Những nội dung cần sửa đổi, bổ sung hoặc giải thích luật bao gồm: - Bổ sung quy định về việc xác định ai là người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo chưa thành niên,1 những trường hợp
Trang 1
ThS NguyÔn H¶i Ninh *
ảo đảm quyền bào chữa là nguyên tắc
quan trọng trong quá trình giải quyết
vụ án hình sự Đối với những vụ án mà bị
can, bị cáo chưa thành niên, pháp luật có
những quy định riêng về bào chữa để quyền,
lợi ích hợp pháp của các chủ thể này được
bảo vệ tốt nhất Tuy nhiên, quy định trong
Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS), Luật luật
sư và một số văn bản hướng dẫn hiện nay
còn có những điểm chưa rõ ràng, thiếu thống
nhất gây khó khăn trong quá trình áp dụng
làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp
của bị can, bị cáo chưa thành niên Những
vấn đề này cần được sửa đổi, bổ sung hoặc
có giải thích chính thức nhằm tạo thuận lợi
cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá
trình giải quyết vụ án đồng thời là điều kiện
để quyền bào chữa của bị can, bị cáo chưa
thành niên được bảo đảm trên thực tế
Những nội dung cần sửa đổi, bổ sung
hoặc giải thích luật bao gồm:
- Bổ sung quy định về việc xác định ai là
người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo
chưa thành niên,(1) những trường hợp không
được công nhận là người đại diện hợp pháp
để đảm bảo khi người đại diện hợp pháp “lựa
chọn” chính mình là người bào chữa sẽ
không gây thiệt hại cho bị can, bị cáo chưa
thành niên
- Việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa (bao gồm cả giấy chứng nhận bào chữa cho người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo chưa thành niên) thực hiện một lần và giấy chứng nhận có giá trị trong các giai đoạn tố tụng trừ trường hợp bị thay đổi hoặc không được tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật
- Nếu người đại diện hợp pháp tự mình bào chữa cho bị can, bị cáo nhưng bị can, bị cáo vẫn có yêu cầu bào chữa chỉ định thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ chỉ định người bào chữa cho họ
Các đề xuất trên được đưa ra dựa trên những phân tích cụ thể trong các phần sau
1 Khoản 1 Điều 57 BLTTHS quy định:
“Ng ười bào chữa do người bị tạm giữ, bị
can, b ị cáo hoặc đại diện hợp pháp của họ
l ựa chọn”
Như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều
57 BLTTHS, quyền lựa chọn người bào chữa thuộc về một trong các chủ thể: người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên hoặc đại diện hợp pháp của họ
Theo khoản 1 Điều 305 BLTTHS: “Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị
B
* Giảng viên Khoa luật hình sự Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2can, b ị cáo là người chưa thành niên có thể
l ựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào
ch ữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”
và hướng dẫn tại Nghị quyết của Hội đồng
thẩm phán Toà án nhân dân tối cao (TANDTC)
số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004:
“ Đối với bị can, bị cáo là người chưa thành
th ể chất thì họ và người đại diện hợp pháp
c ủa họ đều có quyền được lựa chọn người
bào ch ữa”
Như vậy, theo Điều 305 BLTTHS và
hướng dẫn trên, quyền lựa chọn người bào
chữa cho bị can, bị cáo chưa thành niên được
quy định đồng thời cho các chủ thể là bị can,
bị cáo chưa thành niên và người đại diện hợp
pháp của họ Quyền này của các chủ thể là
quyền độc lập Khi lựa chọn người bào chữa,
nếu giữa các chủ thể có mâu thuẫn thì cách
thức giải quyết như sau:
- Trường hợp người đại diện hợp pháp
lựa chọn người bào chữa nhưng bị can, bị
cáo không đồng ý và muốn lựa chọn người
khác bào chữa cho mình thì hai chủ thể có
thể trao đổi và thống nhất lựa chọn người
bào chữa Nếu giữa các chủ thể không thống
nhất được với nhau và mỗi người vẫn muốn
mời người mà mình lựa chọn tham gia tố
tụng với tư cách người bào chữa thì bị can,
bị cáo chưa thành niên sẽ có nhiều người bào
chữa Cơ quan tiến hành tố tụng phải cấp
giấy chứng nhận bào chữa cho các chủ thể
được mời nếu họ không rơi vào trường hợp
quy định tại khoản 2 Điều 56 BLTTHS vì
“nhi ều người bào chữa có thể bào chữa cho
m ột người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” (khoản
3 Điều 56)
- Trường hợp người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo “lựa chọn” chính mình là người bào chữa cho bị can, bị cáo trong khi
bị can, bị cáo lại không muốn người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa cho mình (có thể do không yên tâm về trình độ pháp luật của người đại diện hợp pháp, có thể do người đại diện hợp pháp có những quyền lợi đi ngược lại với chính lợi ích của bị can, bị cáo) thì cơ quan tiến hành tố tụng có cấp giấy chứng nhận bào chữa cho người đại diện hợp pháp của
bị can, bị cáo hay không?
