Hầu hết các định nghĩa đều cho rằng “VBQPPL là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, theo trình tự, hình thức pháp luật quy định, có nội dung là quy tắc xử sự chung…” nhưn
Trang 1Ths §oµn ThÞ Tè Uyªn *
ây dựng và ban hành văn bản quy phạm
pháp luật (VBQPPL) là hoạt động quan
trọng của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, tạo tiền đề hình thành hệ thống pháp
luật hoàn thiện đáp ứng yêu cầu điều chỉnh
các quan hệ xã hội phong phú, đa dạng phát
sinh trong cuộc sống Mặc dù đã quy định
trong Luật ban hành VBQPPL năm 1996,
sửa đổi, bổ sung năm 2002 và được thay thế
bởi Luật năm 2008 nhưng cho đến nay, khái
niệm VBQPPL vẫn là vấn đề gây nhiều
tranh cãi giữa các nhà khoa học cũng như
những người làm công tác thực tiễn Trong
quá trình triển khai thực hiện Luật ban hành
VBQPPL từ năm 1996 đến nay, khá nhiều
vấn đề nảy sinh từ việc chưa hiểu rõ về khái
niệm VBQPPL, đặc biệt là nhận diện được
đâu là VBQPPL, đâu là văn bản áp dụng
pháp luật (VBADPL) và văn bản hành
chính Điều này đã ảnh hưởng tới quá trình
thực hiện Luật vì nếu là VBQPPL thì thủ
tục ban hành phải tuân theo quy định của
Luật ban hành VBQPPL, từ hoạt động lập
chương trình, đánh giá tác động, thành lập
ban soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, đến việc
tổ chức lấy ý kiến đóng góp… kiểm tra sau
khi văn bản được ban hành, nếu là
VBADPL hay văn bản hành chính thì
không phải tuân theo quy định của Luật
này Vì lí do đó, bài viết này xin được bàn
luận về khái niệm VBQPPL nhìn từ góc độ
lí luận và thực tiễn
1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật dưới góc độ lí luận
Từ trước tới nay khái niệm VBQPPL đã được khá nhiều nhà khoa học nghiên cứu Nhìn một cách tổng thể cho thấy các nhà khoa học đã tiếp cận khái niệm VBQPPL ở những khía cạnh khác nhau, với những dấu hiệu đặc trưng có nét khác nhau Hầu hết các định nghĩa đều cho rằng “VBQPPL là văn
bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, theo trình tự, hình thức pháp luật quy định, có nội dung là quy tắc xử sự chung…”
nhưng cũng có những quan điểm cho rằng
“VBQPPL là hình thức thể hiện của các quyết định pháp luật…”,(1) hoặc “VBQPPL
là một hình thức thể hiện của quyết định quy phạm pháp luật”.(2) Ngoài ra, các dấu hiệu đặc trưng của VBQPPL cũng được các nhà khoa học tiếp cận nhưng không thống nhất Trước hết, đa số các quan điểm cho rằng chủ thể ban hành VBQPPL là cơ quan nhà nước
có thẩm quyền nhưng có quan điểm khẳng định VBQPPL được ban hành bởi cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội,(3) hoặc người có chức vụ.(4) Khi đề cập đặc trưng tiếp theo,
X
* Giảng viên Khoa hành chính-nhà nước Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2mỗi định nghĩa thể hiện với những công thức
khác nhau, đó là VBQPPL được ban hành
theo trình tự, nguyên tắc do luật định;(5) theo
thủ tục, trình tự luật định;(6) ban hành theo
trình tự và dưới hình thức nhất định.(7) Dấu
hiệu quan trọng nhất của VBQPPL đó là nội
dung của văn bản đó có chứa đựng quy
phạm pháp luật hay không? Về đặc điểm này
các nhà khoa học đã có quan điểm khá thống
nhất nhưng diễn đạt cụ thể có sự khác biệt
nhất định, điển hình như: VBQPPL là văn
bản… “có các quy tắc xử sự chung”; “quy
định những quy tắc xử sự chung” hoặc “có
chứa đựng các quy phạm pháp luật” Cũng
chính vì có nội dung chứa đựng những quy
phạm pháp luật mà VBQPPL mới có tính bắt
buộc chung và được Nhà nước bảo đảm thực
hiện trên thực tế
Điểm qua những quan điểm khoa học
trên đây cho thấy khái niệm VBQPPL vẫn
là vấn đề cần được bàn luận và nghiên cứu
thấu đáo hơn Tất nhiên, lí luận chỉ giải
quyết những vấn đề mang tính phổ biến,
điển hình mà không thể giải quyết được
