Theo điều tra của nhiều tác giả trên thế giới cũng như trong nước cho thấy người mắc bệnh răng miệng chiếm tỷ lệ rất cao, như sâu răng,viêm lợi, viêm quanh răng, mất răng…, nhất là sâu r
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh răng miệng là bệnh phổ biến ở mọi lứa tuổi Theo điều tra của nhiều tác giả trên thế giới cũng như trong nước cho thấy người mắc bệnh răng miệng chiếm tỷ lệ rất cao, như sâu răng,viêm lợi, viêm quanh răng, mất răng…, nhất
là sâu răng và nha chu viêm, đặc biệt tỷ lệ này tăng dần theo tuổi Như theo điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc năm 2000, tỷ lệ sâu răng ở lứa tuổi 12
là 55,9%, tuổi 15 là 60,3%, 35 đến 44 là 79%, trên 45tuổi là 89,7% Theo điềutra của tổ chức NIDR(1985-1986) ở Mỹ cho thấy số người mất răng toàn bộ tăng dần theo độ tuổi, 7,2% ở lứa tuổi 45-55 và 34,6% ở lứa tuổi65-74 Nếu sâu răng là nguyên nhân gây mất răng ở người trẻ thì nha chu viêm là nguyên nhân chủ yếu gây mất răng ở người cao tuổi Do đó làm ảnh hưởng đến sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của người bệnh Theo tổ chức y tế thế giới, người cao tuổi được xác định là những người 60 tuổi trở lên Ngày nay
do điều kiện sống tốt hơn và có nhiều tiến bộ về y học nên tuổi thọ con người ngày càng cao, do đó tỷ lệ người cao tuổi cũng ngày càng cao Theo ước tính của tổ chức y tế thế giới, hiện tại trên thế giới có khoảng 700 triệu ngườicao tuổi và sẽ tăng lên con số 1 tỷ vào năm 2020 Ở VN hiện nay có khoảng trên 8triệu người cao tuổi, chiếm ~9% dân số và cũng đang có xu hướng gia tăng
Do đó việc CSSK cho người cao tuổi đối với ngành y tế nói chung, và
CSSKRM cho người cao tuổi của ngành RHM nói riêng là một nhiệm vụ rất quan trọng Mặc dù có nhiều nỗ lực trong phòng chống và nâng cao sức khỏe răng miệng, bệnh răng miệng hiện vẫn có xu hướng gia tăng ở mọi lứa tuổi trong đó có người cao tuổi Các tổn thương sâu răng, viêm lợi, VQR khi không được điều trị kịp thời, nó không những ảnh hưởng đến chức năng ăn nhai, thẩm mỹ, mà còn có thể gây nhiều biến chứng nặng nề tại chỗ hay toàn thân, thậm chí còn ảnh hưởng đến tính mạng đặc biệt ở người cao tuổi, khi mà
sự lão hoá làm suy giảm khả năng phục hồi, do đó dễ mắc bệnh và mắc nhiều loại bệnh cùng lúc Bệnh QR là nguyên nhân chính gây mất răng ở người cao tuổi bệnh không phải do cảm nhiễm (Susceptibility), mà do quá trình tích luỹ bệnh tật theo thời gian sống của họ và lien quan đến vệ sinh, CSRM cá nhân cũng như mức sống và mức độ hiểu biết (dân trí) Mà người cao tuổi, nhất là
ở vùng nông thôn hay miền núi, thường ít quan tâm tới việc CSSKRM VD như nghiên cứu của Phạm Văn Việt tại Hà Nội cho kết quả 90% người cao tuổi trong diện nghiên cứu không hiểu biết hay chỉ hiểu biết một phần về vai trò, chức năng răng miệng, cũng như về bệnh SR, bệnh QR, và theo kết quả điều tra SKRM toàn quốc năm 2000 trên 999 người 45 tuổi trở lên thì có tới 55% chưa đi khám răng miệng lần nào Trên thế giới, từ những năm 70 của thế kỷ trước đã có nhiều nghiên cứu và đưa vấn đề RM người cao tuổi trở thành chuyên ngành riêng Ở VN ngày nay, chuyên ngành Lão Khoa có rất
Trang 2nhiều nghiên cứu về CSSK người cao tuổi, nhưng nghiên cứu chuyên sâu về
RM người cao tuổi còn ít, do đó việc CSSKRM người cao tuổi, đặc biệt ngườicao tuổi ở nông thôn lại càng hạn chế.Việc nghiên cứu, đánh giá tình trạng cácbệnh RM, đặc biệt là bệnh QR và nhu cầu điều trị chưa có hệ thống, vấn đề đàotạo cán bộ đến tổ chức mạng lưới dịch vụ, đặc biệt đối với người cao tuổi ở nông thôn cũng từ đó chưa được quan tâm triển khai thoả đáng Xuất phát
từ những vấn đề đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu thực trạng bệnh QR và nhu cầu điều trị của người cao tuổi ở một vùng nông thôn quận Hoàng Mai- Hà Nội” nhằm các mục tiêu sau đây: *Mô tả thực trạng bệnh
QR ở người cao tuổi(trên 60 tuổi) tại một vùng nông thôn thuộc quận Hoàng Mai-Hà Nội năm 2009 *Phân tích kiến thức thái độ ,thực hành của người cao tuổi ở nông thôn Hà Nội về CSSKRM NĂM 2009 *Xác định nhu cầu điều trị bệnh QR của người cao tuổi ở một vùng nông thôn Hà-Nội năm 2009 Trên cơ
sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao SKRM của người cao tuổi ở nông thôn, góp phần đảm bảo chất lượng cuộc sống cho họ
TỔNG QUAN
Chức năng nuốt
Chức năng nuối liên quan nhiều tới hoạt động của lưỡi Lưỡi giảm sự khéo léo làm cho việc đưa thức ăn chuyển động giảm hơn nữa việc nuốt cũng bị ảnh hưởng do những thoái triển về vận động cơ và thần kinh
*Tại hội nghị Quốc tế về người già ở Viên (Áo – 1982) đã quy định đó là những người từ 60 tuổi trở lên Khái niệm “Người cao tuổi” hiện nay đang được dùng phổ biến ở nước ta nó mang nhiều ý nghĩa tích cực, động viên so với khái niệm “Người già” Tuy nhiên, về mặt khoa học thì như nhau
*Vùng QR lập thành một bộ phận hình thái và chức năng, cùng với răng tạo nên một cơ quan chức năng trong cơ thể, nó bao gồm toàn bộ tổ chức bao bọcquanh răng : lợi, dây chằng QR, xương răng và xương ổ răng
Vùng QR và răng là một thành phần của bộ máy nhai, phát âm và vai trò thẩm
mỹ Khi tổ chức QR bị viêm (gọi là viêm nha chu), bao gồm quá trình tổn thương viêm và tổn thương thoái hoá Viêm nha chu tuỳ theo mức độ mà chia
ra hai bệnh là viêm lợi và viêm QR Khi nha chu viêm giai đoạn nặng, tổ chức
QR bị phá huỷ, sự liên kết chức năng giữa răng và tổ chức QR cũng bị phá huỷ, làm răng lung lay, ảnh hưởng tới ăn nhai, cuối cùng là mất răng Nha chuviêm làm bệnh nhân khó chịu như: hôi miệng, chảy máu lợi khi đánh răng hoặc chảy máu lợi tự nhiên, răng lung lay và mất răng ảnh hưởng đến ăn nhai,phát âm, thẩm mỹ và do đó ảnh hưởng tới sức khoẻ, chất lượng cuộc sống, đặc biệt khi đó là người cao tuổi có sức đề kháng kém
I GIẢI PHẪU- SINH LÝ HỌC VÙNG QUANH RĂNG
1 Lợi : Gồm có lợi tự do và lợi dính Giữa lợi tự do và răng là một rãnh nông gọi là rãnh lợi sinh lý, đáy tạo bởi biểu mô bám dính, là
Trang 3nơi lợi bám dính vào răng, bình thường rãnh sâu 0,5-2mm.
