng nhất cao hơn về kích thước
lỗ xốp Các chất hoạt động bề mặt này có vai trò như một tác nhân định hình cấu trúc, hỗ trợ sự hình thành có trật tự các cấu trúc xốp từ đó nâng cao diện tích bề mặt riêng và độ đồng đều của kích thước lỗ xốp [7; 12; 13] Nhìn chung, các phương pháp sử dụng chất hoạt động
bề mặt cho sản phẩm có chất lượng tốt (diện tích bề mặt
T NGU N HYDROXIDE NHÔM TÂN BÌNH Đ LÀM CH T MANG CHO CÁC H XÚC TÁC S D NG TRONG T NG H P HÓA D U
KS Bùi Vĩnh Tường, KS Hà Lưu Mạnh Quân
TS Lê Phúc Nguyên, TS Đặng Thanh Tùng
Viện Dầu khí Việt Nam
Tóm tắt
Công trình này nghiên cứu các phương pháp tổng hợp -Al 2 O 3 từ nguồn nhôm hóa chất tinh khiết Al(NO 3 ) 3 và nguồn nhôm Al(OH) 3 Tân Bình, cũng như sự ảnh hưởng của điều kiện tổng hợp lên tính chất của γ-Al 2 O 3 Cấu trúc và hình thái của các mẫu -Al 2 O 3 điều chế từ các phương pháp khác nhau được nghiên cứu bằng phương pháp hấp phụ
N 2 , XRD, SEM, TPD-NH 3 Kết quả cho thấy có thể tự phát triển được chất mang -Al 2 O 3 từ nguyên liệu ban đầu rẻ tiền, có sẵn là Al(OH) 3 Tân Bình với diện tích bề mặt kiểm soát được trong khoảng 200 - 300m 2 /g và phân bố kích thước lỗ xốp
có thể đạt được tối ưu như sản phẩm thương mại -Al 2 O 3 của Merck.
Trang 30riêng lớn, kích thước lỗ xốp đồng đều) nhưng chi phí rất
cao, quy trình điều chế phức tạp và không phù hợp cho
quy mô công nghiệp Với mục đích tổng hợp -Al2O3 làm
chất mang cho xúc tác công nghiệp, nhóm tác giả đã
tập trung nghiên cứu phương pháp rẻ tiền (sử dụng ít
hóa chất, giá rẻ, nguồn nguyên liệu có sẵn, quy trình đơn
giản ) và phương pháp kết tủa là phương pháp được sử
dụng rộng rãi nhất Trong phương pháp kết tủa tiền chất
nhôm sử dụng có thể là các muối như Al(NO3)3 [8] hoặc
hydroxide nhôm Al(OH)3 [7]
Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đã tập trung nghiên cứu
Al(OH)3 Tân Bình do đây là nguồn nguyên liệu giá rẻ, có
sẵn trên thị trường và dễ dàng cung cấp với số lượng lớn
Các sản phẩm thu được so sánh về cấu trúc và hình thái
(diện tích bề mặt, kích thước lỗ xốp…) với -Al2O3 thương
mại (-Al2O3 Merck) và -Al2O3 tổng hợp từ hóa chất tinh
khiết Al(NO3)3 [14] Ảnh hưởng của thời gian già hóa kết
tủa trước khi nung đến tính chất của sản phẩm thu được
cũng được nghiên cứu nhằm chủ động điều khiển tính
chất sản phẩm dựa trên 2 tiêu chí diện tích bề mặt riêng
và sự phân bố kích thước lỗ xốp
2 Thực nghiệm
2.1 Hóa chất
Al(NO3)3.9H2O, dung dịch NH3 25%, dung dịch H2O2
30%, NaOH rắn (Guangdong Guanghua Sci-Tech Co., Ltd.),
-Al2O3 (Merck) và hydroxide nhôm Tân Bình
2.2 Tổng hợp γ-Al 2 O 3
Chất mang -Al2O3 được tổng hợp bằng phương pháp
kết tủa từ nguồn Al(OH)3 Tân Bình và nguồn nitrat nhôm
tinh khiết
2.2.1 Phương pháp tổng hợp -Al2O3 từ tiền chất Al(OH)3 Tân
Bình (phương pháp hòa tan - kết tủa)
Quy trình tổng hợp gamma Al2O3 từ Al(OH)3 được sử
dụng dựa trên quy trình trong [15] Sản phẩm thu được
đạt diện tích bề mặt là 215m2/g Trong phần đầu của
nghiên cứu, nhóm tác giả tiến hành tổng hợp theo đúng
quy trình này Sau đó, một số thay đổi sẽ được nghiên cứu
nhằm nâng cao và kiểm soát được chất lượng sản phẩm
mong muốn
Trước tiên, một lượng Al(OH)3 Tân Bình được hòa tan
bằng dung dịch NaOH 30% trong 30 phút Hỗn hợp này
được để lắng trong 15 giờ, sau đó lọc lấy phần dung dịch
và dùng dung dịch H2O2 30% để oxy hóa và lọc nhằm loại
bỏ hoàn toàn tạp chất Quá trình tái kết tủa được thực hiện trên dung dịch sau lọc bằng cách nhỏ giọt từ từ dung dịch
H2SO4 30% đến khi pH của dung dịch đạt 9 thì dừng lại Hỗn hợp tủa sau khi già hóa 2 giờ ở 80 - 90oC thì được lọc rửa 3 lần bằng nước nóng Sau đó, tủa được sấy ở 100oC trong 5 giờ và nung ở 500oC trong 5 giờ Sản phẩm thu được ký hiệu là Al2O3-TB
Tiếp theo, nhóm tác giả nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian già hóa hỗn hợp tủa (trước khi lọc, rửa, sấy và nung) đến chất lượng sản phẩm thu được Quá trình già hóa được tiến hành ở nhiệt độ phòng trong các khoảng thời gian lần lượt là 0, 24, 48, 72 và 84 giờ sau khi đã già hóa trong 2 giờ ở nhiệt độ 80 - 90°C
2.2.2 Phương pháp tổng hợp -Al2O3 từ tiền chất Al(NO3)3Theo quy trình tổng hợp gamma Al2O3 từ tiền chất Al(NO3)3 [14], dung dịch Al(NO3)3 và dung dịch NH3 5% được cho vào 2 buret, tiến hành nhỏ giọt đồng thời (tốc
