1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Microsoft Word - 05 nc2 ngi khoa tieu h2 _Minh da sua_ 67-151.doc

6 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chảy Máu Sau Phẫu Thuật Longo Và Các Yếu Tố Nguy Cơ
Tác giả Trần Thị Mai Trang, Lê Minh Trí, Nguyễn Trung Tín
Trường học Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học
Thể loại Nghiên cứu y học
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 440,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Microsoft Word 05 nc2 ngi khoa tieu h2 Minh da sua 67 151 doc Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Ngoại Khoa 141 CHẢY MÁU SAU PHẪU THUẬT LONGO VÀ CÁC YẾU[.]

Trang 1

CHẢY MÁU SAU PHẪU THUẬT LONGO VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

Trần Thị Mai Trang*, Lê Minh Trí**, Nguyễn Trung Tín***

TÓM TẮT

Mục tiêu: Mục đích của nghiên cứu là xác định các yếu tố liên quan đến biến chứng chảy máu sau phẫu

thuật trĩ bằng máy khâu nối (phẫu thuật Longo)

Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu được thực hiện là nghiên cứu cắt dọc, can thiệp lâm sàng Mẫu nghiên

cứu bao gồm các trường hợp trĩ độ 3 hoặc độ 4 được áp dụng phương pháp phẫu thuật trĩ bằng máy khâu nối từ tháng 12/2009 đến tháng 5/2010 Bệnh nhân được xác định là có biến chứng chảy máu sau mổ nếu có tình trạng

ra máu hậu môn cần điều trị cấp cứu Các yếu tố đưa vào phân tích tương quan gồm có tuổi, giới tính, phân độ trĩ, số ca thực hành trong đường cong huấn luyện của phẫu thuật viên, vị trí đường khâu nối, tình trạng chảy máu đường khâu nối ngay sau rút máy, sự hiện diện của sợi cơ trơn trong khoanh niêm mạc trực tràng, nhiễm trùng vết mổ

Kết quả: Mẫu nghiên cứu bao gồm 97 bệnh nhân, tuổi trung bình là 46,69 tuổi 7,22% trường hợp có biến

chứng chảy máu sau mổ Tỷ lệ bệnh nhân chảy máu sau mổ trong nhóm có khoảng cách đường lược – đường khâu nối < 2 cm cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm có khoảng cách đường lược – đường khâu nối 2 cm (p

= 0,03) Biến chứng này cũng có tương quan với số ca thực hành trong đường cong huấn luyện của phẫu thuật viên (p = 0,04)

Kết luận: Biến chứng chảy máu sau phẫu thuật trĩ bằng máy khâu nối có thể tránh khỏi nếu chỉ định đúng

và được tiến hành cẩn thận bởi những phẫu thuật viên chuyên khoa nhiều kinh nghiệm

Từ khóa: chảy máu sau mổ, phẫu thuật trĩ bằng máy khâu nối, trĩ, đường cong huấn luyện

ABSTRACT

RISK FACTORS ASSOCIATED WITH POSTOPERATIVE BLEEDING

AFTER STAPLED HEMORRHOIDECTOMY

Tran Thi Mai Trang, Le Minh Tri, Nguyen Trung Tin

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 1 - 2011: 141- 146

Purpose: The purpose of the study was to determine the variables associated with postoperative bleeding

after stapled hemorrhoidectomy

Methods: The study design was the longitudinal, interventional study Patients with grade III to IV

hemorrhoidal disease who underwent stapled hemorrhoidectomy from December 2009 to May 2010 were prospectively included Patients with postoperative bleeding requiring emergency admission was recorded The variables analyzed included age, gender, degree of hemorrhoids, learning curve, level of staple line, intraoperative staple line bleeding, presence of muscle fibers in the resected specimen and wound infection

Results: 97 patients with a mean age of 46.69 years were included 7.22% patients had postoperative

bleeding which require emergency admission Postoperative bleeding was more frequently in patients with staple line height < 2 cm than in patients with staple line height 2 cm (p = 0.03) This complication was also associated

