Luật doanh nghiệp năm 2005 đã có rất nhiều thành công như: điều chỉnh chung các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, không phân biệt nguồn vốn sở hữu; quy định thủ tục gi
Trang 1Ths NguyÔn ThÞ YÕn * uật doanh nghiệp đã được Quốc hội
khoá XI kì họp thứ 8 thông qua ngày
29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2006
Luật doanh nghiệp năm 2005 là đạo luật
quan trọng đối với các nhà kinh doanh nói
riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung Đây
là đạo luật thể hiện cụ thể tư tưởng của Hiến
pháp năm 1992: “Công dân có quyền tự do
kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật”, thể
hiện triệt để tư duy được làm những gì mà
pháp luật không cấm Luật doanh nghiệp
năm 2005 đã có rất nhiều thành công như:
điều chỉnh chung các loại hình doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế, không phân
biệt nguồn vốn sở hữu; quy định thủ tục gia
nhập thị trường đơn giản, thuận tiện cho các
nhà kinh doanh; quy định cụ thể về cơ chế
quản trị nội bộ doanh nghiệp… Tuy nhiên,
bên cạnh những thành công đó, Luật doanh
nghiệp cũng thể hiện một số điểm hạn chế
mà nếu khắc phục được, Luật này sẽ tạo điều
kiện thuận lợi hơn nữa cho các nhà kinh
doanh nước ta
Có thể kể đến một số điểm hạn chế, bất
cập sau của Luật doanh nghiệp năm 2005:
1 Về thủ tục đăng kí kinh doanh
Một là chỉ định người đại diện theo pháp
luật của doanh nghiệp trong hồ sơ đăng kí
kinh doanh:
Đối với công ti trách nhiệm hữu hạn, công ti cổ phần, khi tiến hành đăng kí kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải chỉ định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Trong các giấy tờ như điều lệ công ti, giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh phải ghi người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp (khoản 8, 15 Điều 22; khoản 2 Điều 25 Luật doanh nghiệp) và quy định trách nhiệm của người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp (Điều 19 Nghị định của Chính phủ số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/08/2006 về đăng kí kinh doanh, sau đây gọi tắt là Nghị định số 88) Đây thực sự là một điều không hợp lí của Luật cũng như Nghị định hướng dẫn thi hành, bởi vì vào thời điểm các sáng lập viên làm thủ tục đăng kí kinh doanh để thành lập doanh nghiệp thì chưa có doanh nghiệp; chỉ sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, doanh nghiệp mới thực sự ra đời Như vậy, phải có người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp vào thời điểm chưa có doanh nghiệp là điều không thể Điều này càng thể hiện rõ nét trong
L
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2trường hợp những người tiến hành đăng kí
kinh doanh không đủ điều kiện để được cấp
giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh Hơn
nữa, trong thực tiễn hoạt động kinh doanh,
sau khi được thành lập hoặc trong quá trình
hoạt động, doanh nghiệp có thể thuê người
không phải là thành viên là đại diện hợp
pháp cho doanh nghiệp của mình (thuê
giám đốc) Nếu doanh nghiệp chưa ra đời
thì không thể có chủ thể kí hợp đồng thuê
giám đốc được Do đó, việc Luật doanh
nghiệp cũng như Nghị định số 88 quy định
về người đại diện hợp pháp ngay trong hồ
sơ thành lập doanh nghiệp là điều không
cần thiết và mâu thuẫn với chính các quy
định của Luật Người đại diện hợp pháp của
doanh nghiệp chỉ có thể do đại hội đồng cổ
đông (đối với công ti cổ phần), hội đồng
