Tại Điều 25 BLHS Lào, nhà làm luật đã quy định về mục đích hình phạt như sau: "Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người ph ạm tội mà còn nhằm cải tạo người phạm t ội để họ có thái độ t
Trang 1ts d−¬ng tuyÕt miªn *
1 So sánh chế định hình phạt theo quy
định của Bộ luật hình sự Lào và Việt Nam (1)
Lào là quốc gia Đông Nam Á có biên
giới giáp Myanmar và Trung Quốc phía Tây
Bắc, giáp Việt Nam ở phía Đông, Campuchia
ở phía Nam và Thái Lan ở phía Tây Là quốc
gia láng giềng với Việt Nam (giáp Việt Nam
2.067 km đường biên giới), Lào có nhiều
nét tương đồng với Việt Nam về chế độ
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, tôn giáo
và cùng chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp
luật Xô viết trước đây, do đó quy định về
chế định hình phạt của BLHS nước Cộng
hoà dân chủ nhân dân Lào (sau đây gọi tắt
là BLHS Lào) không khác biệt nhiều mà
ngược lại có nhiều điểm tương đồng với
quy định của BLHS Việt Nam
Trước hết, chế định hình phạt được quy
định ở Chương V BLHS Lào gồm 9 điều từ
Điều 25 đến Điều 33 theo cơ cấu gần tương
tự như BLHS Việt Nam (tuy nhiên, số điều
luật lại ít hơn 6 điều) Cụ thể, cơ cấu đó là:
- Mục đích hình phạt;
- Hệ thống hình phạt (bao gồm cả hình
phạt chính và hình phạt bổ sung)
Với cơ cấu như trên, BLHS Lào không có
điều luật quy định về khái niệm hình phạt - khái
niệm gốc, nền tảng của chế định hình phạt
Tại Điều 25 BLHS Lào, nhà làm luật đã
quy định về mục đích hình phạt như sau:
"Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người
ph ạm tội mà còn nhằm cải tạo người phạm
t ội để họ có thái độ trong sáng đối với công
vi ệc, tôn trọng và tuân thủ pháp luật chặt
ch ẽ, tôn trọng các quy tắc của đời sống xã
h ội, ngăn ngừa họ tái phạm cũng như ngăn
ng ừa người khác phạm tội Hình phạt không
có m ục đích gây đau đớn về thể xác và hạ
th ấp phẩm giá con người." Như vậy, ngoài
việc chỉ rõ hình phạt có mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung tương tự như BLHS Việt Nam, chúng tôi nhận thấy quy định về mục đích hình phạt trong BLHS Lào
có điểm khá hay là còn chỉ rõ: hình phạt
" không có mục đích gây đau đớn về thể xác và h ạ thấp phẩm giá con người" Đây có
thể được coi là "cơ sở" để từ đó quy định về các hình phạt cụ thể trong hệ thống hình phạt
một cách nhân đạo Chúng tôi cho rằng BLHS
Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm này của BLHS Lào
Theo Điều 26 BLHS Lào, hệ thống hình phạt cũng bao gồm 2 loại: hình phạt chính và hình phạt bổ sung:
"Hình ph ạt chính bao gồm:
1 Phê phán công khai;
2 C ải tạo không giam giữ;
3 T ước tự do;
4 T ử hình
* Giảng viên chính Khoa luật hình sự Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2Hình ph ạt bổ sung bao gồm:
1 Ph ạt tiền (trong một số trường hợp
theo quy định của pháp luật, nó có thể
chuy ển thành hình phạt chính);
2 T ịch thu tài sản;
3 T ịch thu tài sản liên quan đến phạm tội;
4 T ước quyền bầu cử;
5 Qu ản chế
Hình ph ạt tạm giữ tài sản và bắt giam
ch ỉ được áp dụng đối với người phạm tội
trong tr ường hợp đặc biệt theo quy định
c ủa Bộ luật này Ngoài các hình phạt chính
và hình ph ạt bổ sung đã nêu ở trên, toà án
có th ể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm
quy ền rút giấy phép lái xe hoặc các loại
gi ấy phép khác, hạn chế hoặc cấm làm nghề
ho ặc công việc nhất định, tước huân chương,