* Lợi tự do : Gồm nhú lợi và đường viền lợi
Nhú lợi là phần lợi che kín các kẽ răng Có một nhú phía ngoài, một nhú phía trong, giữa hai nhú là một vùng lõm
Đường viền lợi ôm sát cổ răng, cao 0,5mm, mặt trong đường viền lợi là
và đường viền lợi phụ thuộc hình thể của chân răng và xương ổ răng, nó còn phụ thuộc vào sự liên quan giữa các răng và vị trí của răng trên xương hàm
*Lợi dính : là phần lợi bám dính vào chân răng và xương ổ răng Bề rộng của lợi dính có ý nghĩa quan trọngđối với việc giữ cho vùng quanh răng bình thường
-Tổ chức lợi : bao gồm biểu mô và tổ chức đệm
Phủ bề mặt lợi dính và mặt ngoài viền lợi là lớp biểu bì sừng hoá Từ sâu ra nông gồm 4 lớp tế bào : TB đáy, TB gai, TB hạt và TB sừng hoá
Phủ mặt trongrãnh lợi là biểu mô không sừng hoá, liên tiếp với phía trên bởi biểu mô sừng hoá của lợi tự do và phía dưới bởi biểu mô bám dính Biểu mô bám dính là biểu mô ở đáy rãnh lợi bám dính vào răng Lớp biểu mô này không sừng hoá, không có các lồi ăn sâu vào tổ chức đệm ở dưới, và bám vào men răng, xươngrăng bởi các bán Desmosom Tổ chức đệm : là tổ chức liên kết nhiều sợi keo ít sợi chun Những sợi keo xếp thành những bó sợi lớn tạo nên hệ thống sợi của lợi, trong đó đáng chú ý là các nhóm sợi răng- lợi, xương ổ răng- lợi
mô, cấu trúc chính là những sợi keo, tạo nên những dây chằng, được sắp xếp tuỳ theo chức năng ở răng và vùng QR Nó Gĩư răng trong ổ răng và đảm bảo
sự liên quan sinh lý giữa răng và ổ răng nhờ những TB liên kết đặc biệt trong
tổ chức dây chằng.Bề rộng của khoảng QR~ 0,15- 0,21mm Tuỳ theo sự sắp xếp và hướng đi của các bó sợi mà người ta phân ra thành các nhóm sau:
- Nhóm cổ răng (hay nhóm mào cổ răng) : Gồm những bó sợi đi từ mào xương ổ răng đến xương răng gần cổ răng
- Nhóm ngang : Gồm những sợi đi từ xương răng ở chân răng thẳng
chéo : Gồm những bó sợi đi từ xương ổ răng chếch xuống dưới phía chân răng, bám vào xương răng Nhóm này chiếm số lượng nhiều nhất trong dây
Trang 4còn có các bó sợi đi từ kẽ giữa 2 hay 3 chân răng đến bám vào vách xương ổ răng Giữa các bó sợi trên là tổ chức liên kết lỏng lẻo, trong đó người ta thấy
có TB tạo xương răng, TBxơ non, TB xơ già, TB liên kết dạng bào thai,
những đám biểu bì Mallassez Ngoài ra còn có mạng lưới rất giàu các mạch máu, bạch mạch, thần kinh Theo Weski, những lưới này có tác dụng như một cái hãm nước Trong tổ chức liên kết của dây chằng thường thấy có 3 thành phần là: TBchất tựa, sợi, chất nền Dây chằng QRcấu tạo bởinhững sợi Collagen, những sợi đó lồng vào trong xương răng, chùm lên chân răng giải phẫu và từ đó chạy vào lá đáy của túi lợi, màng xương phủ huyệt răng và xương ổ răng, xương răng của răng bên cạnh, quan trọng nhất là trực tiếp vào trong xương ổ răng riêng biệt
3 Xương răng : Được hình thành trong quá trình hình thành chân răng
Là một dạng đặc biệt của xương, trong đó thành phần vô cơ và hữu cơ chiếm
tỷ lệ ngang nhau Xương răng bao phủ chân răng và đi qua phần men răng, phủ trên bề mặtmen ở cổ răng bề dày của xương răng thay đổi theo tuổi, tuỳ vùng và chức năng, dầy nhất là vùng cuống răng, mỏng nhất là vùng cổ răng
Zander nghiên cứu và đo bề dày xương răng giữa các vùng khác nhau của chân răng, giữa người già và người trẻ cho thấy : sự đắp dày thêm của xương răng xảy ra từ từ và đều đặn theo tuổi Ngoài ra còn do cavs yếu tố khac như: kích thích của quá trình viêm, hoá chấtvùng cuống răng và do chuyển hoá
Về cấu trúc , xương răng gồm 2 loại : Xương răng không có TB và xương răng có TB Xương răng không có TB là lớp đầu tiênđược taọ ra trong quá trình tạo ngà ở chân răng, phủ lên chân răng bởi xương răng thứ phát (hayxương răng có TB).Qúa trình tạo xương răng có TB nhanh, những TB tạo xương răng non bám chắc và giữ lại tới lúc phát sinh lớp xương răng mới vàTB xương răng được trưởng thành Sự bồi đăps xương răng liên tục, suốt đời, ở cuống răng thì nhanh hơn ở cổ răng, những lớp được bồi đắp tạo điều kiện cho sự bám chắc của những dây chằng mớigiữ cho bề rộng vùng QR, xương răng không bị tiêu sinh lý và thay đổi cấu trúc như xương
Về mặt chức phận, xương răng tham gia vào sự hìnhthành hệ thống cơ học nối liền răng với xương răng, cùng với xương ổ răng giữ bề rộnh cần thiết cho vùng QR, bảo vệ ngà răng và tham gia sửa chữa ở một số trường hợp tổn thương ngà chân răng
phần lõm của xương hàm để giữ chân răng, là một bộ phận của xương hàm, gồm lá xương thàng trong huyệt ổ răng và tổ chức xương chống đỡ xung quanh huyệt ổ răng phần xương ổ răng ở mặt bên, kẽ giữa hai răng nhô lên gọi là mào xương ổ răng Hoạt động chuyển hoá của xương ổ răng rất mạnh Qúa trình tạo xương liên tục, nếu xương khoẻ, chiều cao của mào xương ổ
Trang 5răng phát triển liên tục phù hợp với sự mòn sinh lý của răng, tức là khớp cắn không bị giảm, kể cả ở lứa tuổi cao Can xi xương ở trong xương, giữa các sợi
là những tinh thể apatit, ngoài việc đảm bảo độ cứng của xương nó còn là nguồn dự trữ mức canxi trong máu Thành phần hữu cơ của xương là chất keo
và những TB như tạo cốt bào, TB xương đa nhân Xương ổ răng cũng có quá trình tiêu và phục hồi luôn cân bằng thì xương luôn chắc và đảm bảo chức năng Nếu mất thăng bằng, quá trình tiêu xương lớn hơn phục hồi thì dẫn đến tiêu xương( gặp ở quá trình bệnh lý QR, sang chấn khớp cắn…)
dây chằng QR và xương ổ răng thường có một mạch máu nuôi dưỡng Mỗi răng và khe QRđược nuôi dưỡng bởi một động mạch nhỏ là một nhánh của động mạch chính trong xương tới lỗ cuống răng, trước khi vào lỗ cuống răng
nó tách ra các nhánh vào trong xương ổ răng, một nhánh vào khe QR nuôi cácdây chằng QR Nhánh chính đi vào tuỷ răng qua lỗ cuống răng, động mạch tuỷ răng không có nhánh nối với bên ngoài Còn trong xương ổ răng thì có nhiều mạng nối chằng chịt với nhau, ở vùng dây chằng QR cũng vậy,có
những nhánh xuyên qua bản xương thành trong huyệt răng nối với mạng lưới tuần hoàn trong khe QR Tĩnh mạch đi song song với động mạch và đặc biệt là mạng lưới nối tĩnh mạch ở vùng QR tập trung quanh lỗ cuống răng
6 Thần kinh
cảm chạy song song với mạch máu, điều hoà máu chảy trong các mao mạch
- Các sợi cảm giác hầu hết là các nhánh có Myelin của nhánh II hoặc nhánh III của dây thần kinh tam thoa Vùng dây chằng QR giàu mạng lưới mạch máu và cũng giàu các sợi cảm giác Người ta tìm thấy có hai loại thần kinh tận cùng :là có vỏ bọc và không có vỏ bọc ở đầu tận cùng Nhánh tận đầu tự do đáp ứng với cảm giác đau, trong khi
đó đầu có vỏ bọc đáp ứng với thay đổi áp lực ; ở những đầu có vỏ bọc cấu trúc phức tạp hơn nhiều so với ở da và niêm mạc miệng, hơn nữa phần lớn nó đáp ứng với khả năng nhạy cảm của dây chằng quanh răng
1.1 Một số đặc điểm sinh lý, bệnh lý ở người cao tuổi.
1.1.1 Biến đổi sinh lý chung [11],[10],[18]
Lão hóa đưa đến những thoái triển biến đổi dần và không phục hồi về hình thái và chức năng ở các cơ quan, khả năng thích nghi với những biến đổi của môi trường xung quanh ngày càng bị rối loạn
Lão hóa bắt đầu từ da: Da cứng và răn reo, tăng lớp mỡ dưới da ở bụng, ngực,đùi, mông
Tóc chuyển bạc, trước ít và chậm sau nhiều và nhanh hơn
Mắt điều tiết kém đi gây lão hóa và thị lực giảm Thính lực kém đi
Trang 6Hoạt động chức năng các cơ quan, phủ tạng giảm dần, bài tiết dịch vị kém ăn uống kém ngon và chậm tiêu, hoạt động chức năng gan, thận cũng giảm dần,
hệ thống nội tiết yếu đi
Sự thích ứng với những thay đổi ngoại cảnh kém dần như thời tiết nóng, lạnh.Chức năng hô hấp giảm, chức năng tim mạch kém thích ứng với lao động nặng
Giảm khả năng làm việc trí óc, nhanh mệt, tư duy nghèo dần, liên tưởng kém, trí nhớ giảm hay quên, kém nhạy bén, chậm chạp
Thời gian phục hồi vết thương kéo dài, xương dễ gãy do chứng loãng xương Khả năng đáp ứng của cơ thể trước các kháng nguyên ngoại lai, vi khuẩn giảm dễ dẫn đến nhiễm trùng và nổi lên là hiện tượng tự miễn [17]
Tất cả những lão hóa đó là nguyên nhân làm cho sức khỏe người cao tuổi giảm sút và hay mắc các bệnh mãn tính và cấp tính