thành viên (đối với công ti trách nhiệm hữu
hạn) bầu ra hoặc thuê
Hai là chứng chỉ hành nghề của giám
đốc và/hoặc cá nhân khác khi thành lập
doanh nghiệp:
Tồn tại sự khác nhau trong các quy định
của Luật doanh nghiệp năm 2005 và Nghị
định của Chính phủ 139/2007/NĐ-CP ngày
05/09/2007 hướng dẫn chi tiết thi hành một
số điều của Luật doanh nghiệp (sau đây gọi
tắt là Nghị định số 139) về vấn đề này Cụ
thể: theo quy định tại khoản 4 Điều 16,
khoản 5 Điều 17, khoản 5 Điều 18, khoản 5
Điều 19 Luật doanh nghiệp năm 2005, trong
hồ sơ đăng kí kinh doanh đối với các loại
hình doanh nghiệp phải có chứng chỉ hành
nghề của giám đốc hoặc tổng giám đốc và cá
nhân khác đối với công ti kinh doanh các ngành nghề mà pháp luật quy định phải có chứng chỉ hành nghề Như vậy, nếu theo các quy định trên, ít nhất phải có hai chủ thể có chứng chỉ hành nghề thì mới đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh cho doanh nghiệp Tuy nhiên, theo Nghị định số
139, chỉ cần giám đốc; hoặc người đứng đầu
cơ sở kinh doanh hoặc một cán bộ chuyên môn có chứng chỉ hành nghề khi kinh doanh ngành nghề đòi hỏi chứng chỉ (khoản 3 Điều 6) Quy định của Nghị định tỏ ra hợp lí hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho chủ thể kinh doanh khi tiến hành đăng kí kinh doanh, nhưng lại dẫn đến tình trạng vô hiệu hoá văn bản có hiệu lực pháp lí cao hơn Điều này là không hiếm gặp trong thực tiễn áp dụng luật
ở nước ta hiện nay
Ba là việc cấp đăng kí kinh doanh đối với những ngành nghề kinh doanh không bị cấm nhưng không nằm trong hệ thống ngành kinh tế quốc dân:
Đối với những ngành nghề kinh doanh không thuộc ngành nghề cấm kinh doanh nhưng không nằm trong hệ thống ngành kinh
tế quốc dân, các nhà kinh doanh cũng như cơ quan đăng kí kinh doanh đều gặp khó khăn, lúng túng Về phía cơ quan đăng kí kinh doanh, thường phải xin ý kiến của những người có thẩm quyền mới dám cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, vì vậy mất nhiều thời gian hơn; còn về phía các nhà kinh doanh, do phải chờ đợi nên cũng mất đi những cơ hội kinh doanh đáng lẽ đã đến nếu như không phải chờ đợi quá lâu
Trang 3Bốn là về con dấu thứ hai của doanh
nghiệp:
Theo khoản 2 Điều 36 Luật doanh nghiệp:
“Trong trường hợp cần thiết, được sự đồng
ý của cơ quan cấp dấu, doanh nghiệp có
thể có con dấu thứ hai” Điều này là cần
thiết đối với doanh nghiệp, đặc biệt là
những doanh nghiệp lớn có hệ thống đơn vị
trực thuộc rộng khắp cả nước Tuy nhiên,
cho đến thời điểm hiện nay, vẫn chưa có
doanh nghiệp nào được cấp con dấu thứ hai,
bởi vì chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ
thể “trong trường hợp cần thiết” là trường
hợp nào, do đó gây khó khăn cho cả cơ
quan nhà nước có thẩm quyền và doanh
nghiệp khi thực hiện quy định này của Luật
doanh nghiệp
2 Về công ti trách nhiệm hữu hạn hai
thành viên trở lên
Về cơ bản, các quy định về công ti trách
nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thừa kế
những tư tưởng tiến bộ trước đây của Luật
doanh nghiệp năm 1999 và bổ sung thêm
một số quy định mới, vì thế rất phù hợp với
nguyện vọng của các nhà kinh doanh và là
loại hình được các nhà kinh doanh ưa chuộng
Tuy nhiên, có một vài quy định chưa thật rõ
ràng, gây khó khăn cho các nhà kinh doanh
Cụ thể:
Một là quyền lợi của thành viên công ti
trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
trong trường hợp chưa góp đủ số vốn cam
kết khi đã hết thời hạn cam kết:
Theo khoản 3 Điều 39 Luật doanh