huy ch ương hoặc danh hiệu và trục xuất
ng ười phạm tội"
Có thể nói, xét về trình tự liên kết, các
hình phạt theo BLHS Lào cũng tương tự
BLHS Việt Nam vì các hình phạt này đều
được sắp xếp theo trình tự tăng dần về mức
độ nghiêm khắc (từ nhẹ đến nặng)
Tuy nhiên, nếu so sánh với BLHS Việt
Nam, quy định về hệ thống hình phạt của
Lào có một số điểm khác Cụ thể như sau:
Trục xuất không được quy định là hình
phạt chính hoặc bổ sung mà chỉ được áp dụng
khi toà án thấy cần thiết và được áp dụng
phụ trợ hình phạt chính và hình phạt bổ sung
Bên cạnh đó, có thể thấy rất rõ là hệ
thống hình phạt của Lào có hình phạt tương
đối đặc biệt là hình phạt "phê phán công
khai" Thực ra hình phạt này cũng có điểm
giống với hình phạt cảnh cáo theo quy định
của BLHS Việt Nam vì thực chất đó là sự lên án công khai của Nhà nước đối với người phạm tội tại toà án thông qua hội đồng xét
xử Tuy nhiên, điểm khác biệt nổi trội của
"phê phán công khai" so với cảnh cáo là trong một số trường hợp cần thiết, quyết định của toà về việc phê phán người phạm tội còn có thể được công khai đăng tải trên báo chí hoặc các phương tiện thông tin đại chúng khác (Điều 27)
Hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định của BLHS Lào có nhiều điểm tương đồng với quy định tương ứng của BLHS Việt Nam.(2) Cụ thể là hình phạt này cũng không tước tự do của người bị kết án và người phạm tội phải lao động tại cộng đồng, có thể là nơi người đó làm việc hoặc nơi người đó sinh sống, họ cũng bị khấu trừ thu nhập từ 5% đến 20% sung quỹ nhà nước Tuy nhiên, hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định của BLHS Lào lại có một số điểm khác
Cụ thể là:
Hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định của BLHS Lào có thời hạn ngắn hơn - không quá một năm Trong khi đó, cải tạo không giam giữ theo quy định của BLHS Việt Nam lại không quá 3 năm
Điều 27 BLHS Lào lại không quy định điều kiện áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ hay nói cách khác không có giới hạn cụ thể cho việc áp dụng hình phạt này Điều 31 BLHS Việt Nam quy định về cải tạo không giam giữ có quy định rõ điều kiện áp dụng hình phạt này, đó là:
+ Chỉ áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng;
Trang 3+ Đang có nơi làm việc ổn định hoặc nơi
thường trú rõ ràng;
+ Xét thấy không cần thiết phải cách li
người phạm tội khỏi xã hội
Quy định rõ điều kiện áp dụng cải tạo
không giam giữ như BLHS Việt Nam có ưu
điểm là hạn chế được tình trạng áp dụng
không đúng hình phạt này
Hình phạt "tước tự do" theo BLHS Lào
thực chất bao gồm hai hình phạt là tù có thời
hạn và tù chung thân.(3) Quy định về tước tự
do của BLHS Lào nhìn chung giống với
BLHS năm 1985 của Việt Nam khi có mức
tối thiểu là 3 tháng và tối đa là 20 năm Tuy
nhiên, BLHS hiện hành của nước ta đã sửa
đổi mức tối đa này và tù có thời hạn đã được
nâng lên thành 30 năm Điểm khác biệt nữa
là BLHS Việt Nam quy định về tù chung
thân với phạm vi hẹp, chỉ trong trường hợp
cần thiết, đó là với người phạm tội đặc biệt
nghiêm trọng nhưng chưa đến mức bị xử
phạt tử hình Không áp dụng hình phạt tử
hình đối với người chưa thành niên phạm
tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang
nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội
hoặc khi bị xét xử Quy định này nhìn
chung nhân đạo hơn so với quy định tương