Mặc dù không có quy định cụ thể trong BLTTHS nhưng căn cứ vào các quy định hiện hành của pháp luật, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải cấp giấy chứng nhận bào chữa cho người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo chưa thành niên (vì quyền tự mình bào chữa cho bị can, bị cáo chưa thành niên là quyền độc lập của họ không phụ thuộc vào ý chí của bị can, bị cáo chưa thành niên) Cách thức giải quyết trong tình huống nêu trên là đúng quy định của pháp luật nhưng trong một số trường hợp có thể không bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của
bị can, bị cáo chưa thành niên Đó chính là trường hợp bị can, bị cáo chưa thành niên không đồng ý người đại diện hợp pháp bào chữa cho mình với lí do quyền lợi của họ sẽ không được bảo đảm vì mâu thuẫn về lợi ích Xuất phát từ thực tế có thể người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo tham gia tố
Trang 3tụng không vì lợi ích của bị can, bị cáo (do
họ là người đại diện theo pháp luật) mà chỉ
chính bị can, bị cáo mới biết được nên ngoài
trường hợp bị can, bị cáo từ chối người đại
diện hợp pháp tham gia tố tụng với tư cách
người bào chữa còn có thể xảy ra trường hợp
bị can, bị cáo không muốn họ là người đại
diện hợp pháp của mình
Liên quan đến vấn đề này, trong Công
văn của TANDTC số 117/2004/KHXX ngày
22/7/2004 lưu ý: “Cần nghiên cứu nắm chắc
đúng trường hợp nào thì được công nhận là
ng ười đại diện hợp pháp của bị cáo và được
tham gia t ố tụng với tư cách là người bào
ch ữa cho bị cáo” Như vậy, Công văn mới
chỉ lưu ý để xác định “đúng” người đại diện
hợp pháp của bị cáo còn chưa có giải thích,
hướng dẫn cụ thể để đảm bảo khi tham gia
tố tụng người đại diện hợp pháp sẽ vì lợi ích
của người mà mình đại diện Về vấn đề này
có thể tham khảo pháp luật tố tụng hình sự
nước ngoài
Khoản 1 Điều 49 BLTTHS Cộng hoà
Liên bang Nga(2) quy định: “Luật sư được
ch ữa Theo quyết định của toà án, bên cạnh
lu ật sư thì một trong số những người họ
theo yêu c ầu của bị can có thể được chấp
nh ận là người bào chữa”; Điều 426 quy
định: “1 Những người đại diện hợp pháp
c ủa người bị tình nghi, bị can là người chưa
thành niên được tham gia vụ án trên cơ sở
quy ết định của kiểm sát viên, dự thẩm viên,
l ời khai người bị tình nghi lần đầu tiên với
t ư cách người bị tình nghi hoặc bị can… 4
Ng ười đại diện hợp pháp có thể bị từ chối
ng ười bị tình nghi, bị can là người chưa
thành niên”; khoản 2 Điều 428 quy định:
“Theo quy ết định của toà án, người đại
di ện hợp pháp có thể bị từ chối tham gia
ng ười bị tình nghi, bị can là người chưa
thành niên” Việc xác định người không được công nhận là người đại diện hợp pháp được quy định trực tiếp trong BLTTHS tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan tiến hành tố tụng khi
áp dụng pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo chưa thành niên trong vụ án hình sự
Cũng có ý kiến cho rằng “không nên quy định người bào chữa là người đại diện hợp
pháp c ủa người bị tạm giữ, bị can, bị cáo…”(3)
vì cho rằng những người này không hiểu phải vận dụng những quy định nào của pháp luật để thực hiện quyền bào chữa đồng thời các cơ quan tiến hành tố tụng cũng lợi dụng quy định này để cấp giấy chứng nhận tuỳ tiện cho người đại diện hợp pháp và là cái cớ
để cơ quan tiến hành tố tụng né tránh luật sư Tác giả không đồng ý với ý kiến trên bởi những lí do sau: Trong trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng tuỳ tiện cấp giấy chứng
Trang 4nhận bào chữa cho người đại diện hợp pháp
với mục đích né tránh luật sư thì cần phải
nâng cao ý thức trách nhiệm của người tiến
hành tố tụng bằng việc giáo dục ý thức trách
nhiệm, bằng các biện pháp chế tài và thậm
chí cần phải sửa đổi, bổ sung thêm một số
quy định pháp luật.(4) Còn lí do không nên
quy định người đại diện hợp pháp là người
