1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đề tài: “Tìm hiểu nhu cầu giải trí của đồng bào dân tộc Răglay xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hoà hiện nay”

68 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu nhu cầu giải trí của đồng bào dân tộc Răglay xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hoà hiện nay
Tác giả Mai Văn Phong
Người hướng dẫn PGS.TS: Trần Thị Kim Xuyến
Trường học Đại học Khánh Hoà
Chuyên ngành Nghiên cứu Văn hóa và Xã hội
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Khánh Hòa
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 830 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài “Tìm hiểu nhu cầu giải trí của đồng bào dân tộc Răglay xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hoà hiện nay” LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD PGS TS Trần Thị Kim Xuyến A DẪN NHẬP 1 Tính cấp thiết củ[.]

Trang 1

Hiện nay Việt Nam chúng ta đang tiến lên và trở thành một nước công- nôngnghiệp hiện đại với một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, đời sống vậtchất và tinh thần của người dân được cải thiện và chăm lo nhiều hơn Và khi đó nhucầu giải trí đóng vai trò quan trọng và ngày càng được đề cao giúp người dân có thểgiải tỏa áp lực, mệt mỏi sau ngày làm việc vất vả Trong Văn kiện Đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta xác định: “Tạo điều kiện để nhân dân ngày càng nâng cao trình độ thẩm mỹ và thưởng thức nghệ thuật, trở thành những chủ thể sáng tạo văn hóa, đồng thời hưởng thụ ngày càng nhiều các thành quả văn hóa, nâng cao chất lượng hệ thống bảo tàng lịch sử, bảo tàng cách mạng, đẩy mạnh xây dựng thư viện, nhà văn hóa, nhà thông tin, câu lạc bộ sức khỏe, sân bãi thể dục thể thao, khu vui chơi giải trí”.

(Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX- trang www.Dangcongsan.com.vn)

Xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hoà là một xã miền núi với dân cư

501 hộ với :1945 nhân khẩu ( 845 Nữ) , là một xã có chiếm số đông bào dân tộc thiểu

số mà đa số là đồng bào dân tộc Raglai, những biến đổi về kinh tế lẫn văn hóa ở đâyphức tạp và nhiều chiều hơn các khu vực khác

Gia đình được coi là hạt nhân của xã hội Sự phát triển bền vững của gia đình là nềntảng phát triển xã hội Mỗi cá nhân, ngoài việc hoàn thành tốt các công việc xã hội,còn phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đối với gia đình, tạo sự đồng thuận, liên kết cácthành viên trong gia đình Áp lực của công việc, những căng thẳng, những lo âu, buồnphiền là nguyên nhân làm gia đình tan vỡ Và khi đó, vui chơi giải trí lành mạnh làmột giải pháp tốt nhất Giải trí lành mạnh sẽ giúp mỗi thành viên trong gia đình giảitỏa trạng thái tâm lý căng thẳng từ công việc Giải trí lành mạnh có hiệu quả sẽ gópphần tái tạo sức lao động, đem lại sự hứng thú trong cuộc sống, nâng cao năng lực vànăng suất lao động, tạo dựng sợi dây gắn kết và tăng cường tình cảm giữa các thànhviên trong gia đình Nhận thấy được nhu cầu giải trí là hoạt động giải trí cần thiết đốivới người dân Raglai và sự tham gia của người dân ngày càng nhiều Chính những lý

do trên đã thôi thúc tác giả đi sâu nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu nhu cầu giải trí của đồng bào dân tộc Raglai xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hoà hiện nay”.

Trang 2

Đề tài tập trung chủ yếu vào nhu cầu về giải trí của người dân tộc Raglai xãKhánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa.

b) Tìm hiểu điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho giải trí của người dân xã KhánhNam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hoà trong thời gian rảnh rỗi

c) Phân tích mức độ ảnh hưởng của giới tính đến việc lựa chọn các loại hình giải trícủa cư dân ở đây

Từ đó, có thể dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu có thể đưa ra những khuyến nghịnhằm nâng cao chất lượng

3 Đối tượng, phạm vi, khách thể nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu nhu cầu giải trí của người dân tộc Raglai xã Khánh Nam,huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hoà Trong đó khách thể nghiên cứu là người dân tộcRaglai ở xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hoà, phạm vi nghiên cứu vàkhông gian nghiên cứu đó là địa bàn xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh KhánhHoà (Khảo sát tại 2 thôn: thôn Hòn Dù và thôn AXây) và được tiến hành vào thời giantháng 5/2012

4 Giới hạn của đề tài:

Đề tài chỉ dừng lại việc khảo sát nhu cầu giải trí của người dân tộc Raglai xãKhánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa Mô tả bức tranh chung về tham giagiải trí của người dân tại xã hiện nay chỉ mang tính tổng quát chứ không phân tích sâuvào các nội dung nghiên cứu, người thực hiện khóa luận mong sẽ có cơ hội nghiêncứu

Trang 3

Nhu cầu giải trí được nghiên cứu từ hướng tiếp cận xã hội học nói chung và củacác cách tiếp cận, lý thuyết được áp dụng trong đề tài này nói riêng như cách tiếp cậnlối sống, lý thuyết hành động xã hội.Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần xây dựng mộtquan niệm khoa học về giải trí lành mạnh và là cơ sở thực nghiệm, kiểm chứng cho hệthống lý thuyết xã hội học trong các lĩnh vực chuyên biệt, góp phần bổ sung lý thuyết

xã hội học văn hóa, xã hội học gia đình

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu là những cứ liệu cụ thể phản ánh xác thực về hiện trạng nhucầu giải trí của người dân Raglai xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hoàhiện nay Nó góp phần chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự lựa chọn cácloại hình giải trí của các gia đình Đồng thời, nghiên cứu cũng cố gắng đưa ra nhữngkhuyến nghị, giải pháp để giúp các cơ quan quản lý, các nhà hoạch định chính sáchtham khảo trong việc định hướng những chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng,truyền thông nhằm đáp ứng tốt nhu cầu hưởng thụ văn hóa giải trí ngày càng cao củanhân dân

6 Bố cục của đề tài:

Đề tài: “Tìm hiểu nhu cầu giải trí của đồng bào dân tộc Raglai xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hoà hiện nay.” bao gồm phần mở đầu, nội dung và kếtluận

Trong phần mở đầu, tác giả đã khái quát những vấn đề cần nghiên cứu như lí do chọn

đề tài, mục tiêu, đối tượng, khách thể và ý nghĩa

Về nội dung bao gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Trong chương này, tác giả đãthu thập những tài liệu có liên quan đến đề tài để tổng quan tình hình nghiên cứu cũngnhư cung cấp kiến thức trong quá trình viết về đề tài, cách tiếp cận và lý thuyết được

áp dụng như lý thuyết hành động xã hội và cách tiếp cận lối sống, các phương phápđược áp dụng, một số khái niệm liên quan, câu hỏi nghiên cứu và khung phân tích.Chương 2: Nhu cầu giải trí của người dân tộc Raglai xã Khánh Nam, huyện KhánhVĩnh, tỉnh Khánh Hòa Trong chương này tác giả muốn nói sơ lược về lịch sử cộngđồng dân tộc Raglai và địa bàn nghiên cứu của người dân tộc Raglai tại xã KhánhNam Bên cạnh đó tác giả muốn nêu quan niệm của người dân Raglai về vai trò của

Trang 4

vui chơi giải trí của người dân Raglai.

Ngoài ra, đề tài còn có phần mục lục, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụlục

Trang 5

1.1 Cơ sở lý luận.

1.1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu.

Hoạt động giải trí (với tư cách là những hoạt động tự do, theo nhu cầu và sởthích của cá nhân) là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu hoạt động sống của cá nhân.Hoạt động giải trí góp phần tạo nên diện mạo văn hóa cá nhân và là một trong nhữngthước đo lối sống của con người Nếu nhu cầu giải trí không được đáp ứng thỏa đáng,thì nhân cách có nguy cơ bị biến dạng

Cùng với sự phát triển của xã hội, sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã giúp cho conngười ngày càng có nhiều thời gian nghỉ ngơi; nhu cầu vật chất được đáp ứng; nhu cầutinh thần được nâng cao Con người cũng nhận thức được vai trò của giải trí và tầmquan trọng của nó Giải trí trở thành nhu cầu không thể thiếu trong mỗi cá nhân, mỗigia đình

Ở nhiều nước trên thế giới, các chính phủ đã bỏ rất nhiều kinh phí đầu tư cholĩnh vực này Bên cạnh các di sản tự nhiên, có hàng trăm các công trình vui chơi giảitrí nhân tạo với nhiều kiểu dáng, kiến trúc hiện đại, thu hút hàng triệu du khách trong

và ngoài nước đến tham quan Ngành giải trí không chỉ đem lại lợi ích về mặt văn hóatinh thần cho con người mà còn mang lại lợi nhuận cao trong phát triển kinh tế của cácquốc gia