ứng của BLHS Lào Theo Điều 29 BLHS
Lào: "Tù chung thân có thể không áp dụng
đối với người dưới 18 tuổi hoặc phụ nữ có
thai vào th ời điểm phạm tội." Ở đây, nhà
làm luật dùng từ "có thể" nghĩa là khả năng
áp dụng tù chung thân đối với với người
dưới 18 tuổi hoặc phụ nữ có thai vào thời
điểm phạm tội vẫn đặt ra
Quy định về hình phạt tử hình theo
BLHS Lào có nội dung tương tự BLHS hiện
hành của Việt Nam nhất là về phạm vi áp dụng.(4) Tuy nhiên, quy định về hình phạt tử hình theo BLHS Lào có điểm khác là chỉ rõ cách thức thi hành án tử hình: Tử hình được
thi hành bằng cách bắn BLHS Việt Nam khi quy định về tử hình chưa nói rõ cách thức thi
hành án tử hình Đây là hạn chế của BLHS Việt Nam vì BLHS nhiều nước trên thế giới
có quy định hình phạt tử hình thì thường quy định rõ cách thức thi hành án Quy định như vậy không chỉ có tác dụng răn đe nhất định đối với người phạm tội cũng như những phần tử không vững vàng trong xã hội, mà
còn thể hiện tính nghiêm minh của luật pháp
Phạt tiền theo quy định của BLHS Lào(5) nhìn chung có điểm tương đồng với BLHS Việt Nam khi chỉ rõ tính chất kinh tế của hình phạt này cũng như căn cứ áp dụng phạt
tiền, đó là "dựa trên cơ sở mức độ nghiêm
tr ọng của tội phạm, hoàn cảnh kinh tế của
ng ười phạm tội"
Điểm khác biệt giữa phạt tiền theo quy định của BLHS Lào với quy định tương ứng của BLHS Việt Nam có thể tóm tắt ở mấy điểm sau:
+ Phạt tiền theo quy định của BLHS Việt Nam được quy định có thể là hình phạt chính hoặc bổ sung thì phạt tiền theo quy định của BLHS Lào chỉ được quy định là hình phạt bổ sung Chỉ trong trường hợp nhất định theo quy định của Bộ luật thì mới được chuyển đổi thành hình phạt chính
+ Phạt tiền theo quy định của BLHS Việt Nam có quy định rõ phạm vi áp dụng, đó là:
“Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm
Trang 4ph ạm trật tự quản lí kinh tế, trật tự công
c ộng, trật tự quản lí hành chính và một số tội
ph ạm khác do Bộ luật này quy định” Phạt
tiền theo quy định của BLHS Lào không quy
định về vấn đề này Theo chúng tôi, quy
định nói trên là ưu điểm nổi trội của BLHS
Việt Nam vì với việc quy định rõ phạm vi áp
dụng thì sẽ hạn chế việc áp dụng phạt tiền
tuỳ tiện trên thực tế
+ Phạt tiền theo quy định của BLHS Việt
Nam có chỉ rõ giới hạn tối thiểu của phạt
tiền cũng như cách thức nộp tiền phạt Cụ
thể: "Mức phạt tiền không được thấp hơn
m ột triệu đồng Tiền phạt có thể được nộp
m ột lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do toà
án quy ết định trong bản án” BLHS Lào
không quy định về vấn đề này Theo chúng
tôi, quy định nói trên là ưu điểm của BLHS
Việt Nam vì với việc quy định rõ như vậy sẽ
hạn chế tình trạng xử quá nhẹ cho người
phạm tội đồng thời việc cho phép người
phạm tội được nộp tiền phạt nhiều lần là quy
định nhân đạo bởi nó không thúc ép người
phạm tội phải thi hành án ngay khi họ không
có điều kiện mà cho họ có thời gian thu xếp
để nghiêm chỉnh chấp bản án đã tuyên
Theo quy định của BLHS Lào, hình phạt
tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản do
Nhà nước áp dụng đối với người phạm tội và
khi đó người phạm tội không bị áp dụng kèm
theo bất kì khoản bồi thường nào Tịch thu
tài sản chỉ được áp dụng đối với người phạm
tội trong những trường hợp nghiêm trọng
theo quy định của Bộ luật Trong trường hợp
họ bị tịch thu toàn bộ tài sản, cơ quan chức