độ nhỏ giọt là 2ml/phút) vào một bercher đến khi pH đạt giá trị 8 - 9 Để yên hỗn hợp sau phản ứng khoảng 12 giờ, sau đó ly tâm tách Al(OH)3 (khoảng 2.000 vòng/phút) Rửa lại Al(OH)3 bằng nước và C2H5OH để loại sạch các ion Lọc tủa Al(OH)3, để khô ngoài không khí, sau đó sấy khô 100oC trong 5 giờ Nung chất rắn sau khi sấy ở nhiệt độ 500oC trong 5 giờ để thu được oxide nhôm Sản phẩm thu được
ký hiệu là Al2O3-N
2.3 Khảo sát các đặc điểm cấu trúc, hình thái xúc tác
Phương pháp nhiễu xạ tia X được sử dụng để xác định cấu trúc và thành phần pha trong các mẫu -Al2O3 Mẫu được đo trên thiết bị Bruker AXS D8 dùng điện cực
Cu (40kV, 40mA), góc quét từ 3o đến 73o, bước quét là 0,03o Diện tích bề mặt B.E.T và sự phân bố kích thước
lỗ xốp của các mẫu được đo thông qua sự hấp phụ N2
ở nhiệt độ -196oC (N2 theo tiêu chuẩn ASTM D3663 và ASTM D4365 với máy Micromeritics) Trước khi đo, các thành phần hấp phụ trên bề mặt mẫu được loại bỏ thông qua quá trình xử lý ở 400oC trong N2 trong 6 giờ bằng bộ xử lý mẫu SmartPrep của hãng Micromeritics Hình thái của sản phẩm được xác định bằng kính hiển
vi điện tử quét (scanning electron microscopy - SEM) Trong nghiên cứu này, hình ảnh bề mặt của vật liệu được phân tích trên thiết bị EVO MA10 của hãng Carl Zeiss Ngoài ra, nhóm tác giả cũng khảo sát tính acid của
Al2O3 bằng phương pháp giải hấp theo chu trình nhiệt với khí NH3 (NH3-TPD) trên thiết bị Autochem II của hãng Micromeritics
Trang 313 Kết quả và thảo luận
3.1 Tính chất của các sản phẩm thu được
Nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu cấu trúc và hình
thái của sản phẩm Al2O3-TB thu được, so sánh với kết quả
trước đó của nghiên cứu [15] và các sản phẩm Al2O3 khác
gồm: Al2O3-N và -Al2O3 Merck (ký hiệu là Al2O3-M) để từ đó
đánh giá ưu, nhược điểm của Al2O3 thu được từ phương
pháp hòa tan - kết tủa từ hydroxide nhôm
Tân Bình so với các sản phẩm tổng hợp từ
phương pháp khác
3.1.1 Cấu trúc của sản phẩm
Để khảo sát cấu trúc của Al2O3 thu được,
nhóm tác giả sử dụng phương pháp nhiễu xạ
tia X (XRD) phân tích thành phần pha tinh thể
của mẫu Từ đó, so sánh đánh giá sự khác biệt
về cấu trúc khi điều chế theo những phương
pháp khác nhau Hình 1 thể hiện phổ XRD
của 3 mẫu: Al2O3-TB, Al2O3-N và Al2O3-M
Kết quả Hình 1 cho thấy sản phẩm thu
được từ cả 2 phương pháp hòa tan - kết
tủa (Al2O3-TB) và đồng nhỏ giọt (Al2O3-N)
đều có các đỉnh (peak) đặc trưng của cấu
trúc γ-Al2O3 ở các góc 2θ tương ứng là 39o,
46o và 67o ( ) chứng tỏ có sự hình thành
cấu trúc -Al2O3 Ngoài ra, các mẫu này còn
xuất hiện thêm 1 peak nhỏ ở góc 2θ = 37o
( ) chứng tỏ sản phẩm -Al2O3 thu được có
sự tồn tại của pha η-Al2O3 Kết quả này có sự
tương đồng với mẫu Al2O3 Merck (Al2O3-M)
Kết quả XRD cho thấy có sự xuất hiện của pha
η-Al2O3 thậm chí có cường độ còn cao hơn
các mẫu do nhóm tác giả tự tổng hợp Như
vậy, qua kết quả XRD cho thấy đã tổng hợp
thành công -Al2O3 và các sản phẩm tổng
hợp được cũng có cấu trúc tương đồng với
sản phẩm thương mại Al2O3 Merck
3.1.2 Hình thái và tính acid của sản phẩm
Ngoài yếu tố cấu trúc và thành phần
pha tinh thể, các yếu tố về hình thái và tính
acid của Al2O3 đều có ảnh hưởng quan trọng
đến tính chất, chất lượng và khả năng ứng
dụng của sản phẩm Kết quả chụp SEM của
Al2O3-TB, Al2O3-N và Al2O3-M được thể hiện
trên Hình 5 Có thể thấy các hạt Al2O3-M là
các khối khá vuông, bề mặt nhẵn mịn Tuy
nhiên, trên bề mặt các khối hạt Al2O3-TB và Al2O3-N hình thành những lớp bông mịn, chứng tỏ sự phát triển của các cấu trúc xốp, trong đó mức độ phát triển của các lớp bông này trên mẫu Al2O3-N mạnh hơn Từ kết quả trên,
có thể dự đoán SBET của các mẫu Al2O3 tăng dần theo thứ tự Al2O3-M < Al2O3-TB < Al2O3-N Dự đoán này được kiểm chứng thông qua kết quả diện tích bề mặt riêng
và sự phân bố kích thước lỗ xốp của các mẫu Al2O3-M,
Trang 32Al2O3-TB và Al2O3-N thu được bằng phương pháp hấp
phụ N2 (Bảng 1 và Hình 2)
Các sản phẩm thu được có sự phân bố kích thước lỗ
xốp khác nhau Các mẫu Al2O3-M, Al2O3-TB và Al2O3-N có sự
phân bố kích thước lỗ xốp tập trung vào các khoảng lần
lượt là 50Å, 35Åvà 100Å Trong đó, mẫu Al2O3-M có diện
tích bề mặt riêng thấp nhất, đạt 130m2/g SBET thu được của
mẫu Al2O3-TB đạt 213m2/g và có sự tương đồng với kết quả
thu được từ nghiên cứu [15] (215m2/g) Tuy nhiên, giá trị
này vẫn thấp hơn nhiều so với kết quả đạt được 280m2/g
của mẫu Al2O3-N Ngoài ra, mẫu Al2O3-TB và Al2O3-M khá
tương đồng về kích thước lỗ xốp (ở 35Å và 50Å) so với mẫu