Lĩnh vực giải trí đang trở thành mảnh đất màu mỡ được nhiều ngành khoa học quantâm nghiên cứu Những công trình xã hội học nghiên cứu về giải trí có từ rất sớm gắnliền với tên tuổi của các nhà khoa học như: Aristot, Platon, John Kelly đến các tác

phẩm nổi tiếng như Những thực tại của sự nhàn rỗi và các hệ tư Dumazedier(1969), Tiến tới một khoa sư phạm về nhàn rỗi của tuổi trẻ- Edouard B(1965), Văn hóa và thời gian rỗi- Markunene Ju(1977)

tưởng-Trong cuốn “L’avenement des loisirs 1850-1960” của Corbin Alain xuất bản năm 1995

tại Pháp đã nêu ra những lý luận và phân tích vai trò của giải trí trong xã hội phươngTây thời kỳ từ 1850-1960, những ước muốn du lịch đối với người lao động

Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về thời gian rỗi và về lĩnh vựcgiải trí của các thành viên trong gia đình hay của một nhóm xã hội Đề tài nghiên cứu

Trang 6

được tình hình thưởng thức văn hóa nghệ thuật qua việc xem ti vi, nghe đài, đọc sáchbáo, sinh hoạt câu lạc bộ

Cuốn Nhu cầu giải trí của thanh niên- TS Đinh Thị Vân Chi- NXB chính trị quốc

gia-Hà Nội-2003, đã đề cập đến vai trò của giải trí đối với thanh niên, khuôn mẫu giải trícủa thanh niên, sự đáp ứng của xã hội và đưa ra xu hướng biến đổi, những giải phápnâng cao hiệu quả đáp ứng nhu cầu giải trí của thanh niên

Luận văn tốt nghiệp “Thực trạng việc đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí của gia đình

đô thị qua đài- báo- ti vi qua khảo sát xã hội học tại phường Lạch Tray, thành phố Hải Phòng, tháng 10/2001” của Trần Hoàng Anh đã nêu được vấn đề về hiệu quả thông tin

của báo, đài, ti vi đối với công chúng, vai trò của gia đình trong vấn đề nhận thức việcvui chơi giải trí và đề tài này tác giả cũng đã sử dụng các phương pháp thu thập thôngtin bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu các hộ gia đình

Tác giả Nguyễn Thị Luyện- Hà Nội- 2000 với bài viết: “Thực trạng sử dụng thời gian rỗi của cư dân thành phố Nam Định hiện nay” đã mô tả được thực trạng và mức độ sử

dụng các loại hình giải trí của cư dân thành phố Nam Định.Đồng thời đề tài cũng nêuđược những nguyên nhân ảnh hưởng tới nhu cầu giải trí của người dân

Qua những bài viết, báo cáo, luận văn của các tác giả trên cho thấy được rằng nhucầu giải trí, thưởng thức văn hóa nghệ thuật của người dân ngày càng đa dạng với cácloại hình giải trí khác nhau, hiệu quả của giải trí ti vi, báo, đài mang lại, trong quá trìnhthu thập thông tin các tác giả đã sử dụng các phương pháp thu thập thông tin bằngbảng hỏi và các cuộc phỏng vấn sâu Một số nhà nghiên cứu sử dụng phương phápnghiên cứu định lượng và định tính như nghiên cứu của Trần Hoàng Anh tháng 10 năm2001

Trang 7

xã hội” Các tác giả đại diện cho cách tiếp cận này như V.I.Tolstuc, V.I.Luchenco, G.D.CLZenman… các tác giả đều cho rằng các yếu tố cơ bản cấu thành nên lối sống chính

là phương thức sản xuất

Các tác giả theo cách tiếp cận thứ hai cho rằng nếp nghĩ và nếp sống nội tâmcủa con người là hai yếu tố của lối sống Tuy nhiên khi cho rằng hai yếu tố là phạm trùcủa lối sống của một nhóm xã hội , một giai cấp thì các tác giả đã loại trừ hình thứchoạt động sống quan trọng nhất của hoạt động chính trị- xã hội

Cách tiếp cận thứ ba đã hình thành, những tác giả theo cách tiếp cận này chorằng không thể loại trừ bản thân hoạt sống ra khỏi lối sống Họ nhận ra rằng lối sốngnhư là sự thống nhất các hoạt động sống và một số điều kiện sống quan trọng nhất.Theo các tác giả thì “lối sống là một phạm trù xã hội học, chỉ sự thống nhất hữu cơ cáchoạt động sống và điều kiện nhất định”

Cách tiếp cận này giúp tác giả khóa luận có cách nhìn cụ thể trong việc tìm hiểunhu cầu giải trí của người dân tộc Raglai, bên cạnh đó cũng thấy được những tác độngqua lại giữa lối sống vốn hình thành từ nền văn hóa của một dân tộc và thế giới mở vớiđầy đủ các dịch vụ giải trí tác động đến lối sống của người dân tộc Raglai hiện nay

( nguồn: Bài giảng bộ môn xã hội học lối sống, PGS-TS Trần Thị Kim Xuyến, 2010) 1.1.2.2 Lý thuyết hành động xã hội

Các tác giả nổi tiếng của thuyết này như Pareto, Weber, Parson, … đều coi hànhđộng xã hội là cốt lõi của mối quan hệ con người – xã hội, là cơ sở của đời sống xã hộicủa con người Theo Weber, hành động xã hội là hành vi được chủ thể gắn cho một ýnghĩa chủ quan nhất định Và cái mà Weber gọi là “ ý nghĩa chủ quan” chính là ý thức,

là hành động có ý thức, chủ thể hiểu được mình định thực hiện hành động gì? và sẽthực hiện nó như thế nào? khác hẳn với những hành động bản năng sinh học Đốichiếu với hành động lựa chọn những hình thức giải trí của các hộ gia đình là hànhđộng có sự tham gia của ý thức, thể hiện sự lựa chọn của chủ thể về nhiều khía cạnhnhư chơi cái gì? đi đâu? vào lúc nào? có phù hợp với điều kiện của mình không? Nhưvậy, hành động lựa chọn hình thức giải trí của các hộ gia đình cũng chính là một dạnghành động xã hội

Trang 8

điều chỉnh bởi quan niệm của xã hội về giá trị chuẩn mực đã được các thành viên trong

xã hội chấp nhận vì vậy khi tham gia vào hoạt động giải trí không thể không tính đến

hệ giá trị – chuẩn mực của xã hội

Hành động có tính duy lý, nghĩa là phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của chủ thể Các

cá nhân một mặt tuân theo hệ giá trị chuẩn mực của xã hội, mặt khác vẫn hành độngrất khác nhau, chứ không nhất thiết theo khuôn mẫu cứng nhắc Vì vậy các cá nhân tuỳthuộc vào nhu cầu, sở thích và mục đích có thể lựa chọn cho mình những hình thứcgiải trí phù hợp

Lý thuyết này giúp tác giả có cách nhìn cụ thể hơn về nhu cầu giải trí của ngườidân Raglai, đến hành động có ý thức của các hộ gia đình về lựa chọn các hình thức giảitrí phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh hiện tại, cũng như sở thích và mục đích chơi ởđâu, chơi cái gì cho phù hợp với chuẩn mực và tìm hiểu sự tương tác giữa cá nhântrong cộng đồng

1.1.3 Một số khái niệm

* Nhu cầu giải trí:

Nhu là cần thiết, cầu là mong muốn, đòi hỏi Nhu cầu là yếu tố cần thiết và

mong muốn, để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân

Theo từ điển xã hội học của Nguyễn Khắc Viện- NXB Thế Giới, Hà Nội 1994:

“Mọi hành vi của con người đều do sự thúc đẩy của những nhu cầu nào đó Nhu cầu thể hiện sự lệ thuộc của mỗi cơ thể sống vào môi trường bên ngoài, thể hiện thành những ứng xử tìm kiếm khi cơ thể thiếu những điều kiện tồn tại và phát triển Thỏa mãn được nhu cầu, con người cảm thấy thích thú và hài lòng.Không thoả mãn được, con người cảm thấy bị hẫng hụt và có thể đi tới các hành vi chống lại sự trở ngại”

(Trang 221)

* Khái niệm giải trí

Theo cuốn Từ điển tiếng Việt do NXB KHXH Trung tâm, 1994: Giải trí là một hoạt động mà con người làm cho trí óc thảnh thơi sau những căng thẳng, mệt nhọc do công việc mang lại, bằng cách nghỉ ngơi hoặc tham gia các hoạt động vui chơi

Trang 9

thể chất, trí tuệ và mỹ học Giải trí không chỉ là nhu cầu của từng cá nhân, mà còn là nhu cầu của đời sống cộng đồng.