* Bộ môn Ngoại Tổng quát, Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch

** Khoa Giải phẫu bệnh – BV Nguyễn Đình Chiểu – Bến Tre

*** Bộ Môn Ngọai Tổng Quát– Đại học Y Dược TPHCM

Trang 2

with learning curve (p = 0.04)

Conclusions: Postoperative bleeding after stapled hemorrhoidectomy seems to be avoidable with correct

indications and carefully performance by experienced colorectal surgeons

Keywords: postoperative bleeding, stapled hemorrhoidectomy, hemorrhoids, leanning curve

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh trĩ là một bệnh phổ biến(28,17,6) nhưng ở

vị trí đặc biệt và ít gây ảnh hưởng nặng nề đến

cuộc sống nên bệnh nhân thường đi khám và

chữa bệnh rất muộn Khi đó, trĩ đã ở giai đoạn

tiến triển, cần phải phẫu thuật

Có nhiều phương pháp phẫu thuật để điều

trị bệnh trĩ Các phương pháp cắt trĩ kinh điển

can thiệp trực tiếp vào vùng da nhạy cảm quanh

hậu môn nên gây đau nhiều cho bệnh nhân Vì

vậy, phương pháp phẫu thuật trĩ bằng máy

khâu nối (15) được Longo đưa ra năm 1998, với

ưu điểm ít đau sau mổ(5,7,8,21,23) đã nhanh chóng

được chấp nhận và áp dụng rộng rãi trên Thế

giới Các báo cáo cho thấy đây là một phương

pháp hiệu quả và an toàn trong phẫu thuật điều

trị bệnh trĩ

Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng, bắt

đầu xuất hiện những quan điểm đối lập về tính

an toàn của phương pháp này Một số trường

hợp có biến chứng nặng sau mổ được công bố

như tắc ruột(4), viêm phúc mạc (29), rò trực tràng –

âm đạo(27), … Nhưng các biến chứng này hiếm

gặp, nguyên nhân đều do lỗi kỹ thuật trong quá

trình mổ Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến biến

chứng chảy máu Theo nhiều nghiên cứu thử

nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng, tỷ lệ

chảy máu sau mổ giữa hai nhóm phẫu thuật có

sử dụng máy khâu nối và cắt trĩ kinh điển tương

đương nhau(1,5,9,21,27) Mặc dù vậy, dựa trên quan

sát lâm sàng, Jongen và cộng sự (10) cho rằng chảy

máu sau phẫu thuật trĩ bằng máy khâu nối

thường gặp hơn so với phẫu thuật

Fansler-Anderson Koh và cộng sự(11) nghiên cứu các

trường hợp phẫu thuật có sử dụng máy khâu

nối, xác định tỷ lệ chảy máu sau mổ là 23%, cao

hơn đáng kể khi so sánh với kết quả của các

phương pháp cắt trĩ kinh điển đã được báo cáo

trong y văn Theo Racalbuto và cộng sự, tỷ lệ

chảy máu sau mổ không cao (5%) nhưng mức

độ trầm trọng và nguy hiểm(23) Kết quả nghiên cứu khác nhau đã gây ra nhiều tranh luận Trong đó, các tác giả cố gắng xác định những yếu tố có liên quan đến biến chứng Ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu về phương pháp phẫu thuật trĩ bằng máy khâu nối

đã được thực hiện(12,18,16), nhưng hầu hết đều chỉ quan tâm đến kết quả chung của phẫu thuật Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố nguy cơ gây chảy máu sau phẫu thuật điều trị bệnh trĩ bằng máy khâu nối

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mẫu nghiên cứu bao gồm các bệnh nhân được áp dụng phương pháp phẫu thuật trĩ bằng máy khâu nối tại Bệnh viện Bình Dân từ tháng 12/2009 đến tháng 5/2010, thỏa tất cả các tiêu chuẩn sau:

Là người Việt Nam từ 18 tuổi trở lên

Có chẩn đoán trước mổ là trĩ nội độ 3, trĩ nội

độ 4 hoặc trĩ hỗn hợp

Có sự tham gia của chúng tôi trong quá trình phẫu thuật

Có khoanh niêm mạc và dưới niêm mạc trực tràng cắt ra được gởi giải phẫu bệnh lý

Có địa chỉ và/hoặc số điện thoại có thể liên

hệ được sau thời gian theo dõi 1 tháng

Bên cạnh đó, chúng tôi loại trừ khỏi nhóm nghiên cứu những bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chọn mẫu nhưng thuộc các đối tượng:

Không đồng ý tham gia nghiên cứu

Không có khả năng hiểu và trả lời câu hỏi

Cỡ mẫu cho nghiên cứu được tính theo công thức tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ:

2

2 2 / 1

) 1 (

d

p p Z

− α

Trang 3

n: cỡ mẫu tối thiểu phải có

2

)

2

/

1

( − α

z : hệ số tin cậy, z(21−α/2) = 1,962 ở

khoảng tin cậy 95%

p: tỷ lệ biến chứng chảy máu của phương

pháp phẫu thuật trĩ bằng máy khâu nối Theo

Ravo và cộng sự, p = 4,7% (25)

d: sai số tuyệt đối so với thực tế, chọn d = 0,05

69 05

, 0

953 , 0 047 , 0 96 , 1

2

=

⇒ n

Vậy cỡ mẫu tối thiểu phải có là 69 bệnh

nhân

Ước lượng tỷ lệ bệnh nhân không liên lạc

được sau 1 tháng là 10% thì số bệnh nhân cần

phải có là ≥ 76 bệnh nhân

Thiết kế nghiên cứu được thực hiện là

nghiên cứu cắt dọc, can thiệp lâm sàng

Phẫu thuật được tiến hành dựa theo kỹ

thuật của Longo(14), cùng lúc cắt bỏ một

khoanh niêm mạc – dưới niêm mạc trực tràng

và khâu vị trí cắt lại bằng máy khâu nối Các

trường hợp phẫu thuật đều sử dụng bộ máy

khâu nối PPH 03 – Ethicon, nhưng vị trí đặt

mũi khâu túi, cách cầm máu đường khâu

nối,… khác nhau tùy theo phẫu thuật viên và

tình trạng bệnh nhân Khoanh niêm mạc trực

tràng cắt ra được khảo sát vi thể để xác định

sự hiện diện của sợi cơ trơn, do một bác sĩ độc

lập với nghiên cứu ghi nhận

Bệnh nhân được xác định là có biến chứng

chảy máu sau mổ nếu có tình trạng ra máu hậu

môn cần điều trị cấp cứu

Các yếu tố đưa vào phân tích tương quan

gồm có tuổi, giới tính, phân độ trĩ, số ca thực

hành trong đường cong huấn luyện của phẫu

thuật viên, vị trí đường khâu nối, tình trạng

chảy máu đường khâu nối ngay sau rút máy, sự

hiện diện của sợi cơ trơn trong khoanh niêm

mạc trực tràng, nhiễm trùng vết mổ

Các dữ liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 13.0

KẾT QUẢ

Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2009 đến tháng 5/2010, tại bệnh viện Bình Dân TP.HCM, chúng tôi ghi nhận được 106 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chọn mẫu, trong đó có 97 bệnh nhân liên hệ phỏng vấn được sau thời gian theo dõi 1 tháng

Mẫu nghiên cứu gồm có 49 bệnh nhân nam (50,52%) và 48 bệnh nhân nữ (49,48%) Tuổi trung bình của bệnh nhân là 46,69 ± 13,88 tuổi Tuổi thấp nhất là 21, tuổi cao nhất là 93