Al2O3-N Kích thước lỗ xốp phù hợp giúp phản ứng xảy ra tốt hơn thay đổi tùy theo phản ứng cụ thể Tuy nhiên, đối với các phản ứng pha khí thì kích thước lỗ xốp nhỏ hơn 100Å thường có lợi hơn cho phản ứng [16]
Với mục đích tổng hợp -Al2O3 dùng làm chất mang cho xúc tác, tính chất acid của sản phẩm thu được cũng là thông số quan trọng được nhóm tác giả nghiên cứu Hình
3 thể hiện tính chất acid của -Al2O3 thu được từ 2 phương pháp hòa tan - kết tủa và đồng nhỏ giọt Kết quả TPD-NH3của 2 mẫu Al2O3-TB và Al2O3-N đều cho thấy peak giải hấp
NH3 nằm trong khoảng nhiệt độ 150 - 250oC thể hiện tính acid yếu [17] Mặc dù mẫu -Al2O3 điều chế theo phương
pháp hòa tan - kết tủa có tính acid cao hơn
so với mẫu đồng nhỏ giọt nhưng sự khác biệt này không đáng kể Các tính chất hóa
lý của các mẫu Al2O3 khác nhau được tổng hợp trong Bảng 1
Nhìn chung, mẫu Al2O3-TB tổng hợp bằng phương pháp hòa tan - kết tủa đi
từ hydroxide nhôm Tân Bình có sự tương đồng về mặt cấu trúc và thành phần pha khi so sánh với mẫu Al2O3-N tổng hợp bằng phương pháp đồng nhỏ giọt từ tiền chất là Al(NO3)3 và mẫu -Al2O3 thương mại (Al2O3-M) Cả 3 mẫu đều có cấu trúc của
-Al2O3 Về mặt hình thái, các mẫu -Al2O3
có sự khác nhau đáng kể về diện tích bề mặt riêng và sự phân bố kích thước lỗ xốp Trong đó, mẫu Al2O3-TB có SBET khá tốt (213m2/g), cao hơn nhiều so với SBET của mẫu Al2O3-M (130m2/g) trong khi cả 2 mẫu
có sự phân bố kích thước lỗ xốp khá đồng đều, chủ yếu tập trung lần lượt ở 35Å và 50Å Mẫu Al2O3-N tuy có SBET cao hơn mẫu
Al2O3-TB nhưng kích thước lỗ xốp phân bố khá rộng Mục đích của nghiên cứu này là tổng hợp chất mang -Al2O3 cho xúc tác công nghiệp do đó chi phí và độ sẵn có của nguồn nguyên liệu là thông số quan trọng trong quá trình đánh giá lựa chọn Phương pháp hòa tan - kết tủa tổng hợp
-Al2O3 từ hydroxide nhôm Tân Bình là phương pháp đáp ứng được tiêu chí trên Đồng thời, kết quả nghiên cứu cho thấy tính chất sản phẩm thu được từ phương pháp này có SBET cao (213m2/g) Đặc biệt, phương pháp này có thể tổng hợp -Al2O3
dễ dàng ở quy mô lớn do nguồn nguyên
(Al2O3-TB) và đồng nhỏ giọt (Al2O3-N)
già hóa khác nhau
Trang 33liệu giá rẻ, dồi dào và đa dạng do không chỉ áp dụng cho
hydroxide nhôm Tân Bình mà còn có thể áp dụng các
nguồn nhôm khác
Phương pháp hòa tan - kết tủa đi từ hydroxide nhôm
Tân Bình có nhiều ưu điểm nên nhóm tác giả tập trung
nghiên cứu về ảnh hưởng của các thông số trong quá trình
điều chế đến tính chất sản phẩm của -Al2O3 Theo nhóm
tác giả [18 - 20], để sản phẩm thu được có cấu trúc -Al2O3, tiền chất trước nung phải có cấu trúc của pha boehmite Trong quy trình điều chế theo phương pháp hòa tan - kết tủa, giai đoạn có ảnh hưởng lớn nhất tới sự hình thành và ổn định của pha boehmite là giai đoạn già hóa Trong quá trình này, thời gian già hóa là thông
số có ảnh hưởng lớn tới sự hình thành và ổn định pha boehmite do đó nhóm tác giả tập trung vào khảo sát sự ảnh hưởng của thời gian già hóa đến cấu trúc và hình thái của -Al2O3 tạo thành
3.2 Ảnh hưởng của thời gian già hóa đến tính chất của
-Al 2 O 3 điều chế theo phương pháp hòa tan - kết tủa
3.2.1 Ảnh hưởng của thời gian già hóa đến cấu trúc của sản phẩm
Tổng hợp các mẫu
-Al2O3 theo phương pháp hòa tan - kết tủa có thời gian già hóa khác nhau, các mẫu được mô tả và ký hiệu như trong Bảng 2
Thành phần pha của các mẫu này được xác định bằng phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD) (Hình 4) Kết quả cho thấy các mẫu -Al2O3tổng hợp với các thời gian già hóa khác nhau đều có cấu trúc và thành phần pha rất tương đồng Có thể thấy thời gian già hóa pha boehmite ít ảnh hưởng đến cấu trúc
và pha tinh thể của oxide nhôm thu được
3.2.2 Ảnh hưởng của thời gian già hóa đến hình thái của sản phẩm
Sự thay đổi thời gian già hóa không ảnh hưởng nhiều
Trang 34đến cấu trúc nhưng lại ảnh hưởng lớn tới hình thái của sản
phẩm Al2O3 thể hiện rõ thông qua kết quả chụp SEM của 2
mẫu Al2O3 TB-0 và Al2O3 TB-72 (Hình 5)
Kết quả SEM cho thấy đối với Al2O3 TB-0 (không già
hóa ở nhiệt độ phòng), trên bề mặt hình thành những lớp
bông xù xì và những lớp bông này phát triển mạnh hơn
khi tăng thời gian già hóa thể hiện qua hình chụp SEM của
mẫu Al2O3 TB-72 (già hóa 3 ngày ở nhiệt độ phòng) Các
mẫu có độ xù xì càng cao chứng tỏ sự phát triển mạnh và
dày đặc của các cấu trúc xốp, có tác dụng trong việc nâng
cao diện tích bề mặt riêng của chất mang
Bảng 3 và Hình 6, thời gian già hóa càng tăng thì SBET
của các mẫu -Al2O3 càng tăng và đạt giá trị cao nhất là
303m2/g ở mẫu Al2O3 TB-84 Điều này cho thấy khi thời
gian già hóa kết tủa hydroxide nhôm càng dài càng có
tác dụng ổn định hóa pha boehmite tạo thành và có
thể đây là nguyên nhân giúp nâng cao diện tích bề mặt
riêng của -Al2O3 tạo thành Không chỉ ảnh hưởng tới
SBET của -Al2O3 tạo thành, sự thay đổi thời gian già hóa còn ảnh hưởng đáng kể tới sự phân bố kích thước lỗ xốp (Hình 7)
Trong Hình 7a, khi không già hóa ở nhiệt độ phòng, kích thước của các lỗ xốp nhỏ (<100Å) chủ yếu tập trung ở khoảng 36Å Khi tăng thời gian già hóa lên 24 giờ ở nhiệt độ phòng, có sự dịch chuyển kích thước của những lỗ xốp nhỏ về kích thước cao hơn, ở 57Å Tiếp tục tăng thời gian già hóa lên 48 giờ, 72 giờ và 84 giờ thì kích thước của các loại lỗ xốp nhỏ này tập trung và ổn định ở 50Å Ngoài ra, khi thời gian già hóa ngắn mức độ phân tán của kích thước lỗ xốp ở vùng kích thước lớn (>100Å) còn thấp Khi tăng thời gian già hóa lên 72 giờ,
sự phân tán này bắt đầu rộng hơn và tại mẫu già hóa
84 giờ, đường phân bố kích thước lỗ xốp tạo thành một vai khá rộng ở vùng kích thước lớn Từ kết quả trên cho thấy mặc dù tăng thời gian già hóa có thể nâng cao diện tích bề mặt riêng của -Al2O3 thu được nhưng thời gian
Bảng 3 Diện tích bề mặt riêng và kích thước lỗ xốp trung bình của
các mẫu -Al2O3 với thời gian già hóa khác nhau
Trang 35già hóa càng lâu thì độ đồng đều của kích thước lỗ xốp
càng giảm
Theo Hình 7b, kích thước lỗ xốp của -Al2O3 Merck rất
đồng đều và tập trung ở kích thước 50Å Điều này chứng
tỏ -Al2O3 Merck mặc dù có SBET không cao nhưng lại được
sử dụng rộng rãi làm chất mang để tổng hợp nhiều loại
xúc tác Những kết quả trên đã mở ra một hướng đi rất
tiềm năng: thông qua điều chỉnh thông số trong quá trình
già hóa (thời gian già hóa), có thể điều chỉnh được diện
tích bề mặt riêng và ứng với một khoảng diện tích bề
mặt riêng thì có sự phân bố kích thước lỗ xốp tập trung
trong một vùng nhất định và vùng này nhỏ hơn 100Å Nói
cách khác, có thể tạo ra rất nhiều sản phẩm với diện tích
bề mặt được kiểm soát từ 200 - 300m2/g với kích thước
lỗ xốp nằm trong khoảng dưới 100Å Như vậy, tùy phản
ứng cụ thể, đặc biệt là các phản ứng pha khí, việc tổng
hợp các sản phẩm với diện tích bề mặt lớn (trên 200m2/g)
với kích thước lỗ xốp phù hợp (nhỏ hơn 100Å) có thể
thực hiện được bằng cách thay đổi thông số trong quá
trình già hóa Hơn nữa, nếu so sánh với sản phẩm -Al2O3
thương mại (Merck), sản phẩm được tổng hợp không chỉ
cho kích thước mao quản đồng nhất ở khoảng 50Å như
-Al2O3 Merck mà còn cho diện tích bề mặt riêng cao hơn
rất nhiều (gần gấp 2 lần)
4 Kết luận
Nhóm tác giả đã tổng hợp được -Al2O3 từ phương
pháp hòa tan - kết tủa với nguyên liệu là hydroxide nhôm
Tân Bình đồng thời tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của
điều kiện tổng hợp, cụ thể là thời gian già hóa ở nhiệt độ
phòng đến tính chất của sản phẩm -Al2O3 thu được Kết
quả cho thấy, thời gian già hóa ở nhiệt độ phòng càng
tăng thì diện tích bề mặt riêng của -Al2O3 thu được càng
lớn Thời gian già hóa ở nhiệt độ phòng nhỏ hơn 2 ngày,
kích thước lỗ xốp dao động trong khoảng 36 - 57Ånhưng
sau đó dần ổn định tại kích thước 50Å khi già hóa ở nhiệt
độ phòng từ 2 ngày trở lên Tuy nhiên, nếu thời gian già
hóa dài hơn (84 giờ) sẽ xuất hiện các lỗ xốp có kích thước
lớn và độ đồng nhất về kích thước lỗ xốp cũng giảm
Kết quả cho thấy có thể điều chỉnh được diện tích
bề mặt SBET trong khoảng 200 - 300m2/g với kích thước
lỗ xốp nằm trong khoảng 30 - 100Å để tổng hợp xúc tác
cho những phản ứng khác nhau Điểm nổi bật của nghiên
cứu này là sản phẩm chất mang -Al2O3 có thể tổng hợp
được từ nguồn nguyên liệu hydroxide nhôm Tân Bình giá
rẻ, quy trình đơn giản Hơn thế nữa, -Al2O3 không chỉ có
kích thước lỗ xốp đồng đều tập trung ở kích thước 50Å mà
diện tích bề mặt riêng đạt được còn cao hơn gấp gần 2 lần
so với sản phẩm thương mại -Al2O3 Merck Điều này cho thấy tiềm năng phát triển -Al2O3 thành một sản phẩm đặc trưng của Viện Dầu khí Việt Nam để làm chất mang cho các hệ xúc tác sử dụng trong nhiều quá trình khác nhau
Tài liệu tham khảo
1 Y.Wang, J.Wang, M.Shen, W.Wang Synthesis and properties of thermostable γ-alumina prepared by hydrolysis