Theo cuốn Nhu cầu giải trí của thanh niên của tác giả Đinh Thị Vân Chi, NXB

chính trị quốc gia, Hà Nội,2003: Giải trí là hoạt động trong thời gian rỗi, nhằm giải tỏa căng thẳng trí não, tạo sự hứng thú cho con người và là điều kiện phát triển con người một cách toàn diện về trí tuệ, thể lực và thẩm mỹ.

Giải trí là những hoạt động trong thời gian rỗi nhưng không phải bất kể hoạtđộng nào trong thời gian rỗi cũng là giải trí Các hoạt động như la cà hàng quán, hút

ma tuý tuy diễn ra trong thời gian rỗi nhưng là những hành vi lệch chuẩn, không phải

là để giải trí

Như vậy, giải trí là muốn nói đến các hoạt động vui chơi nói chung, đem lại chocon người cảm giác thư thái, thoải mái về mặt thể chất cũng như tinh thần Tuy nhiên,

chúng ta cũng cần phân biệt giải trí lành mạnh và giải trí không lành mạnh Vì ngày

nay, cùng với sự phát triển của xã hội, thì những hình thức giải trí đáp ứng nhu cầu củangười dân ngày càng phong phú, đa dạng Tuy nhiên, không tránh khỏi những hìnhthức giải trí mang mục đích xấu, ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách con người

Giải trí lành mạnh là hoạt động giải trí trong thời gian rỗi nhằm mục đích thưgiãn, nghỉ ngơi, lấy lại trạng thái cân bằng sau những giờ làm việc mệt mỏi Các hoạtđộng được cho là lành mạnh có thể kể đến như nghe nhạc, xem phim, đọc sách báo,truy cập internet, tập thể dục thể thao, tham gia các câu lạc bộ…Đây là những hoạtđộng lành mạnh, đem lại hiệu quả cao, có vai trò rất lớn đối với mỗi cá nhân, giúp cánhân phát diện toàn diện cả về thể chất và tinh thần

Tuy nhiên, cũng là những hoạt động diễn ra trong thời gian rỗi như xem phim

đồ trụy, truy cập các trang web đen, chơi cờ bạc, cá độ bóng đá… nhưng động cơ, mụcđích không lành mạnh, không trong sáng, không những làm tiêu tốn thời gian tiền bạc,

mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của con người Việc tham gia các hoạtđộng giải trí không lành mạnh còn dẫn họ đến con đường phạm tội, hủy hoại bản thân,ảnh hưởng đến gia đình và xã hội

Trang 10

ngã vào những hình thức giải trí không lành mạnh.

* Khái niệm nhu cầu giải trí

Giải trí là nhu cầu của con người vì nó đáp ứng những đòi hỏi bức thiết cá nhân,

mà nếu thiếu nó thì sự phát triển của họ không thể đầy đủ và toàn diện

Những nhân tố quyết định đến nhu cầu giải trí:

Điều kiện chủ quan: Nhân khẩu xã hội của chủ thể, nhu cầu tinh thần, thời gianrỗi, kinh phí, năng khiếu cá nhân, nghề nghiệp, thu nhập

Điều kiện khách quan: Số lượng, vị trí của các địa điểm giải trí, sự tổ chức vàquản lý các hoạt động giải trí

Định hướng của xã hội: Chính sách giải trí, quan niệm xã hội, đầu tư của xã hộicho giải trí

* Khái niệm thời gian rỗi

Theo cuốn Nhu cầu giải trí của thanh niên- Đinh Thị Vân Chi- NXB chính trị quốc gia- Hà Nội,2003: Thời gian rỗi là khoảng thời gian mà trong đó con người không bị thúc bách bởi các nhu cầu sinh tồn, không bị chi phối bởi bất cứ nghĩa vụ khách quan nào Nó được dành cho các hoạt động tự nguyện, theo sở thích của chủ thể nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người.

Thời gian rỗi có nhiều cấp độ khác nhau:

Thời gian rỗi cấp ngày: Nghỉ giữa buổi lao động và sau ngày lao động

Thời gian rỗi cấp tuần: chỉ những ngày nghỉ cuối tuần

Thời gian rỗi cấp năm

Thời gian rỗi cấp đời người: Khoảng thời gian nghỉ ngơi sau cả cuộc đời laođộng vất vả

Như vậy, khái niệm thời gian rỗi trong nghiên cứu này được hiểu đó là khoảngthời gian dành cho nghỉ ngơi, giải trí của các cá nhân có được sau khoảng thời gianlàm việc tạo ra thu nhập cho gia đình Trong khoảng thời gian rỗi này, các cá nhân cóquyền lựa chọn các hình thức giải trí phù hợp với bản thân và gia đình nhằm thoả mãnnhu cầu về mặt tinh thần

Trang 11

Phương pháp điều tra xã hội học chủ yếu sử dụng phương pháp định lượng

bằng bảng hỏi kết hợp với phương pháp thu thập thông tin định tính đó là phỏng vấnsâu

Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu xã hội học Các thông tinthu thập từ những công cụ: quan sát, thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu và điều tra bảnghỏi Các bước gồm có đặt vấn đề nghiên cứu, quan sát hiện tượng, đặt vấn đề và lậpgiả thuyết, sau đó thu thập số liệu, phân tích dữ liệu, từ đó rút ra những phát hiện vàkết luận

1.2.2 Phương pháp hệ:

* Phương pháp thu thập thông tin sẵn có

Với phương pháp này sẽ thu thập những thông tin sẵn có thông qua các báo cáocác nguồn dữ liệu của xã Khánh Nam, của huyện Khánh Vĩnh tỉnh Khánh Hòa Đồngthời tôi có sử dụng một số tài liệu trên internet và các đề tài luận văn liên quan quanđến nhu cầu giải trí để làm tiền đề cho tác giả trong việc thực hiện đề tài này

*Phương pháp nghiên cứu định lượng:

Trong đề tày này, tác giả sử dụng các phương pháp thu thập thông tin sau:

Thông tin định lượng lấy từ bộ dữ liệu của đề tài: “Tìm hiểu lối sống người dân tộc Raglai tại xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, Tỉnh Khánh Hòa” của chuyến thực tập cuối kỳ Khóa 11, tháng 5/2012.Mẫu khảo sát: đặc điểm là người dân tộc Raglai và đang sinh sống tại hai thôn Hòn Dù và Axay

Tổng số phiếu điều tra định lượng là 182 phiếu.Kết quả khảo sát xã Khánh Nam gồm

182 hộ, những hộ được lựa chọn để thực hiện công cụ này được lựa chọn ngẫu nhiên

từ danh sách hộ gia đình của xã tại 2 ấp Axay và Hòn Dù, được thực hiện bằng hình thức phỏng vấn cá nhân bằng bảng hỏi đã được chuẩn bị, gồm 17 trang

Công cụ thu thập thông tin bằng bảng hỏi, thông tin có tính đại diện cho tổng thể.Đây

là phương pháp thu thập thông tin để nói lên nhu cầu giải trí của người dân tộc Raglay.Đây là một trong những phương pháp thu thập thông tin chính dựa vào bảng câu hỏi với những thông tin của hộ gia đình (về giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp…)

* Phương pháp nghiên cứu định tính

Trang 12

tại xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, Tỉnh Khánh Hòa” của chuyến thực tập cuối kỳKhóa11, tháng 5/2012 Đối tượng thu thập thông tin là người dân tại 2 xã Hòn Dù vàAxây Dung lượng mẫu gồm 12 cuộc phỏng vấn sâu Để làm rõ hơn nhu cầu giải trícủa người dân mà không thể thu thập thông tin bằng định lượng.

- Phương pháp phỏng vấn sâu: thu thập thông tin định tính thông qua công cụphỏng vấn sâu với những câu hỏi mà thu thập thông tin định lượng không thuthập được để làm rõ hơn nhu cầu giải trí của người dân

- Phương pháp phỏng vấn sâu giúp tác giả khóa luận khai thác thông tin sâu sắchơn để có thể hiểu rõ được vấn đề mà phương pháp định lượng chưa làm đượcNghiên cứu định tính là một phương pháp tiếp cận nhằm tìm cách mô tả và phân tíchđặc điểm văn hóa và điều kiện sống của cộng đồng người Raglai.Nghiên cứu định tínhcung cấp thông tin toàn diện về các đặc điểm của môi trường xã hội nơi nghiên cứuđược tiến hành Đời sống xã hội được nhìn nhận như một chuỗi các sự kiện liên kếtchặt chẽ với nhau mà cần được mô tả một cách đầy đủ để phản ánh được cuộc sống

thực tế hàng ngày ( nguồn: bài giảng môn phương pháp nghiên cứu xã hội học, PGS.TS Trần Thị Kim Xuyến)

* Phương pháp xử lý số liệu

Xử lý số liệu bằng phần mềm spss 11.5 với hai dạng câu hỏi đó là câu hỏi mở

và câu hỏi đóng được thể hiện qua hai dạng bảng chủ yếu là bảng mô tả và bảng kếthợp

Ngoài ra trong quá trình làm đề tài này tác giả đã tiến hành phương pháp thu thậpthông tin, nghiên cứu phân tích các báo cáo về đặc điểm tình hình kinh tế- chính trị-văn hóa- xã hội của xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hoà để có nhữngthông tin chính xác về địa bàn nghiên cứu Đồng thời cũng phân tích các bài viết, cácbáo cáo, các luận văn có liên quan đến đề tài Và trong quá trình đó cũng sử dụngphương pháp quan sát các địa điểm vui chơi giải trí trong xã và các loại hình hoạt độngcủa giải trí của người dân Raglai để có thêm thông tin cho bài viết

1.2.3 Nguồn dữ liệu

Trang 13

Khánh Vĩnh, Tỉnh Khánh Hòa khóa 11 năm 2012” Cùng đó, đề tài sử dụng một số tàiliệu tham khảo trên sách và Internet

1.3 Câu hỏi nghiên cứu:

Câu hỏi 1: Quan niệm của người dân về vai trò của giải trí trong thời gian rỗi hiện naynhư thế nào?