toàn bộ các vấn đề đa dạng, phong phú nảy
sinh trong cuộc sống Nhưng nó là cơ sở để
các nhà lập pháp nghiên cứu thể hiện thành
quy định của pháp luật Chính vì vậy, lần
đầu tiên trong lịch sử lập pháp của Việt
Nam, vào năm 1996 Quốc hội đã ban hành
Luật ban hành VBQPPL, tại Điều 1 đã định
nghĩa: “VBQPPL là văn bản do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục,
trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử
sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện
nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo
định hướng xã hội chủ nghĩa” Đến Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành VBQPPL năm 2002, nhà làm luật bỏ đi một
từ duy nhất là từ “các” trong định nghĩa này Luật ban hành VBQPPL năm 2008 đã bổ sung dấu hiệu “hình thức”, “có hiệu lực bắt buộc chung” vào định nghĩa VBQPPL tại Điều 1 Có thể nói việc chính thức định nghĩa VBQPPL trong Luật là bước tiến quan trọng trong việc tạo lập cơ sở pháp lí cho hoạt động xây dựng và ban hành VBQPPL, giúp phân biệt giữa VBQPPL và VBADPL cũng như văn bản hành chính thông thường
Từ phân tích trên đây cho thấy dưới góc
độ lí luận VBQPPL là văn bản hội tụ đủ những dấu hiệu sau: Do các chủ thể có thẩm quyền ban hành; tuân theo thủ tục, trình tự
và hình thức Luật định; có nội dung là quy phạm pháp luật; có tính bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện; được áp dụng nhiều lần trong thực tiễn
2 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật dưới góc độ thực tiễn
Sau thời gian thực hiện Luật ban hành VBQPPL, có khá nhiều vấn đề vướng mắc
đã nảy sinh mà một trong những nguyên nhân là do chưa nhận diện và hiểu đúng về khái niệm VBQPPL Xét về mặt lí luận, khó
có thể quy định cụ thể hơn nữa định nghĩa VBQPPL tại Điều 1 Luật năm 1996 cũng như Luật sửa đổi, bổ sung năm 2002 và Luật năm 2008 nhưng dấu hiệu mà Luật nêu vẫn chưa làm thoả mãn những người làm công tác thực tiễn Họ cần những tiêu chí cụ thể,
rõ ràng để phân biệt được VBQPPL, VBADPL và văn bản hành chính thông thường bởi thực tế khá nhiều trường hợp họ chưa phân biệt được Điều này đã ảnh hưởng
Trang 3tới quá trình xây dựng, ban hành cũng như
kiểm tra VBQPPL trên thực tế Trong phạm
vi bài viết này, chúng tôi xin được điểm qua
những trường hợp các chủ thể ban hành văn
bản có sự nhầm lẫn giữa VBQPPL và văn
bản quản lí nhà nước khác đang tồn tại trong
hệ thống pháp luật hiện hành để từ đó có giải
pháp khắc phục hiệu quả
- Trường hợp thứ nhất: Văn bản có nội
dung là chủ trương, đường lối, chính sách
mang tính định hướng của Nhà nước Pháp
luật theo nghĩa rộng bao gồm các yếu tố cấu
thành: chính sách pháp lí, học thuyết pháp lí,
tư tưởng pháp lí và quy phạm pháp luật
Theo nghĩa hẹp, pháp luật chỉ có các quy
phạm pháp luật, đây là yếu tố mang tính phổ
biến, là đơn vị cơ sở, tế bào của pháp luật
Như vậy, để quản lí xã hội, Nhà nước trước
tiên cần có những chủ trương, chính sách
mang tính định hướng, làm nền tảng để các
cơ quan có thẩm quyền chuyển tải thành các
quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi của
con người Trên thực tế, các chủ thể hay bị
nhầm lẫn giữa quy phạm pháp luật và chủ
trương, chính sách Về nguyên tắc, chủ
trương, chính sách có vai trò quan trọng
nhưng không trực tiếp làm thay đổi được
hành vi của con người như các quy phạm
pháp luật Ở đây chúng ta cần phải phân biệt
rõ hai trường hợp:
Một là văn bản chỉ có nội dung là chủ
trương, đường lối, chính sách của Nhà nước
Có thể kể đến văn bản điển hình cho trường
hợp này đó là: Nghị quyết của Quốc hội số
35/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009 về chủ
trương, định hướng đổi mới một số cơ chế
tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm
học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015
Về hình thức, với dấu hiệu năm ban hành cho thấy đây là VBQPPL, nhưng về nội dung, toàn bộ Nghị quyết này là chủ trương, định hướng về đổi mới cơ chế tài chính mà Quốc hội đưa ra làm tiền đề để Chính phủ ban hành nghị định đặt ra các quy phạm pháp luật cụ thể Theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Luật ban hành VBQPPL năm 2008
thì “nghị quyết của Quốc hội được ban hành để quyết định nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội; dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương; điều chỉnh ngân sách nhà nước; phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước…” Nghị quyết số
35/2009/NQ-QH12 trên đây mặc dù có nội dung đổi mới cơ chế tài chính, liên quan đến phân bổ ngân sách nhà nước và là vấn
đề quan trọng nhưng xét về bản chất thì từ khoá quyết định lại là từ “chủ trương, định hướng” Vì vậy, có thể khẳng định đây là nghị quyết chủ đạo mà không phải là nghị quyết có quy phạm pháp luật
Hai là văn bản vừa có nội dung là chủ
trương, đường lối, chính sách, vừa có quy phạm pháp luật (chỉ cần có một quy phạm pháp luật) thì đương nhiên là
VBQPPL Ví dụ: Nghị quyết của Chính phủ
số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 về hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với
61 huyện nghèo Nội dung Nghị quyết này không chỉ là chính sách xoá đói giảm nghèo
mà còn chứa đựng quy phạm tuỳ nghi tại điểm b phần 1, mục A của Nghị quyết “Hộ gia đình được giao rừng sản xuất…”
- Trường hợp thứ hai: Ban hành văn bản ADPL dưới hình thức VBQPPL Trên thực
Trang 4tế, nhiều văn bản được các chủ thể có thẩm
quyền ban hành để giải quyết những công
việc cụ thể nhưng lại được thể hiện thông
qua hình thức VBQPPL Điển hình cho
trường hợp này là cơ quan có thẩm quyền
ban hành văn bản để bãi bỏ văn bản khác Ví
dụ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số
36/2009/QĐ-TTg ngày 05/3/2009 về việc
bãi bỏ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
số 875/TTg ngày 21/11/1996 về việc giải
quyết cho công dân Việt Nam định cư ở
nước ngoài hồi hương về Việt Nam Toàn
bộ nội dung của Quyết định này chỉ có ba
điều khoản với mệnh lệnh cụ thể, đối tượng
cũng là văn bản cụ thể, xác định và không
hề có quy phạm pháp luật nào nhưng lại
được thể hiện dưới hình thức VBQPPL vì
có dấu hiệu năm ban hành Dù Luật năm
2008, tại khoản 1 Điều 9 quy định:
“VBQPPL chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay
thế, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ bằng VBQPPL của
chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn
bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành, huỷ
bỏ hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền” nhưng theo
chúng tôi quy định này của luật chỉ đúng
với biện pháp sửa đổi, bổ sung, thay thế,
còn huỷ bỏ, bãi bỏ không đúng như vậy
Ngoài ra, trên thực tế hiện nay tồn tại
khá nhiều những văn bản có nội dung chỉ
đạo, đôn đốc, giao nhiệm vụ cụ thể cho cấp
dưới, phê duyệt, phê chuẩn đề án, kế hoạch,
chương trình… do cấp dưới trình lên Đây
là những công việc áp dụng pháp luật
nhưng cũng được ban hành với hình thức
VBQPPL Chúng thường được ban hành
thông qua hình thức văn bản có tên gọi là
chỉ thị, quyết định, điển hình là quyết định
do Thủ tướng Chính phủ ban hành Mặc dù khoản 2 Điều 61 Nghị định của Chính phủ
số 24/2009/NĐ-CP ngày 05/3/2009 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật ban
hành VBQPPL năm 2008 quy định: “Các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình, đề án; giao chỉ tiêu kinh tế-xã hội cho cơ quan, đơn vị; thành lập trường đại học… thì không phải là VBQPPL” nhưng trên thực tế Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành khá nhiều quyết định phê duyệt, phê chuẩn đề án, kế hoạch, chương trình, quy chế do cấp dưới trình lên
