Cuộc điều tra được Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc UNICEF hỗ trợ kỹ thuật và tài chính và Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc UNFPA tại Việt Nam hỗ trợ về tài chính.MICS 2011 đã cung cấp những thông tin
Trang 1ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ CÁC MỤC TIÊU
Trang 2BẢN ĐỒ CÁC HUYỆN CÓ ĐỊA BÀN
ĐIỀU TRA MICS 2011
Đồng bằng sông Hồng
Trung du và miền núi phía Bắc
Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
Đồng bằng sông Cửu Long
Huyện có địa bàn điều tra MICS, phân theo vùng
Huyện không có địa bàn điều tra
Ghi chú: Các ranh giới và tên được hiển thị và thiết kế được sử dụng trong các bản đồ này không ngụ ý việc phê chuẩn hoặc chấp nhận chính thức của Liên Hợp Quốc
Ảnh bìa: Liên Hợp Quốc tại Việt Nam\2011\Shutter Stock photo
Trang 3THÔNG TIN VỀ MICS 2011 TẠI VIỆT NAM
Điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ Việt Nam (MICS 2011) do Tổng cục Thống kê Việt Nam thực hiện phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Lao động Thương binh và
Xã hội Cuộc điều tra được Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) hỗ trợ kỹ thuật và tài chính và Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) tại Việt Nam hỗ trợ về tài chính.MICS 2011 đã cung cấp những thông tin giá trị và bằng chứng mới nhất về tình hình trẻ em và phụ nữ Việt Nam, cập nhật thông tin từ cuộc điều tra MICS 2006 ở Việt Nam cũng như các dữ liệu đã được thu thập trong hai cuộc điều tra MICS trước đó vào các năm 1996 và 2000
Để phân tích một loạt các vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe, sự phát triển và điều kiện sống của phụ nữ và trẻ
em Việt Nam, cuộc điều tra này được thiết kế để thu thập thông tin cho các chỉ số cần thiết nhằm giám sát các mục tiêu và chỉ tiêu của Tuyên bố Thiên Niên Kỷ, Tuyên bố về Một thế giới phù hợp với trẻ em và Chương trình hành động quốc gia về trẻ em giai đoạn 2011-2020 Cuộc điều tra cung cấp các thông tin cập nhật về trẻ em và phụ nữ Việt Nam Các số liệu sẽ được sử dụng để lập báo cáo
về cam kết quốc tế về trẻ em của Việt Nam như Báo cáo đánh giá cuối thập kỷ về “Một thế giới phù hợp với trẻ em”
và Báo cáo quốc gia lần thứ 5 về tình hình thực hiện Công ước Quyền Trẻ em
Điều tra này cung cấp các thông tin số liệu cho thấy bất bình đẳng theo giới tính, vùng miền, dân tộc, mức độ giàu
Trang 4nghèo và các đặc điểm khác MICS 2011 được tiến hành dựa trên mẫu điều tra thực tế gồm 11.614 hộ gia đình và cho thấy một bức tranh toàn diện về trẻ em và phụ nữ Việt Nam ở sáu vùng
NỘI DUNG CỦA MICS VIỆT NAM 2010-2011
Với ba bộ bảng hỏi gồm bảng hỏi hộ gia đình, bảng hỏi
áp dụng cho phụ nữ và bảng hỏi áp dụng cho trẻ em, MICS 2011 đã thu thập thông tin về tình hình tử vong trẻ em, dinh dưỡng, sức khỏe trẻ em, nước sạch và
vệ sinh môi trường, sức khỏe sinh sản, tỉ lệ biết chữ
và giáo dục, bảo vệ trẻ em, HIV/AIDS và hành vi tình dục của phụ nữ Các số liệu được phân tổ theo vùng (6 vùng), giới tính (nam, nữ), khu vực (thành thị, nông thôn), mức độ giàu nghèo (gồm 5 nhóm: nghèo nhất, nghèo, trung bình, giàu và giàu nhất), dân tộc (Kinh/Hoa, dân tộc thiểu số)1, trình độ học vấn của chủ hộ và của bà mẹ: không bằng cấp, trình độ tiểu học, trung học