Câu hỏi 2: Điều kiện cho hoạt động vui chơi giải trí của người dân tộc Raglai hiện naynhư thế nào?

Câu hỏi 3: Hoạt động tham gia vào các loại hình giải trí của người dân tộc Raglaytrong thời gian rảnh rỗi hiện nay đang diễn ra như thế nào?

Câu hỏi 4: Giới tính có ảnh hưởng đến tham gia vào các hoạt động giải trí của ngườidân Raglai hiện nay như thế nào?

Câu hỏi 5: các nguyên nhân tác động dẫn đến hoạt động vui chơi giải trí của người dânRaglai thấp?

Trang 14

1.4 Mô hình khung phân tích

Điều kiện, kinh tế,

chính trị xã hội Tham gia của người dân vào các hoạt

Xem

ti vi, video

Nói chuyện với họ hàng

Nói chuyệnvới người thân trong gia đình

Thamgia thể dục, thể thao

Nói chuyệ

n cùngbạn bè

Các hoạt động khác

du lịch ,

lễ hội Nhận thức, quan

niệm

Trang 15

Chương 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm về địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Lịch sử cộng đồng dân tộc Raglai:

Dân tộc Ra Glai, còn viết là Ra-glai hoặc Raglai (tên gọi khác RaGlây, Hai, Noana,La Vanglà dân tộc thiểu số thuộc hệ ngôn ngữ Mã Lai-Polynesia cưtrú chủ yếu ở tỉnh Ninh Thuận và huyện Khánh Sơn, phía nam tỉnh Khánh Hòa cũngnhư tại Bình Thuận

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Ra Glai ở Việt Nam có dân số122.245 người, có mặt tại 18 trên tổng số 63 tỉnh,thành phố Người Ra Glai cư trú tậptrung tại các tỉnh: Ninh Thuận (58.911 người, chiếm 48,2 % tổng số người Ra Glai tạiViệt Nam),Khánh Hòa (45.915 người, chiếm 37,6 % tổng số người Ra Glai tại ViệtNam), Bình Thuận (15.440 người) và Lâm Đồng (1.517 người)

Trước đây dân tộc Ra Glai sống du canh bằng nương rẫy Trên rẫy thường trồng lúangô Hiện nay họ làm cả ruộng nước Săn bắn, hái lượm và các nghề thủ công (chủyếu là nghề rèn và đan lát) giữ vai trò quan trọng trong mỗi gia đình

Người Ra glai sống thành từng pa-lây (buôn làng) trên khu đất cao, bằng phẳng và gần

nguồn nước Mỗi pa-lây thường gồm vài chục nóc nhà của một dòng họ Số thành viên

trong nhà thường gồm bố, mẹ và các con chưa lập gia đình Đứng đầu lây là pô lây(trưởng làng), thường đó là người có công khai phá đất đầu tiên Trưởng làng có

pa-trách nhiệm làm lễ cúng trời đất khi bị hạn hán nặng Người có uy tín nhất dòng họ gọi

là kây pa-lây (già làng).

Trong xã hội người Ra Glai còn tồn tại chế độ mẫu hệ, đàn ông sống trọn đời ở nhà vợ,con cái đều lấy họ mẹ, người phụ nữ lớn tuổi nhất trong gia đình được thừa hưởng tàisản Mẹ hay vợ là chủ nhà có quyền quyết định trong gia đình Cô gái nếu ưng thuậnchàng trai nào thì nói với bố mẹ lo lễ cưới chồng Trong hôn nhân ngoài quyền củangười mẹ, tiếng nói của ông cậu khá quan trọng Người Ra Glai có nhiều dòng họ:

Trang 16

Chamalé hay Chăm Ma-Léc (tiếng Việt dịch là Mấu), Pi Năng (tiếng Việt dịch là Cau,đọc trại là Cao), KaTơr hay Ka-Tơ (tiếng Việt dịch là Bo Bo), Ha Vâu (tiếng Việt dịch

là Tro), Pu Pươi, Asah, trong đó họ Chamalé là đông hơn cả Mỗi họ đều có một sựtích, truyền thuyết kể về nguồn gốc của họ mình

Người Ra Glai có những trường ca, truyện thần thoại, truyện cổ tích mang giá trị lịch

sử, nghệ thuật và có tính giáo dục sâu sắc

Hình thức hát đối đáp khá phổ biến trong sinh hoạt văn nghệ Nhạc cụ của người RaGlai gồm nhiều loại, ngoài chiêng, cồng còn có đàn bầu, kèn môi, đàn ống tre

Hàng năm sau mùa thu hoạch, cả làng hội tụ thịt trâu, bò, lợn để cúng Giàng và ănmừng lúa mới

Nhà sàn là nhà ở truyền thống của người Ra Glai Từ nền đất đến nhà sàn không caoquá một mét

Về trang phục không có cá tính tộc người qua trang phục mà chịu ảnh hưởng khá đậmcủa các dân tộc trong cùng nhóm ngôn ngữ (như Chăm, Ê Đê )

Vốn là thành phần dân tộc trong khối các dân tộc Malayo- Polinedi ở Việt Nam, ngườiRaglay có mối quan hệ gần gũi về ngôn ngữ, văn hóa với các dân tộc trong khối đó như

Chăm, Êđê, Churu… ( nguồn: tổng điều tra dân số nhà ở năm 2009 )

2.1.2 Một số địa điểm về tình hình kinh tế, xã hội, chính trị, xã hội, văn hóa và giáo dục của xã Khánh Nam huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa

2.1.2.1 Đặc điểm tự nhiên và dân cư:

Xã Khánh Nam nằm ở phía Bắc huyện Khánh Vĩnh, cách trung tâm huyệnkhoảng 2km, Ranh giới hành chính được xác định như sau:

- Phía Đông giáp xã Diên Hồng, huyện Diên Khánh

- Phía Tây giáp xã Cầu Bà, xã Khánh Thượng

- Phía Nam giáp với giáp Sông Cái, bên kia là thị trấn Khánh Vĩnh, xã Sông Cầu

Trang 17

- Phía Bắc giáp với Khánh Trung.

Địa bàn có 3 thôn: thôn 06, thôn A Xay, thôn Hòn Dù

Dân số toàn xã là 1845 nhân khẩu tương ứng với 478 hộ gia đình: gồm 7 dân tộc cùngchung sống:Raglay, Kinh, T’Rin, Tày, Nùng, Mường, Thổ ( trong đó có 3 dân tộc chính

đó là Raglay, Kinh, T’Rin).Mật độ dân số bình quân toàn xã năm 2010 là 43 người/km2

nên Khánh Nam được xem là xã miền núi, đất rộng người thưa

So với các xã của huyện khánh vĩnh thì khánh nam là xã có dân số trung bình Tuynhiên, Dân số của xã phân bố không đều, chủ yếu tập trung sống ven tỉnh lộ 8B và cáctrục lộ giao thông trong xã Thời gian qua do làm tốt công tác kế hoạch hóa gia đìnhnên công tác dân số đã đạt được kết quả đáng khích lệ

2.1.2.2 Văn hóa, xã hội, giáo dục:

Trường chính có tổng diện tích 1025 m2, trong đó diện tích sân chơi: 300m2 , chưa cótường rào, có cổng ngõ, có công trình vệ sinh dành riêng cho giáo viên và học sinh,chưa có các phòng chức năng Hiện nay, còn thiếu 06 phòng học cho các lớp mẫu giáo

Trang 18

Số phòng học chưa đạt chuẩn: 10 phòng, xây mới 06 phòng Số phòng chức năng chưađạt chuẩn 05 phòng , số phòng cần xây 06 phòng Số diện tích sân chơi, bãi tập đã có

500 m2, còn thiếu 1000 m2 để đạt chuẩn

Y tế

Trạm y tế xã có 5 phòng và 04 cán bộ công tác, thực hiện các chương trình quốcgia về tiêm chủng mở rộng, phòng chống một số bệnh xã hội được thực hiện tốt