năng phải để lại những tài sản cần thiết phục
vụ cho cuộc sống của người phạm tội cũng như gia đình họ Trong trường hợp hình phạt tịch thu tài sản được tuyên, toà án phải chỉ rõ danh mục các tài sản bị tịch thu
Việc tịch thu tài sản áp dụng đối với những tài sản được sử dụng vào việc phạm tội hoặc chuẩn bị phạm tội hoặc do phạm tội
mà có và do Nhà nước tiến hành Tài sản thuộc về cá nhân khác liên quan đến tội phạm cũng sẽ bị Nhà nước tịch thu nếu chứng minh được có liên quan đến đồng phạm hoặc
vì an ninh công cộng Tài sản nhà nước và
tập thể không bị tịch thu nhưng sẽ do cơ quan có thẩm quyền phù hợp quản lí
Nhìn chung, quy định về hình phạt tịch thu tài sản theo quy định của BLHS Lào với tính chất là hình phạt bổ sung tương đồng với tịch thu tài sản theo quy định của BLHS Việt Nam Tuy nhiên, quy định của BLHS Lào vẫn có điểm khác bởi vì tịch thu tài sản liên quan đến tội phạm theo quy định của Bộ luật này là hình phạt bổ sung nhưng theo BLHS Việt Nam, đó lại là biện pháp tư pháp (nghĩa là khác về tính chất pháp lí nhưng nội dung của nó thì tương tự).(6)
“Tước quyền bầu cử” là hình phạt bổ sung được quy định trong BLHS của Lào, BLHS Việt Nam quy định rộng hơn - đó là hình phạt bổ sung “Tước một số quyền công dân” trong đó có tước quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước, phục vụ trong lực lượng vũ trang
nhân dân Theo BLHS Lào: “Tước quyền
b ầu cử là hình phạt được áp dụng đối với
ng ười phạm tội có thời hạn không quá 5 năm tính t ừ ngày bản án có hiệu lực pháp luật".(7)
Trang 5Điều 34 BLHS Lào quy định: "Quản chế
là hình ph ạt cấm người bị kết án rời khỏi nơi
sinh s ống hoặc đến nơi khác không được
phép b ởi toà án Quản chế có thời hạn không
quá 5 n ăm tính từ ngày thi hành án Quản
ch ế có thể không áp dụng với người dưới 18
tu ổi, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con
nh ỏ dưới 8 tuổi Quản chế chỉ được áp dụng
trong nh ững trường hợp nhất định theo quy
định của Bộ luật này"
Hình phạt quản chế theo quy định BLHS
Lào có nội dung pháp lí tương tự với quản
chế theo quy định của BLHS Việt Nam Đó
là cấm người bị kết án rời khỏi nơi sinh
sống hoặc đến nơi khác không được phép
bởi toà án Tuy nhiên, phạm vi áp dụng theo
quy định của 2 bộ luật này khác nhau Theo
quy định của BLHS Lào, quản chế chỉ được
áp dụng trong những trường hợp nhất định
theo quy định của Bộ luật, không áp dụng
với người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai, phụ
nữ đang nuôi con nhỏ dưới 8 tuổi Còn theo
quy định của BLHS Việt Nam, quản chế
được áp dụng đối với người phạm tội xâm
phạm an ninh quốc gia, người tái phạm
nguy hiểm hoặc trong những trường hợp
khác do BLHS quy định
2 So sánh chế định hình phạt theo quy
định của Bộ luật hình sự Philippines và
Việt Nam (8)
Philippines là quần đảo với với tổng
diện tích đất liền gần 300.000 km2 Philippines
có cộng đồng Công giáo La Mã chiếm đa số
dân và là một trong những nước có mức độ
phương Tây hoá cao về văn hoá Quần đảo
Philippines từng là thuộc địa của Tây Ban
Nha trong hơn 350 năm và là thuộc địa của Hoa Kỳ trong gần 50 năm Chính vì vậy, pháp luật của Philippines (trong đó có pháp luật hình sự) cũng chịu ảnh hưởng của pháp luật Tây Ban Nha và sau này là pháp luật Hoa Kỳ
Chế định hình phạt theo quy định của BLHS Philippines được quy định tại quyển