nghiệp: Khi hết thời hạn cam kết góp vốn mà
có thành viên vẫn chưa góp đủ số vốn theo cam kết, các thành viên còn lại góp đủ số vốn chưa góp theo tỉ lệ phần vốn của họ trong vốn điều lệ của công ti thì thành viên chưa góp không còn là thành viên công ti và công ti phải đăng kí thay đổi nội dung đăng
kí kinh doanh Quy định này chỉ đúng nếu thành viên cam kết góp chưa hề góp vốn vào công ti cho đến hết thời hạn cam kết góp Nếu họ đã góp được một phần, nói cách khác
là góp chưa đủ so với phần vốn đã cam kết thì họ vẫn là thành viên công ti và quyền lợi của họ tương ứng với phần vốn họ đã góp vào công ti
Hai là việc kế thừa tư cách thành viên của người thừa kế khi thành viên công ti trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên chết hoặc bị toà án tuyên là đã chết
Khoản 1 Điều 45 Luật doanh nghiệp
quy định: “Trong trường hợp thành viên là
cá nhân chết hay bị toà án tuyên bố là đã chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của thành viên đó là thành viên của công ti” Quy định này là không thực sự phù hợp với bản chất của công ti trách nhiệm hữu hạn, hơn nữa không bảo vệ được lợi ích của công ti và không phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 Bởi vì, khi một thành viên công ti chết hay
bị toà án tuyên bố là đã chết, họ sẽ để lại thừa kế cho những người có quyền thừa kế hợp pháp Tuy nhiên, những người được thừa kế hợp pháp chỉ được thừa kế phần tài sản mà họ để lại (hay phần vốn góp trong công ti mà họ đang là thành viên) chứ
Trang 4không được thừa kế tư cách thành viên công
ti Tư cách thành viên công ti của họ đã
chấm dứt khi họ chết hoặc bị tuyên bố là đã
chết Do đó, việc những người thừa kế có
được trở thành thành viên công ti hay không
phải phụ thuộc vào hai yếu tố: họ có đủ
điều kiện trở thành thành viên hay không và
hội đồng thành viên có chấp nhận hay
không Ở đây, việc Luật doanh nghiệp năm
2005 quy định những người này đương
nhiên trở thành thành viên công ti sẽ gây
khó khăn cho các thành viên còn lại của
công ti (nếu các thành viên còn lại không
muốn như vậy) và không phù hợp với các
quy định về chấm dứt tư cách thành viên
được quy định tại Luật này
3 Về công ti trách nhiệm hữu hạn một
thành viên
Luật doanh nghiệp năm 2005 đã tôn
trọng triệt để nguyên tắc “Công dân có
quyền tự do kinh doanh trong khuôn khổ
pháp luật” được quy định trong Hiến pháp
năm 1992 bằng việc cho phép các chủ thể
kinh doanh có nhiều quyền lựa chọn hơn khi
quyết định đầu tư kinh doanh Cụ thể, trước
đây theo quy định của Luật doanh nghiệp
năm 1999, một cá nhân chỉ được quyền kinh
doanh dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân,
hộ kinh doanh cá thể, góp vốn thành lập
công ti hay các hình thức khác mà không
được thành lập công ti trách nhiệm hữu hạn
một thành viên; công ti trách nhiệm hữu hạn
một thành viên phải do tổ chức có tư cách
pháp nhân thành lập Hiện nay, Luật doanh
nghiệp năm 2005 đã cho phép tổ chức, cá
nhân thành lập công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ti này dù do một cá nhân thành lập vẫn có tư cách pháp nhân Điểm bất cập của các quy định pháp luật đối với loại hình doanh nghiệp này nằm ở cơ cấu
tổ chức quản lí của nó Bởi vì, theo khoản 1,
2 Điều 74 Luật doanh nghiệp: Công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên trong trường hợp do một cá nhân là chủ sở hữu có chủ tịch công ti và giám đốc hoặc tổng giám đốc; chủ tịch công ti có thể kiêm nhiệm hoặc thuê giám đốc quản lí công ti Nếu chủ tịch công
