1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Kinh tế chia sẻ – thực trạng và kiến nghị cho việt nam

101 12 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh tế chia sẻ – thực trạng và kiến nghị cho Việt Nam
Tác giả Nguyễn Phùng Đức Tài
Người hướng dẫn TS. Lương Công Nguyên
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản Trị - Luật
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 4,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (13)
  • 2. Mục tiêu của đề tài (14)
  • 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu (15)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (15)
  • 5. Tổng quan các công trình có liên quan (15)
  • 6. Kết cấu của đề tài (16)
  • CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ CHIA SẺ (17)
    • 1.1. Tổng quan về kinh tế chia sẻ (17)
      • 1.1.1. Lịch sử phát triển của kinh tế chia sẻ (17)
      • 1.1.2. Khái niệm về kinh tế chia sẻ và mô hình kinh tế chia sẻ (20)
      • 1.1.3. Nguyên lý hoạt động của mô hình kinh tế chia sẻ (24)
      • 1.1.4. Các trụ cột của mô hình kinh tế chia sẻ (25)
      • 1.1.5. Điều kiện hình thành nền kinh tế chia sẻ (28)
    • 1.2. Đặc điểm cơ bản của kinh tế chia sẻ (29)
    • 1.3. Phân loại kinh tế chia sẻ (31)
      • 1.3.1. Mô hình với nền tảng phi tập trung (31)
      • 1.3.2. Mô hình với nền tảng tập trung (32)
      • 1.3.3. Mô hình với nền tảng hỗn hợp (33)
  • CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA MÔ HÌNH KINH TẾ CHIA SẺ TẠI VIỆT NAM (35)
    • 2.1. Thực trạng phát triển mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam (35)
      • 2.1.1. Các lĩnh vực phát triển kinh tế chia sẻ tại Việt Nam (35)
      • 2.1.2. Các chính sách quản lý và phát triển kinh tế chia sẻ tại Việt Nam hiện nay (44)
    • 2.2. Ảnh hưởng của mô hình kinh tế chia sẻ đến nền kinh tế Việt Nam và các đối tượng liên quan (51)
      • 2.2.1. Các tác động tích cực của mô hình kinh tế chia sẻ (51)
  • CHƯƠNG III: KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH KINH TẾ (66)
    • 3.1. Định hướng phát triển mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam (66)
    • 3.2. Đề xuất một số giải pháp phát triển mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam (71)

Nội dung

DANH MỤC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ Hình 1.2 Quy trình vận hành cơ bản của mô hình kinh tế chia sẻ 12 Hình 1.3 Mô hình giao dịch kinh tế chia sẻ trong nền tảng đa chiều 14 Hình 1.4 Minh họa hiệu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA QUẢN TRỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGÀNH HỌC: QUẢN TRỊ - LUẬT

KINH TẾ CHIA SẺ – THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện: NGUYỄN PHÙNG ĐỨC TÀI

Lớp: 84-QTL42.2

Mã số sinh viên: 1751101030131

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2022

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 7 năm 2022

Giảng viên hướng dẫn

Lương Công Nguyên

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Tiến sĩ

Lương Công Nguyên vì đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cũng như giải đáp những thắc

mắc trong suốt quá trình thực hiện và hoàn tất đề tài khóa luận này Tác giả vô cùng

biết ơn sự hỗ trợ cùng những góp ý, nhận xét quý giá từ Thầy để có thể hoàn thiện đề

tài một cách tốt nhất

Tác giả cũng xin được gửi lời tri ân đến Quý Thầy Cô Trường Đại học Luật TP

Hồ Chí Minh, đặc biệt là Quý Thầy Cô Khoa Quản trị đã truyền dạy những bài học

quý báu, những kinh nghiệm giá trị trong suốt 05 năm ngồi trên giảng đường đại học

Do hạn chế về mặt kiến thức và thời gian thực hiện nghiên cứu nên khóa luận

không đi sâu vào phân tích các điều kiện về công nghệ và dữ liệu mang tính chuyên

môn để vận hành mô hình kinh tế chia sẻ, mà chủ yếu tập trung phân tích dưới góc

độ kinh tế để thấy được thực trạng và kiến nghị các chính sách điều tiết có hệ thống

Chính vì những thiếu sót này, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ

Quý Thầy Cô để khóa luận được hoàn thiện hơn

Cuối lời, tác giả xin kính chúc toàn thể Quý Thầy Cô Trường Đại học Luật TP

Hồ Chí Minh dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp

Xin chân thành cảm ơn

Trân trọng./

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 7 năm 2022

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Phùng Đức Tài

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài “Kinh tế chia sẻ – Thực trạng và kiến nghị cho Việt Nam” là công trình

nghiên cứu do chính tác giả thực hiện, dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Lương Công Nguyên Các tài liệu tham khảo được trích dẫn trong khóa luận hoàn toàn trung thực, chính xác và mọi công trình nghiên cứu được sử dụng trong khóa luận đều đã được công bố Trong đó, tác giả hoàn toàn tôn trọng, giữ nguyên ý tưởng và có trích dẫn nguồn đầy đủ

Tác giả cam đoan rằng nội dung của khóa luận không sao chép bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của khóa luận

Tác giả

Nguyễn Phùng Đức Tài

Trang 5

Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 (GCI 4.0) là một công

cụ đo lường các yếu tố kinh tế vi mô và vĩ mô ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh quốc gia và đưa ra những điểm mạnh, điểm yếu của các nền kinh tế, được xác định dựa trên một tập hợp mới các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất trong bối cảnh Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0

Cho vay ngang

hàng (Peer–to–

Peer Lending) hay

Cho vay tại chỗ

(Marketplace

Lending)

Cho vay ngang hàng (Cho vay tại chỗ) là mô hình cho vay ứng dụng nền tảng công nghệ số để người đi vay và người cho vay liên kết trực tiếp với nhau nhằm tiến hành giao dịch cho vay tiền, mà không cần phải thông qua một tổ chức tín dụng hay bất cứ một ngân hàng nào

Cho vay thay thế

(Alternative

Lending)

Cho vay thay thế là một thuật ngữ có nội hàm rộng được sử dụng để mô tả một loạt các lựa chọn cho vay dành cho cá nhân và tổ chức bên cạnh các khoản vay truyền thống thông qua trung gian tài chính như ngân hàng

Trang 6

Công nghệ tài

chính (Fintech)

Thuật ngữ Fintech chỉ sự kết hợp giữa Finance (Tài chính) và Technology (Công nghệ), được hiểu một cách đơn thuần là công nghệ tài chính Theo đó, công nghệ tài chính là những công nghệ mới và các phương pháp công nghệ hướng tới sự đổi mới nhằm cạnh tranh với các phương pháp tài chính truyền thống trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính

“Industrie 4.0” là “kết nối các hệ thống nhúng và cơ sở sản xuất thông minh để tạo ra sự hội tụ kỹ thuật số giữa công nghiệp, kinh doanh, chức năng và quy trình bên trong”

Theo Klaus Schwab, người sáng lập và Chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế Giới, “Industrie 4.0” có thể hiểu đơn

giản như sau: "Cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất Cuộc cách mạng lần thứ hai diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt Cuộc cách mạng lần thứ ba sử dụng điện

tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất Bây giờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học."

Ở Việt Nam, thuật ngữ “Industrie 4.0” được biết đến với cái tên “Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0”

Trang 7

Cuộc suy thoái

toàn cầu

(Đại suy thoái)

Cuộc suy thoái toàn cầu năm 2008-2009 là cuộc suy thoái kinh tế và suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế diễn ra đồng thời ở nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới, có nguồn gốc

từ suy thoái kinh tế Hoa Kỳ cuối thập niên 2000 và khủng hoảng tài chính năm 2007-2010

Dữ liệu lớn

(Big Data)

Big Data là tập hợp dữ liệu lớn (cấu trúc và phi cấu trúc),

đa dạng, thay đổi nhanh và phức tạp đến mức những công nghệ hay phần mềm truyền thống không có khả năng xử lý

trong một khoảng thời gian nhất định

Vũ Hán, Trung Quốc vào tháng 12 năm 2019

dự án này, với việc chuyển một khoản tiền nhỏ qua một kênh huy động dựa trên nền tảng Internet

Internet

Internet là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói

dữ liệu dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa

Trang 8

Kinh tế số

(Digital Economy)

Theo định nghĩa chung của nhóm cộng tác Kinh tế số của

Oxford, kinh tế số được hiểu là “một nền kinh tế vận hành chủ yếu dựa trên công nghệ số, đặc biệt là các giao dịch điện

tử tiến hành thông qua Internet”

Ở Việt Nam, tại “Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam năm 2019”, kinh tế số được hiểu là “toàn bộ hoạt động kinh tế dựa trên nền tảng số” và phát triển kinh tế số là sử dụng công nghệ

số cũng như dữ liệu để tạo ra những mô hình kinh doanh mới

Thương mại điện

tử (E-Commerce)

Thương mại điện tử là quá trình tiến hành một phần hay tất

cả các hoạt động kinh doanh thông qua các phương tiện điện

tử Nói cách khác, thương mại điện tử chính là hoạt động mua bán sản phẩm hoặc dịch vụ thông qua Internet và các phương tiện điện tử khác Các giao dịch này bao gồm tất cả các hoạt động như giao dịch, mua bán, thanh toán, đặt hàng, quảng cáo và giao hàng…

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nền tảng

Trang 10

DANH MỤC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ

Hình 1.2 Quy trình vận hành cơ bản của mô hình kinh tế chia sẻ 12 Hình 1.3 Mô hình giao dịch kinh tế chia sẻ trong nền tảng đa chiều 14 Hình 1.4 Minh họa hiệu ứng mạng lưới trong mô hình kinh tế chia sẻ 15

Tổng khối lượng hàng hóa (GMV) của ngành thương mại điện

tử so sánh với dịch vụ vận tải và giao thực phẩm trực tuyến từ

năm 2019 đến năm 2025

26

Hình 2.1 Số lượng phòng cho thuê (listings) trên nền tảng Airbnb tại Việt

Biểu đồ

2.4

Tổng giá trị giao dịch Cho vay thay thế (Huy động vốn cộng

đồng và Cho vay tại chỗ - Cho vay ngang hàng) trên thị trường

Việt Nam từ năm 2017 đến năm 2026

31

Biểu đồ

3.1

Tỷ lệ người tiêu dùng từ chối cho thuê tài sản cá nhân để tăng

thêm thu nhập năm 2017 (So sánh khu vực Đông Nam Á và

toàn cầu)

54

Hình 3.1 Tiềm năng phát triển của kinh tế chia sẻ tại Việt Nam 55 Hình 3.2 Bản đồ các doanh nghiệp Fintech tại Việt Nam năm 2021 57 Hình 3.3 Ứng dụng Blockchain trong mô hình nền kinh tế chia sẻ phi tập

Trang 11

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài: 1

2 Mục tiêu của đề tài: 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu: 3

4 Phương pháp nghiên cứu: 3

5 Tổng quan các công trình có liên quan: 3

6 Kết cấu của đề tài: 4

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ CHIA SẺ 5

1.1 Tổng quan về kinh tế chia sẻ: 5

1.1.1 Lịch sử phát triển của kinh tế chia sẻ: 5

1.1.2 Khái niệm về kinh tế chia sẻ và mô hình kinh tế chia sẻ: 8

1.1.3 Nguyên lý hoạt động của mô hình kinh tế chia sẻ: 12

1.1.4 Các trụ cột của mô hình kinh tế chia sẻ: 13

1.1.5 Điều kiện hình thành nền kinh tế chia sẻ: 16

1.2 Đặc điểm cơ bản của kinh tế chia sẻ: 17

1.3 Phân loại kinh tế chia sẻ: 19

1.3.1 Mô hình với nền tảng phi tập trung: 19

1.3.2 Mô hình với nền tảng tập trung: 20

1.3.3 Mô hình với nền tảng hỗn hợp: 21

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 22

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA MÔ HÌNH KINH TẾ CHIA SẺ TẠI VIỆT NAM 23

