1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Hoàn thiện quy định của pháp luật nhằm bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo chưa thành niên " doc

7 487 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 164,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nội dung cần sửa đổi, bổ sung hoặc giải thích luật bao gồm: - Bổ sung quy định về việc xác định ai là người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo chưa thành niên,1 những trường hợp

Trang 1

ThS NguyÔn H¶i Ninh *

ảo đảm quyền bào chữa là nguyên tắc

quan trọng trong quá trình giải quyết

vụ án hình sự Đối với những vụ án mà bị

can, bị cáo chưa thành niên, pháp luật có

những quy định riêng về bào chữa để quyền,

lợi ích hợp pháp của các chủ thể này được

bảo vệ tốt nhất Tuy nhiên, quy định trong

Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS), Luật luật

sư và một số văn bản hướng dẫn hiện nay

còn có những điểm chưa rõ ràng, thiếu thống

nhất gây khó khăn trong quá trình áp dụng

làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp

của bị can, bị cáo chưa thành niên Những

vấn đề này cần được sửa đổi, bổ sung hoặc

có giải thích chính thức nhằm tạo thuận lợi

cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá

trình giải quyết vụ án đồng thời là điều kiện

để quyền bào chữa của bị can, bị cáo chưa

thành niên được bảo đảm trên thực tế

Những nội dung cần sửa đổi, bổ sung

hoặc giải thích luật bao gồm:

- Bổ sung quy định về việc xác định ai là

người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo

chưa thành niên,(1) những trường hợp không

được công nhận là người đại diện hợp pháp

để đảm bảo khi người đại diện hợp pháp “lựa

chọn” chính mình là người bào chữa sẽ

không gây thiệt hại cho bị can, bị cáo chưa

thành niên

- Việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa (bao gồm cả giấy chứng nhận bào chữa cho người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo chưa thành niên) thực hiện một lần và giấy chứng nhận có giá trị trong các giai đoạn tố tụng trừ trường hợp bị thay đổi hoặc không được tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật

- Nếu người đại diện hợp pháp tự mình bào chữa cho bị can, bị cáo nhưng bị can, bị cáo vẫn có yêu cầu bào chữa chỉ định thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ chỉ định người bào chữa cho họ

Các đề xuất trên được đưa ra dựa trên những phân tích cụ thể trong các phần sau

1 Khoản 1 Điều 57 BLTTHS quy định:

“Ng ười bào chữa do người bị tạm giữ, bị

can, b ị cáo hoặc đại diện hợp pháp của họ

l ựa chọn”

Như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều

57 BLTTHS, quyền lựa chọn người bào chữa thuộc về một trong các chủ thể: người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên hoặc đại diện hợp pháp của họ

Theo khoản 1 Điều 305 BLTTHS: “Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị

B

* Giảng viên Khoa luật hình sự Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

can, b ị cáo là người chưa thành niên có thể

l ựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào

ch ữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”

và hướng dẫn tại Nghị quyết của Hội đồng

thẩm phán Toà án nhân dân tối cao (TANDTC)

số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004:

“ Đối với bị can, bị cáo là người chưa thành

th ể chất thì họ và người đại diện hợp pháp

c ủa họ đều có quyền được lựa chọn người

bào ch ữa”

Như vậy, theo Điều 305 BLTTHS và

hướng dẫn trên, quyền lựa chọn người bào

chữa cho bị can, bị cáo chưa thành niên được

quy định đồng thời cho các chủ thể là bị can,

bị cáo chưa thành niên và người đại diện hợp

pháp của họ Quyền này của các chủ thể là

quyền độc lập Khi lựa chọn người bào chữa,

nếu giữa các chủ thể có mâu thuẫn thì cách

thức giải quyết như sau:

- Trường hợp người đại diện hợp pháp

lựa chọn người bào chữa nhưng bị can, bị

cáo không đồng ý và muốn lựa chọn người

khác bào chữa cho mình thì hai chủ thể có

thể trao đổi và thống nhất lựa chọn người

bào chữa Nếu giữa các chủ thể không thống

nhất được với nhau và mỗi người vẫn muốn

mời người mà mình lựa chọn tham gia tố

tụng với tư cách người bào chữa thì bị can,

bị cáo chưa thành niên sẽ có nhiều người bào

chữa Cơ quan tiến hành tố tụng phải cấp

giấy chứng nhận bào chữa cho các chủ thể

được mời nếu họ không rơi vào trường hợp

quy định tại khoản 2 Điều 56 BLTTHS vì

“nhi ều người bào chữa có thể bào chữa cho

m ột người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” (khoản

3 Điều 56)

- Trường hợp người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo “lựa chọn” chính mình là người bào chữa cho bị can, bị cáo trong khi

bị can, bị cáo lại không muốn người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa cho mình (có thể do không yên tâm về trình độ pháp luật của người đại diện hợp pháp, có thể do người đại diện hợp pháp có những quyền lợi đi ngược lại với chính lợi ích của bị can, bị cáo) thì cơ quan tiến hành tố tụng có cấp giấy chứng nhận bào chữa cho người đại diện hợp pháp của

bị can, bị cáo hay không?