of phosphide aluminum Journal of Alloys and Compounds 2009; 467(1 - 2): p 405 - 412
2 Jackie Y Ying, C P M., Michael S Wong Synthesis and applications of supramolecular-templated mesoporous materials Microporous and mesoporous materials 1999; 38: p 56 - 77
3 J.Cejka Organized mesoporous alumina: Synthesis, structure and potential in catalysis Applied catalysis A: Genneral 2003; 254: p 327 - 338
4 E.Salehi, F.S.Azad, T.Harding & J.Abedi Production
of hydrogen by steam reforming of bio-oil over Ni/Al2O3catalysts: Ef ect of addition of promoter and preparation procedure Fuel Processing Technology 2011; 92(12):
p 2203 - 2210
5 M.Fattahi, F.Khorasheh, S.Sahebdelfar, F.T.Zangeneh, K.Ganji & M.Saeedizad The ef ect of oxygenate additives on the performance of Pt–Sn/γ - Al2O3catalyst in the propane dehydrogenation process Scientia Iranica 2011; 18(6): p 1377 - 1383
6 B.H.Davis Dehydrocyclization of parai ns Inl uence
of chlorine on cyclization pathway over Pt-Al2O3 catalysts Journal of Catalysis 1971; 23(3): p 355 - 357
7 S.Handjani, J.Blanchard, E.Marceau, P.Beaunier, M.Che From mesoporous alumina to Pt/Al2O3 catalyst: A comparative study of the aluminas synthesis in aqueous medium, physicochemical properties and stability Microporous and Mesoporous Materials 2008; 116(1 - 3):
Trang 36the sol-gel parameters on the synthesis of mesostructure
nanocrystalline γ-Al2O3 Microporous and Mesoporous
Materials 2009; 122(1-3): p 72 - 78
11 A.Khaleel, S Al-Mansouri Meso-macroporous
γ-alumina by template-free sol-gel synthesis: The ef ect of the
solvent and acid catalyst on the microstructure and textural
properties Colloids and Surfaces A: Physicochemical and
Engineering Aspects 2010; 369(1 - 3): p 272 - 280
12 Q.Fu, T.He, Y.Lu, Y.Chai, C.Liu Synthesis and
characterization of γ-alumina nanospheres templated by
lauric acid Journal of Natural Gas Chemistry 2010; 19(6):
p 557 - 559
13 M.B.Yue, T.Xue, W.Q.Jiao, Y.M.Wang, M.Y.He
CTAB-directed synthesis of mesoporous γ-alumina promoted by
hydroxy carboxylate: The interplay of tartrate and CTAB
Solid State Sciences 2011; 13(2): p 409 - 416
14 Lưu Cẩm Lộc, Bùi Nguyễn Đăng Khoa, Nguyễn
Mạnh Huấn, Bùi Thanh Hương, Đặng Thị Ngọc Yến, Ngô
Xuân Hưng, Hồ Sĩ Thoảng Ảnh hưởng của phương pháp
điều chế đến tính chất của xúc tác CuO.ZnO.Al2O3(2:1:6) cho
quá trình tổng hợp dimethyl ether từ khí tổng hợp Tạp chí
Hóa học 2009; 47 (6A), p 150 - 157
15 Đỗ Thanh Hải Nghiên cứu tổng hợp xúc tác cho
phản ứng hydro sulfure hóa để làm sạch nhiên liệu diesel
nhiều lưu huỳnh Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Hóa dầu và
xúc tác hữu cơ 2010
16 M.Jacob, S.Andrzej, K.Freek Structured catalysts and reactors In Re-Engineering the Chemical Processing Plant: CRC Press 2003
17 Seyyed Ya’ghoob Hosseini and Mohammad Reza Khosravi Nikou Investigation the ef ect of temperature and weight hourly space velocity in dimethyl ether synthesis from methanol over the nano-sized acidic gamma-alumina catalyst Journal of American Science, 2012; 8(3), Gas Engineering Department, Petroleum University of Technology, P O Box 63431, Ahwaz, Iran
18 Q.Liu, A.Wang, X.Wang, P.Gao, X.Wang, T.Zhang Synthesis, characterization and catalytic applications of mesoporous γ-alumina from boehmite sol Microporous and Mesoporous Materials 2008; 111(1 - 3): p 323 - 333
19 Xun Liu, Tianyou Peng, Jinchun Yao, Hongjin Lv, Cheng Huang Synthesis and textural evolution of alumina particles with mesoporous structures Journal of Solid State Chemistry 2010; 183(6): p 1448 - 1456
20 H.S.Potdar, K.W.Jun, J.W.Bae, S.M.Kim, Y.J.Lee Synthesis of nano-sized porous γ-alumina powder via a precipitation/digestion route Applied Catalysis A: General 2007; 321(2): p 109 - 116
Summary
The synthesis methods of -Al 2 O 3 from Al(NO 3 ) 3 and Al(OH) 3 produced by Tan Binh Chemical Factory as well as the effects of synthesis conditions on -Al 2 O 3 characteristics were investigated in this study The structural and morphological properties of -Al 2 O 3 synthesised by different methods were also examined by N 2 adsorption, XRD, SEM and TPD-NH 3 The result shows that the -Al 2 O 3 support acquired from the inexpensive source of Tan Binh Al(OH) 3 has high and controllable S BET in the range of 200-300 m 2 /g as well as the same distribution of pore size as compared
to commercial -Al 2 O 3 supplied by Merck.