Ví dụ: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
số 84/2009/QĐ-TTg ngày 04/6/2009 phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về trẻ
em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS đến năm
2010 và tầm nhìn đến năm 2020… Về ngữ nghĩa, phê duyệt được hiểu là sự đồng ý, cho phép của cấp trên với những vấn đề mà cấp dưới đề xuất, chứ không phải đặt ra quy tắc xử sự để điều chỉnh hành vi trong chính Quyết định này Trên cơ sở quyết định phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ triển khai thực hiện đề án bằng cách ban hành VBQPPL thuộc thẩm quyền Nhìn vào hình thức (phần số, kí hiệu), Quyết định trên đây có năm ban hành, điều này được hiểu là VBQPPL nhưng thực chất trong nội dung không có quy phạm pháp luật Trong Quyết định số 84/2009/QĐ-TTg chỉ có nội dung chính là phê duyệt kế hoạch hành động, mục tiêu của hành động và tầm nhìn đến năm 2020, giải pháp thực hiện kế hoạch đó Do vậy, văn bản này đã không tuân thủ quy định tại khoản 2
Trang 5Điều 61 Nghị định số 24/2009/NĐ-CP
Ngoài ra, chỉ thị do uỷ ban nhân dân
(UBND) ban hành cũng cần được bàn luận
về khía cạnh có phải là VBQPPL theo đúng
nghĩa hay là văn bản chỉ đạo, điều hành quản
lí trên địa bàn địa phương
Hiện nay, theo quy định của Luật năm
2008, chỉ thị do Thủ tướng Chính phủ,
Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, bộ
trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ không
còn là VBQPPL, duy nhất còn lại chỉ thị do
UBND các cấp ban hành là VBQPPL Xét
về ngữ nghĩa, chỉ thị được hiểu là “sự ra
lệnh”, hay “đề ra và quyết định cho cấp dưới
thi hành”.(8) Còn theo quy định tại Điều 14
Luật ban hành VBQPPL của hội đồng nhân
dân (HĐND) và UBND năm 2004: “Chỉ thị
của UBND tỉnh được ban hành để quy định
biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động, đôn
đốc và kiểm tra hoạt động của các cơ quan,
đơn vị trực thuộc và của HĐND, UBND cấp
dưới trong việc thực hiện văn bản của cơ
quan nhà nước cấp trên…” Dù chỉ thị được
ban hành để giải quyết công việc nào thì suy
cho cùng nội dung chính của chúng cũng là
đưa ra các giải pháp (giải pháp ở đây được
hiểu là) “cách giải quyết một vấn đề”.(9) Ví
dụ: Chỉ thị của Uỷ ban nhân dân thành phố
Hà Nội số 22/2009/CT-UBND ngày 08/7/2009
về việc tăng cường các cơ sở kinh doanh
dịch vụ trên địa bàn thành phố Hà Nội trong
tình hình mới Xét về hình thức và thẩm
quyền ban hành là VBQPPL nhưng về bản
chất chỉ thị chỉ là VBADPL để điều hành,
quản lí chứ không đặt ra quy phạm pháp
luật Vì vậy, vừa qua Luật năm 2008 đã
bỏ đi thẩm quyền ban hành chỉ thị với tư cách VBQPPL của một số chủ thể là hoàn toàn hợp lí
- Trường hợp thứ ba: Ban hành văn bản hành chính có nội dung chứa quy phạm pháp luật Hiện nay, một số cơ quan nhà nước ban hành văn bản hành chính có nội dung chứa đựng quy phạm pháp luật tồn tại khá phổ biến mà nguyên nhân chính lại xuất phát từ việc không nhận diện được đâu là quy phạm pháp luật, đâu không phải là quy phạm pháp luật để lựa chọn hình thức cho phù hợp Điển hình là các chủ thể ban hành công văn, thông báo, kế hoạch, chương trình… có nội dung chứa đựng quy phạm pháp luật Theo quy định tại khoản 1 Điều 26 Nghị định số 135/2003/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư
số 01/2004/TT-BTP ngày 16/6/2004, văn bản có chứa quy phạm pháp luật thuộc đối tượng kiểm tra bao gồm hai loại:
+ Loại thứ nhất, văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành bằng hình thức VBQPPL, mặc dù chủ
thể ban hành có thẩm quyền Ví dụ, Bộ văn