2.1 Thực trạng phát triển mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam: 23

2.1.1 Các lĩnh vực phát triển kinh tế chia sẻ tại Việt Nam: 23

2.1.2 Các chính sách quản lý và phát triển kinh tế chia sẻ tại Việt Nam hiện nay: 32

2.2 Ảnh hưởng của mô hình kinh tế chia sẻ đến nền kinh tế Việt Nam và các đối tượng liên quan: 39

2.2.1 Các tác động tích cực của mô hình kinh tế chia sẻ: 39

Trang 12

2.2.2 Các tác động tiêu cực của mô hình kinh tế chia sẻ và thách thức đặt ra:

44

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 53 CHƯƠNG III: KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH KINH TẾ CHIA SẺ TẠI VIỆT NAM 54 3.1 Định hướng phát triển mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam: 54 3.2 Đề xuất một số giải pháp phát triển mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam: 59 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 68 KẾT LUẬN CHUNG 69

Trang 13

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong khoảng 05 năm trở lại đây, thuật ngữ “kinh tế chia sẻ” (KTCS) xuất hiện tại Việt Nam với tần suất ngày càng nhiều, nhất là trong các diễn đàn về kinh tế và thương mại Tác động của KTCS sâu rộng tới mức ta tham gia vào hoạt động kinh tế này thông qua rất nhiều hoạt động thường ngày, và hiển nhiên tới mức đôi khi ta không nhận ra điều đó Mỗi buổi sáng, bạn đặt một cuốc GrabBike để đến nơi làm việc Đến giờ ăn trưa, bạn vội vã mở ứng dụng Baemin để săn mã giảm giá nhằm đặt

đồ ăn trưa với giá rẻ Tranh thủ lúc nghỉ trưa, bạn nhớ đến kỳ nghỉ dưỡng cho những ngày lễ sắp đến cùng gia đình và truy cập vào ứng dụng Airbnb để đặt một căn homestay xinh xắn phù hợp với kinh phí của mình Trước khi tan sở, chiếc smartphone nhắc bạn truy cập vào ứng dụng bTaskee để chọn người giúp việc đến dọn dẹp nhà cửa trước khi bạn về nhà Chỉ cần tham gia vào một trong những hoạt động trên thì chính là bạn đang tham gia vào nền KTCS

Hiểu một cách đơn giản, “kinh tế chia sẻ” là một mô hình kinh tế mới phát triển trong bối cảnh của Cuộc Cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 Với những lợi ích to lớn như tạo ra một phương thức kinh doanh mới dựa trên nền tảng số; thị trường cạnh tranh hơn, loại hình dịch vụ đa dạng hơn; gia tăng lợi ích cho người tiêu dùng (NTD); tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động (NLĐ); tiết kiệm tài nguyên, tận dụng tối đa công suất của tài sản dư thừa, bảo vệ môi trường; giảm thiểu chi phí giao dịch trong hoạt động kinh doanh; thúc đẩy phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp ở các quốc gia…, mô hình KTCS thực sự có tiềm năng phát triển rất lớn, chứ không đơn thuần chỉ là một thị trường ngách hay một hiện tượng nhất thời

Tuy nhiên, chính sự phát triển nhanh chóng của mô hình KTCS đã đặt ra không

ít quan ngại cho các nhà quản lý cũng như thách thức đối với các doanh nghiệp kinh doanh theo phương thức truyền thống Những thách thức về môi trường cạnh tranh

“không công bằng” giữa các doanh nghiệp truyền thống và doanh nghiệp hoạt động theo mô hình KTCS hay bất cập trong công tác quản lý thuế đối với các công ty tham gia nền KTCS trở thành mối quan tâm lớn của các cơ quan quản lý nhà nước (CQQLNN), nhất là khi những công ty này thu được các khoản lợi nhuận khổng lồ nhờ vào lợi ích khi tham gia vào mô hình KTCS

Trang 14

Theo số liệu từ công ty kiểm toán hàng đầu thế giới PricewaterhouseCoopers vào năm 2015, 05 nhóm lĩnh vực gồm du lịch, vận tải, tài chính, nhân lực, dịch vụ video trực tuyến và ca nhạc ứng dụng mô hình KTCS trong kinh doanh có tiềm năng làm tăng doanh thu toàn cầu từ 15 tỷ USD trong năm 2014 lên khoảng 335 tỷ USD trong năm 20251 Đối với Việt Nam, mãi đến năm 2014 thì mô hình KTCS mới xuất hiện khi các công ty cung cấp dịch vụ chia sẻ đa quốc gia như Uber, Grab, Airbnb thâm nhập vào thị trường và khẳng định được vị thế Do “tính mới” của mô hình KTCS, công tác quản lý nhà nước đối với các loại hình dịch vụ KTCS tại Việt Nam hiện chưa có một “mẫu số chung”, mà chỉ đơn thuần là những chính sách rời rạc ở từng lĩnh vực cụ thể Do đó, đang tồn tại một khoảng trống trong các quy định của pháp luật liên quan đến nghĩa vụ tài chính của các doanh nghiệp theo mô hình KTCS, thiếu các chính sách đảm bảo cạnh tranh công bằng giữa kinh tế truyền thống và KTCS trong từng ngành cụ thể, không có các quy định về quản lý chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ để bảo vệ NTD, xuất hiện lỗ hổng trong các quy định liên quan đến trách nhiệm của các nền tảng về cung cấp thông tin cho các CQQLNN Song song với đó, các cơ chế, chính sách quản lý giao dịch thanh toán điện tử và quy định

về an toàn thông tin là hầu như không có…

Xuất phát từ những yêu cầu bức thiết trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài

“Kinh tế chia sẻ – Thực trạng và kiến nghị cho Việt Nam” với mong muốn tập trung

nghiên cứu thực tiễn vận hành của mô hình KTCS tại Việt Nam trong thời gian qua, nhận diện được những thành công, thách thức của việc phát triển mô hình KTCS để

từ đó đề xuất các giải pháp nhằm điều tiết hiệu quả mô hình kinh tế mới này trong thời gian tới, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước

2 Mục tiêu của đề tài:

Thứ nhất, hệ thống hoá các cơ sở lý luận chung về mô hình KTCS và các đặc

điểm chung của mô hình KTCS

Thứ hai, đánh giá thực trạng tình hình phát triển mô hình KTCS tại Việt Nam

thông qua phân tích các tác động tích cực và tiêu cực

Thứ ba, dự báo tiềm năng và xu hướng phát triển của mô hình KTCS tại Việt

Nam trong vòng 10 năm tới

1 PricewaterhouseCoopers (2015), “The Sharing Economy”, PwC Consumer Intelligence Series, trang 14

Trang 15

Thứ tư, từ thực trạng vận hành và phát triển mô hình KTCS tại Việt Nam, kiến

nghị một số giải pháp phù hợp để điều tiết sự vận hành của mô hình KTCS một cách hiệu quả trong kỷ nguyên của Cuộc CMCN 4.0

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng của mô hình KTCS tại Việt Nam và các giải

pháp để điều tiết mô hình KTCS tại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: bao gồm phạm vi về không gian và phạm vi về thời gian

Phạm vi về không gian: Nghiên cứu thực trạng phát triển của mô hình KTCS tại

Việt Nam

Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu tác động của mô hình KTCS trong giai đoạn

từ năm 2014 đến năm 2021 và đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả đến năm 2030

4 Phương pháp nghiên cứu:

Quá trình nghiên cứu được tiến hành tuần tự, theo một quy trình chặt chẽ từ nghiên cứu cơ sở lý luận đến phân tích, đánh giá thực trạng và trên cơ sở đó, đưa ra những kiến nghị, đề xuất giải pháp phát triển KTCS tại Việt Nam

Trong đó, khóa luận kết hợp phương pháp luận và các phương pháp cụ thể

Phương pháp luận: Phương pháp diễn dịch được sử dụng xuyên suốt trong quá

trình tổng hợp, phân tích, luận giải về cơ sở lý luận và thực tiễn, phân tích thực trạng cũng như đề xuất, kiến nghị các giải pháp trong khóa luận

Các phương pháp cụ thể:

Phương pháp kế thừa: Kế thừa và vận dụng các cơ sở lý luận, kết quả nghiên cứu trong nước và ngoài nước; từ đó, có những đề xuất bổ sung, phát triển để giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu, xây dựng khóa luận

Phương pháp quan sát: Nghiên cứu và trải nghiệm thực tế cơ chế hoạt động của các nền tảng ứng dụng hoạt động dựa trên mô hình KTCS

Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích nguồn thông tin thu được từ các số liệu thống kê, báo cáo và kết quả nghiên cứu của các đề tài, công trình nghiên cứu về vấn đề có liên quan để tổng hợp và xây dựng nên góc nhìn tổng quát

5 Tổng quan các công trình có liên quan:

Qua quá trình khảo sát, tổng hợp, có thể tổng quan tình hình nghiên cứu của các tác giả trong nước về KTCS như sau:

Trang 16

Công trình nghiên cứu bậc cử nhân: khóa luận tốt nghiệp “Phân tích tác động

của nền kinh tế chia sẻ xe đến nền kinh tế Việt Nam & các đối tượng liên quan” năm

2018 của tác giả Đỗ Hoàng Vi Sinh

Công trình nghiên cứu bậc thạc sỹ: luận văn “Thực tiễn phát triển mô hình kinh

tế chia sẻ trên thế giới và những kiến nghị đối với Việt Nam” năm 2019 của tác giả

Nguyễn Văn Phú và luận văn “Giải pháp phát triển mô hình kinh tế chia sẻ trong

ngành du lịch Việt Nam” năm 2019 của tác giả Lê Xuân Bách

Bên cạnh đó, chủ yếu là các bài viết đăng tải trên các website, tạp chí tài chính,

tạp chí kinh tế, tạp chí khoa học pháp lý Tiêu biểu có thể kể đến là bài viết“Phát

triển kinh tế chia sẻ và một số giải pháp áp dụng kinh tế chia sẻ ở Việt Nam” của

Tiến sĩ Đào Đăng Kiên đăng trên Tạp chí phát triển nhân lực – Số 1/2016; “Chuyên

đề số 7/2018: Thực trạng kinh tế chia sẻ ở Việt Nam: Kiến nghị giải pháp quản lý

nhà nước” và “Chuyên đề số 14/2018: Quản lý nhà nước trong nền kinh tế chia sẻ:

Kinh nghiệm quốc tế và gợi ý cho Việt Nam” của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế

Trung ương; bài viết “Lợi ích của mô hình kinh tế chia sẻ và những Thách thức cho

nhà quản lý” năm 2019 của Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hải, Nguyễn Hoàng Anh thuộc

Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương đăng trên Tạp chí Tài chính; bài viết

“Phát triển kinh tế chia sẻ tại Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0

và một số khuyến nghị” của tác giả Trần Thị Hằng đăng trên Tạp chí Khoa học và

Công nghệ số 54 (tháng 10/2019); bài viết “Kinh tế chia sẻ và sự điều chỉnh của pháp

luật” của tác giả Hà Thị Thanh Bình đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam

số 02/2021; bài viết “Mô hình kinh tế chia sẻ: Các vấn đề quản lý ở Việt Nam” năm

2021 của Tiến sĩ Phạm Khánh Nam đăng trên Bản tin kiến thức kinh tế số 26 (tháng

01/2022) của Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh…

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu mô tả thực trạng nền KTCS

tại Việt Nam để làm cơ sở đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả mô hình này

6 Kết cấu của đề tài:

Ngoài các phần Lời mở đầu, Kết luận chung, Danh mục tài liệu tham khảo và

Phụ lục thì nội dung chính của khóa luận được chia thành 03 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kinh tế chia sẻ

- Chương 2: Thực trạng phát triển của mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam

- Chương 3: Kiến nghị giải pháp phát triển mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam.