Synthesis of -Al2O3 from Tan Binh Al(OH)3 precursor for
petrochemical catalyst preparations
Bui Vinh Tuong, Ha Luu Manh Quan
Le Phuc Nguyen, Dang Thanh Tung
Vietnam Petroleum Institute
Trang 371 Giới thiệu
Vật liệu khung kim loại hữu cơ (metal - organic
framework - MOF) là các hợp chất tinh thể mà phân tử
bao gồm một hoặc một nhóm các ion kim loại liên kết với
các phân tử chất hữu cơ (gọi là các linker) để tạo thành các
cấu trúc (một, hai hoặc ba chiều), từ đó liên kết tạo thành
các mao quản (Hình 1) MOF với cấu trúc mao quản đồng
đều, độ xốp lớn, diện tích bề mặt riêng lớn [1 - 9] và có khả
năng hấp phụ tốt nên được ứng dụng nhiều để làm chất
hấp phụ và lưu trữ khí Khả năng sử dụng MOF làm xúc tác
vẫn còn hạn chế do 2 nguyên nhân chủ yếu: (1) sự ổn định
của vật liệu theo nhiệt độ, độ ẩm, chất phản ứng, tạp chất kém hơn vật liệu mao quản tinh thể vô cơ như zeolite, liên kết kim loại - hữu cơ (me - linker) cũng yếu hơn liên kết
Si - O của zeolite; (2) trong cấu trúc của MOF thì các linker bao quanh ion kim loại, làm giảm khả năng xúc tác và hấp phụ hóa học [2]
Gần đây, một số phương án tổng hợp đã được nghiên cứu và phát triển để khắc phục những hạn chế trên Tâm kim loại thường bị bao quanh bởi các liên kết phối trí, tuy nhiên có một số linker bị tách ra, để lại các vị trí phối trí trống trên kim loại Vật liệu MOF với các tâm kim loại chưa
NGHIÊN C U Đ C TRƯNG VÀ ĐÁNH GIÁ HO T TÍNH XÚC TÁC MOF-Co CHO PH N NG T NG H P FISCHER - TROPSCH
1 Viện Kỹ thuật Hóa học - Đại học Bách khoa Hà Nội
2 Đại học Xây dựng
Tóm tắt
Trong bài báo này, nhóm tác giả đã nghiên cứu tổng hợp xúc tác MOF-Co10, MOF-Co50 và MOF-Co100 bằng phương pháp kết tinh dung môi nhiệt Theo kết quả khảo sát bằng các phương pháp nghiên cứu đặc trưng xúc tác (như XRD, TG/DSC, BET, FT-IR, SEM), MOF-Co10 có độ ổn định nhiệt vượt trội (lên đến 300 o C), bề mặt riêng lớn (665,58m 2 /g),
độ xốp lớn, có thể tham gia làm xúc tác cho phản ứng Fischer - Tropsch và các phản ứng dị thể khác ở nhiệt độ dưới
300 o C Kết quả nghiên cứu hoạt tính xúc tác bằng phản ứng tổng hợp Fischer - Tropsch (ở 200 o C, áp suất 10at, trong
16 giờ) cho thấy mẫu MOF-Co10 có khả năng xúc tác cho phản ứng tốt hơn mẫu MOF-Co50 Phân tích sản phẩm phản ứng bằng GC-MS cho thấy, hàm lượng các hydrocarbon thu được trong phân đoạn xăng rất cao, mở ra khả năng ứng dụng MOF-Co10 làm xúc tác cho quá trình tổng hợp Fischer - Tropsch sản xuất xăng.
Trang 38bão hòa liên kết phối trí có thể được ứng dụng làm xúc
tác có khả năng hấp phụ và phản ứng cao, do khả năng
tương tác giữa kim loại và chất bị hấp phụ Việc tồn tại
các tâm kim loại chưa bão hòa có ý nghĩa rất quan trọng
đối với khả năng xúc tác cũng như khả năng hấp phụ tồn
chứa khí Do đó, các vật liệu được tổng hợp để dùng cho
hấp phụ cũng có khả năng sử dụng trong quá trình xúc
tác hoặc ngược lại
Do sự thiếu hụt nguồn cung dầu mỏ, khí tự nhiên được
chuyển hóa thành nhiên liệu lỏng (gas to liquid - GTL)
thông qua quá trình tổng hợp Fischer - Tropsch [11, 12]
Quá trình tổng hợp Fischer - Tropsch gồm nhiều phản ứng
hóa học có xúc tác, trong đó hỗn hợp khí CO và H2 được
biến đổi thành hydrocarbon theo phương trình tổng quát
sau [11, 13]:
n(CO + 2H2) - (CH2)n - + nH2O
H = - 167kJ/mol
Theo đó, CO và H2 phản ứng với các tỷ lệ khác nhau,
tạo ra các sản phẩm phong phú và đa dạng Các oxide của
kim loại chuyển tiếp nhóm VIII (Ru, Fe, Ni, Co, Rh, Pd, Pt) có
thể được dùng làm xúc tác cho quá trình này Trong đó,
Fe và Co là 2 nguồn xúc tác chính cho quá trình tổng hợp
Fischer - Tropsch Xúc tác Co đắt hơn 230 lần so với xúc tác
Fe nhưng vẫn được ứng dụng nhiều do có hoạt tính tốt
trong điều kiện tổng hợp ở áp suất thấp, với chi phí vận
hành thấp
Vì vậy, trong bài báo này, nhóm tác giả tập trung
nghiên cứu, điều chế xúc tác MOF-Co bền nhiệt trên cơ
sở MOF-5, có khả năng ứng dụng cho phản ứng tổng hợp
Fischer - Tropsch
2 Thực nghiệm
2.1 Tổng hợp xúc tác MOF-Co