1, phần 3 chương 1,2,3 Chương 1 quy định
về một số vấn đề chung của hình phạt như hiệu lực áp dụng trong đó có đề cập cả hiệu lực hồi tố, trách nhiệm hình sự của pháp nhân, các biện pháp phòng ngừa không phải
là hình phạt Chương 2 quy định về hệ thống hình phạt trong đó chỉ rõ các hình phạt chính
và hình phạt bổ sung với nội dung cụ thể Chương 3 quy định về thời hạn và hậu quả của hình phạt Theo BLHS Philippines, hệ thống hình phạt gồm 2 loại: hình phạt chính
và hình phạt bổ sung Theo Điều 25, các hình phạt chính bao gồm:
- Hình phạt tước đoạt tính mạng: Tử hình.(9)
- Hình phạt chủ yếu mang tính trừng trị bao gồm:
+ Tù chung thân;
+ Tù có thời hạn;
+ Tước quyền công dân vĩnh viễn hoặc tạm thời vô điều kiện;
+ Cấm đảm nhiệm vĩnh viễn hoặc tạm thời nghề nghiệp nhất định;
+ Phạt giam về tội nghiêm trọng
- Hình phạt chủ yếu mang tính cải tạo bao gồm:
+ Cải tạo ở nơi giam giữ;
+ Giam giữ về tội nghiêm trọng;
+ Án treo(10) + Quản chế
Trang 6- Các hình phạt có tính chất nhẹ bao gồm:
+ Giam giữ về tội ít nghiêm trọng;
+ Cảnh cáo
Phạt tiền được áp dụng kèm theo một
trong các loại hình phạt đã nêu ở trên Nếu
phạt tiền được áp dụng kèm theo loại hình
phạt chủ yếu mang tính trừng trị thì mức tối
thiểu bị áp dụng là từ trên 6000 peso trở lên
Nếu phạt tiền được áp dụng kèm theo loại
hình phạt chủ yếu mang tính cải tạo thì người
phạm tội có thể bị phạt từ 200 peso đến 6000
peso Nếu phạt tiền được áp dụng kèm theo
loại hình phạt nhẹ thì người phạm tội có thể
bị phạt với mức dưới 200 peso
Các hình phạt bổ sung bao gồm:
- Tước quyền công dân vĩnh viễn hoặc
tạm thời vô điều kiện;
- Cấm đảm nhiệm vĩnh viễn hoặc tạm
thời nghề nghiệp nhất định (hình phạt này
được quy định có thể là hình phạt chính hoặc
bổ sung);
- Đình chỉ việc đảm nhiệm các chức vụ
của cơ quan nhà nước, quyền bầu cử, quyền
ứng cử, nghề nghiệp nhất định, các cuộc
liên lạc;
- Cấm các quyền dân sự;
- Bồi thường thiệt hại;
- Tịch thu công cụ phạm tội;
- Thanh toán các khoản chi phí
Theo Điều 47 BLHS Philippines, tử hình
sẽ không áp dụng cho những trường hợp sau:
- Người phạm tội ngoài 70 tuổi;
- Khi có kháng cáo, các thành viên Hội
đồng thẩm phán của Toà án tối cao không
nhất trí bỏ phiếu áp dụng tử hình Trong trường
hợp này, Toà án tối cao sẽ tiến hành xét xử
lại (trừ trường hợp các thành viên này không nhất trí hoặc từ chối xem xét lại bản án) Đối với người bị kết án tù chung thân, người bị kết án phải chấp hành 30 năm tù thì
sẽ được tha trừ trường hợp có lí do đặc biệt căn cứ vào hành vi của người phạm tội, các
lí do nghiêm trọng khác thì việc tha này sẽ không có giá trị và được quyết định bởi Chánh án Toà án tối cao
Tù có thời hạn có mức tối thiểu là 12 năm một ngày, mức tối đa là 20 năm
Phạt giam về tội nghiêm trọng có mức tối
đa là 6 năm 1 ngày đến 12 năm Phạt giam về tội nghiêm trọng được áp dụng cùng với tước quyền công dân tạm thời có thời hạn
Giam giữ về tội nghiêm trọng có mức tối thiểu là một tháng một ngày, tối đa là 6 tháng Giam giữ về tội ít nghiêm trọng có mức tối thiểu là một ngày, tối đa là 30 ngày
Đối với các hình phạt cải tạo ở nơi giam giữ; án treo; quản chế thì có thời hạn tối thiểu là 6 tháng một ngày đến 6 năm