Trong năm 2011, Trạm y tế xã đã thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh cho nhân dân,

và thực hiện các chương trinh y tế quốc gia được cải thiện đáng kể nhất là công tácchăm sóc sức khỏe sinh sản, tiêm chủng mở rộng đều đạt Hiện tại, tỷ lệ người dântham gia các hình thức bảo hiểm y tế đạt 65%, với 2 hình thức bảo hiểm phổ biến nhất

là bảo hiểm tự nguyện không thuộc diện hộ nghèo và bảo hiểm dành cho người nghèodân tộc kinh và đồng bào dân tộc Tuy nhiên, theo đánh giá của người dân địa phươngthì hiệu quả mang lại của bảo hiểm y tế chưa cao

Văn Hóa

Ranh giới hành chính của xã Khánh Nam được phân chia thành 3 thôn Hưởngứng cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa của ban chỉ đạophong trào TD ĐKXD ĐSVH huyện năm 2008, UBND xã Khánh Nam được côngnhận là cơ quan đơn vị văn hóa, có 2 thôn được công nhận làng văn hóa Năm 2010cán bộ và nhân dân xã Khánh Nam tiếp tục phấn đấu để giữ vững những danh hiệutrên Ngoài ra hàng năm còn tổ chức các lễ hội tôn vinh các già làng, trưởng bản, cáctấm gương làm kinh tế giỏi, tăng cường công tác bài trừ tệ nạn xã hội, các hủ tục lạchậu, mê tín dị đoan, đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ - thể dục, thể thao trênđịa bàn xã

2.1.2.3 Đặc điểm về kinh tế:

Khánh Nam là xã nông nghiệp nông thôn miền núi, nông nghiệp giữ vai tròquan trọng trong cơ cấu kinh tế, chiếm tỷ trọng trên 90 % tổng giá trị sản xuất cácngành kinh tế, công nghiệp và thương mại còn rất hạn chế

Trang 19

- Thu nhập bình quân đầu người: 4,8 triệu đồng/ người/ năm ( là xã có và kinh tế thấp ởhuyện)

Năm 2010, qua điều tra hộ nghèo và cận nghèo, xã Khánh Nam có 478 hộ với 1845nhân khẩu, trong đó có 204 hộ nghèo ( 773 nhân khẩu), chiếm tỷ lệ 42,68% trên tổng

số hộ toàn xã, 104 hộ cận nghèo ( 418 nhân khẩu) Đây là tỷ lệ khá cao, nếu khôngquan tâm đúng mức sẽ gây hạn chế tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của xã Đặc biệt

là trong năm 2011, chương trình 134 và 135 kết thúc, nguồn vốn hỗ trợ cho ngườinghèo và hộ nghèo không còn nên dễ dẫn đến tình trạng nhiều hộ cận nghèo có thể táinghèo và chính sách xóa đói giảm nghèo sẽ gặp nhiều khó khăn

Nông Nghiệp

Trồng trọt: Năm 2010 tổn diện tích reo trồng 860 ha đạt 103,2% kế hoạch cả năm Câytrồng chủ yếu là lúa nước,mì, bắp, mía, đậu các loại, và các loại hoa màu khác, mứcthu nhập của người dân còn thấp vì trong sản xuất, chăn nuôi còn lạc hậu, giá cả thịtrường không ổn định, giá trị chất lượng sản phẩm chưa cao Cụ thể:

-Cây lâu năm: 84 ha đạt 52,5% so với kế hoạch

-Cây hàng năm: 776,3 ha đạt 115,35% so với kế hoạch cả năm, trong đó:

+ Lúa nước: 15 ha đạt 62,5% so với kế hoạch cả năm, năng suất bình quân 2,47 tấn/ ha.+ Bắp: 135 ha đạt 150% so với kế hoạch cả năm, năng suất bình quân 1,04 tấn/ ha.+Mì: 52,4 ha đạt 87,3% so với kế hoạch cả năm, năng suất bình quân 11,9 tấn/ ha.+ Mía: 415 ha đạt 103,75% so với kế hoạch cả năm, năng suất bình quân 40,7 tấn/ ha.+ Rau, dưa, đậu các loại: 154,5 ha đạt 19,2% so với kế hoạch cả năm

Chăn nuôi:Trong năm 2010 tổng đàn gia súc của xã có 1.1258 con, trong đó:

-Đàn trâu: 32 con, giảm 21,05% so với cùng kỳ

- Đàn bò: 312 con, giảm 38,58% so với cùng kỳ

- Đàn heo: 461 con, giảm 24,43% so với cùng kỳ

Lâm Nghiệp

Trang 20

Toàn xã có 1612,99 ha đất nông nghiệp, chiếm 38,27% diện tích tự nhiên toàn xã chủyếu là đất gò đồi, trồng rừng phân tán

Kinh Tế Vườn – Kinh Tế Trang Trại

Hiện nay toàn xã chưa có mô hình kinh tế vườn với diện tích từ 500m2 trởlên,chủ yếu là vườn tạp, hiệu quả kinh tế thấp, cần đầu tư phát triển; kinh tế trang trạichưa phát triển, hiện tại trên địa bàn xã chưa có kinh tế trang trại

Sản xuất nông nghiệp của xã đang ở mức phát triển thấp, sản xuất nông sản hàng hóachậm phát triển, tỉ trọng nông sản hàng hóa chưa cao, phụ thuộc phần lớn vào thiênnhiên, đặc biệt là nguồn nước tưới

Đối với giống cây trồng: Phần lớn người đồng bào dân tộc không chủ động giống lúa

để sản xuất mà chờ xã cấp, nếu không có cấp giống thì người dân không làm, chuyểnqua trồng các loại cây khác

Sản Xuất CN – TTCN

Có 01 doanh nghiệp tư nhân khai thác vật liệu xây dựng, hiện nay do làm ăn thua lỗ đãtạm ngưng hoạt động

Thương Mại – Dịch Vụ

Trong lĩnh vực dịch vụ - thương mại chưa có chuyển biến Trên địa bàn xã chưa

có chợ và khu dân cư chợ trung tâm xã, chưa phát huy hiệu quả, thu hút các hoạt độngsản xuất kinh doanh

Cần đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu vật nuôicây trồng, giảm tỷ trọng lao động trong CN – TTCN, TM – DV, đổi mới các hình thứcsản xuất đến năm 2015 đạt thu nhập 16-17 triệu đồng/người/năm

2.1.2.4 Tiềm Năng Của Xã

Khánh Nam là một xã có nhiều đồi núi, sông suối bao quanh Tuy nhiên, so vớicác xã khác trong huyện Khánh Vĩnh, địa hình của xã Khánh Nam lại là một vùngtương đối bằng phẳng, đồi thấp dưới 15% có độ dốc 50 rất thuận tiện trong việc hìnhthành các vùng chuyên canh cây nguyên liệu trong sản xuất nông nghiệp như: mía, mì,

Trang 21

chuối,…( theo báo cáo của UBND xã tính tới thời điểm 3/2011 diện tích mía trên địabàn có 410 ha, hiện nay Khánh Nam là xã có diện tích mía lớn nhất huyện).

Với đặc trưng của vùng miền núi, trên địa bàn xã có nhiều núi, đồi đan xen là những hệthống sông, suối bao quanh các ngọn núi hòn đồi đã tạo nên những phong cảnh rất đẹp.Đây là một lợi thế mà thiên nhiên đã ban tặng xã Khánh Nam, một tài nguyên phongphú để xã khai thác thế mạnh này trong phát triển kinh tế du lịch

( Nguồn: thu thập thông tin tư liệu sẵn có về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa.)

2.2 Quan niệm của người dân tộc Raglai xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa về vai trò của giải trí:

Đất nước chúng ta đang tiến lên quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa với nềnkinh tế phát triển mạnh mẽ, thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng lên vì thếmức sống người dân không ngừng được cải thiện từ đó con người có xu hướng dànhnhiều thời gian hơn cho giải trí xem tivi tại nhà và nâng cao đời sống tinh thần Nhữnglợi ích từ các hoạt động giải trí xem tivi mang lại cho con người là rất lớn.Nó khôngchỉ giúp con người giải tỏa những căng thẳng về trí óc, những mệt mỏi về thể chất,nâng cao thể lực, cảm thấy thư giãn thoải mái, lấy lại trạng thái cân bằng về tâm sinh lý

mà còn làm cho mỗi cá nhân nhận thấy sống có ý nghĩa hơn, yêu đời hơn, giúp cá nhânphát triển nhân cách tốt và hoàn thiện bản thân

Xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh , tỉnh Khánh Hoà là một xã miền núi đang

có sự biến đổi trong mọi mặt đời sống kinh tế- văn hóa- xã hội Việc đi lại của ngườidân Raglai cũng dễ dàng và thuận tiện hơn.Vì vậy đời sống của người dân xã được cảithiện Khi mức sống được nâng lên, nhu cầu của con người cũng phát triển theo Nókhông chỉ dừng lại ở các nhu cầu về vật chất mà những đòi hỏi về nhu cầu tinh thầncũng ngày càng nâng cao cả về mặt lượng và chất Quan niệm về “ăn no, mặc ấm” xưagiờ được thay thế bởi “ ăn ngon, mặc đẹp” Hơn nữa việc phát triển rộng khắp củamạng lưới truyền thông đại chúng góp phần nâng cao nhận thức của người dân Họ

Trang 22

ngày càng thấy được tầm quan trọng của giải trí Nó trở thành nhu cầu không thể thiếuđối với mỗi người dân nơi đây Theo đánh giá của người dân: “Các chương trình trên ti

vi rất bổ ích, nó chia sẻ và cung cấp các tin tức hàng ngày cho người dân, giúp nângcao dân trí; nội dung chương trình đa dạng, luôn đổi mới, phù hợp với mọi lứa tuổi,nghề nghiệp; có nhiều trò chơi giải trí hấp dẫn giúp thư giãn, quên đi mệt mỏi, cảmthấy yêu đời hơn” Qua quá trình khảo sát các hộ gia đình Raglai tại xã Khánh Nam khi

hỏi: “thế chú xem các chương trình trên ti vi thì mình học hỏi được gì và cảm thấy như thế nào?” Thì kết quả thu được là: “ thì mình xem chương trình trên ti vi thì thấy có rất nhiều chương trình bổ ích nè như chương trình hướng dẫn làm ăn, bày mình cách trồng trọt rồi có chương trình ca nhạc dành cho người dân tộc, khi xem xong mình thấy vui và hay nữa.” ( phỏng vấn sâu người hưởng chính sách hiệu quả)

Từ đó cho thấy được rằng nhu cầu giải trí trên các phương tiện thông tin đạichúng đóng vai trò rất quan trọng đối với người dân Raglai với các loại hình giải trí đadạng và phong phú hơn đáp ứng nhu cầu giải trí người dân trong lúc rảnh rỗi

Phần lớn dân cư xã sinh sống bằng nghề nông nghiệp Tính cố kết cộng đồng,quan hệ anh em làng xóm vẫn rất được người dân Raglai coi trọng Nhu cầu được giaotiếp, nhu cầu thỏa mãn tình cảm là một nhu cầu thiết yếu của cá nhân Nó giúp cá nhâncủng cố các mối quan hệ, thể hiện sự quan tâm, chia sẻ với mọi người xung quanh và

phát triển nhân cách tốt và khi hỏi: “ trong lúc rảnh rỗi khi đi làm về cô có thường xuyên nói chuyện với những người hàng xóm xung quanh không?” thì kết quả là: “có, khi không đi làm thì mình cũng có qua nhà hàng xóm, nhà bạn đó chơi nói chuyện với nhau, chứ mình đâu có anh em gì nhiều chỉ có hàng xóm là người thân thiết ( cười).” ( phỏng vấn sâu hộ đông con)

Trong thời gian rỗi, người dân cũng lựa chọn cho mình những hình thức giải tríphù hợp với sở thích, nguyện vọng, điều kiện, đem lại nhiều lợi ích, giúp cá nhân pháttriển và hoàn thiện bản thân, có lối sống lành mạnh Họ cũng nhận thức được nhữnghoạt động nào thực sự giúp họ giải tỏa những trạng thái căng thẳng, mệt mỏi, đem lại

Trang 23

nhiều lợi ích để tham gia; đồng thời tránh xa các thú vui tiêu khiển vô bổ như cờ bạc,rượu chè, những hành vi lệch chuẩn không mang lại cho họ sự thư thái, thoải mái, sảngkhoái mà còn làm họ tiêu hao sức lực, trí tuệ, tiêu tốn tiền bạc.

Những người dân tộc Raglai ở xã ngày càng nhận thấy sự cần thiết của nhu cầugiải trí đối với đời sống văn hóa tinh thần của họ Các hoạt động giải trí trong thời gianrỗi của người dân phong phú, đa dạng Nhưng do ảnh hưởng của nhiều yếu tố, mà mỗingười dân sẽ lựa chọn cho mình một hình thức giải trí phù hợp

2.3 Điều kiện vật chất của hoạt động vui chơi giải trí của người dân Raglai xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh , tỉnh Khánh Hòa

2.3.1 Điều kiện vật chất của hoạt động vui chơi giải trí của người dân Raglai tại địa phương.

Cơ sở vật chất hạ tầng xã hội phục vụ cho nhu cầu giải trí cũng có ảnh hưởng rấtlớn đến mức độ tham gia và chất lượng các hoạt động giải trí của người dân Cùng với

sự phát triển chung của đất nước, xã Khánh Nam là xã miền núi đang từng bướcchuyển mình Đời sống của người dân Raglai không ngừng được cải thiện Tuy nhiên,

so với tổng thể rộng lớn của Khánh Hòa thì Khánh Nam chỉ là một xã nhỏ đang trongquá trình đang phát triển Cho nên các khu vui chơi giải trí, công viên, trung tâm thểdục thể thao, nhà thi đấu, rạp chiếu phim… ở đây hầu như không có Người dân muốnđến các nơi vui chơi giải trí trên thì phải ra huyện hay thành phố Nha Trang Chi phí đểvào được các địa điểm giải trí trên cũng không hề rẻ đối với mức thu nhập của phần lớn

người dân ở đây Khi được hỏi: “ cô có thể cho con biết ở xã mình có sân bóng, nhà rông truyền thống của dân tộc mình không?”, cô M- 39 tuổi đã trả lời rằng: “Ở xã mình không có sân bóng gì hết còn nhà rông thì có 1 cái nhưng bây giờ bỏ lâu đã hư rồi” ( cuộc phỏng vấn sâu hộ đơn thân)

Các hoạt động thể thao hay văn nghệ ở xã thường theo phong trào, thời vụ,nghĩa là phát triển mạnh vào các ngày lễ tết, hội hè hay có các đội thông tin lưu độnghuyện về diễn Theo đánh giá của người dân, các hoạt động vui chơi giải trí hiện nay

Trang 24

cũng chưa được chính quyền địa phương quan tâm bởi xã này là xã có đa số đồng bàodân tộc thiểu số kinh tế còn gặp nhiều khó khăn Những vật chất duy trì hoạt độngthường xuyên thì chưa có Công tác để tổ chức các buổi biểu diễn gặp nhiều khó khăn

nhất là tài chính: “ở xã này là vùng núi nên cơ sở hạ tầng chưa đầy đủ, vẫn còn hạn hẹp Muốn biểu diễn một chương trình vẫn phải thuê trang phục, dàn nhạc, dàn dựng sân khấu cũng rất tốn kém.” ( anh T- 29 tuổi – cán bộ xã.)

Chính vì các khu vui chơi giải trí ở xã chưa có nhiều nên thời gian rảnh rỗi,người dân chủ yếu giải trí bằng việc xem ti vi, nói chuyện với bạn bè hoặc thăm hỏi họhàng

Qua những đánh giá nhận xét của người dân và qua khảo sát thực tế tác giả đãnhận thấy cơ sở hạ tầng, các dịch vụ giải trí ở xã để đáp ứng cho nhu cầu giải trí ngoài

xã hội của người dân chưa cao, chưa nhiều Chất lượng các dịch vụ còn thấp

2.3.2 Điều kiện cơ sở vật chất của hoạt động vui chơi giải trí tại gia đình.

Điều kiện vật chất cho hoạt động vui chơi giải trí tại gia đình mà trong đó cáctiện nghi sinh hoạt của gia đình đóng vai trò quan trọng trong hoạt động vui chơi giảitrí của người dân trong thời gian rảnh rỗi

Bảng 2.3.2.1: Các tiện nghi sinh hoạt của các gia đình Raglai tại xã Khánh Nam.

( với tổng số người khảo sát 182 người)

Trang 25

số lượng 0 như tủ lạnh (93,4%), máy giặt (92,3%), bình tắm nước nóng (98,4%), lò visóng (97,8%), bếp ga (93,4%).

Điều này cho thấy được rằng các tiện nghi phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày củangười dân Raglai rất thấp chủ yếu người dân thường mua những tiện nghi sinh hoạt rẻtiền với mục đích để giải trí , ngoài ra các tiện nghi sinh hoạt đắt tiền thì hầu như các

hộ gia đình đều không có, một phần do thu nhập của người dân thấp không đủ điềukiện để mua các tiện nghi sinh hoạt đắt tiền

Trang 26

Biểu đồ 2.3.2.2.Thu nhập bình quân đầu người/tháng từ lao động sản xuất của các

từ 1 đến dưới 2 triệu chiếm 9,9%, ngoài ra thu nhập bình quân đầu người/ tháng từ 2 đến 3 triệu chiếm 1,6%, điều này cho thấy được rằng thu nhập của người dân rất thấp

do đó với mức thu nhập thấp như vậy thì người dân Raglai chỉ đủ chi tiêu cho sinh hoạthằng ngày chứ không đủ khả năng để mua các tiện nghi sinh hoạt đắt tiền

2.4 Thực trạng tham gia vào các loại hình giải trí của người dân tộc Raglai trong thời gian rảnh rỗi hiện nay

2.4.1 Mức độ tham gia của người dân vào các hoạt động giải trí trong thời gian rảnh rỗi:

Qua quá trình khảo sát tại xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòacũng cho thấy được rằng người dân Raglai ở đây chủ yếu làm nông nghiệp và làm thuêđược thể hiện như sau:

Trang 27

Biểu đồ 2.4.1.1: Nghề chính ( lớn hơn 50% thời gian làm việc)

Nguồn:đề tài thực tập “Tìm hiểu lối sống người dân tộc Raglai tại xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, Tỉnh Khánh Hòa khóa 11 năm 2012”

Qua bảng (2.4.1.1) cho thấy được rằng người dân Raglai chủ yếu sinh sống bằngnghề nông nghiệp trong tổng số 100% người trả lời thì có tới 141 người trả lời chiếm(77,5%) làm trong lĩnh vực nông nghiệp và làm thuê 24 người chiếm (13,2%), buônbán và dịch vụ 2 người (1,1%), lâm nghiệp 3 người chiếm 1,6%, học sinh, sinh viên 2người chiếm 1,1% Do đó, thời gian dành cho nghỉ ngơi và giải trí là rất ít Phần lớn họrảnh rỗi vào buổi trưa và tối là thời gian đi làm về Tuy thời gian nhàn rỗi của cư dânkhông nhiều, nhưng các hoạt động nghỉ ngơi, giải trí cũng được họ quan tâm như xem

ti vi, nói chuyện với người thân trong gia đình , nói chuyện với bạn bè…

Bảng 2.4.1.2: Mức độ tham gia một số loại hình giải trí trong thời gian rỗi của người dân Raglai.

Tỷ

lệ %

Sốngười

Tỷ lệ %

Trang 29

Qua đó cho thấy được rằng các loại hình giải trí mà người dân tham gia nhiềunhất đó là nói chuyện với người thân trong gia đình, xem ti vi Đây là những loại hìnhgiải trí đem lại nhiều lợi ích, vừa để giải trí sau ngày làm việc mệt nhọc, vừa để cóthông tin, kiến thức chia sẻ nhau, vừa để củng cố các mối quan hệ, đặc biệt là ít tốnkém về tiền bạc, tiết kiệm được thời gian.

Tuy nhiên qua phân tích cũng cho thấy được rằng nhu cầu nói chuyện với họhàng , và nhu cầu nói chuyện với bạn bè cũng khá cao mặc dù không phải là tất cảnhững người dân đều quan tâm đến những nhu cầu này nhưng cũng không nhỏ nhữngngười dân thể hiện sự quan tâm và thỉnh thoảng quan tâm đến loại hình giải trí này

 Sự tham gia các hoạt động giải trí trong gia đình

*Xem ti vi/ nói chuyện với người thân trong gia đình.

Trang 30

So với các loại hình giải trí khác xem ti vi và nói chuyện với người thân tronggia đình chiếm tỷ lệ cao nhất , đối với ti vi ở mức thường xuyên chiếm (42,9%), thỉnhthoảng chiếm (42,3%), không bao giờ (14,8%) Nói chuyện với người thân trong giađình ở mức thường xuyên chiếm (83,5%), thỉnh thoảng ( 15,9%), không bao giờ(0,5%), ( bảng 2.4.1.2) Xem ti vi và nói chuyện với người thân trong gia đình là haihoạt động giải trí thông dụng nhất của người dân Các hoạt động này vừa tiện lợi lạivừa phù hợp với lối sống, sở thích của mọi tầng lớp Giải trí như vậy, không chỉ giúp cánhân thư giãn, giải toả căng thẳng, tìm thấy niềm vui mà nó còn cung cấp rất nhiềuthông tin bổ ích, cập nhật về các vấn đề khoa học, kinh tế, chính trị, xã hội đang diễn raxung quanh đồng thời gắn kết các thành viên trong gia đình lại với nhau Phương tiệntruyền thông đại chúng đó là ti vi đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đối vớimỗi gia đình.

Nhu cầu giải trí xem tivi của người dân hiện nay rất cao, không những thế việcxem tivi như một món ăn tinh thần để giúp con người chúng ta giảm đi mệt mỏi saungày làm việc vất vả tại cơ quan, công trường, đồng ruộng…, việc xem tivi còn làphương tiện truyền thông chính thức giúp chúng ta nắm bắt được các thông tin, tin tứctrong nước, trên thế giới cũng như giúp ích trong công việc làm ăn,tạo thu nhập cho giađình với những kinh nghiệm của các chuyên gia về các lĩnh vực kinh tế, xã hội màmình quan tâm mà phương tiện truyền thông là nơi truyền tải đến công chúng đó làtivi

Xã hội càng phát triển thì nhu cầu của con người cũng phát triển theo Khinhững nhu cầu thiết yếu để cho sự sinh tồn được đảm bảo, khi những đòi hỏi về ăn,mặc, ở được đáp ứng, con người tiếp tục hướng đến nấc thang cao hơn của nhu cầu: tựthể hiện, tự khẳng định, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần Các hoạt động giải trítrong thời gian rỗi của người dân cũng rất đa dạng, phong phú Họ ngày càng có nhiềulựa chọn cho phù hợp với sở thích, mức sống, quỹ thời gian và luôn hướng các hoạtđộng đó đến việc tự hoàn thiện bản thân, nâng cao hiểu biết cho mình

Trang 31

Qua cuộc khảo sát bằng công cụ phỏng vấn sâu các hộ gia đình đã cho thấyđược rằng đại đa số đồng bào dân tộc Raglai đều xem tivi nhưng thường xem nhữngchương trình mang tính giải trí cao, ít xem chương trình hỗ trợ cho lao động sản xuất,chăn nuôi, kinh doanh Qua phỏng vấn hộ đơn thân đều đưa ra ý kiến rằng xem tivi chủyếu xem chương trình giải trí như xem phim truyện, ca nhạc như trường hợp cô M

khi hỏi: “cô có hay xem ti vi không ?” thì kết quả thu được là “có mình thích coi lắm”

và khi hỏi Cô thích xem chương trình gì trên ti vi thì Cô đưa ra ý kiến: “mình coi phim Việt Nam có, phim nước ngoài ít khi lắm, kênh nào có phim thì coi, kênh nào không có phim thì thôi.”( cuộc phỏng vấn sâu hộ đơn thân).

Ngoài ra khi phỏng vấn sâu những hộ gia đình khác cũng đem lại kết quả đó là khi xemchương trình tivi đều mà làm cho họ quan tâm nhất là các chương trình phim truyện, ca

nhạc như trường hợp chị X cũng đưa ra ý kiến: “ mình thấy trong phim nhưng nó giống như ngoài đời nên em hay coi phim Hàn Quốc, ở ngoài sao thì trong phim nó dậy, nó chiếu phim trung thực hơn, như là Trung Quốc em không thích coi, phim Trung Quốc lãng quá em không thích’’( cuộc phỏng vấn sâu hộ sản xuất giỏi).

Và khi hỏi về các chương trình giải trí khác của tivi như tin tức, công việc làm, kiếnthức trồng trọt thì có rất ít người quan tâm đến các chương trình này như ý kiến chị

X : “cái nào hay thì em coi, mà nói chung là ít coi lắm’’( cuộc phỏng vấn hộ sản xuất giỏi)

Khi phỏng vấn những hộ gia đình khác cũng đưa ra ý kiến tương tự là thích xem ở tivi

những chương trình phim truyện như trường hợp chị P: “ Xem phim, thời sự hay gì đó, phim… thích phim lắm” ( cuộc phỏng vấn sâu hộ nghèo).

Như vậy qua các cuộc phỏng vấn sâu đã nói lên được rằng những đồng bào dân tộcRaglai thường xuyên xem tivi và cũng rất quan tâm đến các chương trình của tivinhưng điều mà họ quan tâm nhất, thích xem các chương trình phim truyện, ca nhạc, cácchương trình của tivi mang tính giải trí cao

Trang 32

Bên cạnh việc xem những chương trình tivi với những chương trình mang tính giải tríkhác nhau thì mức độ tiếp thu, hiểu biết giữa những người dân Raglai khác nhau đượcbiểu hiện qua việc nhận định riêng của người dân về các chương trình tivi, thông quacác cuộc phỏng vấn sâu đã đưa ra những trường hợp về mức độ tiếp thu của người dân

như trường hợp chú cán bộ xã đã đưa ra ý kiến về hiệu quả của việc xem tivi : “Nói chung cái cái người dân người ta xem tivi ở đây người ta cũng mở mang được một ít coi tivi thời sự trên tivi có nhiều chương trình hướng dẫn làm ăn (dạ) nói chung bà con

mà thường xem tivi thì làm ăn cũng được’’ ( cuộc phỏng vấn sâu cán bộ xã).

Tuy nhiên cũng có một số trường hợp những người dân chỉ biết xem tivi chứ không

biết là đem lại hiệu quả gì từ các chương trình tivi như trường hợp chị S khi hỏi : “ chị

có thể cho biết khi mình xem ti vi đem lại lợi ích gì không ?” thì kết quả thu được: “ chị không biết có phim thì chị coi thôi, chị không có biết cái gì hết’’ ( cuộc phỏng vấn sâu

hộ nghèo).

Điều này cho thấy được rằng mức độ tiếp thu và hiểu biết của người dân khácnhau, có một bộ phận người dân Raglai với trình độ học vấn thấp mà tập trung ở các hộnghèo mức độ hiểu biết về các chương trình tivi rất thấp , điều đó cũng ảnh hưởng rấtlớn đến phát triển kinh tế hộ gia đình, nâng cao thu nhập, cải thiện mức sống cũng nhưviệc tiếp cận các chính sách, chương trình hỗ trợ vay vốn, khuyến nông

*Xem VCD/ Video :

Bên cạnh đó thì các hoạt động xem video rất ít người dân tham gia vào hoạtđộng giải trí này, trong tổng số 182 người trả lời chỉ có 15 người trả lời thường xuyênchiếm (8,2%), 51 người trả lời thỉnh thoảng chiếm (28,0%), 116 người trả lời khôngbao giờ xem Video chiếm (63,7%) (bảng 2.4.1.2)

Qua bảng (2.3.2.1) về các tiện nghi sinh hoạt gia đình cho thấy được rằng với

số lượng 100% đầu VCD/Video thì mỗi gia đình chỉ chiếm tối đa 1 đầu VCD/Videochiếm (46,2%) và số lượng 0 chiếm 53,8%

Trang 33

Điều này cũng cho thấy được rằng người dân Raglai ít quan tâm đến hoạt động giải trínày cũng một phần do thiếu thốn về tiền bạc nên người dân không có điều kiện để mua.

Qua đó cho thấy được rằng những phương tiện giải trí mà người dân sử dụng đó

là ti vi, đầu video chiếm tỷ lệ cao Đây là những phương tiện phục vụ cho đời sống tinhthần Với 0% hộ giàu có, 0,5% hộ khá giả, 4,9% hộ trung bình, 37,9% cận nghèo và56,6% hộ nghèo đói như hiện nay, thì chi phí để mua các loại tiện nghi như máy giặt,máy điều hòa, xe máy, tủ lạnh… của phần lớn những người dân ở đây là điều vượt quákhả năng.Giá của các loại tiện nghi này không hề rẻ Chi phí lâu dài cho chúng cũng rấttốn kém Trong khi đó, đầu video, ti vi màu vừa đem lại hiệu quả tức thời, lại có nhiềucông năng (để giải trí, cung cấp nhiều thông tin bổ ích, kịp thời giúp nâng cao hiểubiết, trình độ thẩm mỹ, xã hội hóa cá nhân…) và chi phí lâu dài không cao Đây cũng

là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ người dân lựa chọn loại hình giảitrí xem ti vi/ video trong thời gian rỗi chiếm vị trí cao nhất

*Nghe đài: Radio/ Caset

Từ bảng số liệu (2.3.2.1) các tiện nghi sinh hoạt của các gia đình cũng cho thấyngười dân sử dụng phương tiện giải trí này rất thấp với số lượng Radio/ Caset mỗi giađình chỉ chiếm tối đa 1 Radio/Caset thì chỉ có (8,8%) hộ có Radio/ Caset

Khi hỏi về: “vậy thì trong nhà mình có ti vi hay cát sét gì không hả cô?”, thì kết quả thu được là: “cát sét cũng không Nhà chẳng có cái gì hết, giường nằm cũng không có toàn nằm đất không Cả nhà ngủ trên đất cả.”

(phỏng vấn sâu hộ nghèo)

Từ đó thấy được rằng nhu cầu giải trí nghe đài : Radio/ caset rất ít được ngườidân sử dụng và hầu như chiếm số lượng rất ít trong tiện nghi sinh hoạt gia đình và điềunày cũng nói lên được rằng ngoài phương tiện truyền thông là ti vi là nơi giải trí , cậpnhật các thông tin thì người dân Raglai ít quan tâm tới các phương tiện truyền thôngkhác

*Đọc sách báo

Trang 34

Trong các loại hình giải trí tại nhà, đọc sách báo chiếm tỷ lệ rất thấp , qua ( bảng2.4.1.2) trong tổng số 182 người trả lời thì có 5 người trả lời thường xuyên đọc sáchbáo chiếm (2.7%), 18 người trả lời thỉnh thoảng độc sách báo chiếm ( 9,9%),159 ngườitrả lời không bao giờ đọc sách báo chiếm (87.4%) Tuy nhiên tỷ lệ người dân đọc sáchbáo không cao là do rất nhiều nguyên nhân, trong đó có thể kể đến trình độ học vấn củangười dân Raglai rất thấp.

Điều này cho thấy được rằng trình độ học vấn người dân Raglai rất thấp đa số ngườidân ở trình độ học vấn tiểu học

Khi hỏi về: “Cô có hay đọc báo chí không?” kết quả thu được như sau: “không, mình đâu có biết chữ đâu mà đọc báo ( cười )”

Ngày đăng: 05/01/2023, 14:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bài giảng bộ môn xã hội học lối sống, PGS-TS Trần Thị Kim Xuyến, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng bộ môn xã hội học lối sống", PGS-TS
4.Báo cáo Quốc Gia tóm tắt phụ nữ Việt Nam, vụ phát triển vùng và bền vững và Vụ Mê Kông Ngân Hàng Phát Triển Châu Á, Manila, Philipin 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Quốc Gia tóm tắt phụ nữ Việt Nam
Năm: 2002
5. Bộ môn xã hội học của Nguyễn Khắc Viện- NXB Thế Giới, Hà Nội 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ môn xã hội học của Nguyễn Khắc Viện
Tác giả: Nguyễn Khắc Viện
Nhà XB: NXB Thế Giới
Năm: 1994
6. cuốn Nhu cầu giải trí của thanh niên- Đinh Thị Vân Chi- NXB chính trị quốc gia- Hà Nội,2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu giải trí của thanh niên
Tác giả: Đinh Thị Vân Chi
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
7. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước KHXH 04-02 của Viện văn hóa nghệ thuật và Trung tâm công nghệ thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước KHXH 04-02 của Viện văn hóa nghệ thuật và Trung tâm công nghệ thông tin
8. Cuốn Văn hóa xã hội người Raglai ở Việt Nam của Phan Xuân Viên, Phan An, Phan Văn Dốp, Võ Công Nguyện, Nguyễn Văn Huệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa xã hội người Raglai ở Việt Nam
Tác giả: Phan Xuân Viên, Phan An, Phan Văn Dốp, Võ Công Nguyện, Nguyễn Văn Huệ
9. Cuốn Biến đổi kinh tế- xã hội- văn hóa của công đồng Chăm và Khmer tại TP.HCM, ĐHQG.TP HCM của GS.TS Ngô Văn Lê, PGS.TS Nguyễn Văn Tiệp,TS Phan Thị Yến Tuyết , TS Huỳnh Ngọc Thu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuốn Biến đổi kinh tế- xã hội- văn hóa của công đồng Chăm và Khmer tại TP.HCM
Tác giả: GS.TS Ngô Văn Lê, PGS.TS Nguyễn Văn Tiệp, TS Phan Thị Yến Tuyết, TS Huỳnh Ngọc Thu
Nhà XB: ĐHQG.TP HCM
10. Luận văn tốt nghiệp “Thực trạng việc đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí của gia đình đô thị qua đài- báo- ti vi qua khảo sát xã hội học tại phường Lạch Tray, thành phố Hải Phòng, tháng 10/2001” của Trần Hoàng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng việc đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí của gia đình đô thị qua đài- báo- ti vi qua khảo sát xã hội học tại phường Lạch Tray, thành phố Hải Phòng, tháng 10/2001
Tác giả: Trần Hoàng Anh
Năm: 2001
11. Luận văn tốt nghiệp “Thực trạng sử dụng thời gian rỗi của cư dân thành phố Nam Định hiện nay” của Nguyễn Thị Luyện- Hà Nội- 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sử dụng thời gian rỗi của cư dân thành phố Nam Định hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Luyện
Năm: 2000
2. Bài giảng bộ môn xã hội học gia đình, PGS- TS Trần Thị Kim Xuyến 3.Bộ môn Cơ sở văn hóa Việt Nam, PGS- TS Trần Ngọc Thêm Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w