ti kiêm giám đốc thì đây không phải là doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, do
đó không thoả mãn các điều kiện của pháp nhân theo quy định tại Điều 84 Bộ luật dân
sự năm 2005
4 Về công ti hợp danh
Công ti hợp danh là loại hình doanh nghiệp mới ở Việt Nam, được quy định trong Luật doanh nghiệp năm 1999 và được
kế thừa trong Luật doanh nghiệp năm 2005 với những quy định tiến bộ hơn, tạo điều kiện tốt hơn cho các nhà kinh doanh Luật doanh nghiệp năm 1999 và năm 2005 đều quy định công ti hợp danh có hai loại: công
ti hợp danh chỉ có thành viên hợp danh (giống công ti hợp danh theo quy định của pháp luật một số nước trên thế giới) và công
ti hợp danh vừa có thành viên hợp danh, vừa có thành viên góp vốn (giống công ti hợp danh hữu hạn theo quy định của pháp luật một số nước trên thế giới) Đây là quy định nhằm giản tiện cho Luật doanh nghiệp nhưng lại khiến công ti hợp danh theo pháp
Trang 5luật Việt Nam không hoàn toàn giống công
ti hợp danh của hầu hết các nước trên thế
giới và có thể gây khó khăn cho các nhà
kinh doanh Việt Nam khi hội nhập với sân
chơi toàn cầu Hơn nữa, việc Luật doanh
nghiệp năm 2005 quy định về nghĩa vụ liên
đới chịu trách nhiệm vô hạn của thành viên
hợp danh (điểm đ khoản 2 Điều 134), về
những hạn chế đối với quyền của thành viên
hợp danh (Điều 133), về nghĩa vụ liên đới
của thành viên hợp danh trong hai năm kể
từ ngày chấm dứt tư cách thành viên hợp
danh (khoản 5 Điều 138) và việc thành viên
góp vốn “không được tham gia quản lí
công ti, không được tiến hành công việc
kinh doanh nhân danh công ti” (điểm b
khoản 2 Điều 140) là phù hợp với bản chất
của công ti hợp danh nhưng đã không
khuyến khích các nhà kinh doanh đầu tư
dưới hình thức công ti hợp danh Trong
thực tế, số lượng công ti hợp danh được
thành lập rất ít và có rất nhiều chủ thể kinh
doanh về bản chất tồn tại sự liên kết bởi
nhân thân của những người tham gia, sự
hùn vốn là yếu tố thứ yếu nhưng về hình
thức lại không thành lập dưới hình thức
công ti hợp danh như: Phòng khám chữa
bệnh tư nhân; văn phòng tư vấn luật, tư vấn
kế toán, kiểm toán, thiết kế, xây dựng…
5 Về nhóm công ti
Luật doanh nghiệp năm 2005 đã lần đầu
tiên đưa vào điều chỉnh mô hình nhóm công
ti Đây là bước khởi đầu cho sự ra đời của
mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam
vốn đang rất được Nhà nước chú trọng Tuy
nhiên, quy định của Luật doanh nghiệp năm
2005 từ Điều 146 đến Điều 149 và hướng dẫn tại Điều 26 của Nghị định số 139 còn quá sơ sài, chưa đủ sức điều chỉnh mô hình kinh doanh phức tạp như nhóm công ti, vì vậy cần có những hướng dẫn cụ thể hơn
6 Về cơ chế chuyển đổi giữa các loại hình doanh nghiệp
Đây cũng là điểm tiến bộ nổi bật của Luật doanh nghiệp năm 1999 và Luật doanh nghiệp năm 2005, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà kinh doanh khi họ có những thay đổi về mô hình hoạt động so với thời điểm thành lập Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp năm 2005 và Nghị định số 139 chưa thiết lập đầy đủ cơ chế chuyển đổi giữa các loại hình doanh nghiệp Cụ thể, các văn bản này mới quy định về chuyển đổi từ công ti trách nhiệm hữu hạn thành công ti cổ phần
và ngược lại (Điều 154 Luật doanh nghiệp, Điều 21 Nghị định số 139); công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên thành công ti trách nhiệm hữu hạn hai thành viên (khoản