Như vậy, nếu so với chế định hình phạt theo quy định của BLHS Việt Nam thì chế định hình phạt theo quy định của BLHS Philippines khá phức tạp và có nhiều khác biệt Sự khác biệt này do nhiều nguyên nhân như khác về văn hoá, chế độ chính trị, kinh tế, phong tục tập quán cũng như hệ thống pháp luật chịu ảnh hưởng Các khác biệt cơ bản là:
- Về trật tự sắp xếp các hình phạt: Các hình phạt theo quy định của BLHS Việt Nam được sắp xếp từ nhẹ đến nặng, còn các hình phạt theo quy định của BLHS Philippines thì ngược lại với cách sắp xếp từ nặng đến nhẹ;
Trang 7- Nhà làm luật của Philippines không có
quy định về khái niệm và mục đích hình phạt
còn BLHS Việt Nam có quy định cả khái
niệm và mục đích hình phạt Đây được coi là
nền tảng tạo cơ sở cho những quy định cụ
thể về hệ thống hình phạt, do đó chúng tôi
cho rằng đây là hạn chế của BLHS Philippines
- Nhà làm luật Philippines quy định về
hình phạt bổ sung khác nhiều so với quy
định tương ứng của Việt Nam Ví dụ có một
số hình phạt bổ sung như "Tịch thu công cụ
phạm tội" lại là biện pháp tư pháp theo quy
định của BLHS Việt Nam; "bồi thường,
thanh toán các khoản chi phí" theo quy định
của BLHS Việt Nam không phải là hình
phạt bổ sung mà là nghĩa vụ phải thực hiện
của bị cáo
Qua nghiên cứu chế định hình phạt của
BLHS Philippines, chúng tôi cho rằng Việt
Nam có thể học kinh nghiệm của Philippines
khi quy định về hình phạt tử hình Đó là
quy định "không áp dụng tử hình đối với
ng ười phạm tội ngoài 70 tuổi" Đây là quy
định nhân đạo mà nhiều nước trên thế giới
đã áp dụng và là xu hướng khá phổ biến
trên thế giới
3 Chế định hình phạt theo quy định
của BLHS Malaysia(11)
Malaysia là quốc gia Hồi giáo đa sắc tộc
ở khu vực ASEAN (chủ yếu với 3 cộng đồng
dân cư Trung Quốc, Ấn Độ và Mã Lai) với
diện tích lãnh thổ là 330.000 km² Bên cạnh
đó, Malaysia còn là quốc gia chịu ách đô hộ
của nhiều đế quốc phương Tây khác nhau,
đầu tiên là Bồ Đào Nha, kế đó là Hà Lan và
cuối cùng là Anh Các đế quốc này trong quá
trình cai trị Malaysia đã thiết lập chế độ chính trị cũng như pháp luật cho Malaysia trên cơ
sở phù hợp với quyền lợi của quốc gia mình Chính những đặc điểm riêng về tôn giáo, chế
độ chính trị và pháp luật đã tạo cho pháp luật hình sự Malaysia có những điểm riêng biệt BLHS của Malaysia có cấu trúc khá đặc biệt khi quy định về các điều luật cụ thể Để
dễ hiểu cho người áp dụng cũng như người dân, Bộ luật còn có phần chú giải với ví dụ cụ thể ngay bên dưới các điều luật đó, ngoài ra,
Bộ luật còn có hẳn một chương - Chương II đưa ra và giải thích một số thuật ngữ của Bộ luật Chế định hình phạt được quy định tại Chương III của Bộ luật nhưng chỉ tập trung ở
4 điều: 57, 71, 72, 75 Trong Chương III - Hình phạt, Bộ luật hình sự của Malaysia không có quy định về khái niệm, mục đích của hình phạt, hệ thống hình phạt với các hình phạt cụ thể Các điều trong Chương III lại quy định
về việc quyết định hình phạt khi bị cáo phạm nhiều tội và một số thủ tục tố tụng kèm theo, quyết định hình phạt trong trường hợp xử phúc thẩm Các hình phạt với loại và mức độ
cụ thể áp dụng cho người phạm tội được quy định ngay tại điều luật về tội phạm cụ thể Tại các điều luật này cũng không chỉ rõ hình phạt được áp dụng thuộc loại nào (là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung)
Thông qua việc nghiên cứu các điều luật
về tội phạm vụ thể, có thể rút ra hệ thống hình phạt của Malaysia gồm:
- Tử hình: Tử hình được áp dụng với 5 loại tội là giết người, tội phạm ma tuý, phản bội tổ quốc, tội chống lại nhà vua và tội khủng bố
Trang 8- Tù chung thân: Tù chung thân được áp
dụng đối với tội phạm nghiêm trọng và chủ
yếu áp dụng đối với loại tội xâm phạm con
người như tội giết người, hiếp dâm hoặc tội
phạm ma tuý;
- Tù có thời hạn có mức tối đa là 20 năm
Đây là hình phạt có phạm vi áp dụng phổ
biến nhất trong BLHS Malaysia;
- Phạt tiền có mức tối đa là 4000 ringgit
Trong một số điều luật về tội phạm cụ thể,
nhà làm luật quy định mức tối đa của phạt
tiền nhưng cũng có điều luật nhà làm luật chỉ
quy định chung chung là bị phạt tiền mà
không quy định mức cụ thể là bao nhiêu;
- Tịch thu tài sản: BLHS Malaysia cũng
quy định chung chung về hình phạt này;
- Đánh bằng roi (whipping): Hình phạt
đánh bằng roi được áp dụng trong phạm vi
hẹp hơn so với phạt tù và phạt tiền Những tội
bị áp dụng đánh bằng roi thường là những tội
xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm của con người, tội phạm xâm
phạm sở hữu như: tội gây đau đớn cho người
khác bằng phương tiện, vũ khí nguy hiểm
(Điều 324), tội gây đau đớn nghiêm trọng cho
người khác bằng phương tiện, vũ khí nguy
hiểm (Điều 326), tội gây đau đớn cho người
khác để cưỡng đoạt tài sản của họ hoặc ép
buộc người khác thực hiện hành vi trái pháp
luật (Điều 327), tội bắt cóc hoặc lừa gạt để
giết người (Điều 364), tội hiếp dâm (Điều
376), loạn luân (Điều 376B), trộm cắp (Điều
379), cưỡng đoạt tài sản (384)
Trong số các hình phạt nói trên thì phạt
tù được quy định phổ biến nhất, tiếp đó là
phạt tiền Hai hình phạt này có thể áp dụng
độc lập hoặc được áp dụng cùng nhau tuỳ từng trường hợp theo quy định của Bộ luật Như vậy, qua nghiên cứu BLHS Malaysia quy định về chế định hình phạt, chúng ta có thể nhận thấy một số điểm khác biệt của Bộ luật này so với quy định tương ứng BLHS của Việt Nam Cụ thể là:
- Nhìn chung, chế định hình phạt theo BLHS Malaysia không được quy định cụ thể
và chi tiết tại phần chung của BLHS mà lại được quy định ngay tại điều luật quy định về tội phạm cụ thể Đây là điểm khác biệt so với quy định của BLHS Việt Nam
- BLHS Malaysia không quy định về khái niệm, mục đích của hình phạt, hệ thống hình phạt, không có sự phân chia hình phạt thành hình phạt chính và hình phạt bổ sung, nội dung và phạm vi áp dụng từng hình phạt cũng không được quy định trong khi đó những vấn đề này lại được quy định khá cụ thể trong BLHS Việt Nam Chúng tôi cho rằng quy định như của BLHS Việt Nam hợp lí hơn vì
nó khá rõ ràng và tạo cơ sở pháp lí cho cơ quan áp dụng luật được đúng trên thực tế
- Trong BLHS Malaysia, tại các điều luật quy định về tội cụ thể, phạt tù và phạt tiền chỉ được quy định mức tối đa, đánh bằng roi thì không được quy định mức cụ thể (điều này có nghĩa giới hạn tối thiểu và tối đa của hình phạt không được quy định rõ) Từ đó dễ tạo ra sự tuỳ tiện trong xét xử dẫn đến sự vi phạm pháp chế của toà án
+ BLHS Malaysia quy định hình phạt đánh bằng roi Đây là hình phạt gây đau đớn về thể xác, hạ thấp phẩm giá của con người BLHS Việt Nam không quy định hình phạt này
Trang 9Tóm lại, trên cơ sở nghiên cứu quy định
của BLHS Việt Nam hiện hành, BLHS Lào,
BLHS Philippines và BLHS Malaysia về chế
định hình phạt, chúng tôi có một số kiến
nghị nhằm hoàn thiện chế định này trong
BLHS Việt Nam hiện hành Cụ thể:
Điều 26 BLHS Việt Nam quy định về mục
đích hình phạt nên được bổ sung như sau:
"Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị
ng ười phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành
ng ười có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo
pháp lu ật và các quy tắc của cuộc sống xã
h ội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới
Hình ph ạt còn nhằm giáo dục người khác
tôn tr ọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa
và ch ống tội phạm”
“Hình phạt không có mục đích gây đau
đớn về thể xác và hạ thấp phẩm giá con người"
Điều 35 quy định về tử hình nên được bổ
sung như sau:
"T ử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng
đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng
Không áp d ụng hình phạt tử hình đối với
ng ười chưa thành niên phạm tội, đối với phụ
n ữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36
tháng tu ổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử
Không thi hành án t ử hình đối với phụ nữ có
thai, ph ụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi
“Không áp dụng tử hình đối với người
phạm tội ngoài 70 tuổi”
Trong tr ường hợp này, tử hình chuyển
thành tù chung thân
“Tử hình được thi hành bằng cách bắn”
Trong tr ường hợp người bị kết án tử hình
được ân giảm thì hình phạt tử hình chuyển
thành tù chung thân”./
(1).Xem: BLHS Lào (bản tiếng Anh) Nguồn: www
apwld.org/pdf/lao_penalcode1989.pdf
(2) Điều 27 BLHS Lào quy định: "Cải tạo không giam
gi ữ là hình phạt áp dụng đối với người phạm tội tại
n ơi làm việc hoặc sinh sống của người đó Người
ph ạm tội bị khấu trừ thu nhập từ 5% đến 20% để
sung qu ỹ nhà nước theo quyết định của toà Cải tạo
không giam gi ữ có thời hạn không quá 1 năm" (3) Điều 29 BLHS của Lào quy định: "Tước đoạt tự
do là hình ph ạt áp dụng với người phạm tội có thời
h ạn từ 3 tháng đến 20 năm hoặc tù chung thân Tù
chung thân có th ể không áp dụng đối với người dưới
18 tu ổi hoặc phụ nữ có thai vào thời điểm phạm tội." (4) Điều 30 BLHS Lào quy định: "Tử hình là hình
ph ạt đặc biệt được áp dụng đối với người phạm tội
trong nh ững trường hợp đặc biệt nghiêm trọng theo
quy định của BLHS
T ử hình được thi hành bằng cách bắn.Tử hình không
áp d ụng đối với người phạm tội dưới 18 tuổi, phụ nữ có
thai khi ph ạm tội hoặc khi bị xét xử hoặc thi hành án" (5) Điều 31 BLHS Lào quy định: "Phạt tiền là hình
ph ạt có tính chất kinh tế do toà án áp dụng đối với người
ph ạm tội trong những trường hợp nhất định theo quy định của BLHS Phạt tiền được quyết định trên cơ sở
m ức độ nghiêm trọng của tội phạm, hoàn cảnh kinh tế
c ủa người phạm tội Trong trường hợp người phạm
t ội không có khả năng trả tiền phạt, Toà án có thể
thay th ế bằng hình phạt cải tạo không giam giữ"
(6).Xem: Điều 32 BLHS Lào
(7).Xem: Điều 33 BLHS Lào
(8).Xem: BLHS Philippines (bản tiếng Anh) Nguồn: www.chanrobles.com/revisedpenalcodeofthephilippin es.htm - 27k
và:www.chanrobles.com/revisedpenalcodeofthephilip pinesbook2.htm - 348k -
(9) Philippines từng bỏ hình phạt tử hình nhưng sau
đó đã phải khôi phục lại vào thời tổng thống Phidel V Ramos do yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước này
(10) Bộ luật này sử dụng thuật ngữ “penalty” (nghĩa
là hình phạt) đối với cả án treo
(11).Xem: BLHS Malaysia (bản tiếng Anh) Nguồn: www.highcourt.sabah.sarawak.gov.my/ /index_judgmen t_showfile.php