Trang 17

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ CHIA SẺ

1.1 Tổng quan về kinh tế chia sẻ:

1.1.1 Lịch sử phát triển của kinh tế chia sẻ:

Trong suốt quá trình tiến hóa của con người, “hợp tác” và “chia sẻ” là một phần không thể thiếu trong cuộc sống Những tài nguyên như phương tiện di chuyển, công

cụ lao động… đã được con người chia sẻ bằng cách sử dụng chung từ rất lâu, ngay

từ khi mới hình thành các cộng đồng nguyên thủy Theo thời gian, đến giữa thế kỷ

XX, việc chia sẻ dần trở nên đắt đỏ hơn nhiều so với việc sở hữu, do sự bùng nổ của sản xuất hàng loạt dưới tác động từ Cuộc CMCN lần thứ hai khiến chi phí cho việc

sở hữu tài nguyên trở nên rẻ hơn bao giờ hết Từ đó, “xuất hiện chủ nghĩa tiêu dùng: xây dựng dựa trên ý tưởng tin rằng việc tiêu dùng sẽ giúp người dân thấy hạnh phúc, việc tiêu dùng giúp nền kinh tế phát triển mạnh hơn Hiện nay, xu hướng này đang bị đảo ngược trở lại khi mà việc chia sẻ dần trở nên rẻ hơn”2

Mặc dù nguồn gốc lịch sử của KTCS nằm ở sự trao đổi sơ khai nhưng điểm khởi nguồn của khái niệm “kinh tế chia sẻ” (“sharing economy”) là khái niệm “tiêu dùng hợp tác” (“collaborative consumption”) thông qua bài báo về các hành vi tiêu dùng hợp tác được xuất bản bởi Marcus Felson và Joe L Spaeth vào năm 19783 Cho đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, khi mà kỷ nguyên Internet bùng nổ thông qua

sự xuất hiện của World Wide Web, mô hình KTCS bắt đầu “manh nha” xuất hiện trở lại, với một phiên bản “hiện đại hơn” Khởi điểm tại Hoa Kỳ là mô hình ban đầu có tính chất “chia sẻ ngang hàng” nhưng chưa rõ nét, KTCS đánh dấu bước chuyển mình bằng dịch vụ website thông tin cho thuê quảng cáo, người tìm việc, việc tìm người… nhằm giúp cho các cá nhân có thể tìm kiếm việc làm, kiếm được tiền thông qua quảng cáo Khi Internet ngày một lan rộng từ sau năm 1995, các website như eBay4 và Craigslist5 giúp kết nối những người có và những người cần một cách hiệu quả hơn

2 Hà Quang Thanh (2020), “Nhận thức về kinh tế chia sẻ và một số giải pháp áp dụng ở Việt Nam”, Tạp chí

Công thương trực tuyến, phap-ap-dung-o-viet-nam-70200.htm], truy cập ngày 01/4/2022

[https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/nhan-thuc-ve-kinh-te-chia-se-va-mot-so-giai-3 Marcus Felson và Joe L Spaeth (1978), “Community Structure and Collaborative Consumption: A Routine Activity Approach”, American Behavioral Scientist Vol 21 No 4, University of Illinois at Urbana-Champaign

4 eBay là một website đấu giá trực tuyến ra đời từ năm 1995 tại San Jose, California và là nơi mà mọi người ở bất kỳ đâu trên thế giới có thể dễ dàng mua hoặc bán hàng hóa và dịch vụ

5 Craigslist là một website quảng cáo được phân loại của Hoa Kỳ, thành lập vào năm 1995 tại San Francisco, California với các phần dành cho việc làm, nhà ở, chào bán các mặt hàng, dịch vụ, dịch vụ cộng đồng, hợp đồng biểu diễn, lý lịch và diễn đàn thảo luận

Trang 18

Do đó, chia sẻ và tái phân phối tài nguyên bắt đầu rẻ hơn so với việc mua đồ mới và vứt đồ cũ đi Trong nền KTCS này, mọi người không chỉ mua hàng mà còn có thể bán hàng thông qua thương mại ngang hàng (P2P) Từ đó, con người bắt đầu nhận thấy rằng thay vì tư hữu để thỏa mãn nhu cầu thì tốt hơn hết là nên tìm những nguồn lực có sẵn trong cộng đồng thông qua việc đi thuê, bởi lẽ việc sở hữu hoặc duy trì một tài sản không sử dụng thường xuyên là quá đắt đỏ Điều này đã bước đầu thay đổi tâm lý “tư hữu” của người dân, nhưng do chưa tồn tại một doanh nghiệp nào hoạt động theo mô hình KTCS tạo được tiếng vang lớn nên mô hình này chưa thực sự đạt đến “độ chín” của nó

Như một hệ quả tất yếu, đến cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, mô hình kinh doanh này đã thực sự bước vào giai đoạn phát triển khi nền kinh tế Hoa Kỳ rơi vào Cuộc suy thoái toàn cầu năm 2008–2009 Thời điểm đó, một trong những ảnh

hưởng rõ nét nhất từ cuộc khủng hoảng này chính là tình trạng suy giảm tiêu dùng cá nhân ở Hoa Kỳ: người dân buộc phải thắt chặt chi tiêu để thích ứng với bối cảnh kinh

tế khó khăn, trong khi thực tế, rất nhiều người có nhu cầu kiếm tiền từ chính những tài sản mà mình đang sở hữu Trước bối cảnh đó, con người quay trở lại với một mô hình ưu việt, tiết kiệm, tận dụng nguồn lực sẵn có và đề cao tính chia sẻ hơn tư hữu

tài sản – mô hình kinh tế chia sẻ Trong đó, khái niệm “kinh tế chia sẻ”, với đầy đủ

các nội hàm của nó, được sử dụng lần đầu tiên vào năm 2007 bởi giáo sư Lawrence Lessig tại Trường Đại học Luật Harvard trong cuốn sách “Remix: Making Art and Commerce Thrive in a Hybrid Economy”6

Dưới kỷ nguyên của mạng xã hội và trao đổi dữ liệu, sự bùng nổ và tái sinh mạnh mẽ của mô hình KTCS chính thức được đánh dấu bằng sự ra đời của Uber vào năm 20097 Việc “chia sẻ” những tài nguyên sẵn có (điển hình ở đây là những chiếc

xe ô tô) thông qua các ứng dụng công nghệ cùng những khoản lợi nhuận khổng lồ đem lại cho nhà cung ứng dịch vụ lẫn người cho thuê và sử dụng tài nguyên đã khiến

mô hình kinh doanh này nhanh chóng phát triển, vượt ra khỏi biên giới Hoa Kỳ, lan rộng đến châu Âu và sau đó là toàn thế giới

6 Donata Siuskaite, Vaida Pilinkiene & Dainius Zvirdauskas (2019), “The Conceptualization of the Sharing

Economy as a Business Model”, Inzinerine Ekonomika – Engineering Economics, Kaunas University of

Technology, trang 374

7 Uber là một công ty đa quốc gia của Hoa Kỳ cung cấp các dịch vụ đi chung phương tiện giao thông vận tải thông qua một ứng dụng công nghệ với trụ sở tại San Francisco, California Theo số liệu từ Business of Apps, tính đến tháng 3/2022, dịch vụ Uber đã có mặt tại 72 quốc gia và hơn 10.500 khu vực đô thị trên toàn thế giới

Trang 19

Dần dần, các tranh cãi về một khái niệm đúng đắn để gọi tên hiện tượng kinh tế toàn cầu này bắt đầu nổ ra Vào năm 2010, Rachel Botsman và Roo Rogers chính là những tác giả đầu tiên chỉ ra được sự khác biệt giữa khái niệm “kinh tế chia sẻ” và khái niệm “tiêu dùng hợp tác”8 Đến năm 2015, thuật ngữ “kinh tế chia sẻ” (“sharing economy”) chính thức được thêm vào từ điển Anh ngữ Oxford, như một sự thừa nhận chính thức về mặt học thuật

Hình 1.1: Lịch sử hình thành của kinh tế chia sẻ

(Nguồn: Donata Siuskaite, Vaida Pilinkiene & Dainius Zvirdauskas (2019),

“The Conceptualization of the Sharing Economy as a Business Model”, trang 374)

Có thể nói rằng nền KTCS đã “đảo ngược” chủ nghĩa tiêu dùng Nói cách khác,

sự tôn sùng cho “chủ nghĩa tiêu dùng sở hữu” trước đây đã ngày một lụi tàn dần và được thay thế bằng “chủ nghĩa tiêu dùng cộng tác” Một khi tâm lý “tư hữu” đã bị

thay thế bởi tâm lý “chia sẻ”, các công ty kinh doanh theo mô hình KTCS phát triển

mô hình tính phí theo số lần sử dụng, thay vì theo sự sở hữu như trước đây Theo thời

gian, các công ty này đã tạo nên một làn sóng mới – “làn sóng chia sẻ” Làn sóng

này ngày càng thâm nhập sâu vào các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế như giao thông, nhà ở, bán lẻ, không gian văn phòng và hậu cần, tài chính và tín dụng tiêu dùng, thị trường lao động, thực phẩm, học tập, sức khỏe… và do đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế9

8 Rachel Botsman và Roo Rogers (2010), “What's Mine Is Yours: The Rise of Collaborative Consumption”,

Harper Collins Publishers

9 Đỗ Hoàng Vi Sinh (2018), “Phân tích tác động của nền kinh tế chia sẻ xe đến nền kinh tế Việt Nam & các đối tượng liên quan”, Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Quản trị - Luật, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh,

trang 6-7

Trang 20

1.1.2 Khái niệm về kinh tế chia sẻ và mô hình kinh tế chia sẻ:

Theo tổng hợp của Cristiano Codagnone và Bertin Martens (2016)10, tồn tại

nhiều thuật ngữ khác nhau có thể thay thế cho thuật ngữ “kinh tế chia sẻ” (sharing economy) như “kinh tế cộng tác” (collaborative economy), “tiêu dùng cộng tác” (collaborative consumption), “kinh tế vòng tròn” (circular economy), “kinh tế theo cầu” (on-demand economy), “kinh tế nền tảng” (platform economy), nhưng trong

đó, thuật ngữ “kinh tế chia sẻ” được sử dụng phổ biến hơn cả

Khái niệm về kinh tế chia sẻ:

Hiện nay, không tồn tại một định nghĩa chung cho mọi trường hợp hay cho mọi quốc gia về “kinh tế chia sẻ” Phạm vi nội hàm rộng hay hẹp của các định nghĩa cũng khác nhau, bởi lẽ bản thân các định nghĩa xuất phát từ các góc nhìn khác nhau Một

số định nghĩa phổ biến và được thừa nhận rộng rãi có thể kể đến như sau:

Theo từ điển Tiếng Anh Oxford (Oxford English Dictionary, 2015)11:

Vào năm 2015, thuật ngữ “kinh tế chia sẻ” chính thức xuất hiện trên các trang

của từ điển Anh ngữ Oxford (Oxford English Dictionary): Kinh tế chia sẻ là “một hệ thống kinh tế trong đó tài sản hoặc dịch vụ được chia sẻ giữa các cá nhân hoặc miễn phí hoặc có thu phí, chủ yếu thông qua Internet” Với đặc điểm truyền thống là mạng

tài nguyên ngang hàng, mô hình này được sử dụng khi giá của tài sản cao và tài sản

đó không được sử dụng đúng hoặc đang ở trạng thái nhàn rỗi

Theo Juliet B Schor và Connor J Fitzmaurice (2015)12:

KTCS là hành vi giữa những người dùng cuối trong mối quan hệ mua sắm tiêu dùng; trong đó, những hàng hóa và dịch vụ nào chưa phát huy hết công dụng của mình thì sẽ được các bên đem ra trao đổi, chia sẻ, tạo cơ hội tiếp cận cho đối phương Trong mối quan hệ này, các bên đặt ra 02 tiêu chí là: (i) phát huy công dụng và bảo đảm cơ hội tiếp cận đến các hàng hóa; và (ii) việc chia sẻ không gây ảnh hưởng đến quyền sở hữu của chủ sở hữu hàng hóa Khái niệm này khá chi tiết, dễ hiểu, nhưng lại không chỉ ra được mô hình KTCS vận hành trên cơ sở nền tảng công nghệ

10 Cristiano Codagnone và Bertin Martens (2016), “Scoping the Sharing Economy: Origins, Definitions, Impact and Regulatory Issues”, Institute for perspective technological studies digital economy working paper,

[https://joint-research-centre.ec.europa.eu/system/files/2016-05/JRC100369.pdf], truy cập ngày 02/4/2022

11 Theo Từ điển Anh Ngữ Oxford: The sharing economy (noun): “An economic system in which assets or services are shared between private individuals, either for free or for a fee, typically by means of the internet”

12 Juliet B Schor và Connor J Fitzmaurice (2015), “Collaborating and connecting: the emergence of the sharing economy”, trong Lucia A Reisch (ed.), “Handbook of Research on Sustainable Consumption”,

Edward Elgar Publishing, UK, trang 410

Trang 21

Theo Rachel Botsman (2015)13:

Nền KTCS có thể được định nghĩa là “mô hình kinh tế dựa trên việc chia sẻ những tài sản không sử dụng từ không gian đến kỹ năng cho đến những thứ khác hướng đến lợi ích tiền tệ hoặc phi tiền tệ” Khái niệm này khá hẹp và cũng không chỉ

ra được KTCS là một mô hình kinh doanh ngang hàng tận dụng lợi thế của công nghệ

Theo Sunjoo Oh và Jae Yun Moon (2016)14:

Không đưa ra một định nghĩa cụ thể, Sunjoo Oh và Jae Yun Moon chỉ mô tả

KTCS thông qua việc liệt kê các thuộc tính phổ biến của nó, cụ thể: “Kinh tế chia sẻ bao gồm: (1) Khả năng truy cập mở dựa trên mối quan hệ xã hội; (2) Sự tin tưởng; (3) Tạo giá trị; và (4) Giao dịch ngang hàng (P2P)”

Theo Kenneth C Laudon và Carol Guercio Traver (2016)15:

Nếu xem xét sự phát triển của KTCS trong mối tương quan với quá trình chuyển đổi kinh tế số thì có thể xem KTCS là một trong ba hình thái của thương mại điện tử (TMĐT) bởi tính chất của hành vi chia sẻ trong lĩnh vực kinh tế là hành vi thương mại nhằm sinh lợi; các chủ thể trong mối quan hệ này không nhất thiết phải có tính chuyên nghiệp của thương nhân Trên cơ sở đó, hai tác giả Kenneth và Carol không đưa ra khái niệm cụ thể mà đặt tên cho mối quan hệ KTCS là “C2C” (Customer–to–Customer) Theo cách hiểu này, trong quan hệ KTCS, các chủ thể tự chuẩn bị hàng hóa từ nguồn tài nguyên có sẵn, thông qua các hoạt động đấu giá hoặc buôn bán để đưa hàng hóa ấy vào lưu thông trên thị trường

Theo Ủy ban châu Âu và Nghị viện châu Âu (2016)16:

Theo Ủy ban châu Âu, “nền kinh tế hợp tác” đề cập đến các mô hình kinh doanh nơi các hoạt động được tạo điều kiện bởi các nền tảng cộng tác tạo ra thị trường mở cho việc sử dụng tạm thời hàng hóa hoặc dịch vụ thường được cung cấp bởi tư nhân,

cá nhân

13 Rachel Botsman (2015), “The sharing economy lacks a shared definition”, Fast Company,

[https://www.fastcompany.com/3022028/the-sharing-economy-lacks-a-shared-definition], truy cập ngày 03/4/2022

14 Sunjoo Oh và Jae Yun Moon (2016), “Calling for a shared understanding of the “sharing economy””,

Proceedings of the 18th Annual International Conference on Electronic Commerce: e-Commerce in Smart connected World, [https://doi.org/10.1145/2971603.2971638], truy cập ngày 04/4/2022

15 Kenneth C Laudon và Carol Guercio Traver (2016), “E-commerce 2016: Business, Technology, Society, Global edition, twelfth edition”, Essex: Pearson Education Limited, Marques, trang 346-776

16 Jana Valant (2016), “A European agenda for the collaborative economy”,

[https://www.europarl.europa.eu/RegData/etudes/BRIE/2016/593510/EPRS_BRI(2016)593510_EN.pdf], trang 2, truy cập ngày 05/4/2022

Trang 22

“Nền kinh tế hợp tác” bao gồm: “(1) Nhà cung cấp dịch vụ chia sẻ tài sản, tài nguyên, thời gian và/hoặc kỹ năng (các cá nhân cung cấp dịch vụ trên cơ sở không thường xuyên – “ngang hàng” – hoặc nhà cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp); (2) Người dùng của các dịch vụ này; và (3) Nền tảng cộng tác”

Ủy ban châu Âu cũng lưu ý rằng các giao dịch hợp tác kinh tế thường không thay đổi quyền sở hữu và có thể được thực hiện vì lợi nhuận cũng như phi lợi nhuận

Theo nghị quyết của Nghị viện châu Âu năm 2015: “nền kinh tế chia sẻ” hoặc

“tiêu dùng hợp tác” là một mô hình kinh tế xã hội mới đã diễn ra nhờ cuộc cách mạng công nghệ, với Internet kết nối mọi người thông qua các nền tảng trực tuyến được tiến hành một cách an toàn và minh bạch

Theo Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (2018)17:

“Kinh tế chia sẻ là một mô hình kinh doanh mới của kinh doanh ngang hàng, tận dụng lợi thế của phát triển công nghệ số giúp tiết kiệm chi phí giao dịch và tiếp cận một số lượng lớn khách hàng thông qua các nền tảng số” Khái niệm này khá

rộng khi chủ yếu dựa trên đặc điểm cốt lõi của KTCS là mô hình kinh doanh ngang hàng kết hợp với liệt kê các lợi ích của KTCS

Tham khảo định nghĩa của một số chuyên gia kinh tế18:

KTCS đề cập đến “mô hình kinh doanh khai thác các yếu tố tài nguyên sẵn có của người dùng cuối cùng và kết hợp với các yếu tố công nghệ để hợp thành một mô hình kinh doanh” Ngoài ra, KTCS còn được hiểu là “mô hình “thị trường lai” (ở giữa sở hữu và tặng quà), trong đó đề cập đến việc chia sẻ quyền truy cập vào hàng hóa và dịch vụ (phối hợp thông qua các dịch vụ trực tuyến dựa vào cộng đồng)”

Dễ nhận thấy có sự đa dạng và phức tạp trong các lý thuyết được đưa ra về khái niệm KTCS, cùng sự tản mác của các nghiên cứu ứng dụng mô hình KTCS vào các lĩnh vực của nền kinh tế – xã hội khiến việc đưa ra một định nghĩa thống nhất về KTCS trở nên không hề dễ dàng

Tựu chung lại, có thể khái quát hóa rằng KTCS là một biểu hiện của việc áp

dụng công nghệ nhằm giảm sự lãng phí trong tiêu dùng, hướng tới cộng đồng, thành phố thông minh – tài nguyên được dùng một cách hiệu quả

17 Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (2018), “Chuyên đề số 7: Thực trạng kinh tế chia sẻ ở Việt Nam: Kiến nghị giải pháp quản lý nhà nước”, Cổng thông tin kinh tế Việt Nam - VNEP, trang 2

18 Trần Thị Hằng (2019), “Phát triển kinh tế chia sẻ tại Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0

và một số khuyến nghị”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ số 54/2019, Đại học Công nghiệp Hà Nội, trang 90

Trang 23

Khái niệm về mô hình kinh tế chia sẻ:

Theo Từ điển Tiếng Việt, “mô hình” có 02 nghĩa: Một là, vật cùng hình dạng

nhưng được làm thu nhỏ lại hoặc phóng to lên, mô phỏng cấu tạo và hoạt động của

vật thật để tiện trình bày, nghiên cứu (ví dụ như mô hình khu đô thị mới); Hai là, hình

thức diễn đạt hết sức gọn theo một ngôn ngữ nào đó các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng để nghiên cứu đối tượng ấy (ví dụ như mô hình của câu đơn)19

Trong nghiên cứu, “mô hình” được hiểu là sự đơn giản hóa hiện thực một cách

có chủ định Theo đó, việc sử dụng thuật ngữ “mô hình kinh tế chia sẻ” cho phép người nghiên cứu bỏ qua các mặt thứ yếu (các điều kiện về công nghệ và dữ liệu mang tính chuyên môn) để tập trung vào phương diện chủ yếu, có ý nghĩa quan trọng đối với KTCS – cơ chế kinh tế của KTCS

Từ đó, có thể hiểu mô hình KTCS là một mô hình kinh doanh mới, tận dụng lợi thế của công nghệ số để tiết kiệm chi phí giao dịch và tiếp cận lượng lớn khách hàng Trong đó, giao dịch được thực hiện thông qua nền tảng trực tuyến do bên thứ ba cung cấp, mở ra cho NTD nhiều lựa chọn với giá rẻ hơn Các cá nhân tham gia dưới hình thức bán thời gian, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập, còn khách hàng và nhà cung cấp tạo nên sự đảm bảo chung và xây dựng lòng tin bằng hệ thống xếp hạng và đánh giá đối tác Song song đó, các tài sản vật chất được chia sẻ hoặc sử dụng như những dịch vụ, làm thay đổi phương thức kinh doanh truyền thống, từ “sở hữu tài sản” sang

“sử dụng tài sản mà không cần sở hữu” Giá trị tạo ra nhờ đổi mới sáng tạo/kết nối mạng trên nền tảng số, thu lợi từ hiệu suất kinh tế nhờ quy mô20

Tóm lại, mô hình KTCS là một thuật ngữ đề cập đến quá trình khai thác các

yếu tố tài nguyên sẵn có của người dùng cuối cùng và kết hợp với các yếu tố công nghệ để hợp thành một mô hình kinh doanh, trong đó:

Một mặt, đề cập đến vai trò ngang hàng dựa trên sự chia sẻ quyền sử dụng hàng hóa và dịch vụ nhằm gia tăng lợi ích cho các bên tham gia

Mặt khác, tận dụng lợi thế của phát triển công nghệ số giúp tiết kiệm chi phí giao dịch và tiếp cận một số lượng lớn khách hàng thông qua các nền tảng số

19 Hoàng Phê (Chủ biên) (2010), “Từ điển tiếng Việt”, NXB Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, Hà Nội, trang

819

20 Nguyễn Văn Phú (2019), “Thực tiễn phát triển mô hình kinh tế chia sẻ trên thế giới và những kiến nghị cho Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Kinh doanh thương mại, Đại học Ngoại thương, trang 9

Trang 24

1.1.3 Nguyên lý hoạt động của mô hình kinh tế chia sẻ:

Theo Donata Siuskaite, Vaida Pilinkiene & Dainius Zvirdauskas (2019)21 thì nguyên lý vận hành cơ bản của mô hình KTCS có thể được mô tả qua sơ đồ sau:

Hình 1.2: Quy trình vận hành cơ bản của mô hình kinh tế chia sẻ

(Nguồn: Donata Siuskaite, Vaida Pilinkiene & Dainius Zvirdauskas (2019),

“The Conceptualization of the Sharing Economy as a Business Model”, trang 376) Chủ tài sản – Người cung cấp (Owner) muốn sử dụng các tài sản nhàn rỗi của mình (Sharing of Asset) để kiếm thêm thu nhập, còn Khách hàng – Người sử dụng (User) lại đang cần sử dụng các tài sản đó (Recommendation) mà không muốn bỏ ra một khoản chi phí lớn để sở hữu nó Khi đó, Nền tảng (Platform) đóng vai trò là bên thứ ba trung gian xuất hiện và kết nối Người cung cấp với Người sử dụng (Access to Market) thông qua những website, ứng dụng được cài đặt trên các thiết bị công nghệ

Theo đó, Khách hàng sẽ truy cập vào các website, ứng dụng này và tìm kiếm những

Người cung cấp phù hợp (Request) để bắt đầu thuê và sử dụng dịch vụ, sản phẩm Người sử dụng phải trả Phí thuê (Renting fee) và Phí dịch vụ (Service fee) cho Nền

tảng và Nền tảng sẽ trả lại Phí thuê cho Người cung cấp sau khi đã khấu trừ phí môi

giới (- Renting fee) Mỗi bên tham gia vào mô hình đều có quyền lợi ngang nhau và

ngang hàng như nhau Trong đó, Nền tảng chỉ đóng vai trò là người trung gian, giúp các bên tìm đến nhau và hưởng lợi nhuận từ dịch vụ kết nối Người cung cấp và Người

sử dụng thông qua việc định giá hoặc thu phí của các bên còn lại

21 Donata Siuskaite, Vaida Pilinkiene & Dainius Zvirdauskas (2019), tlđd 6, trang 373-381.

Trang 25

Hiện nay, có 03 yếu tố cơ bản giúp cho việc chia sẻ quyền sử dụng các hàng hóa

và dịch vụ mới được thuận lợi, cụ thể:

Thứ nhất, hành vi của khách hàng đối với nhiều loại hàng hóa và dịch vụ được

thay đổi tính chất từ “sở hữu” đến “chia sẻ”

Thứ hai, liên kết mạng lưới NTD qua các mạng xã hội trực tuyến và thị trường

điện tử dễ dàng hơn

Thứ ba, ứng dụng CNTT qua các thiết bị di động và các dịch vụ điện tử làm cho

việc sử dụng, chia sẻ các hàng hóa và dịch vụ trở nên thuận tiện hơn22

Thông qua quy trình vận hành trên, có thể thấy khác biệt lớn nhất giữa mô hình KTCS với mô hình kinh tế truyền thống nằm ở chỗ mô hình KTCS vận dụng triệt để nền tảng ứng dụng công nghệ số để thực hiện các giao dịch giữa Người cung cấp và Người sử dụng với chi phí rẻ nhất cho cả hai bên

1.1.4 Các trụ cột của mô hình kinh tế chia sẻ:

Theo nghiên cứu của Øverby và Audestad (2018)23, khác với mô hình kinh tế truyền thống với trụ cột là nhập lượng, công nghệ sản xuất và sản phẩm, mô hình

KTCS hoạt động dựa trên các trụ cột chính là nền tảng đa chiều, hiệu ứng mạng lưới

và lòng tin Việc hiểu được bản chất và quy trình vận hành của các trụ cột này sẽ giúp

ta hiểu đúng tác động của mô hình KTCS đến nền kinh tế và các bên liên quan để từ

đó đề xuất những chính sách tiếp cận hợp lý

Trụ cột số 1 – Nền tảng đa chiều (Multi-Sided Platform – MSP):

Nền tảng đa chiều cho phép tương tác trực tiếp giữa hai hoặc nhiều nhóm người dùng khác nhau, trong đó tất cả các nhóm người dùng đều được liên kết với nền tảng này Vì vậy, đặc tính quan trọng nhất của nền tảng đa chiều là tạo ra tương tác trực tiếp giữa các nhóm người dùng Hình thức thể hiện của nền tảng đa chiều là một ứng dụng hoặc website để các bên tham gia truy cập vào Với bất cứ một thay đổi nào của các bên tham gia, ví dụ như tìm kiếm sản phẩm cụ thể, cho hàng hóa vào giỏ hàng hay đưa ra một mặt hàng mới đều được các bên khác tham gia nhận biết Nền tảng đa chiều có thể là dưới hình thức số như Facebook, eBay hoặc hình thức sở hữu như Airbnb hay Uber Chẳng hạn như siêu thị hay trung tâm thương mại chỉ được xem là

22 Trần Thị Hằng (2019), tlđd 18, trang 90

23 Harald Øverby và Jan A Audestad (2018), “Digital Economics: How Information and Communication Technology is Shaping Markets, Businesses, and Innovation”, CreateSpace Independent Publishing Platform,

trang 61-70

Trang 26

nơi bán hàng hóa, không có sự tương tác trực tiếp giữa nhà sản xuất và NTD, còn eBay hay Chợ tốt24 được xem là nền tảng đa chiều vì trên các website này, người mua

có quyền lựa chọn các nhà cung cấp hàng hóa khác nhau, mặc dù hàng hóa giao dịch

có thể cùng loại với hàng hóa ở siêu thị hay trung tâm thương mại25

Hình 1.3: Mô hình giao dịch kinh tế chia sẻ trong nền tảng đa chiều

Nguồn: Øverby & Audestad (2018), “Digital Economics: How Information and Communication Technology is Shaping Markets, Businesses, Innovation”, trang 63

Theo như mô hình, nền tảng đa chiều chỉ giúp kết nối người bán với người mua nhằm giảm chi phí giao dịch cho các bên, chứ không trực tiếp tham vào quá trình trao đổi hàng hóa giữa các bên

Trụ cột số 2 – Hiệu ứng mạng lưới:

Hiệu ứng mạng lưới được hiểu là hiệu ứng mà số lượng người sử dụng tác động đến giá trị hoặc độ hữu dụng phát sinh từ hàng hóa, dịch vụ đó Hiểu một cách đơn giản, hàng hóa càng có giá trị khi càng có nhiều người sử dụng nó nên nền tảng tạo

ra hiệu ứng mạng lưới: càng nhiều đối tác tham gia, càng tạo ra giá trị cho toàn bộ

mô hình KTCS Theo ngôn ngữ của kinh tế học, hiệu ứng mạng lưới được hiểu là “lợi thế theo quy mô phía cầu”, tức giá trị mà người dùng nhận được nhờ tham gia vào

mô hình KTCS khi số lượng người sử dụng dịch vụ tăng lên

24 Ra mắt năm 2012, ChợTốt.vn thuộc tập đoàn rao vặt trực tuyến 701Search và hoạt động theo mô hình C2C (Customer–to–Customer), nghĩa là người tiêu dùng sẽ mua bán trực tiếp các sản phẩm, dịch vụ với nhau

25 Phạm Khánh Nam (2021), “Mô hình kinh tế chia sẻ: Các vấn đề quản lý ở Việt Nam”, Bản tin kinh tế số 26

(Tháng 01/2022) của Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, trang 83-84

Trang 27

Hình 1.4: Minh họa hiệu ứng mạng lưới trong mô hình kinh tế chia sẻ

Nguồn: Øverby & Audestad (2018), “Digital Economics: How Information and Communication Technology is Shaping Markets, Businesses, Innovation”, trang 66

Hiệu ứng mạng lưới tạo ra một vòng lặp gia tăng giá trị Một khi người dùng mới (hoặc nhà cung cấp mới) gia nhập, quy mô cầu (hoặc cung) tăng, từ đó làm tăng giá trị cho cả mạng lưới Giá trị mạng lưới tăng lên lại là động lực lôi kéo thêm người

sử dụng mới (hoặc nhà cung cấp mới) gia nhập vào mạng Hiệu ứng mạng lưới có một điểm tới hạn mà tại đó vòng tăng xoắn ốc bắt đầu gia tốc và mở rộng nhanh chóng Chẳng hạn như cứ mỗi một đối tác tài xế của Grab đưa tài sản là chiếc xe của mình tham gia vào mạng lưới vận chuyển của Grab thì chính đối tác tài xế đó đang làm tăng giá trị của nền tảng Grab, bởi lẽ bấy giờ nhu cầu ghép nối di chuyển của khách hàng sẽ được đáp ứng nhanh chóng hơn do có nhiều tài xế hiện diện hơn; từ

đó, thúc đẩy gia tăng người sử dụng tham gia vào nền tảng và cứ thế đối tác tài xế mới, người dùng mới lại cài đặt ứng dụng Grab

Hiểu rõ hiệu ứng mạng lưới giúp chủ sở hữu nền tảng kinh doanh và nhà quản

lý mô hình KTCS nhận biết được điểm tới hạn để từ đó có chính sách, chiến lược thúc đẩy tăng trưởng Chính chiến lược định giá đúng đắn cho các bên tham gia vào mạng lưới sẽ là “chìa khóa” để nền tảng ngày một phát triển, mở rộng vào xoắn ốc của mình

Trụ cột số 3 – Lòng tin:

Khác với những giả định trong thị trường hoàn hảo, các chủ thể kinh tế tham gia giao dịch trên thị trường thực không có thông tin đầy đủ về nhau và về đối tượng giao dịch Do đó, với đặc trưng của mô hình KTCS là có sự tham gia của nhiều nhà cung cấp riêng lẻ lẫn nhiều người sử dụng theo cơ chế ngang hàng trực tiếp thì vấn

đề lòng tin có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả hoạt động của mô hình KTCS

Trang 28

Lòng tin trong mô hình KTCS không tồn tại một cách tự nhiên, mà cần có cơ chế xây dựng và duy trì, nhất là khi thiếu vắng cơ chế kiểm soát, giám sát chặt chẽ từ Chính phủ như trong mô hình kinh tế truyền thống Để xây dựng lòng tin, bản thân các nền tảng công nghệ trong mô hình KTCS đã tạo ra các hệ thống xác minh danh tính kỹ thuật số, chấm điểm về chất lượng dịch vụ để tạo ra điểm danh tiếng cho người cung cấp lẫn người sử dụng dịch vụ Chẳng hạn như trong dịch vụ thuê chỗ ở của Airbnb thì cả chủ nhà lẫn khách đến thuê nhà đều có thể nhận xét, cho điểm về cách phục vụ, thái độ của nhau và đều sẽ được nền tảng ghi nhận như là điểm danh tiếng của cả hai bên Một cá nhân khi tham gia vào nền KTCS có điểm danh tiếng cao, tức là đạt được lòng tin và có lợi thế thị trường Trên cơ sở đó, cá nhân đó có khả năng tạo ra giá trị cao hơn, thu được lợi nhuận nhiều hơn cho mình Có thể hiểu lòng tin trong mô hình KTCS chính là “vốn xã hội” của các bên tham gia được “số hóa” trong thế giới kinh doanh ngang hàng26

1.1.5 Điều kiện hình thành nền kinh tế chia sẻ:

Không phải cứ khi công nghệ số trở nên phổ biến thì nền KTCS sẽ hình thành,

mà theo nghiên cứu của Arun Sundararajan (2014)27, dưới góc độ vĩ mô nền kinh tế,

có 04 yếu tố chính để hình thành nền KTCS, bao gồm:

Điều kiện 1 – Sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số phục vụ NTD:

Trong các giai đoạn phát triển công nghệ trước đây, sự đổi mới trong lĩnh vực công nghệ số chủ yếu xuất phát từ nhu cầu an ninh quốc phòng của Chính phủ và nhu cầu cải tiến sản xuất của doanh nghiệp Tuy nhiên, trong khoảng 10-15 năm trở lại đây, sự đổi mới sáng tạo trong công nghệ số lại xuất phát từ nhu cầu của NTD và phục vụ trực tiếp NTD

Minh chứng rõ ràng nhất cho sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số phục vụ NTD chính là sự ra đời của điện thoại thông minh (smartphone) và mạng xã hội (social network) với mục đích trao đổi, tìm kiếm thông tin và gia tăng tương tác của con người Các thiết bị công nghệ số trong tay từng cá nhân giúp các giao dịch ngang hàng trở nên nhanh chóng, thuận lợi hơn Do đó, công nghệ kỹ thuật số là yếu tố

Trang 29

Điều kiện 2 – Sự hình thành của “thể chế công nghệ”:

Thuật ngữ “thể chế công nghệ”, theo cách gọi của Arun Sundararajan, chính là

cơ chế xây dựng lòng tin thị trường thông qua hệ thống đánh giá đa chiều MSP Theo

đó, các bên tham gia thị trường đều có thể đánh giá chất lượng dịch vụ của đối tác thông qua nền tảng công nghệ Như vậy, “thể chế công nghệ” được hình thành nhằm lấp những “chỗ trống” mà thể chế chính thức (hệ thống pháp luật) (HTPL) còn bỏ sót

để hướng đến hài hòa vấn đề thông tin bất cân xứng trong mô hình KTCS

Điều kiện 3 – Quá trình đô thị hóa và toàn cầu hóa:

Xu hướng toàn cầu hóa làm tăng mật độ đô thị Sự tập trung dân cư đô thị trong khoảng không gian giới hạn là điều kiện thiết yếu để KTCS hoạt động Bởi lẽ một khi nguồn lực nhiều, nhu cầu nhiều thì hiệu ứng mạng lưới của mô hình mới được phát huy tối đa Khi đó, quá trình kết nối giữa người cung cấp và khách hàng dễ dàng hơn làm cho chi phí giao dịch giảm Có thể hiểu đô thị hóa chính là “điều kiện bối cảnh” thúc đẩy sự hình thành và phát triển của mô hình KTCS

Điều kiện 4 – Sự quan tâm của xã hội đến tài nguyên và môi trường:

Trước áp lực của đô thị hóa và toàn cầu hóa, xu hướng phát triển chung của toàn cầu là phát triển bền vững thông qua việc sử dụng tài nguyên hiệu quả, tiết kiệm, giảm phát thải khí nhà kính gây biến đổi khí hậu Thông qua quá trình vận hành, nền KTCS đóng góp hiệu quả vào xu thế chung này bằng cơ chế chia sẻ và sử dụng nguồn lực nhàn rỗi để giảm chi phí giao dịch Do đó, mô hình KTCS phù hợp với định hướng phát triển chung và một khi con người còn dành sự quan tâm đến vấn đề tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường thì khi đó KTCS vẫn còn “chỗ” cho sự phát triển

1.2 Đặc điểm cơ bản của kinh tế chia sẻ:

Dựa trên những định nghĩa khác nhau về KTCS, tác giả Nguyễn Văn Phú (2019)28 đã tổng hợp 04 đặc điểm chính của mô hình KTCS như sau:

Thứ nhất, hoạt động dựa trên nền tảng số, khoa học trực tuyến

Nền tảng số, nền tảng trực tuyến là nơi trung gian gặp gỡ giữa người bán và người mua, người tạo ra giá trị và người tiêu thụ giá trị Thông qua nền tảng số, nền tảng trực tuyến sử dụng website, ứng dụng di động…, KTCS có thể tạo lập một mạng lưới cho người mua và người bán, kết nối nhà cung cấp và khách hàng với nhau để

mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ

28 Nguyễn Văn Phú (2019), tlđd 20, trang 14-15

Trang 30

Thứ hai, mô hình hợp tác để tận dụng nguồn lực dư thừa

Hợp tác tiêu dùng là sự thỏa thuận kinh tế cho phép các bên đồng ý tham gia

chia sẻ sự kết nối đến sản phẩm, dịch vụ hơn là sở hữu riêng lẻ KTCS mang lại nhiều

tiềm năng mới khi NTD có cơ hội tiếp cận, khai thác và sử dụng các tài sản mà họ không sở hữu hoặc không có điều kiện sở hữu riêng, trong khi người sở hữu tài sản lại có cơ hội để tăng thêm thu nhập Với nguyên lý khuyến khích tận dụng các nguồn lực dư thừa trong xã hội, KTCS thúc đẩy việc phân bố và sử dụng tài sản, tài nguyên hiệu quả, tận dụng tối đa các nguồn lực dư thừa của nhau Trên hết, lợi ích về tiết kiệm tài nguyên của KTCS đem lại hiệu ứng tích cực cho môi trường thông qua việc

giảm sản xuất hàng loạt và tiêu dùng quá mức trong nền kinh tế

Mô hình KTCS chủ yếu được sử dụng trong trường hợp một tài sản đắt tiền nhưng không phải lúc nào cũng được sử dụng đầy đủ, tức được sử dụng dưới mức tối

ưu Do đó, tài sản hữu hình hoặc vô hình khi không được sử dụng hoặc không được

sử dụng hiệu quả sẽ được cung cấp cho những người cần chúng để sử dụng tạm thời

và chủ sở hữu sẽ nhận được lợi ích kinh tế từ việc cho người khác sử dụng tài sản đó Những tài sản vật chất được “chia sẻ” hoặc sử dụng như những dịch vụ, thay đổi phương thức kinh doanh truyền thống từ “sở hữu tài sản” sang “sử dụng tài sản mà không cần sở hữu” Do đó, không có sự chuyển quyền sở hữu diễn ra trong nền KTCS

Có thể nói phương châm hoạt động mang đến thay đổi đột phá trong lĩnh vực KTCS chính là “Hiệu quả sử dụng quan trọng hơn quyền sở hữu”

Thứ ba, mô hình kinh doanh thu lợi nhuận

Mô hình KTCS thu lợi nhuận từ sự thuận lợi sẵn có của đầu vào mà các chủ thể

có thể sử dụng lẫn nhau, khai thác các yếu tố tài nguyên sẵn có của người dùng cuối cùng và kết hợp với các yếu tố công nghệ để hợp thành một mô hình kinh doanh Mô hình này chủ yếu do các công ty khởi nghiệp khởi xướng bởi họ không sở hữu bất kỳ một nhà máy hay máy móc nào, nhưng lại có cả một kho tài nguyên sẵn có trên toàn cầu và luôn sẵn sàng gia nhập vào hệ thống

Dựa trên việc sử dụng hiệu quả các tài sản chưa được khai thác hết công suất, NTD được hưởng lợi nhờ giá rẻ, trong khi người cung cấp tài sản cho thuê thì có thêm thu nhập nhờ chi phí rào cản thâm nhập thị trường thấp hơn, còn các nền tảng giao dịch thì được hưởng lợi từ việc thu phí môi giới để NTD và nhà cung cấp gặp nhau

Trang 31

Thứ tư, khả năng tiếp cận linh hoạt, dễ chia sẻ

Công nghệ kỹ thuật số giúp mọi người dễ dàng trao đổi thương mại với nhau Chỉ cần thông qua nền tảng công nghệ, bất cứ ai cũng có thể đem tài sản, dịch vụ nhàn rỗi của mình cho thuê, hoặc sử dụng tài sản, dịch vụ của người khác Chẳng hạn chỉ với một chiếc smartphone có cài đặt bản đồ định vị vệ tinh, người dùng đã có thể tìm thấy một căn phòng hay chiếc xe để thuê Khả năng tiếp cận linh hoạt, dễ chia sẻ của KTCS “gói gọn” ở khả năng cho phép hàng triệu người xa lạ trao đổi với nhau

1.3 Phân loại kinh tế chia sẻ:

Dựa trên đặc tính của nền tảng với các tiêu chí về người sở hữu tài sản, người quyết định giá và các điều kiện khác, Judith Wallenstein và Urvesh Shelat (2017)29

đã phân chia thành 03 mô hình KTCS chính sau đây:

1.3.1 Mô hình với nền tảng phi tập trung:

Tính “phi tập trung” thể hiện ở chỗ người sở hữu tài sản đưa ra các điều khoản

và cung cấp tài sản trực tiếp cho người dùng, còn đơn vị cung cấp nền tảng chỉ tạo ra môi trường kết nối và hỗ trợ giao dịch để đổi lại lấy phí hoa hồng Mô hình này có

ưu điểm là chi phí vốn bỏ ra thấp, nhưng nền tảng cần phải tuyển một số lượng nhà cung cấp đủ lớn để đảm bảo đủ nguồn cung đáp ứng nhu cầu cho người dùng

Ví dụ về mô hình kinh tế chia sẻ với nền tảng phi tập trung của Airbnb:

Mô hình Airbnb là mô hình chia sẻ nhà ở cho người đi du lịch, tận dụng nguồn tài nguyên đang lãng phí là các căn phòng không dùng đến, được ra đời từ năm 2008

ở San Francisco, Hoa Kỳ Thông qua nền tảng Airbnb, chủ sở hữu nhà cho thuê nhà của mình, còn người thuê nhà sẽ truy cập vào nền tảng để tìm căn nhà phù hợp Sau giao dịch, người thuê và người cho thuê có thể đánh giá lẫn nhau trên nền tảng Đặc biệt, những căn phòng hay chỗ ngủ không phải do một chuỗi khách sạn nào đó cung cấp mà thuộc sở hữu cá nhân nên giá thuê nhà do chủ nhà định ra trên nền tảng Airbnb luôn thấp hơn giá thuê phòng khách sạn Khoản phí đối với chủ nhà ở mức 3% tổng giá trị đặt phòng, còn phí thu khách đặt phòng ở mức 6% – 12% và mức phí này được hiển thị trong quá trình khách sử dụng dịch vụ Nền tảng Airbnb chỉ đóng vai trò là

“người kết nối”, chứ không can thiệp vào việc thuê và cho thuê giữa các bên

29 Judith Wallenstein và Urvesh Shelat (2017), “Hoping aboard the sharing economy”, Boston Consulting

Group, aboard-sharing-economy], truy cập ngày 15/4/2022

Trang 32

[https://www.bcg.com/publications/2017/strategy-accelerating-growth-consumer-products-hopping-Hình 1.5: Mô hình kinh doanh của Airbnb

(Nguồn: Business Model Toolbox; https://bmtoolbox.net/stories/airbnb/)

1.3.2 Mô hình với nền tảng tập trung:

Gọi là “tập trung” bởi vì bản thân nhà cung cấp nền tảng vừa sở hữu tài sản và vừa quyết định giá thành dịch vụ Theo đó, nền tảng tập trung phải kiểm soát nhiều hơn về chất lượng sản phẩm, dịch vụ cũng như tình trạng sẵn sàng và quy trình cung ứng dịch vụ phải “chuẩn hóa” hơn nền tảng phi tập trung Do đó, nền tảng sẽ thu tỷ

lệ giá trị giao dịch cao hơn nhưng chi phí bỏ ra và quy mô cũng cao hơn nhiều Nhược điểm của mô hình này là đòi hỏi nền tảng phải có số vốn ban đầu lớn và số lượng người sử dụng đủ cao để có thể duy trì

Tại Việt Nam, các ví dụ phổ biến cho mô hình này là các ứng dụng đặt xe được phát triển bởi các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ vận tải truyền thống, chẳng hạn như ứng dụng Taxi Mai Linh, Vinasun… hay các nền tảng cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng hóa như Giao hàng tiết kiệm, Viettelpost, Giao hàng nhanh…

Ví dụ về mô hình kinh tế chia sẻ với nền tảng tập trung của Zipcar:

