1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

ĐÁNH GIÁ NHANH THỰC TRẠNG VÀ XÁC ĐỊNH NHU CẦU NÂNG CAO NĂNG LỰC CỦA CÁC ĐỐI TÁC LIÊN QUAN TRONG THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG VÌ SỰ SỐNG CÒN VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ TẠI 3 TỈNH pdf

76 803 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Nhanh Thực Trạng Và Xác Định Nhu Cầu Nâng Cao Năng Lực Của Các Đối Tác Liên Quan Trong Thực Hiện Hoạt Động Truyền Thông Vì Sự Sống Còn Và Phát Triển Của Trẻ Tại 3 Tỉnh
Tác giả Ths. Vũ Thị Minh Hạnh, Ths Vũ Thị Mai Anh, BS. Đặng Quốc Việt, Ths. Hoàng Thị Mỹ Hạnh, Ths. Trần Vũ Hiệp, Ths Trịnh Thị Sang, CN. Hoàng Ly Na
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Hoài An, Cán Bộ Chương Trình - UNICEF tại Việt Nam, Nguyễn Quốc Tuấn, Trưởng phòng Kế hoạch Trung tâm TTGDSK TƯ
Trường học Viện Chiến lược và Chính sách Y tế
Chuyên ngành Truyền thông giáo dục sức khỏe, Nghiên cứu xã hội
Thể loại Nghiên cứu đánh giá
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 787,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bộ lãnh đạo của các đơn vị chức năng từ tuyến TƯ đến cơ sở của 3 ngành chức năng tại các địa phương thuộc địa bàn khảo sát; 28 cuộc thảo luận nhóm với các cán bộ trực tiếp tham gia hoạt

Trang 1

QUỸ NHI ĐỒNG LIÊN

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐÁNH GIÁ NHANH THỰC TRẠNG VÀ XÁC ĐỊNH NHU CẦU NÂNG CAO NĂNG LỰC CỦA CÁC ĐỐI TÁC LIÊN QUAN TRONG THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG

VÌ SỰ SỐNG CÒN VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ

TẠI 3 TỈNH

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu "Đánh giá thực trạng và xác định nhu cầu nâng cao năng lực của các đối tác liên quan trong thực hiện hoạt động truyền thông Vì sự sống còn và phát triển của trẻ” do Viện Chiến lược và chính sách Y tế tiến hành từ tháng 12 năm 2009 đến tháng

1 năm 2010 tại 3 tỉnh Điện Biên, Ninh Thuận, Đồng Tháp

Trong suốt quá trình xây dựng đề cương cũng như triển khai thực hiện và viết báo cáo phân tích kết quả; nhóm nghiên cứu luôn nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của Bà Nguyễn Thị Hoài

An, Cán bộ Chương trình- Unicef tại Việt Nam cùng ông Nguyễn Quốc Tuấn Trường phòng Kế hoạch Trung tâm TTGDSK TƯ Chúng tôi cũng đã nhận được sự cộng tác nhiệt tình của các đơn vị

từ Trung ương đến địa phương của 3 Bộ: Bộ Y tế, Bộ LĐ TB XH và

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Nhóm nghiên cứu xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với các tập thể, cá nhân đã hỗ trợ, giúp đỡ chúng tôi hoàn thành nghiên cứu này

Nhóm nghiên cứu:

Ths Vũ Thị Minh Hạnh

BS Đặng Quốc Việt Ths Hoàng Thị Mỹ Hạnh Ths Trần Vũ Hiệp

Ths Vũ Thị Mai Anh Ths Trịnh Thị Sang

CN Hoàng Ly Na

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC BIỂU ĐỒ 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5

TÓM TẮT 6

I BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU 11

II MỤC TIÊU ĐÁNH GIÁ 12

III PHẠM VI, ĐỊA BÀN ĐÁNH GIÁ VÀ THỜI GIAN TIẾN HÀNH 12

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

1 Thiết kế nghiên cứu 14

2 Các phương pháp thu thập thông tin 14

2.1 Rà soát, phân tích các tài liệu sẵn có, bao gồm: 14

2.2 Phỏng vấn bằng bảng hỏi bán cấu trúc: 15

2.3 Phỏng vấn sâu: 15

2.4 Thảo luận nhóm 16

V KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 17

1 Thực trạng mô hình tổ chức của mạng lưới truyền thông giáo dục sức khỏe trong đó có CSD 17

2 Nhân lực tham gia truyền thông giáo dục sức khỏe trong đó có CSD 24

2.1 Ước tính về số lượng của đội ngũ cán bộ trực tiếp tham gia quản lý và điều hành 24

2.2 Đặc điểm nhân khẩu xã hội của đội ngũ cán bộ trực tiếp tham gia quản lý và điều hành 24

3 Năng lực thực hiện truyền thông giáo dục sức khỏe trong đó có CSD 27

3.1 Kiến thức và kỹ năng về lập kế hoạch 27

3.2 Kỹ năng trong tổ chức thực hiện truyền thông 31

3.3 Kiến thức và kỹ năng trong giám sát đánh giá 34

3.4 Những hạn chế và bất cập trong truyền thông GDSK trong đó có CSD 35

4 Nhu cầu đào tạo nâng cao năng lực 42

VI KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

PHỤ LỤC 52

Trang 4

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu 1 Giới tính của cán bộ truyền thông CSD được phỏng vấn 25 Biểu 2 Độ tuổi của cán bộ truyền thông CSD được phỏng vấn 25 Biểu 3 Trình độ học vấn của cán bộ truyền thông CSD được phỏng vấn 26 Biểu 4 Chuyên ngành được đào tạo của cán bộ truyền thông CSD được phỏng

vấn 26 Biểu 5 Định kỳ giám sát truyền thông CSD 34 Biểu 6 Nhu cầu về những nội dung cần được tập huấn của các cán bộ tham gia

truyền thông CSD được phỏng vấn 45

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BVCSTE Bảo vệ chăm sóc trẻ em

CDS Chương trình Vì sự sống còn và phát triển của trẻ CSSK Chăm sóc sức khỏe

LĐ-TB-XH Lao động thương binh xã hội

LHPN Liên hiệp phụ nữ

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

NS&VSMTNT Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn PCSDD Phòng chống suy dinh dưỡng

TCMR Tiêm chủng mở rộng

TNCSHCM Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh

TT GDSK Truyền thông giáo dục sức khỏe

TTYT Trung tâm y tế

TTYTDP Trung tâm y tế dự phòng

TƯ Trung ương

YTDP Y tế dự phòng

YTDP&MT Y tế dự phòng và môi trường

Trang 6

TÓM TẮT

Trong khuôn khổ hợp tác với tổ chức UNICEF thực hiện Chương trình Vì

sự sống còn và Phát triển của trẻ em (CSD); Bộ Y tế, Bộ Lao Động Thương

binh và Xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là các đối tác trong các lĩnh vực liên quan đến phòng chống suy dinh dưỡng, nước sạch và vệ sinh môi trường, phòng chống tai nạn thương tích ở trẻ em đã triển khai đa dạng các hoạt động Thông tin, Giáo dục, và Truyền thông (IEC); Truyền thông thay đổi hành vi (BCC) và vận động xây dựng chính sách vì sự sống còn và phát triển của trẻ Việc nâng cao chất lượng của chương trình và thực hiện lồng ghép hiệu quả các hoạt động trong từng lĩnh vực cũng như giữa các lĩnh vực của CSD đòi hỏi các đối tác tham gia phải có đủ năng lực, đặc biệt là năng lực lập kế hoạch,

tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá các chương trình truyền thông cho phát triển Vì vậy hoạt động đánh giá năng lực của các đối tác tham gia nhằm đề xuất giải pháp nâng cao năng lực là hết sức cần thiết

Mục tiêu nghiên cứu:

1 Đánh giá thực trạng năng lực của các cơ quan/tổ chức và các cá nhân tham gia thực hiện truyền thông vì sự sống còn của trẻ ở Trung ương và một số địa phương

2 Xác định các nhu cầu nâng cao năng lực của các cơ quan/tổ chức, các cá nhân nhằm nâng cao hiệu quả trong thực hiện truyền thông vì sự sống còn của trẻ

3 Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cho các cơ quan/tổ chức và cá nhân

Địa bàn:

9 Tuyến TƯ: các Vụ, Cục chức năng thuộc 3 bộ (Y tế, Lao động Thương binh

xã hội, Nông nghiệp và phát triển nông thôn)

9 Tuyến tỉnh: các đơn vị chức năng của 3 ngành của 3 địa phương Điện Biên, Ninh Thuận, Đồng Tháp

9 Tuyến huyện: TTYT của 1 TP và 1 huyện thuộc 3 tỉnh nêu trên

9 Tuyến xã/phường: TYT của 6 xã/phường thuộc 6 đơn vị tuyến huyện/thị nêu trên

Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp các phương

pháp thu thập thông tin định tính và định lượng Phỏng vấn sâu 51 cuộc với cán

Trang 7

bộ lãnh đạo của các đơn vị chức năng từ tuyến TƯ đến cơ sở của 3 ngành chức năng tại các địa phương thuộc địa bàn khảo sát; 28 cuộc thảo luận nhóm với các cán bộ trực tiếp tham gia hoạt động truyền thông GDSK trong đó có CSD; phỏng vấn bằng bảng hỏi bán cấu trúc với 102 cán bộ hiện đang đảm nhận công việc này

nước về truyền thông của các lĩnh vực có liên quan Duy nhất một chỉ có một đối tác có chức năng tác nghiệp về kỹ thuật thông tin truyền thông đó là mạng lưới Trung tâm TT GDSK ở TƯ và các tỉnh

• Nhân lực trực tiếp tham gia quản lý và điều hành hoạt động truyền thông GDSK trong đó có CSD tuy không nhiều, không ổn định về số lượng nhất là tại tuyến cơ sở, số đông đang làm kiêm nhiệm song lại có những lợi thế nhất định trong công việc như: trình độ học vấn tương đối đồng đều (53,5%

đại học; 24,8% sau đại học); đa dạng về các chuyên ngành được đào tạo (33,3%

là bác sỹ; 14,4% là cử nhân YTCC; 6,3% có chuyên ngành báo chí ) đã có thâm niên làm việc trong lĩnh vực này (48,9% >5 năm)