cơ sở, trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp hoặc cao đẳng trở lên
CÁC THÔNG TIN BỔ SUNG VỀ MICS
Bản tóm tắt sau đây trình bày các phát hiện chính về Điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ Việt Nam 2011 Bản báo cáo đầy đủ về MICS được lưu trữ tại Tổng cục Thống kê Việt Nam và đăng tải trên trang web của Tổng cục http://www.gso.gov.vn hoặc có thể truy cập trực tiếp tại địa chỉ http://mics.gso.gov.vn Có thể xem thêm thông tin về MICS gồm các cuộc khảo sát đánh giá đã thực hiện tại Việt Nam và ví dụ của các quốc gia khác đã thực hiện điều tra tại địa chỉ
http://www.childinfo.org
Trích dẫn tham khảo: Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO), Điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ
nữ Việt Nam giai đoạn 2011, Báo cáo cuối cùng, 2011,
Hà Nội, Việt Nam
1 Dân tộc được xác định bằng cách hỏi câu hỏi: “Chủ hộ là người dân tộc gì?” Trong điều tra
MICS 2011, dân tộc thiểu số Hoa (dân tộc Hoa) được xếp vào cùng nhóm với dân tộc đa số Kinh thành nhóm “Kinh/Hoa” vì lý do người dân tộc Hoa có mức sống ngang bằng với dân tộc Kinh Tất cả các dân tộc thiểu số khác được nhóm với nhau thành nhóm “dân tộc thiểu số”.
Trang 5PHẠM VI VÀ ĐẶC ĐIỂM MẪU
Mẫu theo kế hoạch ban đầu của cuộc điều tra MICS
2011 gồm 12.000 hộ gia đình, ở 600 xã, 440 huyện của
63 tỉnh thành trong cả nước Mẫu được thiết kế nhằm đưa ra số liệu ước tính đáng tin cậy về tình hình trẻ em
và phụ nữ trong cả nước, ở thành thị và nông thôn và sáu vùng của Việt Nam là Đồng bằng sông Hồng, Trung
du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long
Trong số 12.000 hộ gia đình được lựa chọn, 11.614 hộ gia đình được phỏng vấn thành công Trong số các hộ
đã được phỏng vấn, bên cạnh chủ hộ, 11.663 phụ nữ tuổi từ 15-49 và 3.678 trẻ em dưới 5 tuổi đã hoàn thành phỏng vấn Có 43.998 người được liệt kê trong danh sách hộ gia đình đã được phỏng vấn, trong đó 21.559
là nam giới (49%) và 22.439 là phụ nữ (51%) Hầu hết chủ hộ là nam giới (73.8%), hơn 70% dân số hộ ở vùng nông thôn và khoảng 10% số hộ thuộc các dân tộc thiểu
số khác ngoài dân tộc Kinh và Hoa Số thành viên trung bình trong mỗi hộ gia đình là 3,8 người
Tử vong trẻ em
Tỉ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi và trẻ dưới 5 tuổi là những chỉ số quan trọng về đời sống và sự phát triển của xã hội Việc xác định trẻ em có nguy cơ tử vong cao nhất sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách và lập kế hoạch gắn kết các nỗ lực tốt hơn để cải thiện sự sống còn của trẻ em và giảm nguy cơ rủi ro của trẻ sơ sinh
và trẻ nhỏ
MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ
Chỉ tiêu 4 A Từ năm 1990 đến năm 2015, giảm
hai phần ba tỉ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi
CÁC CHỈ SỐ MDG TRONG ĐIỀU TRA
MICS 2011
ChỈ số 4.1 Tỉ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổiChỉ số 4.2 Tỉ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi
Trang 6Trong cuộc điều tra MICS 2011, tỉ suất tử vong trẻ em được tính toán dựa trên kỹ thuật ước lượng gián tiếp gọi là phương pháp Brass Theo kết quả điều tra, tỉ suất
tử vong trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam là 16 trẻ trong số 1.000 trẻ sinh ra sống và tỉ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi
là 14 trẻ trong số 1.000 trẻ sinh ra sống Có sự chênh lệch đáng kể trong các nhóm dân tộc và mức độ giàu có của hộ gia đình: tỉ suất trẻ em dân tộc thiểu số tử vong trước một tuổi và năm tuổi cao gấp ba lần so với tỉ suất
tử vong trẻ em người Kinh và Hoa; tỉ suất trẻ em trong các hộ nghèo nhất tử vong trước 1 và 5 tuổi cao gấp đôi
so với trẻ em sống trong các gia đình khá giả hơn
Tình trạng dinh dưỡng và nuôi con bằng sữa mẹ
Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em thể hiện tình trạng sức khỏe chung của các em Nếu trẻ được cung cấp thức ăn đầy đủ và không thường xuyên đau ốm, được chăm sóc tốt thì các em sẽ phát triển đầy đủ tiềm năng
50 40 30 20 10 0
50 40 30 20 10 0
10
23 11 14
16
28
50 40 30 20 10 0
Tỉ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi (trên 1000 trẻ sinh ra sống)
Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi (phần trăm)
Kinh/Hoa
Dân tộc thiểu số
Kinh/Hoa
Nông thôn Thành thị
Chung
Dân tộc thiểu số
Kinh/Hoa
Nông thôn Thành thị
Chung
Dân tộc thiểu số
Kinh/Hoa
Nông thôn Thành thị
Chung
Dân tộc thiểu số
Dân tộc thiểu số
Dân tộc thiểu số
47.6 58.3
10
23 11
Tỉ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi (trên 1000 trẻ sinh ra sống)
Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi (phần trăm)
Kinh/Hoa
Dân tộc thiểu số
Kinh/Hoa
Nông thôn Thành thị
Chung
Dân tộc thiểu số
Kinh/Hoa
Nông thôn Thành thị
Chung
Dân tộc thiểu số
Kinh/Hoa
Nông thôn Thành thị
Chung
Dân tộc thiểu số
Dân tộc thiểu số
Dân tộc thiểu số
47.6 58.3
51.1
Trang 7của mình Suy dinh dưỡng có liên quan đến hơn một nửa trường hợp tử vong của trẻ em trên toàn thế giới Nuôi con bằng sữa mẹ trong những năm đầu đời sẽ bảo vệ trẻ em không bị nhiễm bệnh Đây là nguồn dinh dưỡng lý tưởng và là cách nuôi trẻ an toàn và kinh tế Vitamin A rất cần thiết cho đôi mắt khỏe mạnh và đảm bảo hệ thống miễn dịch hoạt động hiệu quả Hàng năm, việc cung cấp viên vitamin A liều cao cho trẻ nhỏ là chiến lược an toàn, tiết kiệm chi phí và hiệu quả nhằm loại trừ sự thiếu vitamin A và nâng cao sự sống còn của trẻ em Cân nặng khi sinh là chỉ số tốt không chỉ đối với sức khỏe và tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ mà còn
là cơ hội sống còn, phát triển, sức khỏe lâu dài và phát triển tâm lý của trẻ sơ sinh Rối loạn do thiếu i-ốt (IDD)
là nguyên nhân chủ yếu trên thế giới dẫn đến chậm phát triển trí tuệ có thể phòng ngừa được và suy giảm phát triển tâm thần ở trẻ nhỏ Ăn đủ muối i-ốt có thể phòng được bệnh này
Trong quá trình thu thập số liệu điều tra MICS 2011,
số liệu về trọng lượng và chiều cao của trẻ em dưới 5 tuổi trong các hộ gia đình trong mẫu điều tra được lấy
từ kết quả đo nhân trắc theo khuyến nghị của UNICEF (xem http://www.childinfo.org) Kết quả đo này cho thấy 11,7% trẻ em Việt Nam thiếu cân (suy dinh dưỡng cân nặng theo tuổi), 22,7% trẻ em thấp còi (suy dinh dưỡng chiều cao theo tuổi) và 4,1% bị gầy còm (suy sinh dưỡng cân nặng theo chiều cao) Có sự chênh lệch rất lớn giữa thành thị và nông thôn, giữa trẻ em người Kinh/Hoa và trẻ em thuộc các dân tộc thiểu số, giữa các nhóm giàu nghèo và theo trình độ học vấn của bà mẹ Đồng thời, 4,4% trẻ em dưới 5 tuổi Việt Nam bị thừa cân
MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ
và thiếu đói Chỉ tiêu 1 C Giảm một nửa tỷ lệ người dân bị
thiếu đói trong giai đoạn từ 1990 đến 2015
CÁC CHỈ SỐ TRONG ĐIỀU TRA MICS 2011
Chỉ số 1.8 Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị thiếu cân
Trang 8Cứ 5 trẻ em ở Việt Nam thì có 2 trẻ (chiếm 39,7%)
được bú sữa mẹ lần đầu tiên đúng thời gian thích hợp
(trong vòng 1 giờ sau sinh) và dưới 1 phần 5 số trẻ
(17%) được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Tỷ
lệ cho bú sữa mẹ hoàn toàn cao nhất là ở Trung du và
miền núi phía Bắc, chiếm 37,6%
10
23 11 14
Tỉ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi (trên 1000 trẻ sinh ra sống)
Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi (phần trăm)
Kinh/Hoa
Dân tộc thiểu số
Kinh/Hoa
Nông thôn Thành thị
Chung
Dân tộc thiểu số
Kinh/Hoa
Nông thôn Thành thị
Chung
Dân tộc thiểu số
Kinh/Hoa
Nông thôn Thành thị
Chung
Dân tộc thiểu số
Dân tộc thiểu số
Dân tộc thiểu số
47.6 58.3
51.1
Trang 9Hơn 4 phần 5 trẻ em (83,4%) ở độ tuổi từ 6 đến 59 tháng tuổi được uống bổ sung vitamin A liều cao trong vòng 6 tháng trước điều tra MICS 2011.
Khoảng 93% trẻ em dưới 5 tuổi được cân lúc mới sinh
và trong đó chỉ có 5,1% trẻ em sinh ra thiếu cân
Ở Việt Nam, nửa số hộ dân (45,1%) đã sử dụng muối i-ốt có hàm lượng thích hợp hơn 15 micro gam/dl (15+ppm) trong bữa ăn Việc sử dụng muối i-ốt khác biệt đáng kể giữa các vùng Tỉ lệ này vẫn thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn quốc tế: Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và UNICEF khuyến cáo phổ cập muối i-ốt là một giải pháp an toàn, hiệu quả với chi phí thấp và có tính bền vững nhằm đảm bảo cung cấp đủ i-ốt , có nghĩa là phải có ít nhất 90% hộ gia đình sử dụng muối i-ốt
Tiêm chủng
Trên toàn thế giới vẫn còn khoảng 27 triệu trẻ em chưa được tiêm chủng định kỳ, khiến cho hàng năm có hơn 2 triệu trẻ em chết bởi các bệnh có thể phòng ngừa được bằng vắc-xin Tại Việt Nam, một trẻ được coi là tiêm chủng đầy đủ nếu em đó nhận được 7 loại kháng thể phòng lao, bạch hầu – ho gà – uốn ván (1-3), bại liệt (1-3), sởi và viêm gan B (1-3) Viêm gan B sơ sinh không được đưa vào chỉ tiêu tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ
Hai phần năm trẻ em (40,1%) từ 1 đến 2 tuổi được tiêm
đủ vắc xin phòng bệnh cơ bản – lao, 3 mũi phòng bại liệt, sởi và 3 mũi bạch hầu, ho gà, uốn ván (hoặc vắc-xin 5 trong 1), và 3 mũi phòng bệnh viêm gan B Tuy nhiên, chỉ có một nửa số trẻ em này có thẻ tiêm chủng đưa ra cho điều tra viên xem Tỷ lệ tiêm chủng bạch hầu – ho gà – uốn ván và bại liệt giảm đáng kể giữa mũi
MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ
Chỉ tiêu 4 A Giảm hai phần ba tỉ lệ tử vong ở trẻ em
dưới 5 tuổi trong giai đoạn 1990-2015
CÁC CHỈ SỐ MDG TRONG ĐIỀU TRA MICS 2011
Chỉ số 4.3 Tỉ lệ trẻ em 1 tuổi được tiêm phòng
bệnh sởi
Trang 10thứ nhất và mũi thứ ba: 20 điểm phần trăm đối với tiêm chủng bạch hầu, ho gà, uốn ván và 23 điểm phần trăm đối với tiêm chủng bại liệt Tỷ lệ tiêm chủng thấp nhất
là vắc-xin tiêm phòng viêm gan B cho trẻ sơ sinh Đặc biệt, tỷ lệ tiêm phòng viêm gan B cho trẻ sơ sinh của nhóm trẻ em thuộc các dân tộc thiểu số chỉ đạt 18,2%, trẻ em của các bà mẹ không có trình độ học vấn chỉ đạt 18,5%
Khoảng 4 trong 5 bà mẹ sinh con trong vòng 2 năm trước cuộc điều tra MICS được tiêm phòng uốn ván sơ sinh (77,5%) Tuy nhiên, chỉ có 3 trong 5 bà mẹ người dân tộc thiểu số được tiêm phòng loại vắc xin này (59,2%)
Chăm sóc trẻ ốm đau và phòng ngừa sốt rét
Viêm phổi, tiêu chảy và sốt rét là nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới Viêm phổi là nguyên nhân dẫn đến tử vong trẻ em và sử dụng kháng sinh để điều trị viêm phổi cho trẻ em dưới
5 tuổi là biện pháp can thiệp chủ yếu Trên thế giới, tiêu chảy là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai ở trẻ em dưới 5 tuổi
Cần tránh sử dụng chất đốt rắn phục vụ nhu cầu năng lượng cơ bản gồm nấu ăn và sưởi ấm vì sử dụng chất đốt rắn làm tăng nguy cơ mắc các bệnh hô hấp cấp tính, viêm phổi, bệnh phổi mãn tính, ung thư và bệnh lao, trẻ sơ sinh nhẹ cân, bệnh đục nhân mắt và bệnh hen suyễn
Sốt rét gây tình trạng thiếu máu ở trẻ em Các biện pháp phòng ngừa, đặc biệt là sử dụng màn tẩm thuốc diệt côn trùng (ITNs), có thể giảm đáng kể tỉ suất tử vong do sốt rét ở trẻ em
Việt Nam được coi là nước có tỷ lệ mắc sốt rét thấp Hầu như tất cả các hộ gia đình ở Việt Nam (95,5%) có
ít nhất 1 chiếc màn để ngủ Tuy nhiên hầu như không
có hộ gia đình nào (0,4%) có màn chống muỗi được xử
lý thuốc vĩnh viễn Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi và tỷ lệ phụ
nữ có thai được ngủ màn vào đêm trước khi điều tra là 94,4% và 94,1%
Trang 11Ở Việt Nam, tỷ lệ bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi trong thời gian 2 tuần trước cuộc điều tra là 7,4% Trong
số những trẻ em này, 46,4% được điều trị bằng dung dịch ô-rê-zôn (ORS), 42,8% trẻ em được điều trị tại nhà bằng cách cho uống các chất lỏng bù nước, và 65,6% trẻ em được uống dung dịch ô-rê-zôn (ORS) hoặc các chất lỏng bù nước tự pha chế tại gia đình
Cuộc điều tra cho thấy khoảng 3,3% trẻ em dưới 5 tuổi
có triệu chứng viêm phổi trong hai tuần trước cuộc điều tra Trong số này, 73% được đưa đến nơi khám bệnh và 68,3% được điều trị bằng kháng sinh Chỉ có 1 trong số
20 bà mẹ và người chăm sóc trẻ (5%) nhận thức được dấu hiệu nguy hiểm của bệnh viêm phổi
MỤC TIÊU THIÊN NIÊN KỶ
bệnh khác Chỉ tiêu 6 C Ngăn chặn và bắt đầu đẩy lùi tỷ lệ
mắc bệnh sốt rét và các bệnh nguy hiểm khác vào năm 2015,
CHỈ SỐ MDG TRONG ĐIỀU TRA MICS 2011
Chỉ số 6.7 Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi nằm ngủ trong
màn có tẩm thuốc chống muỗi Chỉ số 6.8 Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị sốt được
điều trị bằng thuốc chống sốt rét phù hợp
Trang 12Ở Việt Nam việc sử dụng chất đốt rắn để nấu ăn chiếm 46,4% Tỷ lệ sử dụng chất đốt gây hại đến sức khỏe này để nấu ăn của các hộ gia đình thuộc các nhóm dân tộc thiểu số cao gấp hai lần các hộ gia đình người Kinh/Hoa (89,5% so với 40,5%)
Nước và vệ sinh
Nước uống an toàn và hố xí hợp vệ sinh là những yếu
tố thiết yếu để có sức khỏe tốt Cải thiện công trình vệ sinh có thể giảm bệnh tiêu chảy và giảm đáng kể những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe do các bệnh rối loạn khác gây ra, gây tử vong và bệnh tật ở trẻ nhỏ
Theo điều tra, 92% dân số Việt Nam sử dụng nguồn nước uống được cải thiện, mặc dù chỉ có 68,4% người dân tộc thiểu số sử dụng những nguồn nước này Khoảng 12,4% dân số không được tiếp cận với nguồn nước được cải thiện lại không sử dụng bất cứ hình thức xử lý nước nào Trong số những hộ gia đình có
sử dụng các biện pháp xử lý nước, biện pháp đun sôi nước để uống là phổ biến nhất, và được 84% dân số
sử dụng nguồn nước không an toàn áp dụng Khoảng 89,5% dân số được tiếp cận nguồn nước được cải thiện
và 5,1% dân số sử dụng nguồn nước không an toàn ở trong nhà
Nhìn chung, gần 3 phần 4 người Việt Nam sử dụng công trình vệ sinh được cải thiện (73,8%), trong khi chỉ
MỤC TIÊU THIÊN NIÊN KỶ
Chỉ tiêu 7 C Giảm một nửa tỷ lệ người dân không
được tiếp cận bền vững với nước sạch và vệ sinh môi trường cơ bản vào năm 2015
CÁC CHỈ SỐ MDG TRONG ĐIỀU TRA MICS 2011
Chỉ số 7.8 Tỉ lệ người dân sử dụng nguồn nước
uống được cải thiện Chỉ số 7.9 Tỉ lệ người dân sử dụng hố xí hợp vệ
sinh
Trang 13có khoảng một nửa hộ gia đình thuộc các nhóm dân tộc thiểu số sử dụng loại công trình vệ sinh này (44,2%)
Việc phóng uế bừa bãi không phổ biến ở Việt Nam: chỉ
có 6,4% dân số phóng uế bừa bãi Tuy nhiên, tỷ lệ này tăng đến 27,7% trong số hộ gia đình thuộc các nhóm dân tộc thiểu số, có nghĩa là cứ bốn hộ gia đình thuộc các nhóm dân tộc thiểu số thì có 1 hộ gia đình có thành viên phóng uế bừa bãi Ngoài ra, phân của 2 trong số
5 trẻ em dưới 2 tuổi không được xử lý an toàn (chiếm 39,9%) Đây là thói quen phổ biến của người dân tộc thiểu số, cứ 5 trẻ em dưới 2 tuổi thì có 4 trẻ em có thói quen này (78,5%)
Kết quả điều tra cho thấy 86,6% hộ gia đình ở Việt Nam
có chỗ rửa tay có nước và xà phòng Tỷ lệ này ở thành thị (93,4%) cao hơn ở nông thôn (83,7%) và cao hơn ở
hộ gia đình người Kinh/Hoa (88,7%) so với hộ gia đình
có chủ hộ là người dân tộc thiểu số (67,1%)
Sức khỏe sinh sản
Cách thức kế hoạch hóa gia đình phù hợp rất quan trọng đối với sức khỏe phụ nữ và trẻ em Với phụ nữ mang thai, giai đoạn trước khi sinh tạo cơ hội cũng như gây nên rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe phụ nữ và thể trạng của trẻ sơ sinh Ba phần tư trường hợp tử vong ở
bà mẹ xảy ra trong quá trình sinh nở và sau sinh Can thiệp duy nhất và quan trọng nhất là đảm bảo có cán bộ
y tế có kỹ năng đỡ đẻ trong các ca sinh nở cũng như sẵn có phương tiện vận chuyển tới bệnh viện sản trong trường hợp khẩn cấp
10
23 11
Tỉ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi (trên 1000 trẻ sinh ra sống)
Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi (phần trăm)
Kinh/Hoa
Dân tộc thiểu số
Kinh/Hoa
Nông thôn Thành thị
Chung
Dân tộc thiểu số
Kinh/Hoa
Nông thôn Thành thị
Chung
Dân tộc thiểu số
Kinh/Hoa
Nông thôn Thành thị
Chung
Dân tộc thiểu số
Dân tộc thiểu số
Dân tộc thiểu số
47.6 58.3
51.1