Các mẫu xúc tác được tổng hợp từ muối Co(NO3)2 và
Zn(NO3)2 có hàm lượng khác nhau bằng phương pháp
kết tinh dung môi nhiệt Hòa tan 0,049g acid terephthalic
trong 3ml dung môi dimethylformamide (DMF) Lượng
muối Co và Zn tương ứng tỷ lệ mol Co/Zn = 100/0
(MOF-Co100), 50/50 (MOF-Co50), 10/90 (MOF-Co10) và hòa tan
trong 4,5ml DMF trong lọ dung tích 8ml Siêu âm 10 phút
ở nhiệt độ 50oC cho tan hoàn toàn Đổ lọ muối vào lọ acid
rồi siêu âm thêm 10 phút nữa ở nhiệt độ 50oC Đưa hỗn
hợp vào nồi hấp (autoclave) và gia nhiệt ở nhiệt độ 105oC
trong 20 giờ, sau đó để nguội đến nhiệt độ phòng Tiếp
theo tiến hành lọc và ngâm tinh thể trong 3ml DMF trong
3 ngày, mỗi ngày thay dung môi một lần Lọc lấy tinh thể
và sấy ở nhiệt độ 105oC trong 18 giờ
2.2 Đánh giá đặc trưng hóa lý của xúc tác
Nhiễu xạ tia X được tiến hành trên máy D8 Advance
- Bruker với ống phát xạ đơn sắc Cu - Kα (λ = 1,54Å) Phổ hồng ngoại được thực hiện trên máy Thermo Nicolet 6700 FT-IR Máy NETZSCH STA409 PC/PG được sử dụng để phân tích nhiệt TG/DSC, mỗi mẫu 10mg được gia nhiệt với tốc
độ 10oC/phút đến 600oC trong dòng không khí (30ml/phút) Các đường đẳng nhiệt hấp phụ - nhả hấp phụ nitơ được đo bằng thiết bị Micromeritics ASAP 2010 và dữ liệu thu được tại nhiệt độ của nitơ lỏng, 77K Các mẫu được loại khí ở 300oC trong 24 giờ và áp suất là 10-5 Pa trước khi
đo Ảnh hiển vi điện tử quét (SEM) được chụp trên máy Hitachi S-4800
2.3 Thử nghiệm hoạt tính xúc tác và phân tích thành phần sản phẩm phản ứng
Phản ứng tổng hợp Fischer - Tropsch được tiến hành trên hệ thiết bị phản ứng vi dòng với lớp xúc tác cố định Khí tổng hợp đưa vào theo tỷ lệ H2/CO = 2/1 Quá trình chuyển hóa khí tổng hợp được tiến hành ở nhiệt độ 200ºC,
áp suất 10at trong 16 giờ, tốc độ gia nhiệt 1oC/phút, vận tốc không gian thể tích 255h-1
Khí nguyên liệu và các khí sản phẩm được phân tích trực tiếp bằng sắc ký khí (GC ultra thermo i nnigan) detector dẫn nhiệt (TCD) và detector ion hóa ngọn lửa (FID) Sản phẩm lỏng được phân tích bằng GC-MS
3 Kết quả và thảo luận 3.1 Đặc trưng hóa lý của xúc tác
3.1.1 Cấu trúc tinh thể của xúc tácGiản đồ nhiễu xạ tia X (XRD) của các mẫu MOF-5 (100% Zn), MOF-Co100, MOF-Co50 và MOF-Co10 được trình bày lần lượt trong Hình 2 (a, b, c, d)
Theo giản đồ XRD của mẫu MOF-5 (Hình 2a) tại góc 2θ = 7o và 10o xuất hiệ n đỉnh (peak) đặ c trưng cho MOF-5
có cường độ lớn, đường nền phổ thấp cho thấy sản phẩm tạo thành có độ tinh thể cao, ít pha vô định hình Khi tiến hành thay thế 100% Zn bằng Co thì giản đồ XRD của mẫu MOF-Co100 (Hình 2b) vẫn xuất hiện các đỉnh đặc trưng tương tự MOF-5 tại góc 2θ = 7o và 10o Giản đồ có đường nền cao chứng tỏ có nhiều pha vô định hình
Trên Hình 2c vẫn xuất hiện các đỉnh đặc trưng tại góc 2θ = 7o và 10o, đường nền thấp hơn so với mẫu MOF-
Trang 39Co100, chứng tỏ mẫu MOF-Co50 có ít pha vô định hình
hơn mẫu MOF-Co100 Tuy nhiên, đường nền vẫn cao nên
độ ổn định tinh thể chưa tốt Vì vậy, nhóm tác giả tiếp tục
thay thế bằng mẫu chứa 10% Co
Trong Hình 2d vẫn xuất hiện các peak đặc trưng tại
góc 2θ = 7o và 10o, đường nền rất thấp, chứng tỏ mẫu
MOF-Co10 có ít pha vô định hình và độ ổn định tinh thể
tốt hơn so với mẫu MOF-Co100 và MOF-Co50
Trong giản đồ XRD của các mẫu MOF-5 và MOF-Co,
ngoài các đỉnh đặc trưng cho vật liệu MOF, nhóm tác giả
không thấy xuất hiện các đỉnh đặc trưng cho dạng tồn tại
khác của Zn và Co Điều này cho thấy toàn bộ lượng Zn và
Co đã nằm trong mạng tinh thể của MOF, số còn lại được
loại bỏ trong quá trình ngâm rửa với dung môi DMF
3.1.2 Khảo sát độ bền nhiệt và diện tích bề mặt của vật liệu
MOF-Co10
Để nghiên cứu độ bền nhiệt của mẫu MOF-Co100,
nhóm tác giả nung mẫu đến nhiệt độ 300oC Theo kết quả
phân tích XRD (Hình 3), mẫu sau khi nung ở trạng thái vô
định hình, bị sập khung, không còn ở pha tinh thể, chứng
tỏ mẫu không bền nhiệt Do đó, nhóm tác giả tiếp tục
thay thế 50% Zn bằng Co (không thay thế hoàn toàn Zn
bằng Co)
Giản đồ phân tích nhiệt và đường đẳng nhiệt hấp phụ
của mẫu MOF-Co10 được trình bày trong Hình 4 và 5
Trong giản đồ phân tích nhiệt (Hình 4), đỉnh thu nhiệt tại 308,7oC và giảm 11,58% trọng lượ ng, nguyên nhân có thể do quá trình bay hơi dung môi trong mao quản Đỉnh tỏa nhiệt tại 396,5oC giảm 23% trọng lượng, có thể là do linker hữu cơ bị phân hủy Như vậy, mẫu MOF-Co10
có độ bền nhiệt tốt (đến
300oC), do đó có thể làm xúc tác cho phản ứng tổng hợp Fischer - Tropsch ở nhiệt độ trên 200oC
Theo kết quả phân tích đường đẳng nhiệt hấp phụ (Hình 5), mẫu MOF-Co10
có dạng I (theo IUPAC) đặc trưng cho vật liệu vi mao quản với diện tích bề mặt 665,58m2/g Mẫu MOF-Co50 có diện tích bề mặt thấp hơn (480,95m2/g) So với vật liệu MOF-5, các mẫu này có diện tích bề mặt riêng không lớn, nguyên nhân có thể do sự thay thế 10% và 50% Zn bằng
Co đã làm thay đổi cấu trúc của vật liệu hoặc do điều kiện tổng hợp chưa tốt Tuy nhiên, diện tích bề mặt của mẫu tương đương diện tích bề mặt của một số zeolite dùng làm xúc tác trong các phản ứng lọc hóa dầu
Trong ảnh hiển vi điện tử quét của mẫu MOF-Co10 (Hình 6), mẫu xúc tác có dạng hình que, cấu trúc xếp lớp,
độ xốp khá lớn Kết quả này tương tự kết quả nghiên cứu của tác giả C.E.Phillips [14]
3.1.3 Phổ hồng ngoạiPhổ hồng ngoại (IR) của mẫu MOF-Co10 và acid terephthalic, tiền chất đóng vai trò tạo linker hữu cơ trong quá trình tổng hợp MOF (Hình 7) MOF-Co10 sau
15 giờ kết tinh xuất hiện dao động với cường độ mạnh
tạ i số sóng 1.660,2cm-1, thấp hơn dao động đặc trưng của nhóm C=O trong acid terephthalic tự do với số sóng là 1.683,3cm-1 Đây có thể là biến dạng của nhóm C=O trong -COO- sau khi xảy ra quá trình proton bị thay thế bởi ion
Zn2+ và Co2+ Phổ hồng ngoại của mẫu MOF-5 (chỉ có Zn2+) được nghiên cứu trong công trình [1] cho thấy dao động này lùi về số sóng 1.593,2cm-1 Như vậy, khi thay thế một phần Zn2+ bằng Co2+ đã có sự thay đổi đỉnh đặc trưng của dao động biến dạng của nhóm C=O
(d) (b)
Trang 40Nhóm dao động biến dạng có số sóng 1.489,5 - 1.391,0cm-1 và nhóm dao động biến dạng có số sóng 1.615,5 - 1.567,9cm-1 đặc trưng cho dao động của nhóm
C = C vòng benzen Nhóm dao động biến dạng có số sóng 879,4 - 654,2cm-1 là biến dạng đặc trưng của nhóm C-H trong vòng thơm (uốn) Nhóm dao động biến dạng
có số sóng 3.064,2 - 2.937,6cm-1 là biến dạng đặc trưng của nhóm C-H trong vòng thơm Nhóm dao động biến dạng có số sóng 3.506,0cm-1 là biến dạng đặc trưng của H2O vì trong quá trình tổng hợp MOF-Co có sự hình thành của nước, do đó có thể vẫn còn nước trong mao quản của vật liệu
Ngoài ra, nhóm tác giả còn thấy xuất hiện các nhóm dao động biến dạng có số sóng 1.249,9 - 1.086,4cm-1; 2.830 - 2.695cm-1; 3.064,2 - 2.937,6cm-1 lần lượt là biến dạng đặc trưng của nhóm C-N, C-H aldehyde, C-H alkan Điều này chứng tỏ mẫu MOF-Co10 sau 15 giờ kết tinh vẫn còn dung môi DMF ((CH3)2NCHO), phù hợp với giả thiết trong phần phân tích nhiệt
Từ phân tích trên cho thấy MOF-Co10 có độ bền nhiệt tốt (ở 300oC), phù hợp với điều kiện của quá trình tổng hợp Fischer - Tropsch ở điều kiện mềm (< 280oC) Ngoài ra, mẫu có diện tích bề mặt riêng lớn, có những tâm hoạt tính
Co, do đó có khả năng ứng dụng làm xúc tác trong phản ứng tổng hợp Fischer - Tropsch
3.2 Hoạt tính và độ chọn lọc của xúc tác
3.2.1 Ảnh hưởng của hàm lượng Co tới độ chuyển hóaThực hiện phản ứng Fischer - Tropsch từ 2 mẫu xúc tác
là MOF-Co10 và MOF-Co50 với lượng xúc tác bằng nhau
ở nhiệt độ 200oC, áp suất 10at Theo kết quả (Hình 8), độ chuyển hóa của phản ứng khi sử dụng xúc tác MOF-Co10 (khoảng trên 20%/g xúc tác) cao hơn so với độ chuyển hóa của phản ứng khi sử dụng xúc tác MOF-Co50 (trên 10%/g xúc tác)
Độ chuyển hóa CO của phản ứng khi dùng xúc tác MOF-Co10 tăng dần rồi đạt cực đại ở 26%/g xúc tác sau 3
Hình 4 Giản đồ TG/DSC của mẫu MOF-Co10
Hình 5 Đường đẳng nhiệt hấp phụ của mẫu MOF-Co10
3 /g STP)
Áp suất tương đối (P/Po)
Hình 6 Ảnh hiển vi điện tử quét của mẫu MOF-Co10