bào chữa do họ không có kiến thức cần thiết
về pháp luật không có sức thuyết phục
Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể mời
người khác là luật sư bào chữa cho mình
cùng với người đại diện hợp pháp Trong
nhiều trường hợp, họ muốn người đại diện
hợp pháp bào chữa cho mình vì đó có thể là
người hiểu họ nhất, sự tham gia của người
đại diện hợp pháp tạo tâm lí tốt cho họ
trong quá trình tố tụng Mặt khác, tư cách
đại diện của người đại diện hợp pháp sẽ
chấm dứt khi người mà họ đại diện thành
niên, khi đó họ vẫn tham gia tố tụng cùng
người họ bảo vệ quyền lợi hợp pháp với tư
cách là người bào chữa Vì vậy để bảo vệ
được người chưa thành niên, giúp cơ quan
tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình sự
đúng đắn vẫn nên quy định người bào chữa
có thể là người đại diện hợp pháp của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Như vậy, để bảo đảm người đại diện hợp
pháp tham gia tố tụng với tư cách người bào
chữa, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp
của bị can, bị cáo chưa thành niên cần bổ
sung quy định về việc xác định ai là người
đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo chưa
thành niên Trong đó cần quy định rõ những
trường hợp không được công nhận là người đại diện hợp pháp để trường hợp người đại diện hợp pháp “lựa chọn” chính mình là người bào chữa sẽ không gây thiệt hại cho bị can, bị cáo chưa thành niên
Bổ sung quy định về tư cách tố tụng của người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên tại Chương IV BLTTHS(5) đồng thời bổ sung quy định về trường hợp không được tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp, cụ thể như sau:
“Điều…
1 Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có thể là…
2 Người đại diện hợp pháp của của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất tham gia tố tụng theo quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng
3 Người đại diện hợp pháp có thể bị từ chối tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách này khi có căn cứ cho rằng việc họ tham gia tố tụng sẽ gây thiệt hại cho lợi ích của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất
4 Quyền của người đại diện hợp pháp…”
2 Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên có thể yêu cầu người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp quyết định tự mình tham gia bào
Trang 5chữa Cơ quan tiến hành tố tụng có trách
nhiệm cấp giấy chứng nhận bào chữa cho họ
để họ thực hiện quyền bào chữa của mình
Nếu được cấp giấy chứng nhận, họ sẽ tham
gia tố tụng với hai tư cách: người đại diện
hợp pháp và người bào chữa
Hiện nay, các luật sư được mời tham
gia bào chữa gặp nhiều khó khăn khi xin
cấp giấy chứng nhận Vì vậy có ý kiến cho
rằng nên bỏ quy định về việc phải có giấy
chứng nhận bào chữa Về ý kiến này, quan
điểm của tác giả như sau: Nếu luật quy
định chỉ có luật sư tham gia tố tụng với tư
cách người bào chữa thì việc bỏ thủ tục cấp
giấy chứng nhận bào chữa là cần thiết nhằm
tạo thuận lợi cho các luật sư khi tham gia
tố tụng Tuy nhiên, ngoài luật sư còn có
người đại diện hợp pháp, bào chữa viên
nhân dân cũng được luật quy định có thể
tham gia tố tụng với tư cách người bào
chữa, nếu không có giấy chứng nhận bào
chữa, việc tham gia tố tụng của các chủ thể
này sẽ gặp rất nhiều khó khăn (khi muốn
gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam nếu
không có giấy chứng nhận bào chữa thì
phải có giấy tờ nào để họ có thể thực hiện
được quyền này đồng thời không làm ảnh
hưởng đến quá trình giải quyết vụ án) Vì
vậy, việc cấp giấy chứng nhận bào chữa là
bắt buộc trong mọi trường hợp
Người đại diện hợp pháp đã được cấp
giấy chứng nhận bào chữa cho bị can, bị cáo
chưa thành niên có phải xin cấp lại giấy
chứng nhận bào chữa khi vụ án chuyển sang
giai đoạn tố tụng khác hay không? Vấn đề