1.1.2 Biến đổi sinh lý ở vùng răng miệng [11],[9],[20],[22],[25].
1.1.2.1 Biến đổi trên răng và quanh mô răng
Biến đổi ở tổ chức cứng men và ngà răng
Về khối lượng:
Mòn mặt nhai: Tùy theo cá nhân, nhưng tăng lên theo tuổi, thường là mòn
không đều tùy theo khớp cắn của từng người Mòn có thể làm mất hết lớp men để lộ ra lớp ngà mà nó nhanh chóng đổi thành màu nâu Mức độ và tốc
độ mòn phụ thuộc vào độ cứng của men ngà, tính chất của thức ăn, yếu tố nghề nghiệp và thói quen nghiến răng Do mòn, nhiều khi mặt nhai trở thành
bằng phẳng làm cho khớp cắn mất ổn định và hiệu quả nhai kém Mòn mặt bên làm cho điểm tiếp xúc giữa các răng trở thành diện tiếp xúc kèm theo
sựdi lệch của răng Mòn mặt bên sẽ làm giảm chiều dài trước sau của cung răng, tạo ra sự chênh lệch trước sau ở vùng răng hàm và khớp cắn đầu chặn đầu ở phía trước
Trang 7sâu răng, khi chữa răng cảm giác ê buốt có thể ít hơn Mặt khác, lại giảm khả năng tự bảo vệ tủy, do ngà khoáng hóa cao về mặt cơ học nên dễ gãy hơn và thường răng bị gãy, vỡ khi có miếng trám to
Biến đổi ở tủy răng
Do sự hình thành của ngà thứ phá sinh lý theo tuổi và ngà thứ phát bệnh lý (vìsâu răng, mòn răng, tiêu cổ răng ) dẫn tới buồng tủy hẹp dần lại Biểu hiện từ mất sừng buồng tủy đến trần buồng tủy thấp xuống (đôi khi sát hoặc chạm vào sàn buồng tủy) trên phim X-quang ở người trên 50 tuổi thường thấy buồng tủy, ống tủy chân rất hẹp, nhỏ Ống tủy cáh cuống răng 4-5mm thường không nhìn thấy và khi điều trị rất khó đi qua
Mật độ tế bào đệm giảm đi, trong khi đó có hiện tượng tăng sợi làm gia tăng thể tích các bó Collagen Ngà răng tiếp tục được bồi đắp và làm hẹp dần thể tích các buồng tủy, các tạo ngà bào không còn nguyên vẹn, giảm kích thước
và số lượng, thậm chí có thể mất hẳn ở trên chỗ chia đôi hoặc chia ba của răng nhiều chân Các tế bào thần kinh và mạch máu cũng có những biến đổi tương tự
Biến đổi ở xương răng
Nhiều nghiên cứu đã xác định các biến đổi ở xương răng bao gồm: Độ dày của lớp xương răng tăng lên theo tuổi Các răng có sự di chuyển về phía gần biểu hiện ở độ dày rõ hơn ở cạnh xa chân răng Xương răng bị phì đại do ảnh hưởng của những hoạt động chức năng Xương ở cuống răng và vùng khe giữa các chân răng của răng nhiều chân do được bồi đắp đã làm bít tắc dàn các lỗ chóp chân răng dẫn đến giảm tuần hoàn đi vào nuôi dưỡng tủy Nếu quá trình bồi đắp này quá mức sẽ làm cho chân răng phình ra có hình như dùi trống, gây khó khăn khi phải nhổ
Biến đổi ở lợi
Tác động lão hóa lên mô liên kết lợi được đặc trưng bởi những biến đổi thoái triển ỏ mạch máu và thần kinh Mạch máu ở lợi giảm về số lượng và khả năngthẩm thấu cũng như lắng đọng Hyalin trong các tiểu động mạch Lợi mất dần tính đàn hồi, có vẻ hơi phù nề và bóng láng, lợi bị co va teo lại gây hở chân răng có khi tới 2/3 chiều dài của chân răng Hiện tượng này cần được đánh giákhông phải chỉ do nhiều tuổi đơn thuần mà còn phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân như: vệ sinh răng miệng không tốt, răng mọc lệch, lợi bị chấn thương kéo dài…
Biến đổi ở dây chằng quanh răng
Có những thay đổi về mạch máu như ở lợi.Vì vậy, vai trò làm đêm của mô quanh răng giảm, mật độ tế bào (nguyên bào sợi, tạo cốt bào, hủy cốt bào) và tăng sợi keo, những nguyên bào xơ, thành phần tế bào chính của mô dây chằng quanh răng có xu hướng hòa vào nhau để sinh ra những tế bào đa nhân
Tỉ lệ đổi mới của mô liên kết chậm lại dẫn tới khả năng liền sẹo kém Dây
Trang 8chằng có thể thoái triển coi như mất xơ, xương ổ răng lan vào xương chân răng làm cho chân răng người già gần như dính vào xương
Biến đổi ở xương ổ răng
Xương ổ răng cũng như xương hàm có hiện tượng mạch máu ít đi, chuyển hóa cơ bản thấp, gần như không có sự bồi đắp xương mới, tế bào xương giảm
về số lượng và hoạt động Ở mặt ngoài răng cửa và răng hàm nhỏ hàm dưới xương ổ răng xốp hơn so với phần xương ổ răng ở mặt lưỡi, trong khi đó ở răng hàm lớn thì ngược lại Lớp xương ở chân răng khi bị hở nếu bị mòn hoặcmất đi sẽ làm hở lớp ngà ở phía dưới gây ra cảm giác ê buốt, thậm chí có thể gây tổn thương tủy Lợi co ở khoảng giữa 2 răng sẽ tạo ra khoảng trống dễ gây ứ đọng mảng bám răng, thức ăn và vi khuẩn dẫn đến viêm kẽ và sâu răng
ở mặt bên
1.2.1.2 Ảnh hưởng trên niêm mạc miệng
Biểu mô niêm mạc miệng
Biểu mô phủ và mô liên kết ở khoang miệng teo và mỏng, giảm mối liên kết giữa các protein và Mucoprotein theo tuổi Tăng số lượng tương bào và hậu quả là giảm tính đàn hồi và tăng sự nhạy cảm của mô đối với sang chấn Tổ chức niêm mạc phủ khoang miệng ở người cao tuổi có những biến đổi dạng phù nề, các nhú biểu mô mất dần làm cho vùng tiếp giáp giữa biểu mô và mô liên kết bị xẹp xuống làm cho lớp biểu mô dễ bị bong trước Thời gian thay thế tế bào biểu mô kéo dài số lượng tế bào Langerhans ít đi Vì các biến đổi nêu trên, nên bề mặt của niêm mạc miệng kém chịu đựng trước các kích thích như nóng, lạnh, sức đề kháng với nhiễm trùng giảm đi, niêm mạc dễ bị tổn thương và khi bị tổn thương thì cũng lâu lành
Niêm mạc lưỡi
Các nghiên cứu cho thấy các gai lưỡi có hiện tượng giảm và teo Số gai hình dây của lưỡi giảm làm cho lưỡi có vẻ trơn láng, gai lưỡi hình đài bị teo nhiều nhất với số lượng giảm hoặc mất dần các nụ vị giác gây ra những rối loạn vị giác với các chất ngọt, chua, mặn….Nói chung, niêm mạc lưỡi miệng nhợt nhạt, teo mỏng do giảm chất gian bào, giảm khả năng tăng sinh tế bào và giảm đáp ứng miễn dịch tại chỗ cũng như toàn thân thường thấy ở người cao tuổi
1.2.1.3 Ảnh hưởng ở khớp thái dương – hàm và xương hàm
có tiếng kêu ổ khớp
Trang 9Xương hàm
Xương hàm cũng có những biến đổi thoái triển chung theo hệ xương của cơ thể Trước hết, xương hàm giảm khối lượng do độ đậm đặc bởi hiện tượng loãng xương sinh lý Trên phim X-quang xương, người già ít cản quang, có những vạch sáng chiều rộng vài mm Xương hàm người cao tuổi yếu và dễ gãy, khi bị gãy thường can xấu và chậm Sống hàm trên tiêu nhiều hơn theo chiều hướng tâm, sống hàm dưới ít tiêu hơn theo chiều ly tâm Như vậy, sau khi mất răng, hình thái các xương hàm trên và dưới sẽ có những biến đổi sâu sắc
1.2.1.4 Ảnh hưởng trên các chức năng vùng miệng
Chức năng nhai
Tốc độ và biên độ chuyển động của hàm dưới giảm trong quá trình vận động
há, ngậm và độ rộng lên xuống trong khi chiều sang bên thì vẫn giữ nguyên
Vì vậy, thời gian của chu kì nhai không có khác nhiều so với thời kỳ trung niên Tuy nhiên, hiệu quả của nhai bị giảm sút do răng suy yếu, hệ thống môi,
má, lưỡi và các cơ giảm sự khéo léo, khả năng phối hợp
Chức năng nuốt
Chức năng nuối liên quan nhiều tới hoạt động của lưỡi Lưỡi giảm sự khéo léo làm cho việc đưa thức ăn chuyển động giảm hơn nữa việc nuốt cũng bị ảnh hưởng do những thoái triển về vận động cơ và thần kinh
Chức năng phát âm
Có những sự thay đổi nhất định về giọng điệu và khả năng nói theo tuổi Nhưng, nếu không có các bệnh lý liên quan thì đặc điểm này ít được chú ý
Chức năng tạo dáng khuôn mặt
Các biến đổi nét mặ là do mất răng và do giảm hoặc mất trương lực các cơ ở mặt Thường có sự hạp thấp tầng mặt dưới, những thay đổi này không chỉ là thẩm mỹ mà còn là sự trở ngại tới chức năng nhai, nuốt
Chức năng tiết nước bọt
Nhu mô tuyến nước bọt suy thoái dẫn đến giảm tiết về số lượng nước bọt kể
cả chức năng tổng hợp các protein nước bọt, IgA giảm 2/3 Trên thực tế tình trạng khô miệng còn do 1 số bệnh lý ở tuyến, đặc biệt do hậu quả một số thuốc điều trị cao huyết áp, tâm thần…
1.2 Một số đặc điểm bệnh lý răng miệng ở người cao tuổi
Bệnh lý vùng răng miệng ở người cao tuổi cũng giống như người trẻ Các bệnh phổ biến như sâu răng, viêm lợi, viêm quanh răng cũng có tỉ lệ mắc rất cao Bên cạnh đó là sự lão hóa tổ chức ở người cao tuổi nên bệnh vùng răng miệng cũng có những hình thái, biểu hiện lâm sáng khác biệt
1.2.1 Các tác nhân gây bệnh: Có rất nhiều lý do khiến vi khuẩn, nấm…có
điều kiện để tụ tập, sinh sống và phát triển ở môi trường miệng của người cao
Trang 10tuổi do các khe răng rộng, hở chân răng, các răng sâu vỡ thân to, răng di lệch, khớp cắn sang chấn, miệng khô, các răng sâu không được trám hoặc miếng trám thừa, mất răng không được phục hình….đây là những điều kiện để thức
ăn, mảng bám dễ tập trung, ứ đọng trong và sau khi ăn Tình trạng này ngày càng trở nên nặng nề hơn vì việc tự vệ sinh răng miệng của người cao tuổi đã không được thực hiện tốt
Bên cạnh đó, sức đề kháng của cơ thể giảm và tính chất thường mắc các bệnh mãn tính Miệng là nơi thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với một loạt nhân tốt
có thể gây bệnh và rất nhiều yếu tố gây kích thích, sang chấn từ các hoạt động
nhai, nuốt Bệnh lý quanh răng ở người cao tuổi
Bệnh quanh răng có 2 loại: viêm lợi và viêm quanh răng, cả 2 đều do vi khuẩngây nên, tương tác với quá trình đáp ứng miễn dịch của cơ thể Một số yếu tố tại chỗ hoặc toàn thân có tác động thúc đẩy và làm bệnh nặng thêm [27]
Viêm lợi
Viêm lợi có nguyên nhân tại chỗ là do vi khuẩn ở mảng bám, cao răng, bựa răng và các yếu tố làm tăng tích lũy vi khuẩn, một số nguyên nhân toàn thân khác như các bệnh về máu, nội tiết…có biểu hiện ở lợi với các hình thài và mức độ nặng nhẹ khác nhau Viêm lợi có biểu hiện ban đầu chỉ là các tổn thương tại chỗ khu trú có đau, chảy máu nhẹ đến các mức độ nặng như vết loét, mảng hoại tử Một số thể viêm lợi hay gặp ở người cao tuổi có nguyên nhân toàn thân là chính nhưng thường kèm theo sự tác động phối hợp của vi khuẩn trong môi trường miệng như: viêm lợi người mãn kinh, viêm lợi do dùng thuốc, viêm lợi trong các bệnh về máu
Viêm quanh răng
Có đầy đủ các biểu hiện lâm sàng như viêm lợi, ngoài ra còn có túi lợi bệnh
lý, có thể có răng lung lay, răng di lệch do xương ổ răng tiêu nhiều, cùng với hiện tượng mất bám dính của lợi làm chân răng bị bộc lộ ít hay nhiều trong môi trường miệng Viêm quanh răng ở người cao tuổi thường diễn biến mãn tính, hoặc bán cấp, các triệu chứng tại chỗ ít ồ ạt, tiến triển chậm, phá hủy từ
từ Tiên lượng viêm quanh răng ở người cao tuổi thường xấu, dễ dẫn đến mất răng Ở những trường hợp bị bệnh tiểu đường, khả năng mắc viêm quanh răngtăng lên, khả năng mất răng rất cao
Viêm quanh cuống răng hay viêm dây chằng quanh cuống
Là bệnh lý rất thường gặp bởi tủy chết do không được điều trị kịp thời gây nhiễm khuẩn mô quanh chóp răng Do sự xơ hóa của dây chằng nên thường
có biểu hiện của viêm mãn tính với lỗ rò ở ngách tiền đình, hoặc ở phía mặt lưỡi, mặt hàm ếch…
Trang 11trẻtựu lớn nhất của xã hội loài người, nó là kết quả tổng hợp của tất cả các ngành khoa học tự nhiên cũng như xã hội Cộng đồng người cao tuổi tăng lên là do chất lượng mọi mặt của cuộc sống đã không ngừng được cải thiện, trong đó có khoa học Y học Theo đó, số lượng người cao tuổi ngày một tăng cũng đặt ra nhiều vấn đề trong xã hội, trong đó có Y tế, nhằm đảm bảo cho các cụ sống ngày một tuổi thọ hơn và chất lượng cuộc sống ngày một tốt hơn,
đó chính là mục tiêu của chương trình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, trong đó có vấn đề chăm sóc sức khỏe răng miệng ban đầu người cao tuổi Tại hội nghị Quốc tế về người già ở Viên (Áo – 1982) đã quy định đó là những người từ 60 tuổi trở lên Khái niệm “Người cao tuổi” hiện nay đang được dùng phổ biến ở nước ta nó mang nhiều ý nghĩa tích cực, động viên so với khái niệm “Người già” Tuy nhiên, về mặt khoa học thì như nhau [10],[18]