• Tỷ lệ cán bộ được tham dự các khóa tập huấn về nâng cao năng lực truyền thông còn thấp song nhìn chung nhân lực tham gia truyền thông GDSK trong đó có CSD do cố gắng tự học hỏi nên đã có những kiến thức cơ bản về lập kế hoạch truyền thông và đã có nhiêu nỗ lực với những kết quả đáng ghi nhận trong quản lý, điều hành cũng như trong tác nghiệp kỹ thuật

Có 75,5% cán bộ được phỏng vấn tại các cơ quan TƯ và địa phương cho biết họ

đã tham gia lập kế hoạch truyền thông CSD, 81% tham gia tổ chức thực hiện và 67,6% tham gia giám sát

• Năng lực lập kế hoạch truyền thông GDSK trong đó có CSD tại các đơn vị, địa bàn được khảo sát còn rất hạn chế do thiếu thông tin dữ liệu cũng như thiếu các cán bộ có đủ kiến thức cũng như kỹ năng thực hiện Hầu hết

các bản kế hoạch truyền thông GDSK trong đó có CSD đã được xây dựng trong

Trang 8

• Nâng cao năng lực truyền thông GDSK trong đó có CSD cho các đối tác là một nhu cầu bức thiết hiện nay Việc làm này cần phải được tiến hành

một cách đồng bộ không chỉ trực tiếp hướng đến đội ngũ cán bộ tham gia thực hiện mà còn phải kiện toàn cả về tổ chức mạng lưới của các đối tác và tăng cường đầu tư nguồn lực trong đó đào tạo tập huấn là một hoạt động không thể xem nhẹ Hiện có 74,5% cán bộ tuyến TƯ và tuyến tỉnh có nhu cầu được đào tạo

về Lập kế hoạch truyền thông; 62,7% có nhu cầu đào tạo về cách thức tổ chức triển khai các hoạt động truyền thông; 58,8% có nhu cầu đào tạo về đánh giá; 56,9% có nhu cầu đào tạo về giám sát; 22,5% có nhu cầu đào tạo về kỹ năng truyền thông trực tiếp

9 Kiện toàn về tổ chức, cơ chế phối kết hợp và tạo dựng cơ sở pháp lý nhằm

phát huy sức mạnh tổng thể của mạng lưới truyền thông CSD từ TƯ tới địa phương; cụ thể như:

¾ Hình thành đầu mối chịu trách nhiệm về truyền thông GDSK nhất

là truyền thông CSD tại từng đơn vị

Trang 9

¾ Nên chăng thành lập Ban Chỉ đạo chương trình Quốc gia Vì sự

sống còn của trẻ em để điều hành chung cho tất cả các lĩnh vực của 3 ngành (Y

tế, LĐTBXH, NN&PTNT )

¾ Nên giao cho Trung tâm TT GDSK tại TƯ và các tỉnh làm đầu mối

điều phối toàn bộ hoạt động tác nghiệp kỹ thuật về truyền thông CSD bởi lẽ đây

là đối tác có nhiều ưu thế trong lĩnh vực này

¾ Xây dựng quy chế phân công, phân nhiệm cho các đối tác cùng

tham gia trong hoạt động truyền thông GDSK trong đó có CSD sao cho phù hợp với chức năng nhiệm vụ của từng đơn vị và xây dựng cơ chế phối hợp giữa các đơn vị sao cho có hiệu quả và tránh chồng chéo

¾ Xây dựng và hướng dẫn thực hiện hoạt động tự giám sát trong từng

đơn vị cũng như giám sát chéo giữa các đối tác theo đúng những yêu cầu của quy trình giám sát

¾ Cần khẩn trương hình thành và duy trì hoạt động hàng tháng của

nhóm hành động CSD để quy tụ các đối tác thuộc các bộ ngành chức năng, các

tổ chức đoàn thể xã hội, các NGO trong chia sẻ thông tin và phối hợp hành

động

9 Chú trọng hơn nữa đến hoạt động đào tạo nâng cao năng lực cho các

bộ tham gia truyền thông GDSK trong đó có CSD của các đối tác ở các tuyến;

cụ thể là:

¾ Cần phân nhóm các đối tượng theo chức năng nhiệm vụ và theo

tuyến công tác để biên soạn nội dung tài liệu tập huấn cũng như sắp xếp thời

giam của khoá học cho phù hợp

¾ Đổi mới việc biên soạn tài liệu tập huấn sao cho đa dạng và phù

hợp với đặc thù công việc của các nhóm song vẫn phải đảm bảo tính chính xác và

thống nhất về nội dung của từng lĩnh vực chuyên môn giữa các loại tài liệu

¾ Cách thức tổ chức các khoá tập huấn cũng cần phải có sự điều

chỉnh sao cho thích hợp hơn với từng nhóm đối tượng về thời gian, về địa điểm

cũng như về hình thức tiến hành

¾ Tổ chức các chuyến tham quan học tập kinh nghiệm tại các đơn vị

thực hành tốt các kỹ năng về quản lý cũng như về tác nghiệp các kỹ thuật truyền

thông

9 Đổi mới phương thức xây dựng tài liệu truyền thông theo hướng

khuyến khích sự tham gia của các địa phương, các nhóm đối tượng đích ngay

Trang 10

thông thống nhất chung cho toàn quốc và TT TTGDSK các tỉnh dựa theo đó để chuyển tải bằng các ngôn ngữ, hình ảnh, nhân bản sao cho phù hợp với thị

hiếu của các nhóm dân cư tại các vùng miền khác nhau trong cả nước

9 Tăng cường đầu tư và sử dụng sao cho có hiệu quả hơn các trang thiết

bị thiết yếu cho truyền thông CDS nhất là với tuyến tỉnh, tuyến huyện và các

xã chưa được hưởng lợi từ dự án của Unicef

9 Đầu tư hơn nữa kinh phí cho truyền thông GDSK trong đó có CSD, đổi

mới cách thức phân bổ kinh phí cho các đối tác không nên phân chia đồng đều theo số đơn vị tham gia mà phải theo phương châm nguồn lực đi kèm theo hoạt động đúng với chức năng nhiệm vụ của từng đầu mối để tránh tình trạng sử dụng lãnh phí do bị chồng chéo và phân tán

Trang 11

I BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU

Năm 2008, Chính phủ Việt Nam và UNICEF đã phối hợp thực hiện Đánh giá Giữa kỳ Chương trình hợp tác 2006 – 2010 (MTR) trong bối cảnh Việt Nam có những thay đổi nhanh chóng về tình hình kinh tế xã hội cùng với việc thực hiện sáng kiến Một Liên Hiệp Quốc Đánh giá giữa kỳ đã cho thấy các chỉ số liên quan đến sống còn và phát triển của trẻ đã được cải thiện đồng thời còn chỉ ra rằng so với cách lập chương trình song song, theo chiều dọc; các chiến lược tích hợp theo chiều ngang có thể là biện pháp tốt hơn, phù hợp hơn giúp có thể vươn tới những đối tượng khó tiếp cận nhằm thực hiện điều phối có hiệu quả cũng như xác định rõ những ưu tiên can thiệp vì sự sống còn

và phát triển của trẻ em Trên cơ sở của đánh giá giữa kỳ, chương trình Y tế

và Dinh Dưỡng, chương trình Nước và Vệ sinh Môi trường, và chương trình Phòng chống Tai nạn Thương tích trẻ em của UNICEF sẽ được sát nhập thành

một chương trình mới với tên gọi: Chương trình Vì sự sống còn và Phát triển của trẻ em (CSD)

Trong CSD, truyền thông cho phát triển là một phương pháp tiếp cận mới của UNICEF sử dụng phương cách tiếp cận và lập kế hoạch dựa vào quyền, đặc biệt là quyền được thông tin và quyền được tham gia như đã đề cập trong “Công ước quốc tế về quyền trẻ em” Truyền thông cho phát triển bao gồm 3 cấu phần chính Thông tin, giáo dục, truyền thông, truyền thông thay đổi hành vi và truyền thông vận động xã hội Trong khuôn khổ hợp tác với tổ chức UNICEF thực hiện CSD; Bộ Y tế, Bộ Lao Động Thương binh và

Xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là các đối tác trong các lĩnh vực liên quan đến phòng chống suy dinh dưỡng, nước sạch và vệ sinh môi trường, phòng chống tai nạn thương tích ở trẻ em đã triển khai đa dạng các hoạt động Thông tin, Giáo dục, và Truyền thông (IEC); Truyền thông thay đổi hành vi (BCC) và vận động xây dựng chính sách vì sự sống còn và phát triển của trẻ

Bên cạnh những đóng góp đáng ghi nhận, các hoạt động truyền thông của một số bộ, ngành và các chương trình quốc gia ở các lĩnh vực nêu trên cho đến nay vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Một số kế hoạch truyền thông khi

Trang 12

thiết kế vẫn thiếu tính khả thi do thiếu bằng chứng, chưa dựa trên nhu cầu thực tế của cộng đồng, không có nhiều đổi mới sáng tạo về hình thức thể hiện, vẫn tập trung vào những phương pháp truyền thống như: phát triển tài liệu truyền thông, sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng Đặc biệt các kế hoạch truyền thông chưa chú trọng đúng mức đến việc theo dõi giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động Đồng thời trong phân bổ nguồn lực hiện chưa có

sự khác biệt đáng kể giữa các vùng miền, đặc biệt là đối với vùng sâu, vùng

xa, vùng đồng bào dân tộc còn có nhiều khó khăn

Việc nâng cao chất lượng của chương trình và thực hiện lồng ghép hiệu quả các hoạt động trong từng lĩnh vực cũng như giữa các lĩnh vực của CSD đòi hỏi các đối tác tham gia phải có đủ năng lực, đặc biệt là năng lực lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá các chương trình truyền thông cho phát triển Hoạt động đánh giá năng lực của các đối tác tham gia nhằm đề xuất giải pháp nâng cao năng lực vì vậy sẽ là rất cần thiết, giúp cho việc lập

kế hoạch và thực hiện các chương trình truyền thông vì sự sống còn của trẻ đạt hiệu quả cao hơn trong thời gian tới

II MỤC TIÊU ĐÁNH GIÁ

1 Đánh giá thực trạng năng lực (lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá ) của các đơn vị tham gia thực hiện truyền thông CDS ở Trung ương và một số địa phương

2 Xác định các nhu cầu nâng cao năng lực cho các cơ quan/tổ chức, các

cá nhân nhằm nâng cao hiệu quả trong thực hiện truyền thông CDS

3 Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cho các cơ quan/tổ chức và cá nhân

III PHẠM VI, ĐỊA BÀN ĐÁNH GIÁ VÀ THỜI GIAN TIẾN HÀNH

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 12/2009 đến hết tháng 1/2010 với việc tập trung đánh giá năng lực về lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá các hoạt động truyền thông vì sự sống còn của trẻ bao gồm: truyền thông về Y tế và dinh dưỡng, Nước sạch và vệ sinh môi trường, phòng chống tai nạn thương tích trẻ em, phòng ngừa lây truyền HIV/AIDS từ mẹ

Trang 13

sang con ở tuyến TƯ và địa phương của 3 ngành: Y tế, Lao động Thương binh Xã hội, Nông nghiệp và phát triển nông thôn Ngoài việc khảo sát tại các

bộ, ngành chức năng ở TƯ; nghiên cứu đã được thực hiện tại 3 tỉnh hưởng lợi của Dự án tỉnh bạn hữu trẻ em do UNICEF khởi sướng, đó là: Điện Biên, Ninh Thuận và Đồng Tháp Tại mỗi tỉnh, nghiên cứu được tiến hành tại 1 Thành phố với 1 phường và 1 huyện với 1 xã

ƒ Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe Trung ương

ƒ Viện Dinh dưỡng

ƒ Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương

o Bộ Lao động Thương binh Xã hội

ƒ Trung tâm tư vấn và dịch vụ truyền thông, Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em

ƒ Phòng bảo vệ chăm sóc trẻ em, Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ

em

o Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

ƒ Phòng huấn luyện truyền thông, Trung tâm quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

ƒ Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm và phường Tấn Tài

ƒ Huyện Ninh Hải và xã Thanh Hải

o Đồng Tháp

ƒ Thành phố Cao Lãnh và phường 1

ƒ Huyện Thanh Bình và xã Tân Mỹ

Trang 14

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang bằng các phương pháp thu thập thông tin định lượng và định tính

2 Các phương pháp thu thập thông tin

2.1 Rà soát, phân tích các tài liệu sẵn có, bao gồm:

¾ Kế hoạch truyền thông giáo dục sức khỏe cho trẻ em năm 2008 và

2009 của một số đơn vị thuộc ngành Y tế; bao gồm:

• Tuyến TƯ: 5 đơn vị (Trung tâm TT GDSK Trung ương, Viện Dinh

dưỡng, Cục YTDP&MT, Vụ Sức khỏe Bà mẹ và trẻ em, Cục phòng, chống HIV/AIDS, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương)

• Tuyến tỉnh: 9 đơn vị (Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe, Trung

tâm Y tế dự phòng và Trung tâm sức khỏe sinh sản ) của 3 tỉnh Đồng Tháp, Ninh Thuận và Điện Biên

• Tuyến TP/huyện: 3 TTYT/TTYTDP tuyến Thành phố/huyện của 3 tỉnh

thuộc địa bàn nghiên cứu

- Cục YTDP và Môi trường

- Trung tâm TT GDSK TƯ

- Viện Dinh dưỡng

- Viện Vệ sinh dịch tễ TƯ

BỘ LĐ TB XH

- Trung tâm tư vấn và dịch vụ truyền thông, Cục Bảo vệ CSTE

- Phòng bảo vệ CSTE, Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em

BỘ NN&PTNT

- Phòng huấn luyện truyền thông, Trung tâm quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

Trang 15

• Tuyến xã/phường: 6 trạm y tế xã/phường của 3 tỉnh thuộc địa bàn nghiên cứu

¾ Kế hoạch truyền thông về nước sạch năm 2008 và năm 2009 của

ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

• Tuyến TƯ: Trung tâm Quốc gia NS&VSMTNT, Bộ Nông nghiệp và

phát triển nông thôn

• Tuyến tỉnh: Trung tâm Nước sạch và vệ sinh môi trường của 3 tỉnh

thuộc địa bàn nghiên cứu

¾ Kế hoạch truyền thông giáo dục sức khỏe và bảo vệ chăm sóc trẻ

em của một số đơn vị thuộc Ngành Lao động thương binh - Xã hội:

• Tuyến TƯ: Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em

• Tuyến tỉnh: Sở LĐ-TB-XH của 3 tỉnh thuộc địa bàn nghiên cứu

2.2 Phỏng vấn bằng bảng hỏi bán cấu trúc:

Phiếu hỏi bán cấu trúc nhằm thu thập các thông tin về: kiến thức, kỹ năng trong lập kế hoạch triển khai thực hiện và giám sát đánh giá hoạt động truyền thông; nhu cầu nâng cao năng lực trong thời gian tới đã được gửi tới các cán bộ đang trực tiếp tham gia lập kế hoạch truyền thông hoặc triển khai các hoạt động truyền thông thuộc các lĩnh vực trong phạm vi nghiên cứu Tổng số có 102 cán bộ đã tham gia trả lời phiếu phỏng vấn tự điền trong số

này có 38 người đang làm việc tại các bộ/ngành ở TƯ (chiếm 37,3%); 28 người đang làm việc trong các lĩnh vực có liên quan ở Đồng Tháp (chiếm 27,5%); 20 người ở Điện Biên (chiếm 19,6%) và 16 người ở Ninh Thuận

(chiếm 15,7%)

2.3 Phỏng vấn sâu:

Có 51 cuộc phỏng vấn sâu đã được thực hiện với những người cung cấp thông tin chủ chốt ở các tuyến thuộc địa bàn nghiên cứu do nhóm chuyên gia của Viện Chiến lược và Chính sách Y tế trực tiếp đảm nhận, bao gồm:

¾ Tuyến Trung ương:15 cuộc

• Lãnh đạo của một số đơn vị thuộc Bộ Y tế như: Trung tâm TT GDSK TƯ, Vụ Sức khỏe bà mẹ trẻ em, Viện dinh dưỡng, Cục YTDP&MT (Chương trình Phòng chống tai nạn thương tích và Chương trình Vệ sinh môi trường): 4 cuộc

Trang 16

¾ Tuyến tỉnh: 30 cuộc

• Lãnh đạo của 5 đơn vị: Trung tâm TT GDSK, Trung tâm Y tế Dự phòng, Trung tâm Sức khỏe sinh sản, Trung tâm NS&VSMT và Sở LĐ-TB-

XH tại 3 tỉnh nghiên cứu (15 cuộc)

• Cán bộ đảm nhiệm về lập kế hoạch, triển khai các hoạt động truyền thông của 5 đơn vị nêu trên, mỗi đơn vị 1 người tại 3 tỉnh nghiên cứu (15 cuộc)

¾ Tuyến cơ sở: 6 cuộc với trưởng trạm y tế của 6 xã/phường thuộc 3 tỉnh nghiên cứu

2.4 Thảo luận nhóm

Có 28 cuộc thảo luận nhóm do nhóm chuyên gia của Viện Chiến lược

và Chính sách Y tế tiến hành với những cán bộ hiện đang trực tiếp tham gia lập kế hoạch, triển khai thực hiện và giám sát đánh giá các hoạt động truyền thông CSD tại các tuyến bao gồm:

¾ Tuyến Trung ương: 7 cuộc (cán bộ của các đơn vị: Trung tâm TT

GDSK Trung ương, Viện Dinh dưỡng, Cục YTDP&MT, Vụ Sức khỏe Bà mẹ

và trẻ em, Viện Vệ sinh dịch tễ TƯ, Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em và Trung tâm Quốc gia NS&VSMTNT; mỗi đơn vị 1 cuộc)

¾ Tuyến tỉnh: 5 cuộc tại mỗi tỉnh (cán bộ của các đơn vị: Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe, Trung tâm Y tế Dự phòng, Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản, Trung tâm Nước sạch và vệ sinh môi trường, và Sở

LĐ-TB-XH, mỗi đơn vị 1 cuộc)

¾ Tuyến cơ sở: 6 cuộc với các cán bộ trong tổ Truyền thông thuộc

TTYT/TTYT Dự phòng của 6 huyện/thị thuộc 3 tỉnh nghiên cứu

3 Các phương pháp xử lý thông tin

Đối với thông tin thu được từ phương pháp định tính: Kết quả của

từng cuộc phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm đã được các nghiên cứu viên gỡ

Trang 17

băng, tóm tắt theo nguyên tắc mã hóa mở (opencoding) và xử lý bằng phần mềm chuyên dụng dành cho phân tích số liệu định tính (SP data)

Đối với thông tin thu được từ phương pháp định lượng: Phiếu phỏng

vấn sau khi được thu thập, đã được làm sạch, nhập bằng phần mềm EPI DATA 3.1 và xử lý bằng phần mềm SPSS 13.0

4 Hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian ngắn, với sự hạn chế về kinh phí song lại phải khảo sát tại nhiều đơn vị thuộc 3 Ngành chức năng ở cả TƯ

và địa phương do vậy việc thu thập thông tin còn hạn chế, đặc biệt là tại tuyến

cơ sở (huyện, xã)

Thời điểm nghiên cứu vào cuối năm nên sự hợp tác của các đơn vị thuộc địa bàn khảo sát chưa được như mong muốn do khó khăn về nhân lực vì phải tham dự nhiều hội họp, tổng kết

Việc cập nhật và lưu giữ thông tin của các cơ quan chức năng ở các tuyến còn nhiều bất cập nên rất khó khăn trong việc thu thập cũng như phân tích các số liệu có liên quan

Kết quả khảo sát cho thấy hiện đang có nhiều ngành cùng tham gia vào hoạt động truyền thông chăm sóc sức khỏe trong đó có CSD với mạng lưới rộng khắp từ TƯ đến các cơ sở

Trang 18

Tại tuyến TƯ, hiện có 3 ngành (Y tế, Lao động Thương binh Xã hội,

Nông nghiệp và phát triển nông thôn) với 8 đơn vị trực thuộc đang là đầu mối quản lý và tổ chức triển khai các hoạt động truyền thông CSD trong phạm vi

cả nước

Với ngành Y tế, hiện đang có 6 đơn vị trực thuộc cùng tham gia vào

hoạt truyền thông CSD, bao gồm:

Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe Trung ương: được thành lập

từ năm 1980 đến nay đã có lịch sử 30 năm hoạt động trong lĩnh vực thông tin giáo dục truyền thông về sức khỏe Cơ cấu tổ chức của Trung tâm gồm có Ban giám đốc và 7 phòng chức năng, trong đó có 5 phòng trực tiếp tham gia vào truyền thông CSD đó là: phòng Kế hoạch, phòng Khoa học đào tạo, phòng Chỉ đạo tuyến, phòng Phát thanh Truyền hình và Phòng thông tin thư viện Trung tâm được giao chức năng là đầu mối phối hợp với các cơ quan trong cũng như ngoài ngành Y tế tại tuyến TƯ để triển khai các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe trong đó có CSD Trung tâm còn đảm nhận vai trò là đơn vị đầu ngành về truyền thông giáo dục sức khỏe thường chịu trách nhiệm chỉ đạo và hướng dẫn nghiệp vụ về truyền thông cho 63 tỉnh, thành phố trong cả nước và một số Bệnh viện, Viện ở TƯ Trung tâm có thế mạnh trong việc triển khai thực hiện các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe với sự đang dạng về hình thức biểu đạt như: phát thanh, truyền hình, báo

viết và nhiều ấn phẩm truyền thông khác

Vụ Sức khỏe bà mẹ trẻ em là đơn vị đảm nhận chức năng quản lý Nhà

nước về lĩnh vực bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em Chiến lược Chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2000 – 2010 đã xác định thông tin giáo dục truyền thông là giải pháp ưu tiên hàng đầu cần phải đi trước một bước vì vậy Vụ đã thường xuyên chỉ đạo các địa phương lập kế hoạch truyền thông hàng năm về chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em trong đó có CSD Theo quy định, Vụ không phải là đơn vị trực tiếp triển khai các hoạt động tác nghiệp về truyền thông giáo dục sức khỏe song trong thực tế hiện vẫn đang có tình trạng chồng chéo,

Vụ vừa đảm nhận vai trò quản lý Nhà nước vừa thực hiện các hoạt động truyền thông không chỉ tại tuyến TƯ mà còn vươn tới cả các địa phương Vụ không có bộ phận chuyên trách về truyền thông cũng không có cán bộ chuyên trách mà chỉ có các cán bộ kiêm nhiệm trong từng chương trình, dự án có liên

Trang 19

quan Các hoạt động truyền thông CSD do Vụ đảm nhận thường do các cán

bộ đơn lẻ tại những mảng chuyên môn khác nhau thực hiện như: mảng về sức

khỏe trẻ em, mảng về sức khỏe bà mẹ

Cục Y tế Dự phòng và Môi trường: đảm nhận những hoạt động truyền

thông về một số nội dung liên quan đến CSD như: vệ sinh môi trường và phòng chống tai nạn thương tích Từ năm 2008 trở về trước, các hoạt động truyền thông liên quan đến 2 nội dung trên do 2 đơn vị thuộc Cục đơn lẻ thực hiện (phòng Vệ sinh môi trường và phòng Sức khỏe nghề nghiệp) với nhiều

dự án nhỏ (5 – 7 dự án) Từ năm 2009 đến nay đã nhập vào thành một chương trình chung đó là truyền thông CSD Do vậy cấu phần về truyền thông của các

dự án nhỏ lẻ mà 2 phòng chức năng của Cục đã và đang tiến hành bị giảm đi

rõ rệt, nguồn lực truyền thông CSD được quy tụ lại thành một đầu mối chung

Cục Phòng chống HIV/AIDS là đơn vị chịu trách nhiệm quản lý Nhà

nước về các hoạt động phòng chống AIDS trong đó có truyền thông phòng chống HIV/AIDS đặc biệt là truyền thông về phòng lây truyền từ mẹ sang con Có 2 đơn vị thuộc Cục hiện đang trực tiếp triển khai các hoạt động thông tin giáo dục truyền thông phòng lây truyền mẹ con, đó là phòng Truyền thông

và phòng Chăm sóc điều trị

Viện Dinh dưỡng là đơn vị trực tiếp triển khai các hoạt động truyền

thông về dinh dưỡng tại tuyến TƯ và chỉ đạo, hướng dẫn 63 tỉnh, thành trong

cả nước cùng thực hiện Viện có Trung tâm Truyền thông giáo dục Dinh dưỡng trực thuộc Viện với 3 phòng chức (phòng Truyền thông giáo dục Dinh dưỡng, phòng Thư viện và phòng Công nghệ thông tin) là đầu mối đảm nhận các hoạt động truyền thông về dinh dưỡng đặc biệt là dinh dưỡng cho trẻ em

Viện Vệ sinh dịch tễ TƯ là đơn vị đảm nhận vai trò chỉ đạo thực hiện

chương trình Tiêm chủng mở rộng trong cả nước Văn phòng Chương trình tiêm chủng mở rộng Quốc gia đã được thành lập trực thuộc Viện là đầu mối triển khai các hoạt động về tiêm chủng mở rộng trong đó có truyền thông Hoạt động luôn được xác định là giải pháp quan trọng hàng đầu tạo nền tảng cho sự thành công của Chương trình trong nhiều năm qua Văn phòng Chương trình có nhóm chuyên trách về truyền thông đảm nhiệm việc lập kế hoạch và hướng dẫn triển khai thực hiện các hoạt động tuyên truyền trong cả nước

Trang 20

Với ngành Lao động, Thương binh và Xã hội, hiện có Cục Bảo vệ

chăm sóc trẻ em với 2 đơn vị trực thộc là: Trung tâm Tư vấn, dịch vụ truyền

thông và phòng Bảo vệ chăm sóc trẻ em cùng tham gia hoạt động truyền thông về CSD

Trung tâm Tư vấn và dịch vụ truyền thông có chức năng là đầu mối

phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng ở TƯ triển khai trên diện rộng các hoạt động truyền thông về bảo vệ chăm sóc trẻ em trong đó có CSD, sản xuất các ấn phẩm truyền thông, triển khai các chiến dịch truyền thông cũng như duy trì hoạt động của đường dây tư vấn hỗ trợ trẻ em

Phòng Bảo vệ chăm sóc trẻ em có chức năng tham mưu cho lãnh đạo

Bộ LĐ-TB-XH những vấn đề chăm sóc sức khỏe trẻ em, đặc biệt là phòng chống tai nạn thương tích, phòng ngừa lây nhiễm HIV/AIDS, phòng chống suy dinh dưỡng

Với ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn, hiện có phòng Huấn

luyện truyền thông của Trung tâm Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trực tiếp đảm nhận hoạt động truyền thông về nước sạch và vệ sinh

môi trường nông thôn trong đó có CSD

Tại tuyến tỉnh, hiện có 3 Sở cùng tham gia vào hoạt động truyền thông

CSD, đó là: Y tế, Lao động Thương binh Xã hội, Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Với Sở Y tế có 4 đơn vị trực thuộc hiện đang triển khai thực hiện các

hoạt động truyền thông chăm sóc sức khỏe cộng đồng trong đó có CSD; bao gồm:

Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe tỉnh/thành phố là đơn vị

chuyên sâu về các hoạt động tác nghiệp trong thông tin truyền thông về sức khỏe trong đó có CSD Hoạt động hàng năm của Trung tâm TT GDSK tỉnh/thành phố chủ yếu dựa theo sự chỉ đạo về nội dung của Sở Y tế và sự hướng dẫn về nghiệp vụ của Trung tâm TT GDSK TƯ Bên cạnh đó còn có

sự phối hợp với các đơn vị trong và ngoài Ngành cùng triển khai thực hiện các hoạt động truyền thông CSD tại mỗi địa phương

Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh/thành phố chịu trách

nhiệm triển khai các hoạt động truyền thông về chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ

em, PC SDD, phòng ngừa lây truyền HIV/AIDS từ mẹ sang con

Trang 21

Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh/thành phố chịu trách nhiệm triển khai

thực hiện truyền thông về vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh, PC SDD, phòng chống tai nạn thương tích trẻ em

Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh/thành phố chịu trách nhiệm

triển khai các hoạt động phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS trong đó có

phòng lây truyền mẹ - con

Với Sở Lao động Thương binh Xã hội có phòng trẻ em trực tiếp đảm nhận các hoạt động truyền thông CSD tại mỗi tỉnh/thành phố

Với Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, hoạt động truyền thông

CSD do phòng/tổ Truyền thông của Trung tâm NS&VSMTNT trực tiếp đảm nhận

Tại tuyến quận/huyện, hiện có TTYT quận/huyện hoặc TTYTDP

quận/huyện cùng phòng Nội vụ Lao động thương binh xã hội cùng tham gia triển khai các hoạt động truyền thông CSD TTYT quận/huyện hoặc TTYTDP quận/huyện có tổ chuyên trách về truyền thông giáo dục sức khỏe Phòng Nội

vụ LĐ-TB-XH tuyến quận/huyện không có bộ phận chuyên trách về truyền

thông CSD, chỉ có cán bộ kiêm nhiệm

Tại tuyến xã/phường, hoạt động truyền thông CSD chủ yếu là do trạm

Y tế xã/phường cùng với cánh tay nối dài là các nhân viên Y tế thôn/bản hoặc cộng tác viên Dinh dưỡng, Dân số gia đình trẻ em trực tiếp thực hiện

Sơ đồ tổ chức mạng lưới tham gia hoạt động truyền thông GDSK

trong đó có CSD

(xem trang tiếp)

Trang 22

- TT TT

giáo dục dinh dưỡng

CỤC YTDP

& MT

- Phòng SKMT

- Phòng

SK NN

VỤ SỨC KHỎE

BÀ MẸ TRẺ

EM

VIỆN VSDT

- Văn phòng

CT TCMR

CỤC PHÒNG CHỐNG HIV/AID

- Phòng Truyền thông

- Phòng CSĐT

CỤC BVCS TRẺ EM

- Phòng CS trẻ em

- TT tư vấn

và dịch vụ truyền thông

TT TT GD SK

TỈNH/ TP

TT CSSKSS TỈNH/ TP

TT YTDP TỈNH/ TP

TT PC HIV/AIDS TỈNH/ TP

SỞ LĐ TBXH TỈNH/ TP

TT NƯỚC SẠCH & VAMT TỈNH/ TP

TTYT/TTYTDP QUẬN/HUYỆN

TRẠM Y TẾ XÃ

Y TẾ THÔN BẢN/ CTV DS-GĐ-TE

TT QUỐC GIA NƯỚC SẠCH VÀ

VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN

Ghi chú:

Chỉ đạo chuyên môn Phối hợp hoạt động

Trang 23

Có thể thấy trong thực tế hiện đang có nhiều đơn vị của các Bộ, ngành ở các tuyến cùng tham gia truyền thông GDSK trong đó có CSD Tại tuyến TƯ có 6/8 đơn

vị của 3 Bộ có bộ phận chuyên trách về truyền thông Tại tuyến tỉnh/Thành phố hiện

có 4 đơn vị của Sở Y tế cùng tham gia hoạt động trong lĩnh vực này song chỉ có 1 đơn vị chuyên trách về truyền thông Sở LĐ-TB-XH các tỉnh chưa có đơn vị chuyên trách về truyền thông, chỉ có tổ Truyền thông hoặc phòng Truyền thông với khoảng 3-5 cán bộ trong đó chỉ có 1 cán bộ chuyên trách Tại tuyến quận/huyện, hoạt động truyền thông GDSK trong đó có CSD cũng chưa có đầu mối chuyên trách TTYT/TTYTDP tuyến quận/huyện có tổ TT GDSK nhưng hầu hết đều là các cán bộ kiêm nhiệm Phòng Nội vụ LĐ-TB-XH và phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tại tuyến huyện không có đầu mối đảm nhận hoạt động này Tại tuyến xã/phường truyền thông CSD chủ yếu do trạm y tế xã/phường triển khai thực hiện lồng ghép trong các chương trình CSSK ban đầu

Nhìn chung các đơn vị tham gia hoạt động truyền thông GDSK trong đó có CSD hiện đang còn phân tán, đơn lẻ, chưa có sự phối hợp giữa các bộ phận ngay trong cùng đơn vị cũng như giữa các đơn vị với nhau dẫn đến tình trạng chồng chéo, thiếu chuyên nghiệp

*) “ Vụ không có bộ phận chuyên trách về truyền thông cũng không có cán bộ được phân công chuyên theo dõi mảng này Hoạt động truyền thông được ghép trong các mảng chuyên môn như: sức khỏe trẻ em, sức khỏe bà mẹ, sức khỏe vị thành niên, nạo phá thai Cán bộ phụ trách mảng nào thì phụ trách luôn hoạt động truyền thông của mảng đó Nhiệm vụ của Vụ là xây dựng kế hoạch chung, hướng dẫn các địa phương xây dựng kế hoạch và giám sát việc triển khai hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe bà mẹ trẻ em trong phạm vi cả nước còn các tác nghiệp cụ thể trong truyền thông là nhiệm vụ của Trung tâm TT GDSK TƯ nhưng trong thực tế chúng tôi vẫn thường đá bóng vừa thổi còi, vừa thực hiện quản lý Nhà nước vừa làm tác nghiệp truyền thông luôn ”

(Ý kiến của cán bộ Vụ Sức khỏe bà mẹ trẻ em, Bộ Y tế) **) “ Tôi thấy hiện nay trong TT GDSK, việc lập kế hoạch và việc triển khai thực hiện thường chưa có sự phối hợp nhuần nhuyễn và chặt chẽ với nhau theo đúng quy trình Người thực hiện không được tham gia trong khâu lập kế hoạch, người lập

kế hoạch thì không hướng dẫn, chia sẻ thông tin với người thực hiện nên kết quả đạt được nhiều khi còn chưa được như mong muốn ”

Trang 24

2 Nhân lực tham gia truyền thông giáo dục sức khỏe trong đó có CSD

2.1 Ước tính về số lượng của đội ngũ cán bộ trực tiếp tham gia quản lý và điều hành

Tại tuyến TƯ, ước tính có khoảng 120 cán bộ của 3 Bộ chức năng (Y tế,

LĐ-TB-XH, Nông nghiệp và phát triển nông thôn) hiện đang trực tiếp quản lý và chỉ đạo thực hiện các hoạt động truyền thông CSD Trong số này riêng 8 đơn vị của Bộ Y tế

đã có khoảng 85 người Hai đơn vị của Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em, Bộ LĐ-TB-XH

có khoảng 30 người và phòng Huấn luyện truyền thông của Trung tâm Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn có 5 người

Tại tuyến tỉnh/Thành phố, ước tính mỗi tỉnh có khoảng 20 cán bộ của 4 đơn vị

thuộc sở Y tế, 3 cán bộ của Sở LĐ-TB-XH và 3 cán bộ của Trung tâm nước sạch và

vệ sinh môi trường, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn hiện đang trực tiếp quản

lý và điều hành các hoạt động truyền thông CSD tại các địa phương

Tại tuyến quận/huyện, mỗi đơn vị chỉ có khoảng 4 cán bộ trong tổ TT GDSK

của TTYT/TTYTDP huyện là đầu mối kiêm nhiệm quản lý và điều hành hoạt động truyền thông CSD

Tại tuyến xã/phường, mỗi đơn vị có khoảng 2 – 3 cán bộ trạm y tế là đầu mối

kiêm nhiệm tổ chức triển khai hoạt động truyền thông CSD trên địa bàn

2.2 Đặc điểm nhân khẩu xã hội của đội ngũ cán bộ trực tiếp tham gia quản lý

và điều hành

Kết quả phỏng vấn 102 cán bộ của các đơn vị thuộc 3 ngành (Y tế,

LĐ-TB-XH, Nông nghiệp và phát triển nông thôn) hiện đang trực tiếp tham gia quản lý và chỉ đạo thực hiện các hoạt động truyền thông GDSK trong đó có CSD tại tuyến TƯ

và 3 tỉnh được khảo sát đã cho thấy một số đặc điểm về nhân khẩu xã hội của họ như sau:

9 Về giới tính:

Trang 25

Nữ 60.80%

Nam 39.20%

Biểu 1 Giới tính của cán bộ truyền thông GDSK trong đó có CSD được phỏng

vấn

9 Về độ tuổi:

Tuổi trung bình là 37,5 trong đó cán bộ trẻ nhất là 24 tuổi và cán bộ lớn tuổi

nhất là 59 Phần đông số họ đều đang ở độ tuổi <40; cụ thể như sau:

Từ 24-30 tuổi, 29.30%

Từ 31-40 tuổi, 35.40%

Từ 41-50 tuổi, 24.40%

Từ 51-59 tuổi, 11%

Biểu 2 Độ tuổi của cán bộ truyền thông GDSK trong đó có CSD được phỏng

Trang 26

Biểu 3 Trình độ học vấn của cán bộ truyền thông GDSK trong đó có CSD

được phỏng vấn

9 Về chuyên ngành được đào tạo

Hầu hết các cán bộ đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực truyền thông CSD đều được đào tạo về các chuyên ngành đến CSSK (Bác sỹ, YTCC, Y sỹ, Nữ hộ sinh); một số ít được đào tạo về các chuyên ngành có liên quan mật thiết như: Báo chí, Xã hội học, Môi trường

YTCC Y sỹ Báo chí Xã hội

học

Môi trường

Thuỷ lợi

Nông nghiệp Khác

Biểu 4 Chuyên ngành được đào tạo của cán bộ truyền thông GDSK trong đó có

CSD được phỏng vấn

9 Về loại hình được đào tạo:

Đa số cán bộ trong hoạt động trong lĩnh vực truyền thông GDSK trong đó có CSD tại các tuyến đều đã được đào bởi hình thức chính quy (73,7%) Tỷ lệ được đào tạo bởi hình thức chuyên tu/tại chức chỉ chiếm 26,3% Cán bộ tuyến TƯ được đào tạo

Trang 27

chính quy chiếm tới 86,8% trong khi đó ở các tỉnh, tỷ lệ này thấp hơn hẳn: Ninh Thuận 46,7%; Đồng Tháp 70,4%; Điện Biên 73,7%

9 Về thâm niên hoạt động trong lĩnh vực truyền thông GDSK

Hầu hết các cán bộ được phỏng vấn đều có thâm niên công tác trong lĩnh vực này <5 năm (51,1%) và từ 5 – 10 năm (29,5%) Số người có thâm niên từ 10 - 15 năm và từ 15 – 20 năm chỉ chiếm tỷ lệ thấp 12,5% và 4,5 %

Những công việc mà họ đã trực tiếp đảm nhận trong truyền thông CSD, bao gồm: Lập kế hoạch (75%); triển khai thực hiện (75,9%); giám sát (62%); đánh giá (42%)

Tóm lại, số đông các cán bộ hiện đang trực tiếp tham gia vào quản lý và điều

hành hoạt động truyền thông chăm sóc sức khỏe trong đó có CSD tại các cơ quan TƯ

và địa phương là nữ, tuổi đời dưới 40, có trình độ học vấn đại học được đào tạo chính quy, có thâm niên làm việc trong lĩnh vực này <10 năm và đã từng đảm nhận nhiều công việc cụ thể trong quy trình tiến hành TT GDSK

3 Năng lực thực hiện truyền thông giáo dục sức khỏe trong đó có CSD

3.1 Kiến thức và kỹ năng về lập kế hoạch

9 Các khóa tập huấn, đào tạo về kỹ năng lập kế hoạch truyền thông đã được

tham dự:

Nhân lực tham gia lập kế hoạch truyền thông giáo dục sức khỏe trong đó có CSD thường làm việc kiêm nhiệm và không ổn định nên số người được đào tạo bài bản không nhiều, hầu hết số họ phải tự tìm hiểu qua sách vở Kết quả phỏng vấn cho thấy, trong số 77 cán bộ trực tiếp tham gia xây dựng kế hoạch truyền thông CSD chỉ

có 18 người, chiếm 23% đã được tham dự các khóa tập huấn về lập kế hoạch truyền thông Cán bộ của các đơn vị thuộc lĩnh vực TT GDSK thường được tham dự các khóa tập huấn về lập kế hoạch truyền thông nhiều hơn so với các lĩnh vực khác đặc

biệt là ở tuyến TƯ

*) “ Tôi đã từng tham dự nhiều khóa tập huấn về lập kế hoạch, phát triển tài liệu và đánh giá hoạt động truyền thông ở cả trong và ngoài nước do WHO, UNICEF và trường đại học John Hopkin tổ chức ”

(Ý kiến của cán bộ Trung tâm TT GDSK TƯ) **) “ Tôi được tham gia nhiều khóa tập huấn về lập kế hoạch truyền thông của các chương trình Phòng chống Cúm A, Phòng chống tác hại thuốc lá, UNICEF

Trang 28

thay đổi hẳn so với trước không thể làm theo sự áp đặt từ trên xuống nhưng việc lập

kế hoạch truyền thông của cơ quan tôi thường do các cán bộ của phòng Kế hoạch Tài chính đảm nhận, những người này chưa được tập huấn họ chỉ tự tìm hiểu qua tài liệu ”

(Ý kiến của cán bộ Trung tâm TT GDSK tỉnh Đồng Tháp)

9 Các kế hoạch truyền thông GDSK đã được xây dựng:

Qua khảo sát tại các đơn vị của 3 ngành (Y tế, LĐ-TB-XH, Nông nghiệp và

phát triển nông thôn) ở cả TƯ và các địa phương hầu hết đều chưa xây dựng được kế hoạch riêng về truyền thông trừ Trung tâm NS&VSMTNT, Bộ LĐ-TB-XH Các đơn

vị khác chỉ xây dựng kế hoạch chung về quản lý nhà nước đối với lĩnh vực được phân công và kế hoạch của các dự án cụ thể trong đó có truyền thông CSD Việc xây dựng kế hoạch hoạt động truyền thông GDSK chung trong đó có truyền thông CSD của các đơn vị thường do bộ phận Kế hoạch tài chính đảm nhận dựa theo nguồn lực được phân bổ từ các nguồn Bộ phận chuyên trách về truyền thông chỉ là đơn vị thực hiện Trong số 102 cán bộ được phỏng vấn có 77 người, chiếm tỷ lệ 75,5% cho biết

có tham gia lập kế hoạch truyền thông GDSK trong đó có CSD Phần đông số họ đã lập kế hoạch theo định kỳ hàng năm (80,5%) và hàng quý (61%) cho các hoạt động

đơn lẻ của từng chương trình, dự án

*) “ Hàng năm, chúng tôi không lập kế hoạch truyền thông riêng chỉ lập kế hoạch chung cho tất cả lĩnh vực sức khỏe bà mẹ trẻ em và lập kế hoạch cho từng dự

án cụ thể mà truyền thông CSD chỉ là một phần trong đó ”

(Ý kiến của cán bộ Vụ Sức khỏe bà mẹ trẻ em) **) “ Kế hoạch hoạt động truyền thông của Trung tâm do phòng Kế hoạch tài chính xây dựng, phòng Giáo dục sức khỏe và kỹ thuật nghe nhìn chỉ là đơn vị thực hiện triển khai ”

(Ý kiến của lãnh đạo Trung tâm TT GDSK tỉnh Điện Biên)

9 Về quy trình lập kế hoạch truyền thông GDSK trong đó có CSD:

+ Nhận thức về các bước cần tiến hành: Mặc dù tỷ lệ đã được tập huấn về

lập kế hoạch truyền thông GDSK không cao song phần đông số cán bộ được phỏng vấn đã có hiểu biết đúng về các bước cần phải làm trong quy trình thực hiện như: thu thập thông tin (92,2%); xác định vấn đề ưu tiên (90,9%); xây dựng mục tiêu (89,6%); xác định nhóm đích (80,5%); thiết kế thông điệp (85,7%), lựa chọn kênh truyền thông và chuẩn bị nguồn lực thực hiện (87%) Đáng chú ý giám sát đánh giá là một

Trang 29

bước quan trọng không thể thiếu trong quá trình triển khai các hoạt đông TT GDSK

song mới chỉ có 10,4% số cán bộ tham gia lập kế hoạch truyền thông tại các đơn vị

được khảo sát nhận thức được tầm quan trọng của việc làm này Trong số 77 cán bộ

đang tham gia lập kế hoạch truyền thông CSD tại các đơn vị được khảo sát chỉ 50,6%

biết được đầy đủ các bước trong quy trình thực hiện

Kết quả khảo sát cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về ảnh

hưởng của trình độ học vấn cũng như thâm niên công tác trong lĩnh vực đối với kiến

thức về quy trình lập kế hoạch truyền thông của các cán bộ được phỏng vấn Riêng

đối với tuyến công tác, nhận thức của cán bộ tuyến TƯ về quy trình lập kế hoạch

truyền thông GDSK có sự khác biệt rõ rệt so với tuyến tỉnh; cụ thể như sau:

Bảng số liệu trên cho thấy cán bộ công tác ở tuyến TƯ có kiến thức đầy đủ về

quy trình lập kế hoạch cao hơn 2,6 lần so với tuyến tỉnh Đặc biệt, trong nhóm nữ,

cán bộ tuyến TƯ có hiểu biết đầy đủ về quy trình lập kế hoạch truyền thông nhiều

gấp 4,3 lần so với tuyến tỉnh (p=0,022) Nguyên nhân của sự khác biệt này có thể là

do cán bộ ở tuyến TƯ cơ hội được tham gia các khóa tập huấn về quy trình lập kế

hoạch truyền thông nhiều hơn so với tuyến tỉnh

+ Kỹ năng thực hiện: Qua khảo sát tại các cơ quan TƯ và 3 tỉnh cho thấy kỹ

năng lập kế hoạch truyền thông GDSK trong đó có CSD hiện còn nhiều bất cập, thấp

hơn nhiều so với mong đợi Kế hoạch hoạt động hàng năm, hàng tháng thường được

xây dựng dựa theo bản có sẵn của các giai đoạn trước với một số điều chỉnh về số

liệu, chỉ tiêu Căn cứ để lập kế hoạch thường dựa theo định hướng của các cơ quan

quản lý cấp trên (các bộ hoặc các sở chức năng) và dựa theo số liệu báo cáo của địa

phương năm trước được ước tính cho năm sau Hầu hết các đơn vị đều không tiến

hành hoạt động điều tra thu thập thông tin, số liệu để phục vụ cho lập kế hoạch

truyền thông CSD Kết quả phỏng vấn cũng cho thấy trong số 77 cán bộ đã tham gia

Trang 30

đủ các bước theo quy trình Qua khảo sát không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

về trình độ học vấn, thâm niên công tác cũng như tuyến công tác đối với kỹ năng lập

kế hoạch truyền thông GDSK trong đó có CSD của những cán bộ được phỏng vấn Nguyên nhân của tình trạng này được giải thích là do không có hướng dẫn cụ thể; năng lực lập kế hoạch còn hạn chế; thiếu kinh phí, nhân lực và thời gian để thực hiện

*) “… Về phương pháp và quy trình lập kế hoạch thì chúng tôi cũng biết nhưng khi thực hiện thì vẫn chưa tuân theo được nhất là với kế hoạch tổng thể của quốc gia vì

không có cơ sở dữ liệu, không có căn cứ…”

(Ý kiến của cán bộ Vụ Sức khỏe bà mẹ trẻ em) **) “… Hàng năm chúng tôi lập kế hoạch truyền thông dựa theo sườn do Trung tâm TT GDSK TƯ hướng dẫn và căn cứ theo các ý kiến chỉ đạo của Bộ Y tế, Sở Y tế Khó khăn nhất là không có số liệu điều tra làm cơ sở nên chúng tôi phải dựa vào số liệu báo cáo của năm trước và ước lượng cho năm sau…”

(Ý kiến của cán bộ Trung tâm TT GDSK Điện Biên)

9 Về những nội dung chính của bản kế hoạch truyền thông:

+ Kiến thức: Phần đông các cán bộ lập kế hoạch truyền thông CSD của các

đơn vị đều chưa có hiểu biết đầy đủ về những nội dung chính cần đề cập Qua phỏng vấn chỉ có 44,2% cho rằng cần phải xác định vấn đề ưu tiên và mục tiêu thực hiện; 39% nhận thấy phải xác định rõ đối tượng đích Tỷ lệ này đối với nội dung xác định các hình thức truyền thông là 48,1%; xác định các hoạt động tiến hành là 49,4%; phân công trách nhiệm thực hiện là 37,7%; tiến độ và nguồn lực thực hiện là 37%; giám sát là 18,2% và đánh giá kết quả chỉ có 2,6% Đáng chú ý chỉ có 17% biết được đầy đủ các nội dung của một bản kế hoạch truyền thông GDSK Kết quả phỏng vấn cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn, tuyến công tác, thâm niên công tác của người trả lời đối với hiểu biết của họ về nội dung của bản kế hoạch truyền thông

+ Kỹ năng thực hiện: Do kiến thức về lập kế hoạch còn nhiều hạn chế nên

nội dung của hầu hết các bản kế hoạch truyền thông GDSK trong đó có CSD đã được xây dựng cả ở các cơ quan TƯ và địa phương hiện còn sơ sài chưa đầy đủ Kế hoạch truyền thông của Trung tâm NS&VSMTNT là bản kế hoạch chi tiết nhất song vẫn thiếu nội dung về giám sát và đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch hoạt động truyền thông GDSK trong đó có CSD của các đơn vị trong ngành Y tế cũng như ngành LĐ-TB-XH mới dừng ở mức mô tả danh mục các hoạt động, thiếu nội dung xác định các

Trang 31

nhóm đối tượng đích cho từng hoạt động, thiếu mục giám sát cùng các chỉ số giám sát Nội dung đánh giá kết quả hoạt động cũng chưa được đề cập

Nhìn chung năng lực lập kế hoạch truyền thông GDSK trong đó có CSD hiện còn rất hạn chế cả ở các cơ quan TƯ cũng như tại các địa phương đặc biệt là

với tuyến cơ sở quận/huyện, xã/phường

*) “… Kinh nghiệm trong công tác chỉ đại tuyến cho thấy kỹ năng lập kế hoạch của cán bộ trong mạng lưới các Trung tâm TT GDSK rất yếu, ước tính chỉ khoảng

<10% đáp ứng được yêu cầu…”

(Ý kiến của cán bộ Trung tâm TT GDSK TƯ)

**) “… Tôi tự thấy mình chưa đáp ứng được các yêu cầu khi xây dựng kế hoạch truyền thông nhất là về các ý tưởng Chẳng hạn như mình muốn phối hợp tuyên truyền trên sóng phát thanh nhưng mình lại chưa xác định được các một cách cụ thể

và chi tiết như: phát trong chuyên mục nào, vào thời gian nào Tại các địa phương cũng vậy thôi, năng lực lập kế hoạch của cán bộ chỉ đạt ở mức trung bình yếu…”

(Ý kiến của cán bộ Trung tâm NS&VSMTNT) ***) “… Về kỹ năng lập kế hoạch tôi thấy tuyến tỉnh còn tạm được chứ tuyến huyện và tuyến xã thường rất yếu Do vậy chúng tôi phải lập kế hoạch giúp họ để họ

tự lập thì mình lại phải sửa lại từ đầu thà làm mới còn nhanh hơn…”

(Ý kiến của cán bộ Sở LĐ-TB-XH Đồng Tháp)

3.2 Kỹ năng trong tổ chức thực hiện truyền thông

9 Các khóa tập huấn đã được tham dự:

Đa số cán bộ của những đơn vị được khảo sát ở cả tuyến TƯ và địa phương đều đã gián tiếp hoặc trực tiếp tham gia triển khai thực hiện các hoạt động truyền thông GDSK trong đó có CSD Trong số 102 người trả lời phỏng vấn, có 81% cho biết họ đã từng đảm nhận công việc này song chỉ có 5,6% đã được tham dự các khóa tập huấn về kỹ năng triển khai thực hiện hoạt động truyền thông Mặc dù vậy với sự

nỗ lực của các đối tác trong những năm vừa qua nhiều hoạt động truyền thông GDSK trong đó có CSD đã được tiến hành với kết quả đáng ghi nhận

9 Về phát triển tài liệu truyền thông

Phát triển các tài liệu truyền thông trong những năm vừa qua bước đầu đã

được thực hiện trên cơ sở xác định đối tượng đích của từng lĩnh vực Đối tượng đích

mà các hoạt động thông tin giáo dục truyền thông GDSK trong đó có CSD cần hướng

Trang 32

học sinh trong nhà trường, học sinh ngoài nhà trường, giáo viên và các cặp vợ chồng trẻ Đối tượng đích của truyền thông về Bảo vệ chăm sóc trẻ em là trẻ em và những người chăm sóc trẻ ….

Các tài liệu truyền thông được xây dựng đã ngày càng phong phú về nội dung, sinh động về hình thức thể hiện và phù hợp với thị hiếu của nhiều nhóm dân

cư Nội dung truyền thông GDSK trong đó có CSD trong những năm vừa qua khá đa dạng, từ trang bị kiến thức, kỹ năng cho người dân trong cộng đồng đến giới thiệu các dịch vụ sẵn có của chương trình tại địa phương, các chính sách có liên quan đến thu hút sự quan tâm và vận động sự tham gia của các cấp, các ngành, các lực lượng

xã hội

Tài liệu truyền thông của chương trình TCMR rất đa dạng (sách, tờ rơi, pano,

áp phích, băng hình ) chủ yếu do Ban chỉ đạo chương trình quốc gia phối hợp với Trung tâm TT GDSK, Bộ Y tế xây dựng và cấp phát về các địa phương Ngoài ra, bốn văn phòng khu vực, các TTYTDP tỉnh, TTYTDP huyện và xã cũng tiến hành xây dựng tài liệu truyền thông cho khu vực, địa phương mình để phù hợp với đặc thù

về văn hoá cũng như bối cảnh kinh tế - xã hội Tài liệu truyền thông về Phòng chống Tai nạn thương tích đã được xây dựng trong 2 năm vừa qua gồm có: tài liệu dành cho cộng tác viên cơ sở, các Poster về phòng chống ngộ độc, đuối nước Tài

liệu truyền thông của chương trình PC SDD gồm có các kịch bản phim và quảng cáo

trên truyền hình, các băng truyền thanh, sách mỏng và tranh lật, tờ rơi Tài liệu

truyền thông của lĩnh vực Bảo vệ chăm sóc trẻ em cũng đã được xây dựng khá phong

phú: chương trình phát trên sóng truyền hình, sách tham khảo, băng hướng dẫn thực hành, pa nô, áp phích, cẩm nang, tờ rơi Đặc biệt lĩnh vực Sức khỏe bà mẹ trẻ em, sức khỏe vệ sinh môi trường… đã bước đầu quan tâm đến việc xây dựng các ấn phẩm truyền thông bằng chữ và bằng tiếng của đồng bào các dân tộc thiểu số

Đáng chú ý, việc phát triển tài liệu truyền thông GDSK trong đó có CDS trong thời gian vừa qua chủ yếu được phát triển bởi các cơ quan TƯ Sự tham gia của

Trang 33

các địa phương vào hoạt động này còn mờ nhạt do vậy hiệu quả truyền thông của một

số ấn phẩm còn hạn chế, chưa phù hợp với đặc điểm của nhóm hưởng lợi

*) “… Trong thời gian gần đây, Chương trình Sức khỏe Vệ sinh môi trường của Cục YTDP&MT đã phối hợp với Trung tâm TT GDSK TƯ biên soạn các tài liệu truyền thông cho người H’Mông Mặc dù trước khi xây dựng họ đã đi thực tế ở trong này song khi lưu hành phát cho người dân địa phương bà con vẫn không đọc được cho dù hình ảnh minh họa thì rất đẹp…”

(Ý kiến của cán bộ TT YTDP Điện Biên)

9 Về huy động sự tham gia của các nhóm xã hội trong truyền thông GDSK

Hoạt động truyền thông GDSK trong đó có CSD của từng lĩnh vực thường do các đơn vị chuyên môn của Ngành Y tế, Ngành Lao động Thương binh Xã hội, Ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn là đầu mối phối hợp với các kênh thông tin đại chúng như: báo, tạp chí ở TƯ và địa phương; truyền hình (VTV1, VTV2, VTV3, O2TV,truyền hình địa phương); Đài Tiếng nói Việt Nam và đài địa phương cùng triển khai thực hiện Ngoài ra còn huy động được sự tham gia phối hợp của nhiều bộ, ngành, đoàn thể: Bộ Giáo dục - Đào tạo, Bộ Quốc phòng, Trung ương Đoàn TNCSHCM, Hội LHPN, Hội Nông dân, Hôi Chữ thập đỏ Riêng tại tuyến xã/phường, lực lượng tham gia truyền thông GDSK trong đó có CSD chủ yếu vẫn là cán bộ y tế các tuyến và nhân viên y tế thôn/bản

Tại tuyến xã/phường truyền thông GDSK trong đó có CSD cũng đã huy động được sự tham gia của cán bộ các ngành và hội viên của các đoàn thể trong những buổi truyền thông trực tiếp tại các cuộc hội họp, sinh hoạt cụm dân cư có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giúp người dân nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi theo chiều hướng tích cực Chẳng hạn như với chương trình PC SDD, cộng tác viên dinh dưỡng đã thực hiện truyền thông nhóm nhỏ cho các bà mẹ nuôi con <5 tuổi 2 lần/năm

9 Về thời điểm tiến hành các hoạt động truyền thông GDSK trong đó có CSD: Tùy thuộc theo từng lĩnh vực cụ thể của CSD mà thời điểm tiến hành truyền thông có thể khác nhau song nhìn chung thường được thực hiện vào các thời điểm chiến dịch truyền thông (1-2 lần/năm/lĩnh vực) và truyền thông thường kỳ Chẳng hạn như Chương trình PC HIV/AIDS lây truyền từ mẹ sang con ngoài truyền thông thường xuyên tại cộng đồng, hàng năm các tỉnh, thành phố trong cả nước thường triển khai lồng ghép trong “Tháng hành động Quốc gia phòng chống HIV/AIDS”

Trang 34

các chiến dịch truyền thông trong cộng đồng nhân ngày tiêm chủng hàng tháng và 2 đợt chiến dịch toàn quốc uống vitamin A trong năm Chương trình PC SDD tổ chức chiến dịch truyền thông nhân ngày uống vi chất dinh dưỡng

3.3 Kiến thức và kỹ năng trong giám sát đánh giá

9 Các khóa tập huấn đã được tham dự:

Qua khảo sát có thể nhận thấy ở cả các cơ quan TƯ cũng như địa phương, hầu hết các cán bộ truyền thông GDSK trong đó có CSD đều chưa được tham dự các khóa tập huấn về kỹ năng giám sát, đánh giá Trong số 102 cán bộ được phỏng vấn chỉ có 4 người đã được tham dự tập huấn về giám sát và 5 người được tham dự tập

huấn về đánh giá kết quả truyền thông

9 Kiến thức về giám sát, đánh giá:

Hầu hết số cán bộ quản lý và điều hành hoạt động truyền thông GDSK trong

đó có CSD tại các địa bàn khảo sát đều đã nhận thức được tầm quan trọng của giám sát và đánh giá: 100% số cán bộ của các cơ quan TƯ và của 2 tỉnh Ninh Thuận, Đồng Tháp được phỏng vấn Tỷ lệ này ở Điện Biên thấp hơn song vẫn đạt tới 88,9% Phần đông những người được phỏng vấn đã nắm được các yêu cầu khi thực hiện giám sát như: giám sát để hỗ trợ thúc đẩy hoạt động (87,5%); giám sát theo các chỉ số

(80,2%); phải phản hồi tích cực các kết quả giám sát (85,4%)

Biểu 5 Định kỳ giám sát truyền thông GDSK trong đó có CSD

Trang 35

Kết quả khảo sát tại các đơn vị ở các tuyến cho thấy định kỳ giám sát truyền thông GDSK chưa được thực hiện một cách thống nhất và đồng bộ Có địa phương việc giám sát do chính cơ quan trực tiếp quản lý điều hành đảm nhận Có địa phương lại do Sở Kế hoạch đầu tư là cơ quan chủ quản của Dự án CSD đảm nhận Việc giám sát hoạt động truyền thông thường được thực hiện riêng lẻ theo từng lĩnh vực và lồng ghép cùng nhiều hoạt động khác Định kỳ giám sát cũng có sự khác nhau giữa các lĩnh vực Chương trình PC SDD giám sát 6 tháng 1 lần Các chương trình khác thường giám sát 1 năm 1 lần Hình thức giám sát chủ yếu vẫn theo những cách làm truyền thống như: dựa vào thông tin thu được qua các cuộc họp thường kỳ, số liệu báo cáo của các tuyến Riêng chỉ có Trung tâm TT GDSK TƯ, chương trình PC HIV/AIDS và chương trình NS&VSMTNT đã xây dựng được công cụ giám sát hoạt động truyền thông thông qua các chỉ số song vẫn chưa chi tiết và thiếu cụ thể Kết quả giám sát mới chỉ được phản hồi với cơ quan quản lý cấp trên, chưa có sự chia sẻ, rút kinh nghiệm với chính đơn vị được giám sát Đáng chú ý việc đánh giá hiệu quả truyền thông hiện vẫn chưa được quan tâm thực hiện tại hầu hết các đơn vị được khảo sát do thiếu nguồn lực cũng như năng lực tiến hành

*) “ Giám sát và đánh giá hiệu quả truyền thông là khâu xưa nay vẫn bỏ ngỏ, Unicef nên quan tâm hỗ trợ kinh phí và kỹ năng để các đối tác thực hiện được trong thời gian tới vì đây cũng là hoạt động quan trọng quyết định hiệu quả của chương trình ”

(Ý kiến của cán bộ Trung tâm Truyền thông giáo dục Dinh dưỡng)

**)“ Đánh giá hiệu quả truyền thông là rất cần thiết để biết xem những sản phẩm truyền thông mà mình tung ra cộng đồng đã đem lại kết quả như thế nào, gây ảnh hưởng ra sao và làm thế nào cho tốt hơn nữa nhưng nhiều năm qua chúng tôi chưa làm được một cách tổng thể do không có kinh phí và không có cả kỹ năng đánh giá cũng như nhân lực thực hiện Chúng tôi mới chỉ đánh giá được hiệu quả của một

số dự án cụ thể theo yêu cầu của nhà tài trợ Đây là cái yếu chung của cả ngành truyền thông”

(Ý kiến của cán bộ phòng Truyền thông, Cục PC HIV/AIDS)

3.4 Những hạn chế và bất cập trong truyền thông GDSK trong đó có CSD

Bên cạnh những kết quả nêu trên, hoạt động thông tin giáo dục truyền thông GDSK trong đó có CSD hiện vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức

đặc biệt là khó khăn về năng lực và nguồn lực triển khai

Trang 36

9 Hiện chưa có đơn vị nào đảm nhận vai trò quản lý và điều phối chung cho

toàn bộ chương trình CSD cũng như cho mảng truyền thông Do vậy trong thực tế

hoạt động của từng ngành, từng đối tác được thực hiện độc lập, chưa có sự liên kết để tạo ra sức mạnh của cả mạng lưới thậm chí đôi khi còn bị chồng chéo không theo đúng chức năng nhiệm vụ của đơn vị

*) “ Ban Quản lý Dự án nằm ở Sở Kế hoạch Đầu tư lâu lâu mới thấy họp một lần, họ chỉ nắm nguồn lực về tài chính chứ cũng không quản lý và điều hành về 1 lĩnh vực cụ thể nào nên hầu như không điều phối được sự liên kết giữa các đối tác của các ngành ”

(Ý kiến của cán bộ TTYTDP tỉnh Điện Biên)

**) “ Tỉnh có dự án của Unicef nên đã được thông báo là sẽ kết hợp các mảng trong ngành Y tế và ngành LĐTBXH lại với nhau nhưng tôi thấy mọi việc vẫn làm như trước Chẳng hạn như trong ngành mình thì Ban quản lý dự án đặt tại Sở còn các đơn vị thì ai vẫn làm việc nấy của mình Phòng chống SDD do Trung tâm

CSSKSS thực hiện, PC lao, PC TNTT do TTYT Dự phòng làm và họ làm luôn mọi việc kể cả truyền thông Bởi vậy chúng tôi thường xuyên phải đi gặp các đơn vị

để xin họ cho mình được làm, nếu họ không đồng ý cũng phải chịu Mọi người vẫn

thường nói rằng: TTTTGDSK luôn sống nhờ bằng mũi của người khác”

(Ý kiến của cán bộ TT TTGDSK tỉnh Đồng Tháp)

9 Tại một số đơn vị cả ở TƯ cũng như ở địa phương chưa có đầu mối chuyên trách (bộ phận hoặc cá nhân) về truyền thông GDSK trong đó có CSD, vẫn đang sử dụng cán bộ trong tình trạng kiêm nhiệm không đáp ứng được yêu cầu công

việc

*) “ Vụ hiện đang đảm nhận nhiệm vụ quản lý và điều hành nhiều hoạt động truyền thông về SKBMTE trong đó có CSD song cơ cấu tổ chức và nhân lực còn rất hạn chế, chúng tôi rất thiếu cán bộ Vụ không được phép thành lập phòng Truyền thông thì cũng phải hình thành cho được 1 tổ truyền thông với khoảng hơn 20 người thì mới đủ sức hoạt động ”

(Ý kiến của cán bộ Vụ SKBMTE)

Trang 37

**) “ Sở không có đầu mối, không có cán bộ chuyên trách về truyền thông nên mỗi người chúng tôi phải làm hết mọi việc thuộc lĩnh vực BVCSTE do vậy tự mình cũng thấy thiếu chú tâm và không chuyên nghiệp do còn phải dàn trải cho nhiều hoạt động khác ”

(Ý kiến của cán bộ Sở LĐTBXH Đồng Tháp)

9 Chưa xây dựng được cơ chế hướng dẫn thực hiện và giám sát về sự phối

hợp trong hoạt động truyền thông GDSK trong đó có CSD giữa các bộ phận trong

mỗi đơn vị, giữa các đối tác trong cùng ngành, giữa tuyến trên với tuyến dưới cũng như giữa các ngành với nhau dẫn đến tình trạng các hoạt động được tiến hành manh mún, rời rạc, trùng lắp và kém hiệu quả Việc chia sẻ thông tin, số liệu giữa các đối tác chưa được tiến hành do chưa có phương thức thực hiện Bởi vậy việc thu thập các bằng chứng phục vụ cho việc lập kế hoạch truyền thông GDSK còn gặp nhiều khó khăn Không chỉ thế, việc phối hợp trong lập kế hoạch truyền thông lồng ghép giữa các nội dung CSD ngay trong cùng một đơn vị cũng chưa thực hiện được

*) “ Chúng ta vẫn chưa xây dựng được một cơ chế chính thức trong chia sẻ thông tin một cách có hiệu quả giữa các ngành với nhau Muốn vậy phải có 1 cơ quan đứng ra đảm nhận vai trò điều phối chung ”

(Ý kiến của cán bộ Cục PC HIV/AIDS) **) “ Trung tâm hiện đang có 3 mảng hoạt động cần phải thực hiện truyền thông lồng ghép đó là PCSDD, Chăm sóc sức khỏe bà mẹ và PC lây truyền HIV từ

mẹ sang con nhưng các bộ phận vẫn chưa phối hợp được với nhau trong lập kế hoạch triển khai thực hiện ”

(Ý kiến của cán bộ TTCSSKSS tỉnh Điện Biên)

Trong xây dựng cũng như lưu hành ấn phẩm truyền thông GDSK trong đó có CSD tại các tuyến hiện cũng chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị gây ảnh hưởng bất lợi đến chất lượng và hiệu quả tuyên truyền

*) “ Vụ quản lý về chuyên môn của lĩnh vực PC SDD nên khi Trung tâm TT GDSK sản xuất các tài liệu tờ rơi về lĩnh vực này thì cũng nên trao đổi với chúng tôi

về số lượng phát hành để chúng tôi có thông tin hướng dẫn cho các địa phương vì khi địa phương thiếu tài liệu truyền thông thì họ thường hỏi chúng tôi ”

(Ý kiến của cán bộ Vụ SKBMTE) **) “ Về mảng CSSKTE tôi thấy có nhiều đơn vị cùng phát triển các tài liệu

Trang 38

người đó biết Cơ quan tôi là đầu mối quản lý Nhà nước về lĩnh vực trẻ em nhưng cũng không nhận được các tài liệu này như một đầu mối chính thức Nếu có biết thì cũng do là đi dự các cuộc họp có tài liệu phát kèm ”

(Ý kiến của cán bộ Cục BVCSTE) ***) “ Tôi biết có 1 số NGO xây dựng các ấn phẩm truyền thông rất hay và phát tới tận cộng đồng nhưng họ cũng không chia sẻ thông tin với mình để học tập kinh nghiệm hoặc phối hợp trong phân phối tài liệu sao cho khỏi trùng lặp nơi thì nhận được mấy loại 1 lúc nơi thì không có ”

(Ý kiến của cán bộ TTTT Dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng)

3.4.2 Bất cập về nhân lực quản lý, điều hành và triển khai thực hiện truyền thông

GDSK trong đó có CSD:

Kết quả khảo sát cho thấy nhân lực của các đối tác tham gia truyền thông

GDSK trong đó có CSD hiện đang còn nhiều bất cập cả về số lượng cũng như năng

lực thực hiện Đây là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của

hoạt động truyền thông GDSK trong thực tiễn

9 Nhân lực tham gia truyền thông GDSK trong đó có CSD hiện đang thiếu

và không ổn định về số lượng nhất là với đội ngũ cộng tác viên ở tuyến cơ sở

*) “ Cán bộ của Trung tâm có 12 người, nhìn chung là vừa thiếu về số lượng vừa yếu về chất lượng Trước đây có 2 bác sỹ nhưng một người đã chuyển Ai cũng biết thế chân vạc của Ngành là Dự phòng, Điều trị và Truyền thông nhưng vì mảng Truyền thông GDSK còn thiếu sự quan tâm về cơ chế chính sách đãi ngộ nên việc tuyển dụng cán bộ có trình độ chuyên môn rất khó ”

(Ý kiến của cán bộ TT TTGDSK Đồng Tháp)

**) “ Cộng tác viên trẻ em ở thôn, bản, khu phố là một lực lượng rất quan trọng trong truyền thông song do sự thay đổi về tổ chức bộ máy của Ngành và do chế độ phụ cấp không thỏa đáng nên đến nay mạng lưới này của chúng tôi dường như đã bị tan rã Năm 2009, chúng tôi đã tham mưu để Hội đồng nhân dân tỉnh chấp nhận hỗ trợ thêm 50.000 đồng/người/tháng để các Cộng tác viên Dân số, Y tế kiêm nhiệm thêm BVTE và ngành LĐTBXH lại phải tập huấn lại cho Cộng tác viên của >500 ấp

ấy vậy mà rồi họ lại bỏ việc lúc nào không hay đâu ”

(Ý kiến của cán bộ Sở LĐTBXH Đồng Tháp)

9 Năng lực quản lý điều hành và triển khai thực hiện còn hạn chế chưa

đáp ứng được yêu cầu; cụ thể như:

Ngày đăng: 24/03/2014, 11:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu trên cho thấy cán bộ công tác ở tuyến TƯ có kiến thức đầy đủ về  quy trình lập kế hoạch cao hơn 2,6 lần so với tuyến tỉnh - ĐÁNH GIÁ NHANH THỰC TRẠNG VÀ XÁC ĐỊNH NHU CẦU NÂNG CAO NĂNG LỰC CỦA CÁC ĐỐI TÁC LIÊN QUAN TRONG THỰC HIỆN HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG VÌ SỰ SỐNG CÒN VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ TẠI 3 TỈNH pdf
Bảng s ố liệu trên cho thấy cán bộ công tác ở tuyến TƯ có kiến thức đầy đủ về quy trình lập kế hoạch cao hơn 2,6 lần so với tuyến tỉnh (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w