hoá-thông tin ban hành Công văn số 5234/BVHTT-BC ngày 19/1/2006 về việc cấp phép hoạt động truyền hình cáp tại các địa phương có nội dung: “…Để tránh tình
trạng cạnh tranh không lành mạnh và đầu tư lãng phí, Bộ văn hoá - thông tin thống nhất quan điểm chỉ cho phép triển khai một mạng truyền hình cáp trên một địa bàn… không xem xét cho bất kì đơn vị, cơ quan nào kể cả các cơ quan đơn vị ở trung ương triển khai thêm mạng truyền hình cáp tại địa bàn
Trang 6đó…” Đây là quy phạm bắt buộc và quy
phạm cấm thực hiện hành vi
+ Loại thứ hai: Văn bản có chứa quy
phạm pháp luật nhưng do cơ quan không có
thẩm quyền ban hành VBQPPL ban hành
Ví dụ: Công văn số 283/NTBD-PQL ngày
08/5/2007 của Cục nghệ thuật biểu diễn
thuộc Bộ văn hoá - thông tin về việc không
cho phép sinh viên tham gia biểu diễn tại vũ
trường, quán karaoke, có nội dung: “… Không
cho phép các học sinh, sinh viên tham gia
biểu diễn nghệ thuật tại quán bar, vũ trường,
quán karaoke và các tụ điểm dễ nảy sinh tệ
nạn xã hội…” Đây là quy phạm cấm thực
hiện hành vi
Trên đây là những trường hợp khá điển
hình đang tồn tại trên thực tế Nguyên nhân
cơ bản dẫn tới sự nhầm lẫn này, theo chúng
tôi chủ yếu là do trình độ, nhận thức của đội
ngũ công chức tham mưu cho chủ thể ban
hành văn bản còn thấp; Luật năm 2008 và
Luật ban hành VBQPPL của HĐND và
UBND cũng như các Nghị định chi tiết còn
chung chung, nặng về liệt kê mà không chỉ
dẫn cụ thể dấu hiệu quan trọng của VBQPPL
là chứa quy tắc xử sự chung Từ việc phân
tích những vướng mắc nảy sinh trong quá
trình ban hành văn bản quản lí nhà nước trên
đây, giải pháp cần thiết hiện nay là:
- Cơ quan có chức năng cần thường
xuyên bồi dưỡng, tập huấn về nhận diện
VBQPPL cho đội ngũ cán bộ, công chức
thực hiện hoạt động xây dựng VBQPPL từ
trung ương đến địa phương Trong các dấu
hiệu đặc trưng của VBQPPL, cần phân tích
để chỉ rõ dấu hiệu quan trọng và then chốt
nhất của VBQPPL là nội dung có chứa đựng quy phạm pháp luật (quy tắc xử sự chung) Tất nhiên, để nhận diện VBQPPL thì không
có nghĩa chỉ cần có quy phạm pháp luật mà văn bản đó phải đồng thời đáp ứng cả những dấu hiệu khác như: Do cơ quan có thẩm quyền ban hành; theo thủ tục, trình tự, hình thức mà Luật năm 2008, Luật ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004 quy định; có tính bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện; được thực hiện nhiều lần với mọi đối tượng hoặc một nhóm đối tượng Với các đặc điểm về chủ thể ban hành, thủ tục, hình thức… có thể nói là khá dễ dàng để nhận biết bởi Luật quy định rất rõ nhưng đặc điểm về nội dung có chứa quy tắc xử sự chung thì không phải là đơn giản Bởi nếu văn bản có quy tắc xử sự chung thì văn bản
đó mới có tính bắt buộc chung, được thực hiện nhiều lần và đối tượng thi hành mới là khái quát Vậy làm thế nào để nhận diện được các quy phạm pháp luật (quy tắc xử sự chung) trong các văn bản cho chính xác? Quy phạm là danh từ gốc Hán có nghĩa đen
là khuôn thước (quy là thước, phạm là khuôn), tức là mực thước, khuôn mẫu Như vậy, danh từ quy phạm dùng để chỉ cái khuôn, cái mẫu, cái thước mà người ta nói và làm theo.(10) Ngoài ra quy phạm còn có nghĩa như quy tắc (phép tắc) nhưng với nghĩa đầy đủ hơn đó là khuôn mẫu, chuẩn mực đã được hợp pháp hoá để mọi người đối chiếu và lựa chọn cách xử sự phù hợp Về cơ cấu của quy phạm pháp luật, đa số các quan điểm đều cho rằng quy phạm pháp luật thông thường có ba bộ phận: giả định, quy định,
Trang 7chế tài Bộ phận giả định của quy phạm pháp
luật xác định điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy
ra trong cuộc sống mà khi gặp điều kiện,
hoàn cảnh đó, các chủ thể sẽ xử sự theo cách
thức Nhà nước đặt ra; nó trả lời câu hỏi: Cá
nhân nào? tổ chức nào? Khi nào? Trong điều
kiện, hoàn cảnh nào?