1 Điều 155 Luật doanh nghiệp, Điều 19 Nghị định số 139); công ti cổ phần, công ti trách nhiệm hữu hạn hai thành viên thành công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên (Điều 20 Nghị định số 139); doanh nghiệp
tư nhân thành công ti trách nhiệm hữu hạn (Điều 24 Nghị định số 139); chưa quy định chuyển đổi từ công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân thành doanh nghiệp tư nhân Đây là thiếu sót hoàn toàn
có thể khắc phục được trong những văn bản hướng dẫn thi hành
Trang 6Nhìn chung, những bất cập, hạn chế của
Luật doanh nghiệp năm 2005 khi điều chỉnh
hoạt động của các loại hình doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế là không đáng
kể so với những thành công của Luật này
Những hạn chế này nếu được chỉnh sửa sẽ
làm cho Luật thực sự hoàn thiện
Theo chúng tôi, có thể đề ra một vài giải
pháp nhằm khắc phục những hạn chế trên
của Luật doanh nghiệp năm 2005, cụ thể
như sau:
Một là không nên yêu cầu các sáng lập
viên khi tiến hành đăng kí kinh doanh phải
ghi người đại diện theo pháp luật của doanh
nghiệp trong điều lệ và trong giấy chứng nhận
đăng kí kinh doanh tại thời điểm được cấp
cũng không nên ghi tên người đại diện theo
pháp luật của doanh nghiệp Sau khi doanh
nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng kí
kinh doanh, đã tổ chức họp và bầu hoặc thuê
người đại diện theo pháp luật, doanh nghiệp
sẽ tiến hành đăng kí người đại diện cho mình
tại cơ quan đăng kí kinh doanh
Hai là nên hướng dẫn cụ thể hơn về các
trường hợp cấp con dấu thứ hai cho doanh
nghiệp; về tư cách thành viên trong trường
hợp thành viên góp không đủ số vốn đã cam
kết góp khi hết thời hạn cam kết; về tư cách
thành viên của người thừa kế khi họ được
thừa kế phần vốn góp của thành viên công ti;
về cơ chế chuyển đổi giữa các loại hình
doanh nghiệp… Có như vậy Luật doanh
nghiệp sẽ dễ áp dụng hơn và bảo vệ tốt hơn
quyền lợi của các nhà kinh doanh
Ba là nên có nhiều ưu đãi hơn dành cho
công ti hợp danh về thủ tục thành lập, về quản trị doanh nghiệp… bên cạnh những quy định khắt khe của Luật đối với thành viên hợp danh và thành viên góp vốn Bởi vì, đây
là loại hình kinh doanh dựa chủ yếu vào trình độ chuyên môn, uy tín nghề nghiệp và đạo đức của những người hành nghề, không cần sự can thiệp quá sâu từ phía Nhà nước
Có như vậy mới khuyến khích được các nhà kinh doanh đầu tư nhiều hơn dưới hình thức công ti hợp danh
Bốn là nên có riêng nghị định hướng dẫn thi hành Luật doanh nghiệp quy định về nhóm công ti, bởi vì loại hình này sẽ ngày càng phát triển trong nền kinh tế thị trường Việt Nam khiến những quy định hiện hành
tỏ ra không đủ sức để điều chỉnh
Tóm lại, Luật doanh nghiệp năm 2005 là bước kế thừa, phát triển những tư tưởng thực
sự tiến bộ của Luật doanh nghiệp năm 1999, được ban hành nhằm tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho các nhà kinh doanh trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh Cùng với Luật đầu tư năm 2005, Luật doanh nghiệp năm 2005 được các nhà kinh doanh chào đón nồng nhiệt với hi vọng sẽ là đạo luật cốt yếu giúp các nhà kinh doanh thành công ở trong nước và vươn ra thị trường thế giới Với một vài hạn chế nhỏ, nếu được sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn cụ thể, Luật doanh nghiệp năm 2005 sẽ là một trong những đạo luật thành công nhất của thời kì đổi mới và sẽ phát huy hiệu quả điều chỉnh nhiều hơn nữa trong thực tiễn kinh doanh ở Việt Nam./