Các trường hợp trĩ nội độ 3 chiếm đa số trong mẫu nghiên cứu (85 bệnh nhân, 87,63%), còn lại 7 bệnh nhân (7,22%) có trĩ nội độ 4 và 5 bệnh nhân (5,15%) có trĩ hỗn hợp

Trong quá trình phẫu thuật, có 3 trường hợp (3,09%) đứt chỉ khi bấm máy, không cắt trọn được khoanh niêm mạc trực tràng 93,81% khoanh niêm mạc cắt ra có cơ trơn

Có 89 trường hợp (91,75%) chảy máu ở đường khâu nối ngay sau lấy máy ra, các vị trí thường gặp là 4-5 giờ (40,21%), 7-8 giờ (53,61%)

và 10-11 giờ (44,33%) Trong đó, 79 trường hợp (81,44%) được khâu cầm máu tăng cường, 5 trường hợp (5,15%) cầm máu bằng đốt điện và 5 trường hợp (5,15%) tự cầm máu

Biến chứng chảy máu sau mổ xảy ra ở 7 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 7,22% Trong đó, 5 bệnh nhân (5,15%) ra máu hậu môn trong tuần đầu tiên sau mổ, 2 bệnh nhân (2,06%) đi cầu ra máu lượng nhiều ở ngày hậu phẫu thứ 8 và thứ 9 Chỉ có 1 bệnh nhân phải chèn gạc hậu môn để cầm máu, các bệnh nhân còn lại đều được điều trị khỏi bằng thuốc, không có trường hợp nào phải mổ lại hoặc phải khâu cầm máu

Trang 4

Bảng 1: Các yếu tố nguy cơ gây chảy máu sau mổ

Chảy máu sau mổ

bệnh nhân Số BN Tỷ lệ (%)

p

Giới

0,44 (*)

Tuổi

0,59 (*)

Phân độ trĩ

0,41

Khoảng cách từ đường lược đến đường khâu nối

0,03 (*)

Chảy máu đường khâu nối ngay sau rút máy

0,63

Sợi cơ trơn /khoanh niêm mạc trực tràng

1,00 (*)

Đường cong huấn luyện

0,04 (*)

Sử dụng kháng sinh

0,19 (*)

(*) : Kiểm định Fisher

Bảng 1 cho thấy có sự tương quan giữa biến

chứng chảy máu sau mổ với đường cong huấn

luyện và vị trí đường khâu nối

BÀN LUẬN

Tỷ lệ biến chứng chảy máu sau phẫu thuật

trĩ bằng máy khâu nối theo các báo cáo trong và

ngoài nước là 1 – 23%(18,16,8,9,11,20,25) Trong nghiên

cứu của chúng tôi, biến chứng này xảy ra ở 7

bệnh nhân, chiếm 7,22%, ở mức trung bình so

với y văn Tất cả các trường hợp này khi thực

hiện phẫu thuật trước đó đều có chảy máu ở

đường khâu nối ngay sau rút máy, và đều đã

được khâu cầm máu tăng cường Tỷ lệ biến

chứng chảy máu sau mổ trong nhóm có chảy

máu đường khâu nối ngay sau rút máy cao hơn

so với nhóm không chảy máu, nhưng sự khác

biệt không có ý nghĩa thống kê, tương tự kết quả

nghiên cứu của Koh và cộng sự(11) Tuy nhiên,

các tác giả vẫn cho rằng chảy máu trong mổ có

thể là yếu tố dự báo của biến chứng chảy máu

sau mổ Qua thăm khám các trường hợp có biến

chứng, các tác giả còn nhận thấy các điểm chảy

hiệu quả trong phẫu thuật ban đầu Điều này giải thích cho tỷ lệ chảy máu sau mổ trong nghiên cứu cao (23%) dù phẫu thuật viên đã chú