này không chỉ được đặt ra đối với người bào chữa là người đại diện hợp pháp của bị can,
bị cáo chưa thành niên mà còn được đặt ra trong cả trường hợp người bào chữa là luật
sư, bào chữa viên nhân dân
Khoản 2 Điều 27 Luật luật sư năm 2006
quy định: “Luật sư được cơ quan tiến hành
t ố tụng cấp giấy chứng nhận người bào
ch ữa, giấy chứng nhận người bảo vệ quyền
l ợi của đương sự trong vụ án hình sự… (sau đây gọi chung là giấy chứng nhận tham gia
t ố tụng của luật sư)” Tại khoản 4 Điều 27 quy định: “Giấy chứng nhận tham gia tố
t ụng của luật sư có giá trị trong các giai đoạn tố tụng, trừ trường hợp bị thu hồi, luật
s ư bị thay đổi hoặc không được tham gia tố
t ụng theo quy định của pháp luật”
Như vậy, theo quy định của Luật luật sư năm 2006, nếu người bào chữa là luật sư, giấy chứng nhận được cấp một lần và không cần cấp lại trừ trường hợp quy định tại khoản
4 Điều 27 Luật luật sư
Tuy nhiên, tại điểm b mục 1 phần II (về việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo) Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC số 03/2004/NQ-HĐTP ngày
02/10/2004 hướng dẫn: “Trường hợp trong
các giai đoạn tố tụng trước đó, bị can, bị
nh ờ người bào chữa và nay vẫn tiếp tục
nh ờ người đó bào chữa thì… cấp giấy
ch ứng nhận người bào chữa cho người được nhờ bào chữa đó” Mặc dù đã được
cấp giấy chứng nhận bào chữa ở các giai đoạn tố tụng trước đó nhưng khi toà án thụ
Trang 6lí hồ sơ vụ án toà án lại xét để cấp giấy
chứng nhận khác
Trên thực tế ở mỗi giai đoạn điều tra,
truy tố, xét xử để gặp được bị can, bị cáo
luật sư phải được từng cơ quan điều tra, viện
kiểm sát, toà án cấp giấy chứng nhận riêng
mới thực hiện được các quyền quy định cho
người bào chữa.(6) Cấp giấy chứng nhận
nhiều lần với một người bào chữa trong một
vụ án hình sự làm mất nhiều thời gian, là thủ
tục không cần thiết, mâu thuẫn giữa Luật
luật sư và Nghị quyết của Hội đồng thẩm
phán TANDTC số 03/2004/NQ-HĐTP ngày
02/10/2004 cần phải tháo gỡ Bên cạnh đó,
cũng cần phải có quy định cụ thể vì nếu
người bào chữa là người đại diện hợp pháp
của bị can, bị cáo chưa thành niên việc cấp
giấy chứng nhận nhiều lần sẽ còn gây nhiều
phiền hà hơn nữa cho họ
Liên quan đến thời điểm xác định tư
cách người bào chữa cần chỉnh sửa nội dung
quy định tại khoản 4 Điều 56 trong BLTTHS
Khoản 4 Điều 56 quy định: “Trong thời hạn
3 ngày, k ể từ ngày nhận được đề nghị của
ng ười bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan
đến việc bào chữa, cơ quan điều tra, viện
ki ểm sát, toà án phải xem xét, cấp giấy
ch ứng nhận bào chữa để họ thực hiện việc
chữa” trong quy định trên thành cụm từ
“những người quy định tại khoản 1 của Điều
này” mới chính xác vì thời điểm xin cấp giấy
chứng nhận họ chưa phải là người bào chữa
3. Theo quy định tại Điều 57 BLTTHS,
trong trường hợp bị can, bị cáo là người
chưa thành niên, người có nhược điểm về
tâm thần hoặc thể chất, nếu bị can, bị cáo hoặc
đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho bị can, bị cáo Khoản 2 Điều 305 BLTTHS cũng quy
định: “Trong trường hợp bị can, bị cáo là
ng ười chưa thành niên hoặc người đại diện
h ợp pháp của họ không lựa chọn được
ng ười bào chữa thì cơ quan điều tra, viện
ki ểm sát, toà án phải yêu cầu đoàn luật sư
ch ữa cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận
T ổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của
M ặt trận cử người bào chữa cho thành viên
c ủa tổ chức mình”
Căn cứ vào các quy định trên, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định người bào chữa đối với bị can, bị cáo chưa thành niên khi một trong các chủ thể: bị can, bị cáo chưa thành niên hoặc người đại diện hợp pháp không mời người bào chữa
Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC số
03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 “trường
h ợp bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp
c ủa họ không mời người bào chữa và theo
ng ười bào chữa cho họ…” thì cũng có thể
hiểu cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định người bào chữa khi cả bị can, bị cáo chưa thành niên và người đại diện hợp pháp không mời người bào chữa hay nói cách khác cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định người bào chữa khi bị can, bị cáo chưa thành
Trang 7niên không có người bào chữa
Như vậy có thể nhận thấy sự thiếu thống
nhất giữa quy định của BLTTHS và văn bản
hướng dẫn của TANDTC trong việc thực thi
quy định về chỉ định người bào chữa
Về việc chỉ định người bào chữa cho bị
can, bị cáo chưa thành niên cần phân biệt hai
trường hợp Trường hợp thứ nhất, bị can, bị
cáo có thể “mời” chính người đại diện hợp
pháp của mình là người bào chữa, khi đó bị
can, bị cáo không còn rơi vào trường hợp cơ
quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người
bào chữa Trường hợp thứ hai, người đại
diện hợp pháp của bị can, bị cáo quyết định
tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa
(tức lựa chọn chính mình) nhưng bị can, bị
cáo chưa thành niên muốn cơ quan tiến hành
tố tụng chỉ định người bào chữa thì cơ quan
tiến hành tố tụng cũng không thể thực hiện
việc chỉ định người bào chữa vì trường hợp
này được xác định là bị can, bị cáo chưa
thành niên đã có người bào chữa Cơ quan
tiến hành tố tụng không phải thực hiện thủ
tục chỉ định người bào chữa theo quy định
tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS
Theo Nghị quyết của Hội đồng thẩm
phán TANDTC số 03/2004/NQ-HĐTP ngày
02/10/2004, bị can, bị cáo chưa thành niên
và người đại diện hợp pháp của họ cùng có
quyền lựa chọn người bào chữa Vì vậy, nếu
một chủ thể đã lựa người bào chữa, chủ thể
khác lại có yêu cầu bào chữa chỉ định thì
theo quan điểm của tác giả, để bảo đảm
quyền lợi cho bị can, bị cáo chưa thành niên
nếu bị can, bị cáo có yêu cầu, cơ quan tiến
hành tố tụng sẽ chỉ định người bào chữa cho
họ Bị can, bị cáo sẽ có nhiều người cùng tham gia bào chữa Cách giải quyết này không trái với quy định của pháp luật, tránh được tình trạng các cơ quan tiến hành tố tụng lợi dụng quy định của pháp luật cấp giấy chứng nhận bào chữa cho người đại diện hợp pháp và né tránh luật sư đồng thời cũng bảo đảm quyền của bị can, bị cáo có thể có nhiều người bào chữa cho mình./
(1) Về vấn đề xác định ai là người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo chưa thành niên có thể tham khảo
Đỗ Thị Phượng, “Kiến nghị bổ sung quy định về tư cách tố tụng của người đại diện hợp pháp và người bị
kết án vào BLTTHS năm 2003”, Tạp chí luật học, số
7/2008 Tuy nhiên trong bài viết này, tác giả chỉ thuần tuý đề cập việc bổ sung tư cách tố tụng của chủ thể này, chưa đề cập việc không thừa nhận tư cách đại diện hợp pháp để đảm bảo quyền bào chữa cho bị can,
bị cáo chưa thành niên
(2) Viện khoa học kiểm sát VKSNDTC, Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga (dịch từ nguyên bản tiếng Nga), Hà Nội, 2002
(3).Xem: Phạm Minh Tuyên “Một số vần đề về bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo trong luật tố tụng hình sự năm 2003”, Tạp chí
Toà án nhân dân, số 21/2007
(4) Tác giả đề cập cụ thể trong phần (3) của bài viết
(5).Xem: Đỗ Thị Phượng, Thủ tục tố tụng đối với vụ
án mà b ị can, bị cáo là người chưa thành niên, Luận
án tiến sĩ luật học, Hà Nội, 2009
(6) Thực tế hiện nay các luật sư phải xin cấp lại giấy chứng nhận bào chữa khi vụ án chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, làm mất nhiều thời gian Xem: http://vietnamese-law-consultancy.com browse.ph? (Luật sư tham gia tố tụng từ giai đoạn điều tra, chuyện
cũ như mới, tháng 10/2006); http://phapluatvietnam com/tintuc/view.asp? Trần Công Ly Tao, Sự phối hợp
về trợ giúp pháp lí trong hoạt động tố tụng, tháng 3/2009