Ra đời từ năm 2000 và nhanh chóng chuyển đổi số, nền tảng Zipcar của Hoa

Kỳ thực hiện dịch vụ đặt xe ô tô cho các thành viên của mình (Zipster), có thể thanh toán theo phút, giờ hoặc ngày Zipcar trực tiếp sở hữu các xe ô tô và quyết định mức phí cho các thành viên của mình Phí thành viên được trả hàng tháng hoặc hàng năm ngoài phí đặt xe Thành viên có thể đặt xe bằng ứng dụng di động của Zipcar trực tuyến bất kỳ lúc nào, ngay lập tức hoặc thậm chí là trước 01 năm Các Zipster có thể

tự động ra vào xe bằng thẻ có gắn chip điện tử (Zipcard) và sử dụng ứng dụng của Zipcar để xác định vị trí một chiếc Zipcar bằng cách bấm còi của nó

Trang 33

1.3.3 Mô hình với nền tảng hỗn hợp:

Đặc tính của nền tảng hỗn hợp là sự “lai hóa” giữa nền tảng tập trung và phi tập trung Trong đó, tính tập trung thể hiện ở quy trình cung cấp dịch vụ, mức dịch vụ cũng như mức giá, còn tính phi tập trung thể hiện ở quyền sở hữu tài sản và rủi ro có thể phát sinh Nói cách khác, chủ tài sản phải cung cấp dịch vụ với mức giá và tiêu chuẩn do nhà cung cấp nền tảng đưa ra Giống với mô hình phi tập trung, mô hình hỗn hợp có chi phí ban đầu thấp, nhưng đòi hỏi yêu cầu cao trong việc tuyển chọn nhà cung cấp Ngoài ra, nền tảng cũng phải quản lý cẩn thận mối quan hệ với nhà cung cấp bởi vì họ có ít quyền kiểm soát hơn so với mô hình tập trung

Hiện nay, có 02 đặc điểm nhận diện xu hướng phát triển của nền tảng hỗn hợp:

Một là, các nền tảng tiến hành chuẩn hóa các điều kiện tham gia vào quan hệ

KTCS của các chủ thể Điển hình như việc chuẩn hóa các quy định về độ tuổi, sức khỏe, bằng cấp chứng chỉ của đối tác hay đặt ra các quy chuẩn đối với tài sản chia sẻ

Hai là, các nền tảng tổ chức phân phối, cân bằng lượng giao dịch mà một chủ

thể được phép tiến hành trong một khoảng thời gian nhất định Xuất phát từ thực tiễn phạm vi kinh doanh rộng lớn của nền tảng, nếu không đặt ra các thuật toán trên nguyên tắc cân bằng cơ hội giữa các chủ thể tham gia chia sẻ, nền tảng dễ đánh mất

sự hài lòng của đối tác và khách hàng, ảnh hưởng đến doanh thu của chính họ30

Ví dụ về mô hình kinh tế chia sẻ với nền tảng hỗn hợp của Uber:

Nền tảng Uber tận dụng nguồn tài nguyên ô tô, xe gắn máy ít được đưa vào lưu thông và NLĐ không kiếm được việc làm, được ra đời từ năm 2009 tại San Francisco, Hoa Kỳ Để tham gia vào mô hình, chủ sở hữu xe thực hiện đăng ký trên nền tảng, làm bài kiểm tra khả năng lái xe Khách hàng muốn đặt xe thông qua Uber sẽ truy cập vào nền tảng, chọn địa điểm đi, đến và nhấn nút đặt xe Ứng dụng sau đó sẽ lựa chọn ngẫu nhiên một phương tiện gần với khách hàng nhất Khi đã kết nối, tài xế và người đặt xe liên lạc để thông báo điểm đón thông qua điện thoại thông minh Sau khi sử dụng dịch vụ, người lái xe và người sử dụng dịch vụ có thể đánh giá lẫn nhau trên nền tảng… Khung giá và quy trình phục vụ do Uber quy định và được thể hiện

rõ trên ứng dụng cho cả tài xế và hành khách, nhưng mức giá của Uber thường rẻ hơn các dịch vụ cung cấp bởi các công ty truyền thống

30 Dương Kim Thế Nguyên và Huỳnh Thiên Tứ (2021), “Kinh tế chia sẻ và dịch vụ kết nối: Nhu cầu điều chỉnh

về mặt pháp lý trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam số 04/2021,

Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, trang 64

Trang 34

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Sự chia sẻ tài nguyên giữa người với người đã diễn ra hàng ngàn năm qua từ những hình thức chia sẻ rất đơn giản như chia sẻ một ngọn lửa với hàng xóm hay một túp lều nghỉ tạm mỗi khi xa nhà Tuy nhiên, từ giữa thế kỷ XX, dưới sự bùng nổ của

kỷ nguyên Internet kết hợp với sự hỗ trợ từ công nghệ, NTD đã tận dụng các tài sản

cá nhân của mình để sử dụng có hiệu quả hơn Sau tác động từ Cuộc suy thoái toàn cầu năm 2008-2009, để thích ứng với tình trạng thắt chặt chi tiêu của NTD, sự chia

sẻ không còn gói gọn trong phạm vi hẹp, mà nó đã trở thành một xu hướng bắt nguồn

từ Hoa Kỳ lan rộng ra toàn thế giới Kết quả là, một loại hình kinh tế mới mang tính

toàn cầu đã ra đời – kinh tế chia sẻ

Đến nay, có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng theo cách hiểu phổ biến và đơn giản nhất, mô hình KTCS là một hệ thống kinh tế mà ở đó tài sản hoặc dịch vụ được chia sẻ dùng chung giữa các cá nhân, hoặc không phải trả tiền hoặc phải trả một khoản tiền, với tính chất điển hình là thông qua các công cụ Internet Đây là phương thức kết nối mới giữa người mua (người dùng) và người bán (người cung cấp) đối với một hoạt động kinh tế

KTCS vận hành theo quy trình ngang hàng giữa 03 bên là Người cung cấp – Nền tảng – Người sử dụng dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ số, với 03 trụ cột

chính là: (1) Nền tảng đa chiều; (2) Hiệu ứng mạng lưới; và (3) Lòng tin Một nền KTCS, với đầy đủ tính chất của nó, sẽ được hình thành khi hội đủ 04 yếu tố: (1) Sự gia tăng về tiêu thụ công nghệ kỹ thuật số; (2) Sự hình thành “thể chế công nghệ”; (3) Quá trình đô thị hóa và toàn cầu hóa lan rộng; và (4) Sự quan tâm của xã hội đến tài nguyên và môi trường được nâng cao

Khác với mô hình kinh tế truyền thống, mô hình KTCS có những đặc trưng riêng như hoạt động dựa trên nền tảng số, khoa học trực tuyến, vừa là mô hình kinh doanh thu lợi nhuận, vừa là mô hình hợp tác để tận dụng nguồn lực dư thừa với khả năng tiếp cận linh hoạt, dễ chia sẻ Hiện nay, không có một tiêu chuẩn chung để phân loại các mô hình KTCS, nhưng nếu dựa trên người sở hữu tài sản, người quyết định giá và các điều kiện khác liên quan thì có thể phân chia thành 03 loại mô hình KTCS: (1) Mô hình với nền tảng phi tập trung; (2) Mô hình với nền tảng tập trung; và (3) Mô hình với nền tảng hỗn hợp

Trang 35

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA

MÔ HÌNH KINH TẾ CHIA SẺ TẠI VIỆT NAM 2.1 Thực trạng phát triển mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam:

2.1.1 Các lĩnh vực phát triển kinh tế chia sẻ tại Việt Nam:

Ngay từ thời điểm mới xuất hiện tại Việt Nam, mô hình KTCS đã cho thấy tiềm năng phát triển rất lớn Theo khảo sát của công ty nghiên cứu thị trường Nielsen vào năm 2014, có đến 76% người Việt Nam được hỏi cho biết họ sẵn sàng tận dụng các sản phẩm và dịch vụ chia sẻ, sẵn sàng chia sẻ tài sản cá nhân và thích ý tưởng của mô hình KTCS, cao hơn mức bình quân ở toàn cầu là 66%31 Đến cuối năm 2021, dù mô hình KTCS tại Việt Nam chưa phát triển mạnh mẽ như tại châu Âu và Hoa Kỳ, nhưng trong số 15 khu vực dịch vụ phổ biến trên thế giới có mô hình KTCS thì trừ dịch vụ

đô thị, dịch vụ tiện ích, dịch vụ phân tích và đánh giá chất lượng thì đã xuất hiện mô hình KTCS trong 12 khu vực tại Việt Nam, bao gồm: (1) Dịch vụ hỗ trợ NLĐ tự do, (2) Dịch vụ học tập, (3) Dịch vụ thư giãn và làm đẹp, (4) Dịch vụ đồ tiêu dùng, (5) Dịch vụ logistics, (6) Dịch vụ tài chính, (7) Dịch vụ sức khỏe, (8) Dịch vụ thực phẩm, (9) Dịch vụ vận chuyển hành khách, (10) Dịch vụ tổng thể, (11) Dịch vụ chia sẻ phương tiện và (12) Dịch vụ chia sẻ không gian32

Trong đó, đa số các doanh nghiệp nền tảng (DNNT) thuộc mô hình KTCS tại Việt Nam chủ yếu tập trung trong 03 dịch vụ dưới đây:

Thứ nhất, dịch vụ vận chuyển hành khách

Mô hình KTCS trong dịch vụ vận chuyển hành khách trực tuyến (hay dịch vụ gọi xe trực tuyến) là cách thức yêu cầu một số loại hình dịch vụ vận tải thông qua nền tảng số trên thiết bị di động thông minh

Tại thời điểm năm 2014, Việt Nam là một trong số những quốc gia Đông Nam

Á đầu tiên thí điểm mô hình kinh doanh ứng dụng dịch vụ công nghệ kết nối vận tải thông qua sự hiện diện của một số ứng dụng kết nối như GrabTaxi (nay là Grab), LiveTaxi, TaxiChiềuVề, Uber, EasyTaxi Tuy nhiên, đến tháng 4/2018, ngay sau khi

31 Nielsen (2014), “Is sharing the new buying? Reputation and trust are emerging as new currencies”, Nielsen

N.V., trang 4

32 Xem “Phụ lục 1 – Thống kê các doanh nghiệp nền tảng tiêu biểu trong mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam”

Trang 36

Uber rút khỏi thị trường Đông Nam Á và đổi lấy 27,5% cổ phần của Grab33, Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của mô hình KTCS trong dịch vụ vận chuyển hành khách khi hàng loạt các ứng dụng gọi xe trực tuyến ra đời như Aber, GoViet (nay là GoJek), VATO của Phương Trang, Gonow của Viettel hay start-up đình đám FastGo thuộc tập đoàn NextTech đã tạo động lực mạnh mẽ cho các doanh nghiệp truyền thống thay đổi phương thức hoạt động kinh doanh từ thủ công sang ứng dụng công nghệ Điển hình là ngay cả hãng taxi truyền thống Mai Linh cũng phải

ra mắt ứng dụng gọi xe của riêng mình để cạnh tranh lại với các đối thủ mới34

Biểu đồ 2.1: Doanh thu của mảng gọi xe ôm và taxi trực tuyến tại Việt Nam

từ năm 2017 đến năm 2025 (đơn vị: triệu USD)

(Nguồn: Statista;

https://www.statista.com/forecasts/1242642/vietnam-revenue-ride-hailing-taxi)

Tính đến cuối năm 2021, sau 07 năm phát triển, thị trường gọi xe trực tuyến của Việt Nam đã có sự bùng nổ với hơn 20 nền tảng khác nhau đã ra đời Đến nay, thị trường có khoảng 67.000 xe taxi, 90.000 xe hợp đồng đã đăng ký kinh doanh (ĐKKD)

33 Hà Thu (2018), “Bán cho Grab, Uber chính thức rút khỏi thị trường Đông Nam Á”, Báo VnExpress,

[https://vnexpress.net/ban-cho-grab-uber-chinh-thuc-rut-khoi-dong-nam-a-3727755.html], truy cập ngày 16/4/2022

34 Đình Mười (2017), “Mai Linh ra mắt xe ôm công nghệ cạnh tranh Grab, Uber,

[https://thanhnien.vn/mai-linh-ra-mat-xe-om-cong-nghe-canh-tranh-grab-uber-post712165.html], truy cập ngày 17/4/2022

Trang 37

với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt khoảng 30%-35% mỗi năm trong giai đoạn từ năm 2015 đến nay Trong giai đoạn năm 2020 – 2021, dưới ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, có những thời điểm hoạt động cung cấp dịch vụ gọi xe trực tuyến bị gián đoạn do giãn cách xã hội, nhưng các nền tảng gọi xe trực tuyến vẫn tăng cường mở rộng, bổ sung các dịch vụ khác như giao hàng, đi chợ hộ, giao đồ ăn… khiến quy mô thị trường ngày càng được mở rộng Thực tế, theo số liệu của Statista, đến cuối năm

2020, thị trường gọi xe trực tuyến tại Việt Nam chỉ còn là sân chơi của Grab, GoJek

và Be với tổng thị phần gần 99%, cho thấy mức độ tập trung thị trường khá cao35 Sau khi doanh thu của thị trường gọi xe trực tuyến ở Việt Nam giảm gần 1 tỷ USD từ năm 2019 đến năm 2020 do tác động của đại dịch Covid-19, doanh thu năm 2021 lại tăng lên với hơn 3,1 tỷ USD, giúp thị trường gọi xe gần như đạt đến giá trị trước đại dịch Statista Mobility Market Outlook ước tính rằng sự tăng trưởng này sẽ tiếp tục

và doanh thu của thị trường sẽ đạt trên 4,5 tỷ USD vào năm 2025

Biểu đồ 2.2: Các nền tảng gọi xe ôm trực tuyến được sử dụng phổ biến tại Việt Nam tính đến tháng 5/2021

(Nguồn: Statista;

https://www.statista.com/statistics/1242444/vietnam-leading-bike-hailing-platforms-by-usage/)

35 Vũ Khuê (2021), “Cuộc đua tranh thị trường gọi xe công nghệ sẽ khốc liệt hơn”, Thời báo Kinh tế Việt

Nam, [https://vneconomy.vn/cuoc-dua-tranh-thi-truong-goi-xe-cong-nghe-se-khoc-liet-hon.htm], truy cập ngày 18/4/2022

Trang 38

Theo Báo cáo nghiên cứu về nền kinh tế số Đông Nam Á năm 2021 của Google, Temasek và Bain&Co đã nhận định quy mô thị trường gọi xe và giao đồ ăn trực tuyến tại Việt Nam36 đạt doanh thu 2,4 tỷ USD vào năm 2021 và dự báo đạt 5,7 tỷ USD vào năm 2025 với tốc độ tăng trưởng 24%, chỉ xếp sau thị trường TMĐT với tốc độ tăng trưởng 32%37 Trong đó, đáng chú ý là ngoài việc sử dụng phương tiện, tài sản nhàn rỗi để đưa vào kinh doanh, có một tỷ lệ đáng kể các phương tiện, tài sản được đầu tư mới cho mục đích kinh doanh theo mô hình KTCS

Biểu đồ 2.3: Tổng khối lượng hàng hóa (GMV) của ngành thương mại điện tử

so sánh với dịch vụ vận tải và giao thực phẩm trực tuyến

từ năm 2019 đến năm 2025 (đơn vị: tỷ USD)

(Nguồn: e-Conomy SEA 2021 Report – Roaring 20s:

The SEA Digital Decade in Vietnam)

Với những số liệu trên, có thể khẳng định lĩnh vực vận chuyển hành khách trực tuyến là mảng phát triển mạnh nhất trong số các lĩnh vực phát triển mô hình KTCS tại Việt Nam và là một thị trường mang tính tập trung cao

Thứ hai, dịch vụ chia sẻ không gian phòng ở

Khác với homestay là sống, sinh hoạt và cùng tham gia hoạt động với người dân địa phương mà không thông qua trung gian kết nối, mô hình KTCS trong dịch vụ chia

sẻ không gian phòng ở giúp kết nối người đặt phòng và người có phòng trống hoặc biệt thự, căn hộ cho thuê với nhau thông qua ứng dụng đặt phòng trực tuyến

36 Do cả 03 nền tảng dẫn dầu thị trường vận chuyển hành khách trực tuyến tại Việt Nam là Grab, GoJek và Be đều phát triển song song dịch vụ gọi xe và giao đồ ăn trực tuyến nên số liệu thống kê được tính chung cả dịch

vụ vận chuyển hành khách trực tuyến và dịch vụ thực phẩm

37 Google, Temasek và Bain & Company (2021), “e-Conomy SEA 2021 Report – Roaring 20s: The SEA Digital Decade in Vietnam”, [https://economysea.withgoogle.com/], trang 16, truy cập ngày 20/4/2022

Trang 39

Tại Việt Nam, mô hình KTCS trong dịch vụ chia sẻ không gian phòng ở đã hình thành và phát triển khá mạnh trong những năm gần đây, đặc biệt là tại các thành phố lớn và các địa bàn du lịch Đã xuất hiện nhiều cá nhân, nhất là tại các thành phố lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh mua nhiều căn hộ rồi sau đó thay vì cho thuê dài hạn đã chuyển sang cho thuê lại dưới hình thức ngắn hạn để có thể tạo thêm 20%-50% doanh thu mỗi tháng so với các hợp đồng cho thuê dài hạn Chủ kinh doanh căn

hộ cho thuê nhờ đó tận dụng được cơ hội nguồn cung căn hộ dồi dào tại các thành phố, đáp ứng nhu cầu phân khúc thị trường cho thuê ngắn hạn, rút ngắn thời gian trả

nợ ngân hàng, quay vòng vốn nhanh để mở rộng kinh doanh thông qua mua và đưa thêm căn hộ mới vào kinh doanh Các sản phẩm cho thuê theo mô hình KTCS trong lĩnh vực lưu trú của Việt Nam khá đa dạng, bao gồm: cho thuê toàn bộ ngôi nhà, cho thuê một số phòng riêng và phòng ghép Hiện nay, hai nền tảng là Airbnb và Luxstay đang chiếm thị phần lớn tại Việt Nam, bên cạnh các nền tảng thuê phòng khách sạn phổ biến khác như Traveloka, Agoda hay Booking.com…

Mô hình Airbnb: Theo báo cáo “Homesharing Vietnam Insights” của Outbox

Consulting, tiếp cận thị trường Việt Nam từ năm 2015 chỉ với 1.000 phòng và tập trung chủ yếu ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, nhưng tính đến đầu năm 2019, số lượng phòng của Airbnb tại Việt Nam đã lên đến 40.804 cơ sở và địa bàn đã mở rộng ra nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước, nhất là các địa bàn du lịch Trong đó, tốc độ tăng trưởng số phòng đăng ký cho thuê tăng mạnh hàng năm, nhất là tại các thành phố lớn như Hà Nội với 112%, Đà Nẵng với 111% và TP Hồ Chí Minh với 97% Đặc biệt,

tỷ lệ đặt phòng tăng vượt trội tại Hà Nội và Đà Nẵng đều lên tới trên dưới 220% Hiện nay, Airbnb khá phổ biến, tập trung chủ yếu ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh cũng như các thành phố du lịch lớn như Đà Lạt, Sapa, Hội An, Đà Nẵng… và được dự báo tiếp tục nhân rộng Cũng theo Outbox Consulting, trong tổng số 18.230 chủ nhà cho thuê trên Airbnb, có tới 69% chủ nhà có nhiều phòng/căn hộ cho thuê, chỉ có 31% số chủ nhà có một phòng cho thuê Hiện tượng đăng ký nhiều phòng/căn hộ cho thuê trên Airbnb trở nên phổ biến cho thấy mô hình KTCS trong lĩnh vực lưu trú không còn đơn thuần là nguồn tăng thu nhập cho những cá nhân có nhà hoặc phòng ở nhàn rỗi,

mà đã trở thành sản phẩm kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận38

38 Outbox Consulting (2019), “Homesharing Vietnam Insights Report”,

[https://www.scribd.com/document/446724576/HOMESHARING-VIETNAM-INSIGHTS-REPORT-OUTBOX-pdf], trang 5-15, truy cập ngày 22/4/2022

Trang 40

Hình 2.1: Số lượng phòng cho thuê (listings) trên nền tảng Airbnb tại Việt Nam

từ năm 2015 đến năm 2018

(Nguồn: Outbox Consulting, “Homesharing Vietnam Insights Report”, trang 9)

Mô hình Luxstay: Là một start-up của Việt Nam và ra đời muộn hơn vào năm

2016, nền tảng chia sẻ nhà ở Luxstay được xem là nền tảng số 1 tại Việt Nam hoạt động theo mô hình chia sẻ căn hộ và tại thời điểm tháng 6/2020, Luxstay đã sở hữu hơn 15.000 chỗ nghỉ tập trung chủ yếu tại các thành phố lớn và các địa điểm du lịch39 Tuy nhiên, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động của các cơ sở lưu trú theo mô hình KTCS, những kỳ vọng về thành công của Luxstay cũng như khả năng cạnh tranh với Airbnb trong tương lai vẫn còn là một dấu hỏi lớn.Tại Việt Nam, tính đến cuối năm 2019, quy mô của thị trường home-sharing mang đến doanh thu 174 triệu USD, chiếm chưa đến 2% chi tiêu của thị trường lưu trú tại Việt Nam với khoảng gần 8 tỷ USD Đối chiếu với các quốc gia phát triển, thị

39 Trần Minh Phương (2020), “Kinh tế chia sẻ và những tác động đến du lịch tại Việt Nam”, Tạp chí Công

thương trực tuyến, viet-nam-72340.htm], truy cập ngày 24/4/2022

Ngày đăng: 05/01/2023, 16:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
21. Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện
Năm: 2016
22. Nghị định số 168/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 168/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch
Nhà XB: Chính phủ
Năm: 2017
23. Nghị định số 10/2020/NĐ-CP ngày 17/01/2020 của Chính phủ quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 10/2020/NĐ-CP ngày 17/01/2020 của Chính phủ quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô
Năm: 2020
32. Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Năm: 2019
20. Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 27/2018/NĐ-CP ngày 01/3/2018 của Chính phủ Khác
24. Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh Khác
25. Quyết định số 24/QĐ-BGTVT ngày 07/01/2016 của Bộ Giao thông vận tải về việc ban hành kế hoạch thí điểm triển khai ứng dụng khoa học công nghệ hỗ trợ quản lý và kết nối hoạt động vận tải hành khách theo hợp đồng Khác
26. Quyết định số 999/QĐ-TTg ngày 12/8/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ Khác
27. Quyết định số 1157/QĐ-TTg ngày 12/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển các hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng giai đoạn 2021-2025 Khác
28. Công văn số 848/BTC-TCT ngày 18/01/2017 của Bộ Tài chính về chính sách thuế và quản lý thuế liên quan đến hoạt động kinh doanh của dịch vụ đặt phòng trực tuyến Khác
30. Công văn số 5228/NHNN-CSTT ngày 08/7/2019 của Ngân hàng Nhà nước về hoạt động cho vay ngang hàng Khác
31. Công văn số 4795/NHNN-TT ngày 02/7/2020 của Ngân hàng Nhà nước về việc báo cáo đánh giá tác động của một số loại hình kinh tế chia sẻ trong lĩnh vực ngân hàng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w