ý kiểm tra kỹ đường khâu nối khi kết thúc phẫu thuật Việc kiểm tra kỹ đường khâu nối sau khi rút máy được nhiều tác giả khuyến cáo(7,13,26) Tất

cả phẫu thuật viên của chúng tôi đều tuân thủ nguyên tắc này Cách xử trí điểm chảy máu tùy thuộc vào mức độ chảy nhiều hay ít và đánh giá của mỗi phẫu thuật viên Có ý kiến cho rằng đốt điện cầm máu có thể làm tổn thương đường khâu nối, đồng thời việc bỏ qua những điểm rỉ máu nhỏ có thể là nguyên nhân gây chảy máu sau mổ(11) Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, tất

cả trường hợp chảy máu sau mổ của chúng tôi đều đã được khâu cầm máu trong quá trình phẫu thuật trước đó

Theo dữ liệu chúng tôi thu thập được, các điểm chảy máu đường khâu nối thường gặp ở

4-5 giờ (40,21%), 7-8 giờ (4-53,61%) và 10-11 giờ (44,33%), tương ứng với 3 nhánh tận chính của động mạch trực tràng trên đi đến mức các cột

Trang 5

nhiều mô, đặc biệt là cấu trúc mạch máu, được

cho là nguyên nhân làm cho các kim bấm không

cầm máu tốt, nhất là ở những vị trí có nhánh

động mạch lớn Các yếu tố liên quan đến tình

trạng này gồm có phân độ trĩ trước mổ, vị trí

đường khâu nối và sự hiện diện của tế bào cơ

trơn trong khoanh niêm mạc trực tràng Qua

phân tích thống kê, chúng tôi chỉ tìm được mối

tương quan có ý nghĩa giữa khoảng cách từ

đường lược đến đường khâu nối với biến chứng

chảy máu sau mổ (p = 0,03)

Trong nghiên cứu này, chúng tôi cũng tìm

thấy sự tương quan có ý nghĩa thống kê giữa

đường cong huấn luyện với biến chứng chảy

máu sau mổ (p = 0,04) Theo Ravo và cộng sự,

đây là biến chứng sớm thường gặp nhất trong 25

ca phẫu thuật trĩ bằng máy khâu nối đầu tiên

của phẫu thuật viên(24) Ngược lại, trong nghiên

cứu của Cheetham, cả 2 trường hợp có biến

chứng chảy máu đều không xảy ra trong giai

đoạn thử nghiệm của nghiên cứu, từ đó tác giả

cho rằng biến chứng chảy máu không liên quan

đến đường cong huấn luyện(2)

Hầu hết bệnh nhân chảy máu sau mổ trong

nhóm nghiên cứu của chúng tôi không còn chảy

máu khi thăm khám, kiểm tra trực tràng có

nhiều máu cục Soi trực tràng được tiến hành ở 3

trường hợp (xuất hiện chảy máu ở ngày hậu

phẫu thứ 6, thứ 8 và thứ 9), kết quả đều ghi

nhận có các vết loét trên đường khâu nối, có vết

loét còn hơi rịn máu, có vết loét đã ngưng chảy

nhưng đáy có vài điểm có cục máu đông, cho

thấy các vết loét này là nguồn gốc chảy máu Vết

mổ không có dấu hiệu nhiễm trùng, đồng thời

không bệnh nhân nào trong các trường hợp chảy

máu sau mổ có sốt Bên cạnh đó, chúng tôi cũng

không tìm được sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

của tỷ lệ chảy máu sau mổ giữa hai nhóm có và

không có sử dụng kháng sinh (p = 0,19) Vì vậy,

chúng tôi không chứng minh được vai trò của

nhiễm trùng vết mổ trong việc gây ra biến

chứng chảy máu, tương tự báo cáo của Chen và

cộng sự (3)

Ngoài ra, chúng tôi cũng không tìm thấy sự tương quan giữa biến chứng chảy máu sau mổ với các yếu tố tuổi và giới tính