1.1 Một số đặc điểm sinh lý, bệnh lý ở người cao tuổi.
1.1.1 Biến đổi sinh lý chung [11],[10],[18]
Lão hóa đưa đến những thoái triển biến đổi dần và không phục hồi về hình thái và chức năng ở các cơ quan, khả năng thích nghi với những biến đổi của môi trường xung quanh ngày càng bị rối loạn
Lão hóa bắt đầu từ da: Da cứng và răn reo, tăng lớp mỡ dưới da ở bụng, ngực,đùi, mông
Tóc chuyển bạc, trước ít và chậm sau nhiều và nhanh hơn
Mắt điều tiết kém đi gây lão hóa và thị lực giảm Thính lực kém đi
Hoạt động chức năng các cơ quan, phủ tạng giảm dần, bài tiết dịch vị kém ăn uống kém ngon và chậm tiêu, hoạt động chức năng gan, thận cũng giảm dần,
hệ thống nội tiết yếu đi
Sự thích ứng với những thay đổi ngoại cảnh kém dần như thời tiết nóng, lạnh.Chức năng hô hấp giảm, chức năng tim mạch kém thích ứng với lao động nặng
Giảm khả năng làm việc trí óc, nhanh mệt, tư duy nghèo dần, liên tưởng kém, trí nhớ giảm hay quên, kém nhạy bén, chậm chạp
Thời gian phục hồi vết thương kéo dài, xương dễ gãy do chứng loãng xương Khả năng đáp ứng của cơ thể trước các kháng nguyên ngoại lai, vi khuẩn giảm dễ dẫn đến nhiễm trùng và nổi lên là hiện tượng tự miễn [17]
Tất cả những lão hóa đó là nguyên nhân làm cho sức khỏe người cao tuổi giảm sút và hay mắc các bệnh mãn tính và cấp tính
1.1.2 Biến đổi sinh lý ở vùng răng miệng [11],[9],[20],[22],[25].
1.1.2.1 Biến đổi trên răng và quanh mô răng
Trang 12Biến đổi ở tổ chức cứng men và ngà răng
Về khối lượng:
Mòn mặt nhai: Tùy theo cá nhân, nhưng tăng lên theo tuổi, thường là mòn
không đều tùy theo khớp cắn của từng người Mòn có thể làm mất hết lớp men để lộ ra lớp ngà mà nó nhanh chóng đổi thành màu nâu Mức độ và tốc
độ mòn phụ thuộc vào độ cứng của men ngà, tính chất của thức ăn, yếu tố nghề nghiệp và thói quen nghiến răng Do mòn, nhiều khi mựt nhai trở thành
bằng phẳng làm cho khớp cắn mất ổn định và hiệu quả nhai kém Mòn mặt bên làm cho điểm tiếp xúc giữa các răng trở thành diện tiếp xúc kèm theo sự
di lệch của răng Mòn mặt bên sẽ làm giảm chiều dài trước sau của cung răng,tạo ra sự chênh lệch trước sau ở vùng răng hàm và khớp cắn đầu chặn đầu ở phía trước
Biến đổi ở tủy răng
Do sự hình thành của ngà thứ phá sinh lý theo tuổi và ngà thứ phát bệnh lý (vìsâu răng, mòn răng, tiêu cổ răng ) dẫn tới buồng tủy hẹp dần lại Biểu hiện từ mất sừng buồng tủy đến trần buồng tủy thấp xuống (đôi khi sát hoặc chạm vào sàn buồng tủy) trên phim X-quang ở người trên 50 tuổi thường thấy buồng tủy, ống tủy chân rất hẹp, nhỏ Ống tủy cáh cuống răng 4-5mm thường không nhìn thấy và khi điều trị rất khó đi qua
Mật độ tế bào đệm giảm đi, trong khi đó có hiện tượng tăng sợi làm gia tăng thể tích các bó Collagen Ngà răng tiếp tục được bồi đắp và làm hẹp dần thể tích các buồng tủy, các tạo ngà bào không còn nguyên vẹn, giảm kích thước
và số lượng, thậm chí có thể mất hẳn ở trên chỗ chia đôi hoặc chia ba của
Trang 13răng nhiều chân Các tế bào thần kinh và mạch máu cũng có những biến đổi tương tự.
Biến đổi ở xương răng
Nhiều nghiên cứu đã xác định các biến đổi ở xương răng bao gồm: Độ dày của lớp xương răng tăng lên theo tuổi Các răng có sự di chuyển về phía gần biểu hiện ở độ dày rõ hơn ở cạnh xa chân răng Xương răng bị phì đại do ảnh hưởng của những hoạt động chức năng Xương ở cuống răng và vùng khe giữa các chân răng của răng nhiều chân do được bồi đắp đã làm bít tắc dàn các lỗ chóp chân răng dẫn đến giảm tuần hoàn đi vào nuôi dưỡng tủy Nếu quá trình bồi đắp này quá mức sẽ làm cho chân răng phình ra có hình như dùi trống, gây khó khăn khi phải nhổ
Biến đổi ở lợi
Tác động lão hóa lên mô liên kết lợi được đặc trưng bởi những biến đổi thoái triển ỏ mạch máu và thần kinh Mạch máu ở lợi giảm về số lượng và khả năngthẩm thấu cũng như lắng đọng Hyalin trong các tiểu động mạch Lợi mất dần tính đàn hồi, có vẻ hơi phù nề và bóng láng, lợi bị co va teo lại gây hở chân răng có khi tới 2/3 chiều dài của chân răng Hiện tượng này cần được đánh giákhông phải chỉ do nhiều tuổi đơn thuần mà còn phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân như: vệ sinh răng miệng không tốt, răng mọc lệch, lợi bị chấn thương kéo dài…
Biến đổi ở dây chằng quanh răng
Có những thay đổi về mạch máu như ở lợi.Vì vậy, vai trò làm đêm của mô quanh răng giảm, mật độ tế bào (nguyên bào sợi, tạo cốt bào, hủy cốt bào) và tăng sợi keo, những nguyên bào xơ, thành phần tế bào chính của mô dây chằng quanh răng có xu hướng hòa vào nhau để sinh ra những tế bào đa nhân
Tỉ lệ đổi mới của mô liên kết chậm lại dẫn tới khả năng liền sẹo kém Dây chằng có thể thoái triển coi như mất xơ, xương ổ răng lan vào xương chân răng làm cho chân răng người già gần như dính vào xương
Biến đổi ở xương ổ răng
Xương ổ răng cũng như xương hàm có hiện tượng mạch máu ít đi, chuyển hóa cơ bản thấp, gần như không có sự bồi đắp xương mới, tế bào xương giảm
về số lượng và hoạt động Ở mặt ngoài răng cửa và răng hàm nhỏ hàm dưới xương ổ răng xốp hơn so với phần xương ổ răng ở mặt lưỡi, trong khi đó ở răng hàm lớn thì ngược lại Lớp xương ở chân răng khi bị hở nếu bị mòn hoặcmất đi sẽ làm hở lớp ngà ở phía dưới gây ra cảm giác ê buốt, thậm chí có thể gây tổn thương tủy Lợi co ở khoảng giữa 2 răng sẽ tạo ra khoảng trống dễ gây ứ đọng mảng bám răng, thức ăn và vi khuẩn dẫn đến viêm kẽ và sâu răng
ở mặt bên
1.2.1.2 Ảnh hưởng trên niêm mạc miệng
Biểu mô niêm mạc miệng
Trang 14Biểu mô phủ và mô liên kết ở khoang miệng teo và mỏng, giảm mối liên kết giữa các protein và Mucoprotein theo tuổi Tăng số lượng tương bào và hậu quả là giảm tính đàn hồi và tăng sự nhạy cảm của mô đối với sang chấn Tổ chức niêm mạc phủ khoang miệng ở người cao tuổi có những biến đổi dạng phù nề, các nhú biểu mô mất dần làm cho vùng tiếp giáp giữa biểu mô và mô liên kết bị xẹp xuống làm cho lớp biểu mô dễ bị bong trước Thời gian thay thế tế bào biểu mô kéo dài số lượng tế bào Langerhans ít đi Vì các biến đổi nêu trên, nên bề mặt của niêm mạc miệng kém chịu đựng trước các kích thích như nóng, lạnh, sức đề kháng với nhiễm trùng giảm đi, niêm mạc dễ bị tổn thương và khi bị tổn thương thì cũng lâu lành
Niêm mạc lưỡi
Các nghiên cứu cho thấy các gai lưỡi có hiện tượng giảm và teo Số gai hình dây của lưỡi giảm làm cho lưỡi có vẻ trơn láng, gai lưỡi hình đài bị teo nhiều nhất với số lượng giảm hoặc mất dần các nụ vị giác gây ra những rối loạn vị giác với các chất ngọt, chua, mặn….Nói chung, niêm mạc lưỡi miệng nhợt nhạt, teo mỏng do giảm chất gian bào, giảm khả năng tăng sinh tế bào và giảm đáp ứng miễn dịch tại chỗ cũng như toàn thân thường thấy ở người cao tuổi
1.2.1.3 Ảnh hưởng ở khớp thái dương – hàm và xương hàm
có tiếng kêu ổ khớp
Xương hàm
Xương hàm cũng có những biến đổi thoái triển chung theo hệ xương của cơ thể Trước hết, xương hàm giảm khối lượng do độ đậm đặc bởi hiện tượng loãng xương sinh lý Trên phim X-quang xương, người già ít cản quang, có những vạch sáng chiều rộng vài mm Xương hàm người cao tuổi yếu và dễ gãy, khi bị gãy thường can xấu và chậm Sống hàm trên tiêu nhiều hơn theo chiều hướng tâm, sống hàm dưới ít tiêu hơn theo chiều ly tâm Như vậy, sau khi mất răng, hình thái các xương hàm trên và dưới sẽ có những biến đổi sâu sắc
1.2.1.4 Ảnh hưởng trên các chức năng vùng miệng
Chức năng nhai
Tốc độ và biên độ chuyển động của hàm dưới giảm trong quá trình vận động
há, ngậm và độ rộng lên xuống trong khi chiều sang bên thì vẫn giữ nguyên
Vì vậy, thời gian của chu kì nhai không có khác nhiều so với thời kỳ trung
Trang 15niên Tuy nhiên, hiệu quả của nhai bị giảm sút do răng suy yếu, hệ thống môi,
má, lưỡi và các cơ giảm sự khéo léo, khả năng phối hợp
Chức năng phát âm
Có những sự thay đổi nhất định về giọng điệu và khả năng nói theo tuổi Nhưng, nếu không có các bệnh lý liên quan thì đặc điểm này ít được chú ý
Chức năng tạo dáng khuôn mặt
Các biến đổi nét mặ là do mất răng và do giảm hoặc mất trương lực các cơ ở mặt Thường có sự hạp thấp tầng mặt dưới, những thay đổi này không chỉ là thẩm mỹ mà còn là sự trở ngại tới chức năng nhai, nuốt
Chức năng tiết nước bọt
Nhu mô tuyến nước bọt suy thoái dẫn đến giảm tiết về số lượng nước bọt kể
cả chức năng tổng hợp các protein nước bọt, IgA giảm 2/3 Trên thực tế tình trạng khô miệng còn do 1 số bệnh lý ở tuyến, đặc biệt do hậu quả một số thuốc điều trị cao huyết áp, tâm thần…
1.2 Một số đặc điểm bệnh lý răng miệng ở người cao tuổi
Bệnh lý vùng răng miệng ở người cao tuổi cũng giống như người trẻ Các bệnh phổ biến như sâu răng, viêm lợi, viêm quanh răng cũng có tỉ lệ mắc rất cao Bên cạnh đó là sự lão hóa tổ chức ở người cao tuổi nên bệnh vùng răng miệng cũng có những hình thái, biểu hiện lâm sáng khác biệt
1.2.1 Các tác nhân gây bệnh:
Có rất nhiều lý do khiến vi khuẩn, nấm…có điều kiện để tụ tập, sinh sống và phát triển ở môi trường miệng của người cao tuổi do các khe răng rộng, hở chân răng, các răng sâu vỡ thân to, răng di lệch, khớp cắn sang chấn, miệng khô, các răng sâu không được trám hoặc miếng trám thừa, mất răng không được phục hình….đây là những điều kiện để thức ăn, mảng bám dễ tập trung,
ứ đọng trong và sau khi ăn Tình trạng này ngày càng trở nên nặng nề hơn vì việc tự vệ sinh răng miệng của người cao tuổi đã không được thực hiện tốt Bên cạnh đó, sức đề kháng của cơ thể giảm và tính chất thường mắc các bệnh mãn tính Miệng là nơi thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với một loạt nhân tốt
có thể gây bệnh và rất nhiều yếu tố gây kích thích, sang chấn từ các hoạt độngnhai, nuốt
1.2.2 Bệnh lý răng
Sâu răng
Sâu răng là một bệnh ở tổ chức cứng của răng, xuất phát từ hoạt động của vi khuẩn, đặc trưng bởi việc mất Canxi của thành phần vô cơ trong răng và tiếp theo là phân hủy thành những chất hữu cơ, tạo thành lỗ sâu Sâu răng lúc đầu không đau, nhưng các biến chứng gây viêm tủy, viêm cuống răng và nặng hơn
là viêm tấy lan tỏa vùng miệng, nhiễm khuẩn huyết….đôi khi có thể dẫn tới tửvong
Trang 16Ở người cao tuổi, sâu răng nói chung và sâu chân răng nói riêng có tỉ lệ mắc cao hơn và vị trí sâu răng cũng khác so với người trẻ, ít gặp sâu răng ở mặt nhai, mặt láng mà thường là sâu tái phát xung quanh vết trám cũ Sâu ở chân,
cổ răng sát lợi và mặt bên răng gặp nhiều hơn
Tiêu thân răng
Tiêu cổ răng hình chêm thường gặp phổ biến ở người cao tuổi do bệnh đã có
từ lâu và thể hiện rõ ràng hơn khi nhiều tuổi Nguyên nhân giả thiết cho rằng
do mài mòn cơ học, quan niệm hiện nay cho rằng tiêu là do độ vi uốn kém theo chiều ngoài – trong của các răng trong khi nhau, lực nhai tác động tới cấu trúc tinh thể mất khả năng đàn hồi của men răng vùng cổ làm nó dễ bị vỡ vụn Các yếu tố gây mòn kahcs, các bệnh toàn thân như thấp khớp, bệnh gút, hoặc là tổn thương ở tế bào tạo ngà gây loạn dưỡng tại chỗ…có thể góp phân vào tiêu cổ răng
Sang chấn thân răng
Mòn răng: Ở tổ chức cứng hay gặp nhất là hiện tượng mòn răng, mòn răng có thể do nhai mòn, do tiêu mòn và mài mòn Nhai mòn có nguyên nhân do nhai,
nếu mòn trong giới hạn sinh lý, thì hiện tượng mòn răng sẽ được lớp ngà thứ phát trong buồng tủy bù đắp lại làm răng không bị kích thích, nếu mòn quá nhanh và không đều thì tủy răng không đủ thời gian tái tạo ngà thứ phát gây
tổn thương, hở tủy, viêm tủy và hoại tử…Mài mòn có ngueyen nhân chủ yếu
do cơ học, do dùng bàn chải cứng hoặc thuốc chải răng có nhiều chất làm mòn thường thấy ở vùng răng cửa, răng nanh và răng hàm nhỏ Mòn tạo thànhrãnh, ở mặt ngoài sát với với cổ răng dần rộng và sau tạo thành những hõm hình chêm đáy cứng màu nâu đỏ, ngà răng xơ hóa làm buồng tủy răng ngày
càng thu hẹp Tiêu mòn do thức ăn nhiều axit, có thể do giảm tiết nước bọt
(đặc biệt ở gn cao tuổi) không trung hòa được axit môi trường miệng làm cho
pH nước bọt thấp gây mòn răng nhanh, cũng có thể một số bệnh nhân trào ngược dạ dày, thực quản, ợ mãn tính hay do công việc hít thở nhiều hơi, bụi axit Tất cả hậu quả của mòn răng sẽ dẫn tới hở ngà răng, kích thích tủy gây viêm tủy, viêm quanh cuống răng, kích thích gây tiêu xương ổ răng, làm sai lệch khớp cắn ảnh hưởng vận động nhai và khớp thái dương hàm.[6]
Mẻ thân răng: Thường gặp do khi ăn nhai cắn phải vật cứng trên các rãnh
răng đã giòn, mòn có các điểm yếu dễ gãy Răng bị mẻ ở thân có thể chỉ ảnh hưởng tới men hoặc cả tới ngà hoặc có liên quan tới tủy gây biến chứng tủy
Rạn thân răng: Rất thường gặp, do tai nạn, sang chán ở khớp cắn, thay đổi
nhiệt tình ở thức ăn Răng rạn dễ bị mẻ, gãy, tiêu xương ổ răng, dọc theo vết gãy
Bệnh tủy răng
Bệnh lý ở tủy răng thường thấy là viêm tủy mãn, không có biểu hiện lâm sàng
rõ, có thể tủy chết không rõ khi nào, bệnh nhân chỉ đi khám khi có các biến
Trang 17chứng như lỗ rò, viêm quanh cuống, lung lay răng và đau…việc điều trị tủy răng ở người cao tuổi thường khó do buồng và ống tủy hẹp, vôi hóa, gây tắc Hơn nữa, bệnh nhân đến khám thường là muộn khi đã có những biến chứng ở cuống răng cộng với sức đề kháng, khả năng phục hồi vết thương thường kém
ở người cao tuổi
Khớp thái răng hàm: Ở người cao tuổi cũng có những thay đổi đáng kể xuất
phát từ hiện tượng răng bị mất dần, các răng có hiện tượng sắp xếp lại, hệ thống cơ nâng yếu làm cho tầng mặt dưới có xu hướng hạ thấp dần dẫn tới những thay đổi ở khớp, sụn chêm thường gây đau, mỏi khi nhai, có tiếng kêu
ở khớp và rất dễ trật khớp.[9]
Bệnh lý quanh răng ở người cao tuổi
Bệnh quanh răng có 2 loại: viêm lợi và viêm quanh răng, cả 2 đều do vi khuẩngây nên, tương tác với quá trình đáp ứng miễn dịch của cơ thể Một số yếu tố tại chỗ hoặc toàn thân có tác động thúc đẩy và làm bệnh nặng thêm [27]
Viêm lợi
Viêm lợi có nguyên nhân tại chỗ là do vi khuẩn ở mảng bám, cao răng, bựa răng và các yếu tố làm tăng tích lũy vi khuẩn, một số nguyên nhân toàn thân khác như các bệnh về máu, nội tiết…có biểu hiện ở lợi với các hình thài và mức độ nặng nhẹ khác nhau Viêm lợi có biểu hiện ban đầu chỉ là các tổn thương tại chỗ khu trú có đau, chảy máu nhẹ đến các mức độ nặng như vết loét, mảng hoại tử Một số thể viêm lợi hay gặp ở người cao tuổi có nguyên nhân toàn thân là chính nhưng thường kèm theo sự tác động phối hợp của vi khuẩn trong môi trường miệng như: viêm lợi người mãn kinh, viêm lợi do dùng thuốc, viêm lợi trong các bệnh về máu
Viêm quanh răng
Có đầy đủ các biểu hiện lâm sàng như viêm lợi, ngoài ra còn có túi lợi bệnh
lý, có thể có răng lung lay, răng di lệch do xương ổ răng tiêu nhiều, cùng với hiện tượng mất bám dính của lợi làm chân răng bị bộc lộ ít hay nhiều trong môi trường miệng Viêm quanh răng ở người cao tuổi thường diễn biến mãn tính, hoặc bán cấp, các triệu chứng tại chỗ ít ồ ạt, tiến triển chậm, phá hủy từ
từ Tiên lượng viêm quanh răng ở người cao tuổi thường xấu, dễ dẫn đến mất răng Ở những trường hợp bị bệnh tiểu đường, khả năng mắc viêm quanh răngtăng lên, khả năng mất răng rất cao
Viêm quanh cuống răng hay viêm dây chằng quanh cuống
Là bệnh lý rất thường gặp bởi tủy chết do không được điều trị kịp thời gây nhiễm khuẩn mô quanh chóp răng Do sự xơ hóa của dây chằng nên thường
có biểu hiện của viêm mãn tính với lỗ rò ở ngách tiền đình, hoặc ở phía mặt
lưỡi, mặt hàm ếch….1.4 Bệnh quanh răng ở người cao tuổi.
1.4.1 Một số đặc điểm lâm sàng bệnh quanh răng ở người cao tuổi
Trang 18Theo tổ chức Y tế thế giới, bệnh quanh răng gặp phổ biến ở mọi quốc gia và hay gặp nhất là viêm lợi và viêm quanh răng Biểu hiện chỉ viêm lợi ở ngoài liên quan tới mảng bám còn liên quan đến các yếu tố khác như virus, nấm, bệnh niêm mạc, dị ứng, bệnh toàn thân…tiến triển của viêm lợi có thể tồn tại một thời gian dài, nhiều trường hợp sẽ tiến tới viêm quanh răng
Viêm quanh răng có thể mãn this, thể tiến triển và viêm quanh răng như là một biểu hiện lâm sàng của bệnh toàn thân Ở người cao tuổi, bệnh thường mãn tính hoặc bán cấp, tiến triển từ chậm đến trung bình, từng đợt, có giai đoạn tiến triển nhanh Tiêu xương ổ răng làm cho tỉ lệ thân răng lâm sáng lớn hơn phần chân răng trong xương, lực đòn bẩy gây sang chấn khi ăn nhai, phá hủy dây chằng quanh chân răng, tiêu hủy xương ổ răng làm cho răng lung lay.Tiên lượng bệnh quanh răng ở người cao tuổi thường nặng bởi túi lợi sâu và điều trị kết quả chậm, phục hồi kém
1.4.2 Một số hiểu biết về bệnh căn, bệnh sinh và yếu tố nguy cơ
Vi khuẩn: Mảng bám răng hay màng vi khuẩn là nguyên nhân gây bệnh chủ
yếu Mảng bám tích tụ và dính vào răng Ban đầu, vi khuẩn tập trung cư trú ở mảng bám trên lợi, sau đó lấn sâu xuống dọc chân răng tạo mảng bám dưới lợi Mảng bám trên lợi đặc trưng bởi vi khuẩn Gr (+) khác với mảng bám dướilợi do vi khuẩn Gram (-), kỵ khí đặc hiệu trong dịch lợi mà kháng nguyên và độc tố của chúng thâm nhập vào mô quanh răng, khởi đầu là phản ứng viêm, tiếp đến là đáp ứng miễn dịch quá mẫn tại chỗ gây hủy hoại tổ chức leien kết tạo ra túi lợi
Cao răng: Là mảng bám bị khoáng hóa cứng lại Độ dày sẽ tăng nhanh nếu
mảng bám không được kiểm soát, cao răng không được lấy bỏ định kì Quá trình hình thành có vai trò của vi khuẩn và các ion Ca++ và PO4- - trong nước bọt Cao răng với vai trò tích tụ các kháng nguyên xác vi khuẩn, độc tố nội và ngoại sinh phối hợp làm cho viêm nhiễm tăng
Đáp ứng miễn dịch của cơ thể: Nhiều nghiên cứu cho thấy số lượng vi
khuẩn sống của mảng bám răng ở người cao tuổi ít quan trọng và có sự liên quan giữa mảng bám với viêm lợi nhưng không tahays có mỗi liên quan giữa mảng bám và viêm quanh răng Như vậy, hình như do quá trình lão hóa với sựsuy giảm miễn dịch đặc biệt là miễn dịch tế bào có thể đã làm giảm hiện tượng quá mẫn ở mô quanh răng và làm cho viêm quanh răng ở người cao tuổi tiến triển chậm
Các yếu tố nguy cơ khác: Thay đổi môi trường miệng là yếu tố quan trọng
nhất 80-90% trong nhóm người viêm quanh răng thường mắc những bệnh mãn tính phải dùng thuốc, trong số đó có những thuốc gây xáo trộn cân bằng
vi khuẩn miệng, tạo điều kiện cho sự phát triển của một số chủng gây bệnh quanh răng Ở những người có bệnh tiểu đường, khả năng mắc bệnh quanh răng tăng và nặng với sự đáp ứng kém của tổ chức Những người không chăm
Trang 19sóc răng miệng thường xuyên bệnh quanh răng có nguy cơ xuất hiện cũng caohơn Hút thuốc là là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh quanh răng
1.5 Vấn đề kiến thức, thái độ và thực hành sức khỏe răng miệng ở người cao tuổi
Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đã được đặc biệt quan tâm ở nước ta cũng như nhiều quốc gia trên Thế giới, song với việc chăm sóc sức khỏe răng miệng nói riêng ở người cao tuổi còn ít được quan tâm và triển khai một cách
hệ thống Những người cao tuổi thường thiếu những thông tin cần thiết để tự chăm sóc bảo vệ sức khỏe răng miệng, bản thân họ cũng không tích cực trongviệc thực hiện các biện pháp vệ sinh răng miệng như: ít chải răng, hay thực hiện các thói quen không tốt cho răng miệng như xỉa tăm, đánh cau kho, ăn trầu, hút thuốc…[19],[30]
Khi gặp các vấn đề về răng miệng họ cũng ít đi khám nha sĩ hơn những ngườitrẻ, họ mặc nhiên chấp nhận và chịu đựng đau, khó nhau hay khó chịu ở vùng răng miệng…Cũng vì vậy, nguyện vọng của họ thường rất thấp so với nhu cầu thực tế cần được chăm sóc, điều trị Đồi với một bộ phận những người có sức khỏe yếu hay khuyết tật không độc lập trong sinh hoạt cá nhân thì các vấn
đề trên càng trở nên nặng nề [29],[31],[40]
1.5.1 Đặc điểm chung.
Sức khỏe là biểu hiện của nhiều yếu tố tác động, trong đó vấn đề kiến thức, thái độ và thực hành sức khỏe đóng vai trò cực kì quan trọng, nó có thể thúc đẩy tình trạng sức khỏe tốt lên hay xấu đi
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Kiến thức về chăm sóc sức khỏe răng miệng
ở người cao tuổi chủ yếu là kinh nghiệm tích lũy của bản thân hoặc do người khác truyền lại, mà trên thực tế theo quan điểm y học hiện đại thì các kinh nghiệm đó đoi khi đi ngược lại và cso thể làm cho tình trạng sức khỏe răng miệng xấu đi Hơn nữa, kiến thức chăm sóc răng miệng ở người cao tuổi cũngphụ thuộc nhiều yếu tố như: Trình độ văn hóa, nghề nghiệp, mức sống, khu vực sinh sống, sự tự tìm hiểu của từng cá nhân…Thông thường ý niệm về bệnh tật chỉ được quan tâm khi có cảm giác đau, thẩm mỹ bị ảnh hưởng, giao tiếp xã hội bị hạn chế Đây là những nhận biết có thể có ở hầu hết người cao tuổi Nhưng nếu để hiểu nguyên nhâ, hậu quả và các biện pháp phòng chống bệnh thì đa số tỏ ra không biết hoặc hiểu sai các kiến thức cơ bản, thông thường Thực tiễn này đặt ra trách nhiệm cho vấn đề giáo dục nha khoa trong chương trình nâng cao hiểu biết đối với sức khỏe răng miệng cho người cao tuổi [39],[45]
Trên cơ sở nhận thức và thái độ có nhiều hạn chế nên thực hành chăm sóc sứckhỏe răng miệng của người cao tuổi đã thể hiện nhiều yếu tố tiêu cực: Cách thức vệ sinh răng miệng không tốt, biểu hiện bằng việc ít chải răng và kỹ
Trang 20thuật chải răng không tốt Họ sử dụng nhiều biện pháp vệ sinh răng miệng không cơ bản và có nhiều thói quen không tốt cho sức khỏe răng miệng Rất ítkhông cơ bản và có nhiều thói quen không tốt cho sức khỏe răng miệng Rất ítngười có thói quen đi khám răng miệng định kì để phát hiện và điều trị sớm [11],[19].
1.5.2 Các yếu tố tác động đến kiến thức, thái độ và thực hành sức khỏe răng miệng ở người cao tuổi
Sức khỏe răng miệng người cao tuổi chịu sự tác động của nhiều yếu tố Sức khỏe kém có thể bắt nguồn từ những nguy cơ nội tại do sự ngấm vôi kém ở men răng, răng mọc lệch lạc, chen chúc…Nguy cơ cũng đến từ các thói quen
có hại: Hút thuốc, uống rượu, ăn trầu…Các yếu tố ảnh hưởng khác có thể do trình độ học vấn, mức thu nhập không cao, sức khỏe chung yếu, tập quán văn hóa và nhất là yếu tố không được chăm sóc bởi các dịch vụ nha khoa Các yếu
tố này liên quan chặt chẽ với nhau và cần được tìm hiểu để đưa ra giải pháp can thiệp hợp lý Nhằm tăng cường nhận thức, thay đổi thái độ, hành vi sức khỏe người cao tuổi, chúng ta cần giúp họ loại bỏ những thói quan có hại, gáio dục các đối tượng tự chăm sóc sức khỏe răng miệng có khoa học và ó ý thức thưm khám răng định kì tại các cơ sở nha khoa Đây là một quá trình cần
có sự tác động nhiều mặt, nhưng ý thức bản thân luôn luôn là một yếu tốt quyết định quan trọng nhất [10]
1.6 Vấn đề chăm sóc sức khỏe răng miệng người cao tuổi [11],[9],[18],[19]
Tỷ lệ người cao tuổi mắc các bệnh về răng miệng rất cao, đặc biệt là sâu răng
và viêm quanh răng, dẫn tới tình trạng mất răng, từ đó kéo theo nhiều các vấn
đề sức khỏe liên quan khác
Trên cơ sở hiểu biết về nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ, nhiều bệnh răng miệng đã được phòng ngừa một cách hiệu quả Theo từng lứa tuổi mà người
ta đưa ra các biện pháp phòng bệnh, khám chữa bệnh, theo dõi bệnh phù hợp Đối với trẻ em qua chương trình nha học đường đã đem lại hiệu quả rất lớn là
hạ thấp tỷ lệ bệnh răng miệng ở trẻ em trên phạm vi Thế Giới [9] Đối với người cao tuổi, chương trình CSSKRM cũng đã được quan tâm tập trung vào
3 biện pháp là giáo dục nha khoa, tổ chức các cơ sở dịch vụ khám chữa định
kì và kiểm tra theo dõi Kết quả thu được, trước hết phụ thuộc vào chính các đối tượng nhận sự chăm sóc, tiếp đó là khả năng chuyên ngành đồng thời có
sự quan tâm về chính sách của xã hội thông qua vai trò trợ giúp của phúc lợi
xã hội, bảo hiểm y tế như: Fluor hóa nước uống, vấn đề giáo dục cộng đồng, khám chữa bệnh răng miệng
1.6.1 Vấn đề giáo dục nha khoa.
Vấn đề giáo dục cộng đồng cần được thực hiện ở các cộng đồng dân cư thông qua các hình thức truyền tải nội dung giáo dục như truyền thanh, truyền hình, báo, tờ rơi….với các nội dung như giáo dục kĩ năng chải răng, sử dụng chỉ tơ
Trang 21nha khoa, máy bơm rửa, nước súc miệng….khuyến cáo loại bỏ các thói quen
có hại như bỏ thuốc lá, uống rượu, xỉa tăm, ăn trầu….để từ đó người cao tuổi
có thêm các hiểu biết về phòng bệnh, BVCSSKRM qua đó mà có thái độ
cũng như thực hành phù hợp Khuyến khích giáo dục cá nhân thông qua gặp
gỡ, tiếp xúc, thảo luận, câu lạc bộ hoặc ngay tại các phòng khám chữa răng
1.6.2 Các biện pháp phòng bệnh tích cực.
Khám định kì 3-6 tháng/lần đối với những người có nguy cơ mắc bệnh cao nhằm mục tiêu phát hiện bệnh sớm và can thiệp kịp thời để ngăn chặn sự pháttriển của bệnh Có thể tổ chức các đội chăm sóc răng miệng lưu động, có
trang bị phương tiện tối thiểu để được chăm sóc sức khỏe răng miệng ban đầutại các trung tâm điều dưỡng hay các câu lạc bộ của người cao tuổi, thực hiện các biện pháp điều trị cũng như kiểm tra, kiểm soát vệ sinh răng miệng và
thực hiện các biện pháp dự phòng như lấy cao răng, nạo túi lợi, sửa chữa hàm giả…
1.6.3 Vấn đề quản lý, theo dõi.
Theo dõi quản lý, hướng dẫn và gáim sát vệ sinh răng miệng, lập hồ sơ và có
kế hoạch theo dõi cụ thể tránh để bệnh tái phát sau điều trị và xuất hiện tình trạng mới Hướng dẫn chế độ ăn uống, loại bỏ các thói quen có hại Cũng nhưhướng dẫn bệnh nhân biết tự kiểm tra, phát hiện những biểu hiện bệnh lý bất thường vùng răng miệng
1.7 Nghiên cứu về bệnh quanh răng ở người cao tuổi trên Thế Giới và Việt Nam
Ở Việt Nam, Nguyễn Văn Cát và Renneberg T và Cs (1992) khám 181 người
từ 44 đến 64 tuổi không thấy người náo có mô quanh răng lành mạnh, chỉ số CPITN 1 tỉ lệ là 1,2 cao nhất là chỉ số 3 có tỉ lệ 45,8 Nguyễn Võ Duyên Thơ (1992) khám 318 người ≥ 60 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh thấy tỉ lệ CPITN
0 chỉ có 6,1%, CPITN 3 và CPITN 4 là 65%
Trên thế giới:
Quốc gia, tác giả Năm Tuổi Người
Túi lợi nông (%)
Túi lợi sâu (%)
Trung bình cao răng
Trung bình túi lợi
Trang 22lệ rất cao số người không hiểu rõ về sâu răng, viêm lợi [39] Smith J.M và Cs điều tra tại Anh năm 1980 cho thấy 22% người cao tuổi có từ 1-5 năm và 26%
có từ 6-20 năm không đi khám răng miệng [40] Theo Strayer M.S (1993) tại
Mỹ đã có 60% các Bang có chương trình giáo dục sức khỏe răng miệng cho người cao tuổi Hầu hết các nghiên cứu đều cho nhận xét là bệnh răng miệng
ở người cao tuổi thường cao hơn các lứa tuổi khác và kiến thức, thái độ và thực hành của họ cũng rất hạn chế Theo điều tra của Rademakers L (tại Hà Lan năm 2008), Carter G và cộng sự (tại Christchurch năm 2004) và Sweeney
MP và cộng sự (tại Glasgow năm 2007) cho kết quả tương tự là người cao tuổi ít quan tâm tới việc chăm sóc răng miệng [32,44,46] Thêm vào đó, số lầnchăm sóc răng miệng của người cao tuổi lại không phụ thuộc vào tuổi mà phụthuộc vào số răng hiện có (theo nghiên cứu của Niessen LC tại Mỹ năm
2002) Bệnh răng miệng của người cao tuổi không phải do cảm nhiễm
(susceptibility) mà do quá trình tích lũy bệnh tật theo thời gian sống của họ [40] Người cao tuổi ở vùng nông thôn và từ 70 tuổi trở lên thường ít quan tâm tới nhu cầu chăm sóc răng miệng so với nhu cầu thực tế [34]
Ở Việt Nam, theo điều tra của Phạm Văn Việt (1999) tại Hà Nội, trong 556 người ≥ 60 tuổi có gần 90% không hiểu hoặc chỉ biết một phần về vai trò, chức năng răng miệng cũng như bệnh sâu răng và viêm quanh răng, chỉ có một tỉ lệ rất nhỏ biết về nguy cơ lây nhiễm HIV khi nhổ răng Khi răng miệng
có vấn đề, chỉ có 26,7% tìm đến nha sĩ, chỉ có 20,2% người mất răng có nguyện vọng làm răng giả để thay thế [30]
Tại Việt nam, theo điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm 2000 thì tỷ lệ sâu răng ở người trên 45 tuổi là 89,7%, cao nhất trong tất cả các lứa tuổi [28] Kết quả một số nghiên cứu trước đó cho thấy người cao tuổi có hiểu biết hạn chế và ít quan tâm tới việc chăm sóc răng miệng Ví dụ như nghiên cứu của Phạm văn Việt tại Hà Nội cho kết quả 90% người cao tuổi (từ 60 trở lên) trong diện nghiên cứu không hiểu biết hoặc chỉ hiểu biết một phần về vai trò, chức năng răng miệng cũng như bệnh sâu răng và viêm quanh răng [30] Kết quả điều tra SKRM toàn quốc năm 2000 trên 999 người độ tuổi từ 45 trở lên
Trang 23có tới 55% chưa đi khám răng miệng lần nào và 12,7% đi khám răng lần cuối cùng trước đó 5 năm [28]
Các bệnh răng miệng không những làm ảnh hưởng tới chức năng ăn nhai, thẩm mỹ mà còn ảnh hưởng tới sức khỏe toàn thân, thậm chí nếu không điều trị kịp thời nó còn có thể gây nhiều biến chứng nặng nề tại chỗ hoặc toàn thân
Theo tổ chức y tế thế giới, người cao tuổi được xác định là những người từ 60tuổi trở lên Trên thế giới cũng như ở Việt nam, vấn đề chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đã trở thành chuyên ngành riêng (lão khoa), nhất là ngày nay tuổi thọ con người ngày càng tăng, do đó tỷ lệ người cao tuổi cũng ngày càng cao hơn Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, số lượng người cao tuổi hiện tại trên toàn thế giới là 700 triệu người và sẽ tăng lên con số 1 tỷ người cao tuổi vào năm 2020 Hiện tại Việt nam có khoảng hơn 8 triệu người cao tuổi, chiếm 9% dân số Việt Nam [2, 24] Hiện số lượng người cao tuổi đang
có xu hướng gia tăng nên vấn đề nâng cao sức khỏe răng miệng (SKRM) và phòng ngừa các bệnh răng miệng (BRM) cho họ càng trở nên cấp thiết [38] Tuy nhiên những nghiên cứu sâu về bệnh răng miệng ở người cao tuổi còn rất
ít Việc nghiên cứu về thực trạng bệnh răng miệng cũng như kiến thức, thái
độ, thực hành và nhu cầu điều trị răng miệng (RM) ở người cao tuổi ở một vùng nông thôn càng ít
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm các mục tiêu mô tả thực trạng bệnh răng miệng, kiến thức, thái độ thực hành của người cao tuổi trong chăm sóc sức khỏe răng miệng và nhu cầu điều trị của
họ Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao sức khỏe răng
miệng của người cao tuổi ở vùng nông thôn, nhằm đảm bảo chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi
Chương 2
ĐỐÍ TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm nghiên cứu:
Phường Yên Sở- một vùng nông thôn thuộc Huyện Thanh Trì, mới được sát nhập vào Quận Hoàng Mai, người dân sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp
2.2 Đối tượng nghiên cứu:
Tiêu chuẩn lựa chọn:
Những người có độ tuổi từ 60 trở lên tại thời điểm điều tra và có khả năng tham gia vào nghiên cứu (trả lời được phỏng vấn và tham gia vào khám răng miệng)
Tiêu chuẩn loại trừ:
Những người dưới 60 tuổi tại thời điểm điều tra
Trang 24Những người từ 60 tuổi trở lên tại thời điểm điều tra nhưng không trả lời được phỏng vấn, đang mắc bệnh toàn thân cấp tính hoặc có rối loạn tâm thần tại thời điểm điều tra
Những người đến sinh sống tạm thời trong thời gian ngắn ở địa bàn điều traNhững người không hợp tác để khám hoặc phỏng vấn điều tra
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang (qua thăm khám lâm sàng và phỏng vấn theo bộ câu hỏi)
2.3.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu:
Nghiên cứu sẽ được tiến hành trên những người tuổi từ 60 trở lên tại thời điểm điều tra, cỡ mẫu nghiên cứu được áp dụng theo công thức tính cỡ mẫu cho một nghiên cứu tỷ lệ trong quần thể
Quần thể nghiên cứu là toàn bộ người cao tuổi tại huyện lựa chọn nghiên cứu.Đơn vị nghiên cứu là người cao tuổi từ 60 trở lên
Đơn vị chọn mẫu là hộ gia đình Số lượng đối tượng nghiên cứu là:
Với độ tin cậy 95%: Z=1.96
p=0,55 (là tỷ lệ người cao tuổi chưa đi khám răng miệng lần nào, theo điều traSKRM toàn quốc năm 2000)
Cách chọn mẫu: chọn mẫu theo nhiều bậc
Số người cao tuổi được lựa chọn vào nghiên cứu sẽ theo các bước như sau:
Bước 1: Chọn huyện nghiên cứu
Chúng tôi chọn Phường Yên Sở đại diện cho vùng nông thôn của các huyện ngoại thành Hà Nội
Bước 2: Lựa chọn xã nghiên cứu
Lập danh sách các tổ dân phố hiện có trong phường, lựa chọn một tổ theo danh sách bằng phương pháp ngẫu nhiên đơn
Bước 3: Lựa chọn người cao tuổi
Trang 25Tại tổ lựa chọn, lập danh sách người cao tuổi hiện có (từ 60 tuổi trở lên) tại thời điểm điều tra Sau đó, người cao tuổi đầu tiên được lựa chọn theo phươngpháp ngẫu nhiên đơn và các đối tượng nghiên cứu còn lại được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống với khoảng cách mẫu bằng tổng số người cao tuổi của tổ tại thời điểm điều tra/300 Có cân nhắc về giới (nam, nữ)
2.3.3 Kỹ thuật thu thập số liệu:
Nghiên cứu sẽ thu thập thông tin qua các kỹ thuật:
Thăm khám lâm sàng ở từng đối tượng nghiên cứu, chủ yếu là quan sát bởi
các giác quan bằng nhìn, sờ, gõ, thử độ chặt của răng Quan sát với sự trợ giúp của các dụng cụ thăm khám như gương, kẹp nha khoa, châm, khay khám
và châm thăm dò nha chu do tổ chức y tế thế giới qui định
Phỏng vấn trực tiếp từng đối tượng theo bộ câu hỏi được xây dựng theo
cấu trúc có sẵn (phụ lục 1)
2.3.4 Chỉ số nghiên cứu chính:
a- Thông tin chung của bệnh nhân: giới (nam/nữ), nhóm tuổi ( 60-74 và
75+), hiện sống với ai, điều kiện kinh tế, trình độ học vấn
b- Các chỉ số chính:
b1 Khám lâm sàng, điều tra tình hình bệnh quanh răng
Các tiêu chí được đánh giá, thực hiện theo mẫu điều tra sức khỏe răng
miệng cộng đồng của Tổ chức Y tế thế giới năm 1997 [47] nhưng đi sâu vàoTình trạng viêm quanh răng theo CPITN
1 Chỉ số mảng bảm (PLI)
Tiêu chuẩn đánh giá:
0= Không có mảng bám
1= một màng mềm bám dính bờ lợi tự do và vùng răng cạnh, mảng bám có thể nhìn thấy không chỉ sau khi dùng chất chỉ thị màu hoặc bởi đưa đầu thám châm qua lại mặt răng
2= nhiều mảng bám hoặc chất cặn mềm trong túi lợi hoặc trên răng và bờ lợi
b2.2 Chỉ số cao răng đơn giản (CIS)
Tiêu chuẩn đánh giá:
0= Không có cao răng
1= Cao răng trên lợi có ở 1/3 bề mặt thân răng
Trang 262= Cao răng trên lợi có ở 1/3-2/3 bề mặt thân răng hoặc cảm giác thấy cao răng ở dưới lợi quanh cổ răng
3= Cao răng trên lợi bám >2/3 mặt răng và có cao răng dưới lợi
b2.3 Chỉ số lợi GI (Gingival Index)
Đánh giá mắc độ nặng của lợi dựa trên cơ sở màu sắc, trương lực và chảy máu khi khám
Mỗi vùng thăm khám 1-2 răng đại diện và là răng bệnh lý nặng nhất Chỉ tính răng 8 khi nó thế chỗ chức năng răng 7
Nếu vùng nào mất răng đánh dấu X
Nếu vùng nào còn một răng chuyển sang vùng bên cạnh và đánh dấu X
Tiêu chuẩn đánh giá CPITN:
Trang 27Mã số 0: tổ chức quanh răng bình thường
Mã số 1: Chảy máy sau thăm nhẹ
Mã số 2: Cao răng trên hoặc dưới lợi
II (mức độ 2 và 3): lấy cao răng và vệ sinh răng miệng
III (mức độ 4): điều trị kết hợp I và II, phẫu thuật nha chu và phục hình
b3 Xác định tình hình mất răng và nhu cầu làm răng giả:
Dự kiện này cần để lập kế hoạch chăm sóc thích hợp cho người cao tuổi, vừa
để giám sát hiệu quả toàn bộ các dịch vụ chăm sóc răng miệng trong một quần thể
Mức độ đánh giá:
6.1: Không cần răng giả Gồm những người còn đủ răng, những người thiếu
hoặc đã nhổ răng 8, những người mất một răng đã lâu hoặc các răng bên cạnh
Gồm những bệnh nhân đã được điều trị phục hình tháo lắp hoặc gắn chặt
6.4 Phân loại hàm mất răng
Dựa theo cách phân loại hàm mất răng của Kennedy:
K1 Mất nhóm răng hàm 2 bên, không còn răng giới hạn khoảng mất răngK2 Mất nhóm răng hàm 1 bên, không còn răng giới hạn khoảng mất răngK3 Mất nhóm răng hàm 1 hoặc 2 bên, còn răng giới hạn
K4 Mất nhóm răng cửa
K0: Mất 1 răng
TB: Nếu mất toàn bộ 1 hàm trên hoặc dưới gọi là mất răng toàn bộ
Lưu ý:
Nếu răng có chỉ định nhổ thì coi như không có khi phân loại
Mất răng sau là yếu tố quyết định khi phân loại
Các phân loại trên không tính đến các biến thể vì sẽ rất phức tạp, khó tổng kếtb4 Kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc răng miệng của người cao tuổi (NCT) bằng phỏng vấn bộ câu hỏi:
Nội dung điều tra:
Những hiểu biết của NCT về bệnh sâu răng và sức khỏe răng miệng
Trang 28Thái độ của đối tượng trước các vấn đề răng miệng
Thực hành của đối tượng chăm sóc răng miệng
Tiêu chuẩn đánh giá:
Trong bộ câu hỏi, mỗi câu hỏi đều có đáp án trả lời bằng cách đánh dấu Kiến thức được đánh giá bằng cách:
Không biết hoàn toàn: Đối tượng trả lời không biết hoặc không trả lời được câu hỏi
Hiểu biết trung bình: trả lời đúng một đáp án
Hiểu biết khá: trả lời đúng 2 đáp án
Hiểu biết tốt: trả lời đúng 3 đáp án trở lên
Chọn đối tượng theo đúng tiêu chuẩn nghiên cứu
Bộ câu hỏi được xây dựng theo mục tiêu, dễ hiểu và thu thập thử để chỉnh sửacho rõ ràng, dễ sử dụng và sát với thực tế
Các định nghĩa được thống nhất trong nhóm nghiên cứu thông qua tập huấn
và sau tiến khi tiến hành thu thập thử
Người thu thập thông tin phải được tập huấn kỹ mục đích và cách thu thập số liệu
Phương pháp khám lâm sàng được thống nhất trong nhóm nghiên cứu, sử dụng cùng bộ dụng cụ
2.4 Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 10/2008 – tháng 12/2009
2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu:
Mọi thông tin thu thập được đảm bảo bí mật cho đối tượng lựa chọn, chỉ phục
vụ cho mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu được sự đồng ý và phê duyệt của địa phương và các cấp lãnh đạo
có liên quan
Kết quả nghiên cứu được phản hồi cho các địa điểm nghiên cứu
Trang 29Chương 3
DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu:
Bảng 3.1 Đặc điểm chung về số lượng đối tượng nghiên cứu
Điều kiện kinh tế
Thu nhập bình quân cả năm
Trang 313.3.2 Kết quả điều tra về tình trạng bệnh quanh răng
Bảng 3.8: Phân bố chỉ số mảng bám (PLI) theo giới
Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ %Rất tốt
Bảng 3.9: Phân bố chỉ số mảng bám (PLI) theo nhóm tuổi
Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ %Rất tốt
Trang 32Bảng 3.10: Phân bố chỉ số cao răng (CI) theo giới
Bảng 3.11: Phân bố chỉ số cao răng (CI) theo nhóm tuổi
Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ %Rất tốt
Bảng 3.13: Phân bố chỉ số lợi (GI) theo nhóm tuổi
Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ %Rất tốt
Trang 33Bảng 3.14: Phân bố tình trạng quanh răng (mã số CPITN) theo giới
Bảng 3.15: Phân bố tình trạng quanh răng (mã số CPITN) theo nhóm tuổi
Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ %0
Trang 343.4 Kiến thức, thái độ và thực hành về chăm sóc răng miệng ở người cao tuổi:
Bảng 3.18: Kiến thức về bệnh quanh răng theo giới
Bảng 3.19: Kiến thức về bệnh quanh răng theo nhóm tuổi
Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ %Tốt
Trang 353.4.2 Thái độ của người cao tuổi về chăm sóc răng miệng:
Bảng 3.20: Thái độ của người cao tuổi khi có vấn đề về răng miệng theo giới
Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ %Tới nha sĩ
Tự điều trị
Khác
Tổng cộng
Nhận xét:
Trang 36Bảng 3.22: Phân bố lý do không đi khám răng miệng
3.4.2 Thực hành của người cao tuổi về chăm sóc răng miệng:
Bảng 3.23: Tình hình khám định kỳ răng miệng của người cao tuổi theo giới
Trang 37Bảng 3.24: Tình hình khám định kỳ răng miệng của người cao tuổi theo nhómtuổi
Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ %
Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ %
≤ 1 năm
> 1 năm
Tổng cộng
Nhận xét:
Trang 38Bảng 3.26: Phân bố thời gian khám răng miệng gần nhất của người cao tuổi theo nhóm tuổi
Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ %
Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ %Dùng tăm
Súc miệng
Chải răng
Khác
Nhận xét:
Trang 39Bảng 3.28: Phân bố các biện pháp vệ sinh răng miệng của người cao tuổi theonhóm tuổi
Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ %Dùng tăm
Súc miệng
Chải răng
Khác
Nhận xét:
3.5 Nhu cầu điều trị răng miệng ở người cao tuổi:
Bảng 3.29: Phân bố nhu cầu điều trị theo giới
Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ %0
Trang 40bố nhu cầu điều trị theo nhóm tuổi
Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ %0
Bảng 3.31: Phân bố nhu cầu làm răng giả theo giới
Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ % Tần suất Tỷ lệ %Không cần