Bộ phận quy định của quy phạm pháp
luật định hướng hành vi xử sự của cá nhân,
tổ chức theo hướng chỉ rõ những hành vi
được thực hiện, hành vi không được thực
hiện và cách thức thực hiện hành vi đó Đây
chính là đặt ra cách xử sự cho chủ thể mà nội
dung là quyền và nghĩa vụ của chủ thể
Bộ phận chế tài là bộ phận xác định biện
pháp tác động mà Nhà nước dự kiến áp dụng
đối với chủ thể không thực hiện đúng mệnh
lệnh được nêu trong phần quy định của quy
phạm pháp luật
Trong quá trình soạn thảo VBQPPL, các
quy phạm pháp luật có thể được trình bày
bằng nhiều cách khác nhau mà đôi khi bộ
phận nào đó của quy phạm pháp luật được
trình bày ẩn, thậm chí không có bộ phận chế
tài khi xem xét điều luật cụ thể (Ví dụ trong
trường hợp phần quy định chỉ xác định
quyền của chủ thể hoặc quy phạm quy định
về thủ tục pháp lí ) Tóm lại, quy phạm pháp
luật có thể có cả ba bộ phận nhưng cũng có
thể chỉ gồm hai bộ phận tuỳ theo sự biểu đạt
của nó trong các điều luật Trên thực tế có
rất nhiều cách để diễn đạt quy phạm pháp
luật nhưng đều xoay quanh mô hình ngôn
ngữ chung đó là “nếu… thì…” Có nghĩa:
Nếu cá nhân, tổ chức nào rơi vào điều kiện,
hoàn cảnh nào thì phải xử sự theo cách thức
sau… Ngoài ra, chúng ta còn có thể nhận
diện được đó là quy phạm pháp luật thông qua một số yếu tố ngôn ngữ điển hình như:
Không được, cấm, nghiêm cấm; có nghĩa vụ, phải, có trách nhiệm, cần, buộc…; có quyền, được quyền, được, được hưởng
- Thường xuyên tổ chức tập huấn về kĩ năng soạn thảo, hoạch định chính sách cho đội ngũ cán bộ pháp chế các bộ, ngành, địa phương Hiện nay, hoạt động kiểm tra VBQPPL đã được tổ chức tập huấn khá nhiều và bài bản về nghiệp vụ nhưng kĩ năng soạn thảo và hoạch định chính sách chưa được quan tâm tổ chức
- Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về dấu hiệu của VBQPPL; thể thức và kĩ thuật trình bày VBQPPL./
(1).Xem: Khoa luật, Trường đại học tổng hợp Hà Nội,
Hà Nội, 1993 (2).Xem: TS Nguyễn Cửu Việt, “Về khái niệm văn
bản quy phạm pháp luật”, Tạp chí nhà nước và pháp
lu ật, số 11/1998
(3).Xem: Phan Mạnh Hân, Kĩ thuật lập pháp, Nxb
pháp lí, Hà Nội, 1985
(4).Xem: Trường hành chính trung ương, Giáo trình
l ớp bồi dưỡng cán bộ quản lí cấp huyện, Hà Nội, 1977
(5).Xem: Phan Mạnh Hân, Sđd
(6).Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lí
lu ận nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, 1997
(7).Xem: Khoa luật, Trường đại học tổng hợp Hà Nội, Sđd
(8).Xem: Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển tiếng
Vi ệt, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 1998
(9).Xem: Nguyễn Như Ý (chủ biên), Sđd
(10).Xem: TS Nguyễn Minh Đoan, “Bàn thêm về cơ
cấu của quy phạm pháp luật”, Tạp chí luật học, số
3/2000