KẾT LUẬN

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân chảy máu sau mổ tương đối thấp, có liên quan đến các yếu tố: khoảng cách từ đường lược đến đường khâu nối < 2 cm và số ca thực hành trong đường cong huấn luyện của phẫu thuật viên < 25 ca Như vậy, mặc dù các thao tác của phương pháp phẫu thuật trĩ bằng máy khâu nối

có vẻ đơn giản nhưng vẫn cần được tiến hành bởi một phẫu thuật viên chuyên khoa nhiều kinh nghiệm, nắm rõ các sai sót có thể xảy ra và hậu quả kèm theo Hơn nữa, sự cẩn thận khi thực hiện phẫu thuật là điều hết sức quan trọng

để tránh biến chứng cho bệnh nhân, ngay cả ở các bác sĩ đã quen thuộc với phương pháp này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Basdanis G., Papadopoulos V N., Michalopoulos A., Apostolidis S., Harlaftis N (2005) Randomized clinical trial of stapled hemorrhoidectomy vs open with Ligasure for

prolapsed piles Surg Endosc, 19 (2): 235-239

2 Cheetham M J., Cohen C R., Kamm M A., Phillips R K (2003) A randomized, controlled trial of diathermy hemorrhoidectomy vs stapled hemorrhoidectomy in an

intended day-care setting with longer-term follow-up Dis

Colon Rectum, 46 (4): 491-497

3 Chen H H., Wang J Y., Changchien C R., Chen J S., Hsu K C., Chiang J M., Yeh C Y., Tang R (2002) Risk factors associated with posthemorrhoidectomy secondary hemorrhage: a single-institution prospective study of 4,880

consecutive closed hemorrhoidectomies Dis Colon Rectum, 45

(8): 1096-1099

4 Cipriani S., Pescatori M (2002) Acute rectal obstruction after

PPH stapled haemorrhoidectomy Colorectal Dis, 4 (5): 367-370

5 Ganio E., Altomare D F., Gabrielli F., Milito G., Canuti S (2001) Prospective randomized multicentre trial comparing

stapled with open haemorrhoidectomy Br J Surg, 88 (5):

669-674

6 Goligher J C (1984) Haemorrhoids or piles Surgery of the

anus, rectum and colon, Bailliere Tindall, London, 69-85

7 Gravie J F., Lehur P A., Huten N., Papillon M., Fantoli M., Descottes B., Pessaux P., Arnaud J P (2005) Stapled hemorrhoidopexy versus Milligan-Morgan hemorrhoidectomy: a prospective, randomized, multicenter

trial with 2-year postoperative follow up Ann Surg, 242 (1):

29-35

8 Hetzer F H., Demartines N., Handschin A E., Clavien P A (2002) Stapled vs excision hemorrhoidectomy: long-term

results of a prospective randomized trial Arch Surg, 137 (3):

337-340

Trang 6

9 Ho K S., Ho Y H (2006) Prospective randomized trial

comparing stapled hemorrhoidopexy versus closed Ferguson

hemorrhoidectomy Tech Coloproctol, 10 (3): 193-197

10 Jongen J., Bock J U., Peleikis H G., Eberstein A., Pfister K

(2006), "Complications and reoperations in stapled anopexy:

learning by doing", Int J Colorectal Dis, 21 (2), pp 166-171

11 Koh D C., Cheong D M., Wong K S (2005) Stapled

haemorrhoidectomy: bothersome staple line bleeding Asian J

Surg, 28 (3): 193-197

12 Lê Thiện Hiếu (2009) Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật Longo

Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

13 Lomanto D., Katara A N (2007) Stapled haemorrhoidopexy

for prolapsed haemorrhoids: short- and long-term experience

Asian J Surg, 30 (1): 29-33

14 Longo A (1996) PPH procedure for prolapse and

hemorrhoids Ethicon Endo - Surgery, INC A Johnson - Johnson

company

15 Longo A (1998) Treatment of haemorrhoidal disease by

reduction of mucosa and haemorrhoidal prolapse with a

circular suturing device: a new procedure Proceeding of the 6 th

congress of endoscopic surgery, Roma, Italy

16 Nguyễn Hữu Thịnh, Dương Phước Hưng, Nguyễn Trung Tín

(2008) Phẫu thuật Longo điều trị trĩ độ 3: kinh nghiệm qua 260

trường hợp Y học TP Hồ Chí Minh, 12 (1): 66-70

17 Nguyễn Mạnh Nhâm (2004).Nghiên cứu bệnh trĩ ở các tỉnh

phía Bắc Việt Nam và các biện pháp phòng bệnh - điều trị Tạp

chí Hậu môn trực tràng học, 6: 3-15

18 Nguyễn Phúc Minh, Dương Văn Hải, Lê Quang Nghĩa (2008)

Kết quả bước đầu điều trị trĩ bằng phẫu thuật Longo Tạp chí

đại trực tràng học, 1: 122-127

19 Ohana G., Myslovaty B., Ariche A., Dreznik Z., Koren R.,

Rath-Wolfson L (2007) Mid-term results of stapled

hemorrhoidopexy for third- and fourth-degree

hemorrhoids correlation with the histological features of the resected tissue

World J Surg, 31 (6): 1336-1342

20 Oughriss M., Yver R., Faucheron J L (2005) Complications of

stapled hemorrhoidectomy: a French multicentric study

Gastroenterol Clin Biol, 29 (4): 429-433

21 Palimento D., Picchio M., Attanasio U., Lombardi A., Bambini C., Renda A (2003) Stapled and open hemorrhoidectomy:

randomized controlled trial of early results World J Surg, 27

(2): 203-207

22 Pemperton J.H., Meagher A.P (1996) Anatomy and

physiology of the anus and rectum Shackelford's surgery of the

alimentary tract, WB William Saunder, 4: 275-305

23 Racalbuto A., Aliotta I., Corsaro G., Lanteri R., Di Cataldo A., Licata A (2004) Hemorrhoidal stapler prolapsectomy vs Milligan-Morgan hemorrhoidectomy: a long-term randomized

trial Int J Colorectal Dis, 19 (3): 239-244

24 Ravo B., Amato A., Bianco V., Boccasanta P., Bottini C., Carriero A., Milito G., Dodi G., Mascagni D., Orsini S., Pietroletti R., Ripetti V., Tagariello G B (2002) Complications

after stapled hemorrhoidectomy: can they be prevented? Tech

Coloproctol, 6 (2): 83-88

25 Shalaby R., Desoky A (2001) Randomized clinical trial of

stapled versus Milligan-Morgan haemorrhoidectomy Br J

Surg, 88 (8): 1049-1053

26 Sileri P., Stolfi V M., Palmieri G., Mele A., Falchetti A., Di Carlo S., Gaspari A L (2007) Stapled hemorrhoidopexy: a

prospective study from pathology to clinical outcome J

Gastrointest Surg, 11 (12): 1662-1668

27 Stolfi V M., Sileri P., Micossi C., Carbonaro I., Venza M., Gentileschi P., Rossi P., Falchetti A., Gaspari A (2008) Treatment of hemorrhoids in day surgery: stapled

hemorrhoidopexy vs Milligan-Morgan hemorrhoidectomy J

Gastrointest Surg, 12 (5): 795-801

28 Trần Khương Kiều (1992) Góp phần tìm hiểu dịch tễ học bệnh trĩ

trong sinh thái xã hội và tự nhiên ở một số vùng nước ta Luận án

Phó tiến sĩ, Hà Nội

29 Wong L Y., Jiang J K., Chang S C., Lin J K (2003) Rectal perforation: a life-threatening complication of stapled

hemorrhoidectomy: report of a case Dis Colon Rectum, 46 (1):

116-117

Ngày đăng: 05/01/2023, 10:04

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm