Bạc mang cảm biến có thể xoay từng góc 15 độ để đo áp suất màng dầu tại 24 vị trí khác nhau của chu vi ổ và theo góc quay của trục khuỷu.. Động cơ điện 2 quay truyền chuyển động tới tr
Trang 122 Trần Thị Thanh Hải
GIẢI PHÁP ĐO ÁP SUẤT MÀNG DẦU Ổ ĐẦU TO THANH TRUYỀN TRONG
THIẾT BỊ THỰC NGHIỆM
A SOLUTION FOR MEASURING THE OIL FILM PRESSURE OF THE CONNECTING-ROD
BIG END BEARING IN THE EXPERIMENTAL DEVICE
Trần Thị Thanh Hải
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội; hai.tranthithanh@hust.edu.vn
Tóm tắt - Bài báo giới thiệu một phương pháp đo áp suất màng
dầu bôi trơn ổ đầu to thanh truyền trong thiết bị thực nghiệm
Thanh truyền được chế tạo bằng vật liệu quang đàn hồi và chịu
tải mô phỏng như trong động cơ Một cảm biến áp suất XCQ-062
BARA được lắp trên một bạc và tại tiết diện giữa theo phương
chiều dài Bạc này được lắp với trục khuỷu và quay cùng trục
khuỷu Bạc và trục khuỷu tạo thành trục của ổ đầu to thanh
truyền Bạc mang cảm biến có thể xoay từng góc 15 độ để đo áp
suất màng dầu tại 24 vị trí khác nhau của chu vi ổ và theo góc
quay của trục khuỷu Một đĩa lỗ gồm 24 lỗ để xác định chính xác
các vị của cảm biến Kết quả thực nghiệm đo cho thấy, áp suất
màng dầu tương thích với sơ đồ tải
Abstract - This paper present a measurement methode the
lubricated oil film pressure of the connecting-rod big end bearing in the experimental device The connecting-rod model of photoelastic material and is subjected to simulated load as in the engine A
XCQ-062 BARA pressure sensor is located on the housing bearing at the mid-section in length This housing is fitted with the crankshaft and rotated with the crankshaft The housing and the crankshaft constitute the journal of connecting-rod big end bearing The housing carries the pressure sensor and can rotate 15 degrees to mesure the oil film pressure at the 24 different positons of bearing with the crank angle A 24-hole disc is used to accurately determine the location of the sensor The experimental measurements show that, the lubricated oil film pressure of the connecting-rod big end bearing is compatible with the load diagrams
Từ khóa - thanh truyền; áp suất màng dầu; cảm biến áp suất Key words - connecting-rod; oil film pressure; pressure sensor
1 Đặt vấn đề
Bôi trơn ổ dầu to thanh truyền là bài toán phức tạp và
luôn là vấn đề quan tâm của các nhà khoa học và hãng công
nghiệp Áp suất, chiều dày và nhiệt độ màng dầu là các đặc
tính quan trọng của bài toán Cùng với các nghiên cứu tính
toán, các nghiên cứu thực nghiệm là rất quan trọng nhằm
kiểm chứng các mô hình tính toán lý thuyết Các nhà khoa
học nghiên cứu thực nghiệm với thanh truyền thật trên
động cơ hoặc mô hình tương đương hoặc thanh truyền mô
phỏng trên thiết bị thực nghiệm có cơ cấu mô phỏng tải
tương ứng với chu kỳ làm việc của động cơ
Về các nghiên cứu trên thanh truyền thật, năm 1973,
Rosenberg [1] sử dụng thiết bị tương đương để đo chiều
dày màng dầu thông qua các cảm biến Các kết quả cho
thấy sự tương thích giữa chiều dày màng dầu và tải tác
dụng Năm 1985, 1987 và 1988, Bates và cộng sự [2], [3],
[4] đã xây dựng thiết bị sử dụng động cơ xăng V6 biến đổi
để có thể đo các đặc tính của ổ đầu to thanh truyền Năm
2001, Moreau [5] tiến hành đo chiều dày màng dầu của ba
ổ của trục khuỷu và ổ đầu to thanh truyền của động cơ xăng
4 xilanh Tác giả nghiên cứu ảnh hưởng của độ nhớt dầu
bôi trơn, khe hở bán kính tới chiều dày màng dầu Năm
2005, Michaud [6] đã tham gia xây dựng băng thử của
LMS để nghiên cứu bôi trơn ổ đầu to thanh truyền trong
điều kiện làm việc thực và khắc nghiệt Tốc độ tối đa của
động cơ đạt 20.000 v/ph với tải nén và kéo tác dụng là 90
KN và 60 KN Các nghiên cứu trên thanh truyền mô phỏng,
năm 1983, Pierre-Eugene [7] và các cộng sự đã nghiên cứu
biến dạng đàn hồi của ổ đầu to thanh truyền dưới tác dụng
của tải cố định Thanh truyền được đúc từ nhựa epoxy
Thanh truyền được lắp với trục bằng thép quay với tốc độ
50 đến 200 v/ph, tải tác dụng thay đổi từ 60N đến 300N
Năm 2000, Optasanu [8] triển khai thiết bị thực nghiệm để
nghiên cứu ổ đầu to thanh truyền với cơ cấu mô phỏng tải
tương ứng với động cơ Thiết bị tuân theo nguyên lý hệ biên - khuỷu và sử dụng một thanh truyền Thanh truyền làm bằng vật liệu trong, nhựa epoxy PSM1 và PSM4 Năm
2012, Hoang [9] nâng cấp thiết bị này và sử dụng thanh truyền bằng vật liệu PLM4 và nghiên cứu nhiệt độ màng dầu thông qua các cảm biến nhiệt độ
Trong bài báo này, tác giả xây dựng giải pháp đo áp suất màng dầu ổ đầu to thanh truyền trong thiết bị thực nghiệm bôi trơn ổ đầu to thanh truyền Thiết bị sử dụng thanh truyền mô phỏng bằng vật liệu quang đàn hồi Cảm biến đo áp suất được lắp trên trục và quay cùng trục trong quá trình làm việc
2 Thiết bị thực nghiệm
Thiết bị thực nghiệm tuân theo nguyên lý hệ biên-khuỷu (Hình 1) Thanh truyền mô hình gồm hai nửa, đầu nhỏ thanh truyền (8) bằng thép và đầu to thanh truyền (9a)
và (9b) bằng vật liệu quang đàn hồi ((9a) là thân đầu to thanh truyền, (9b) là nắp đầu to thanh truyền) Động cơ điện (2) quay truyền chuyển động tới trục khuỷu (11) qua hộp giảm tốc (3) làm cho trục khuỷu quay, khi trục khuỷu quay kéo theo piston dẫn (5) chuyển động tịnh tiến lên xuống nhờ được kết nối thông qua thanh truyền dẫn bằng thép (16) lắp với trục, đầu nhỏ lắp với piston dẫn Cụm kết cấu này trượt dọc theo hai trụ của khung, liên kết (trụ) giữa piston dẫn và đầu nhỏ thanh truyền dẫn và trục quay cũng như giữa thanh truyền dẫn và trục khuỷu nhờ ổ đỡ Trong quá trình làm việc thanh truyền dẫn (biên dẫn) lần lượt đẩy piston lên phía trên và kéo xuống phía dưới, chuyển động này tuân theo hệ biên-khuỷu của động cơ nhiệt Piston (7) đóng vai trò như piston trong động cơ nhiệt, chuyển động tịnh tiến lên xuống theo piston dẫn, được liên kết với trục khuỷu (11) (qua bạc (10) lắp chặt với trục khuỷu) thông qua thanh truyền mô hình (gồm đầu nhỏ thanh truyền bằng
Trang 2ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 11(132).2018, QUYỂN 1 23 thép (8) và đầu to thanh truyền bằng vật liệu quang đàn hồi
(9a + 9b)) mô phỏng quá trình làm việc của piston trong
động cơ Thanh truyền nghiên cứu được đặt song song với
thanh truyền dẫn Ổ đầu to thanh truyền tạo bởi thân thanh
truyền, nắp thanh truyền và trục Đầu nhỏ của thanh truyền
nghiên cứu liên kết và trượt theo piston Khi làm việc (khi
trục quay), các lực được tạo ra bởi chuyển động của piston
và thanh truyền được cân bằng bởi áp suất trong màng dầu
ổ đầu to thanh truyền
Hình 1 Sơ đồ nguyên lý thiết bị thực nghiệm
Hình 2 Mô hình đầu to thanh truyền
Ổ đầu to thanh truyền có đường kính 97 mm, khe hở
bán kính C= 0,5 mm, chiều dày 20mm Tổng chiều dài
thanh truyền (bao gồm đầu to, đầu nhỏ và phần ghép nối là
241,5 mm (Hình 2) Tải lớn nhất tác dụng lên thanh truyền
là 500N, tương ứng lúc xảy ra sự nổ
3 Phương pháp đo áp suất màng dầu ổ đầu to thanh
truyền
3.1 Cảm biến đo áp suất
Để đo áp suất màng dầu ổ đầu to thanh truyền, ta dùng
cảm biến điện trở Nguyên lý hoạt động của cảm biến này
dựa trên sự biến dạng cấu trúc màng (khi có áp suất tác
động đến) được chuyển thành tín hiệu điện nhờ cấy trên đó
các phần tử áp điện trở Cảm biến này cho ta trị số đo chính
xác Dựa theo tải tác dụng lên thanh truyền và nhiệt độ làm
việc của ổ, cảm biến XCQ-062 35BARA của hãng
KULITE được lựa chọn Cảm biến có kích thước rất nhỏ, đường kính 1,7 mmm, chiều dài 9,5 mm Cảm biến có thông số kỹ thuật như trong Bảng 1
Bảng 1 Thông số kỹ thuật của cảm biến
Dải đo 0.7 ÷ 70 bar 5 ÷ 1000 Psi Dải áp suất max 2 ÷ 3 áp suất định mức Nguồn điện áp 10 ÷ 12 VDC Nhiệt độ hoạt động -65˚F ÷ +275˚F (-55˚C ÷
+135˚C)
3.2 Lắp đặt cảm biến
Áp suất màng dầu tại mỗi thời điểm trong một chu kỳ hoạt động của động cơ là khác nhau Để đo được áp suất tại mỗi thời điểm đó, cảm biến áp suất được cố định trên trục của ổ theo phương hướng kính, đầu đo được hướng ra bề mặt trục Áp suất đo được tại càng nhiều vị trí càng có lợi cho việc xác định áp suất của màng dầu Do yêu cầu đó, thiết kế được chọn để đo áp suất tại 24 vị trí theo phương chu vi, mỗi
vị trí cách nhau 15o tại tiết diện giữa của ổ Trục của ổ được lắp chặt với trục khuỷu và quay cùng trục khuỷu
Trục của ổ (trục)
Trục của ổ (hay còn gọi là trục) (Hình 3) thực chất là chi tiết bạc lắp chặt với trục khuỷu và quay cùng trục khuỷu, là nơi lắp cảm biến áp suất để đo áp suất màng dầu
của ổ
Hình 3 Trục của ổ (chi tiết bạc)
Vật liệu chế tạo trục là thép hợp kim 40X Trục có đường kính ngoài 97 mm, đường kính trong 35 mm, chiều rộng B=20 mm
Cảm biến áp suất XCQ-062-35BARA và dây dẫn ra đầu phát sóng RF được thiết kế đặt trong đường dẫn Φ1,6 như
Hình 4
Hình 4 Cảm biến áp suất
Trang 324 Trần Thị Thanh Hải
Để để đo áp suất dầu tại các vị trí khác nhau của màng
dầu theo phương chu vi ổ, chi tiết bạc mang cảm biến sẽ
quay ở các vị trí khác nhau Một đĩa lỗ (Hình 5) định vị
24 vị trí cảm biến, cách đều 15độ Đĩa lỗ được lắp chặt trên
trục khuỷu bằng then và lắp với trục của ổ bằng ba vít M3
Như vậy, ta có thể đo được áp suất của màng dầu tại 24 vị
trí theo phương chu vi của ổ và theo góc quay của trục
khuỷu Vật liệu chế tạo là thép hợp kim 40X Đĩa có đường
kính ngoài 72 mm, đường trong 35mm
Hình 5 Đĩa lỗ
3.3 Phương pháp thu nhận tín hiệu từ cảm biến
Vì cảm biến quay cùng với trục nên không thể kết nối
điện trực tiếp giữa bộ cảm biến và bộ xử lý dữ liệu trung
tâm Một giải pháp đặt ra là truyền nhận tín hiệu không dây
Để giải quyết vấn đề này, ta chọn hệ thống truyền tín hiệu
bằng sóng RF
Hình 6 Sơ đồ khối hệ thống nhận tín hiệu cảm biến
Hình 6 là sơ đồ khối của hệ thống thu tín hiệu cảm biến
không dây Tín hiệu của cảm biến áp suất
XCQ-062-35BARA là tín hiệu tương tự Việc truyền tín hiệu tương
tự không dây qua bộ phát sóng RF cho giá trị đo rất nhỏ
nên tín hiệu của cảm biến áp suất XCQ-062-35BARA cần
được khuếch đại và sẽ được chuyển đổi từ tín hiệu tương
tự sang tín hiệu số qua bộ chuyển đổi tín hiệu số Tín hiệu
số được gửi vào bộ phát sóng RF và phát đi
Hình 7 Bộ thu nhận tín hiệu bằng sóng RF
a) Bộ phát b) Bộ thu
Hình 8 Lập trình đo áp suất màng dầu ổ đầu to thanh truyền
trên phần mềm LabView
Thiết bị thu nhận tín hiệu gồm bộ phát tín hiệu được cố định trên trục quay và kết nối trực tiếp với cảm biến Một pin năng lượng được sử dụng để cấp nguồn cho cảm biến
và bộ phát tín hiệu Bộ thu tín hiệu không đặt trên trục và thu nhận tín hiệu bằng sóng RF Bộ thu tín hiệu gửi tín hiệu đến mạch Adruino dễ dàng kết nối với máy tính qua chuẩn giao tiếp USB Tín hiệu từ bộ Adruino thu nhận được sẽ truyền đến máy tính và được lập trình hiển thị trên phần mềm LabView Phần mềm sẽ đọc tín hiệu số được gửi lên
và xử lý dữ liệu nhận được sau đó hiển thị dạng đồ thị theo thời gian lấy mẫu tuỳ thuộc vào tốc độ quay Hình 7 là bộ thu và nhận tín hiệu bằng sóng RF cho cảm biến áp suất Hình 8 màn hình phần mềm LabView khi lập trình đo áp suất màng dầu ổ đầu to thanh truyền
3.4 Kết quả đo áp suất màng dầu ổ đầu to thanh truyền
Hình 9 là ảnh chụp thiết bị thực nghiệm và thanh truyền nghiên cứu bằng vật liệu quang đàn hồi (Hình 10) Trên thanh truyền gắn các cảm biến để đo lực tác dụng lên thanh truyền
Hình 9 Ảnh chụp thiết bị thực nghiệm
Trang 4ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 11(132).2018, QUYỂN 1 25
Hình 10 Thanh truyền và vị trí gắn cảm biến đo lực
Hình 11 Sơ đồ tải ở tốc độ quay 100 v/ph
Tải tác dụng lên thanh truyền gồm hai thành phần lực
kéo/nén Fx và lực uốn Fy Để xác định hai lực này, ta sử
dụng các cảm biến đo biến dạng và nối thành mạch cầu,
một mạch cầu đo các lực dọc trục (kéo/nén) và một mạch
cầu đo lực uốn Hình 11 là sơ đồ tải tác dụng lên thanh
truyền ở tốc độ 100 v/ph
Hình 12 Áp suất màng dầu theo góc quay của trục khuỷu tại 0 o
của thanh truyền, tốc độ quay 100 v/ph
Hình 12 là áp suất màng dầu tại 0o của thanh truyền
theo góc quay của trục khuỷu ở tốc độ quay 100 v/ph Ta
thấy, áp suất màng dầu đạt giá trị lớn nhất tại xung quanh
góc 360o của trục khuỷu, tương ứng lúc xảy ra sự nổ, tức
là lực tác dụng lên thanh truyền đạt giá trị lớn nhất, lúc
này màng dầu cũng đạt giá trị nhỏ nhất Áp suất màng dầu
đạt giá trị nhỏ nhất tại 720o (0o) của trục khuỷu, lúc này
thanh truyền ở điểm chết trên, tương ứng với vùng tải nhỏ
nhất của thanh truyền
4 Kết luận
Bài báo trình bày giải pháp đo áp suất màng dầu ổ đầu
to thanh truyền trong thiết bị thực nghiệm với thanh truyền nghiên cứu bằng vật liệu quang đàn hồi Một cảm biến điện trở XCQ-062 35BARA được sử dụng để đo áp suất tại
24 vị trí (cách đều 15o) của màng dầu theo phương chu vi
và trên tiết diện giữa của ổ
Cảm biến đặt trên trục và quay cùng với trục nên phải dùng kết nối không dây để truyền tín hiệu, tức hệ thống truyền tín hiệu bằng sóng RF Cảm biến áp suất truyền tín hiệu tương tự không dây qua bộ phát sóng RF, tín hiệu được khuếch đại và được chuyển đổi sang tín hiệu số qua
bộ chuyển đổi tín hiệu số Tín hiệu số được gửi vào bộ phát sóng RF và phát đi Thiết bị thu nhận tín hiệu gồm bộ phát tín hiệu kết nối trực tiếp với cảm biến Bộ thu tín hiệu nhận tín hiệu bằng sóng RF và gửi tín hiệu đến mạch Adruino, tín hiệu từ bộ Adruino được truyền đến máy tính và được lập trình hiển thị trên phần mềm LabView
Kết quả thực nghiệm đo áp suất màng dầu tại 0o của thanh truyền theo góc quay của trục khuỷu ở tốc độ quay
100 v/ph Áp suất màng dầu tương ứng với tải tác dụng lên thanh truyền, tại xung quanh góc 360o của trục khuỷu, tương ứng lúc xảy ra sự nổ, áp suất màng dầu đạt giá trị lớn nhất Áp suất màng dầu đạt giá trị nhỏ nhất tại 720o (0o) của trục khuỷu, lúc này thanh truyền ở điểm chết trên, tương ứng với vùng tải nhỏ nhất của thanh truyền
TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Rosenberg R.C., 1973, “A Method for Determining the Influence of
Multigrade oils on Journal Bearing Performance”, SEA TRANS,
Paper 730483, Vol 82
[2] Bates T.W., Evans P.G., 1985, “Effect of Oil Rheology on Journal Bearing Performance: Part 1 Instrumentation of the Big-End Bearing
of a Fired Engine”, Proc Of the JSLE International Tribology
Conference, 8-10 juillet, Tokyo, Japon, 1985
[3] Bates S T.W., Benwell S., Evans P.G., 1987, “Effect of Oil Rheology on Journal Bearing Performance: Part 2 - Oil Film
Thickness in the Big-End Bearing of an Operating Engine”, Proc
Melbourne, Australia, Paper No 871272
[4] Bates T.W., Benwell S., 1988, “Effect of Oil Rheology on Journal Bearing Performance: Part 3 - Newtonian Oils in the
Connecting-Rod Bearing of an Operating Engine”, SAE Paper No 880679
[5] Moreau H., “Mesures des Epaisseurs du Film d’Huile dans les Paliers de Moteur Automobile et Comparaisons avec les Résultats
Théoriques”, Thèse de Doctorat de Université de Poitiers, 2001
[6] Michaud P., "Modélisation Thermoélastohydrodynamique Tridimensionnelle des Paliers de Moteurs Mise en Place d'un Banc
d'Essais pour Paliers Sous Conditions Sévères", Thèse de Doctorat
à Université de Poitiers, 2004
[7] Pierre-Eugene J., “Contribution à l’Etude de la Déformation Elastique d’un Coussinet de Tête de Bielle en Fonctionnement
Hydrodynamique Permanent”, Thèse de Doctorat de l’Université de
Poitiers, 1983
[8] Optasanu V., “Modélisation Expérimentale et Numérique de la
Lubrification des Paliers Compliants sous Chargement Dynamique”,
Thèse de Doctorat de l’Université de Poitiers, 2000
[9] Hoang L.V., “Modélisation Expérimentale de la Lubrification Thermoélastohydrodynamique des Paliers de Tête de Bielle Comparaison entre les Résultats Théoriques et Expérimentaux”,
Thèse de Doctorat de l’Université de Poitiers, 2002
(BBT nhận bài: 06/11/2018, hoàn tất thủ tục phản biện: 21/11/2018)