Mặc dù không có quy định cụ thể trong BLTTHS nhưng căn cứ vào các quy định hiện hành của pháp luật, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải cấp giấy chứng nhận bào chữa cho người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo chưa thành niên (vì quyền tự mình bào chữa cho bị can, bị cáo chưa thành niên là quyền độc lập của họ không phụ thuộc vào ý chí của bị can, bị cáo chưa thành niên) Cách thức giải quyết trong tình huống nêu trên là đúng quy định của pháp luật nhưng trong một số trường hợp có thể không bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của

bị can, bị cáo chưa thành niên Đó chính là trường hợp bị can, bị cáo chưa thành niên không đồng ý người đại diện hợp pháp bào chữa cho mình với lí do quyền lợi của họ sẽ không được bảo đảm vì mâu thuẫn về lợi ích Xuất phát từ thực tế có thể người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo tham gia tố

Trang 3

tụng không vì lợi ích của bị can, bị cáo (do

họ là người đại diện theo pháp luật) mà chỉ

chính bị can, bị cáo mới biết được nên ngoài

trường hợp bị can, bị cáo từ chối người đại

diện hợp pháp tham gia tố tụng với tư cách

người bào chữa còn có thể xảy ra trường hợp

bị can, bị cáo không muốn họ là người đại

diện hợp pháp của mình

Liên quan đến vấn đề này, trong Công

văn của TANDTC số 117/2004/KHXX ngày

22/7/2004 lưu ý: “Cần nghiên cứu nắm chắc

đúng trường hợp nào thì được công nhận là

ng ười đại diện hợp pháp của bị cáo và được

tham gia t ố tụng với tư cách là người bào

ch ữa cho bị cáo” Như vậy, Công văn mới

chỉ lưu ý để xác định “đúng” người đại diện

hợp pháp của bị cáo còn chưa có giải thích,

hướng dẫn cụ thể để đảm bảo khi tham gia

tố tụng người đại diện hợp pháp sẽ vì lợi ích

của người mà mình đại diện Về vấn đề này

có thể tham khảo pháp luật tố tụng hình sự

nước ngoài

Khoản 1 Điều 49 BLTTHS Cộng hoà

Liên bang Nga(2) quy định: “Luật sư được

ch ữa Theo quyết định của toà án, bên cạnh

lu ật sư thì một trong số những người họ

theo yêu c ầu của bị can có thể được chấp

nh ận là người bào chữa”; Điều 426 quy

định: “1 Những người đại diện hợp pháp

c ủa người bị tình nghi, bị can là người chưa

thành niên được tham gia vụ án trên cơ sở

quy ết định của kiểm sát viên, dự thẩm viên,

l ời khai người bị tình nghi lần đầu tiên với

t ư cách người bị tình nghi hoặc bị can… 4

Ng ười đại diện hợp pháp có thể bị từ chối

ng ười bị tình nghi, bị can là người chưa

thành niên”; khoản 2 Điều 428 quy định:

“Theo quy ết định của toà án, người đại

di ện hợp pháp có thể bị từ chối tham gia

ng ười bị tình nghi, bị can là người chưa

thành niên” Việc xác định người không được công nhận là người đại diện hợp pháp được quy định trực tiếp trong BLTTHS tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan tiến hành tố tụng khi

áp dụng pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo chưa thành niên trong vụ án hình sự

Cũng có ý kiến cho rằng “không nên quy định người bào chữa là người đại diện hợp

pháp c ủa người bị tạm giữ, bị can, bị cáo…”(3)

vì cho rằng những người này không hiểu phải vận dụng những quy định nào của pháp luật để thực hiện quyền bào chữa đồng thời các cơ quan tiến hành tố tụng cũng lợi dụng quy định này để cấp giấy chứng nhận tuỳ tiện cho người đại diện hợp pháp và là cái cớ

để cơ quan tiến hành tố tụng né tránh luật sư Tác giả không đồng ý với ý kiến trên bởi những lí do sau: Trong trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng tuỳ tiện cấp giấy chứng

Trang 4

nhận bào chữa cho người đại diện hợp pháp

với mục đích né tránh luật sư thì cần phải

nâng cao ý thức trách nhiệm của người tiến

hành tố tụng bằng việc giáo dục ý thức trách

nhiệm, bằng các biện pháp chế tài và thậm

chí cần phải sửa đổi, bổ sung thêm một số

quy định pháp luật.(4) Còn lí do không nên

quy định người đại diện hợp pháp là người

bào chữa do họ không có kiến thức cần thiết

về pháp luật không có sức thuyết phục

Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể mời

người khác là luật sư bào chữa cho mình

cùng với người đại diện hợp pháp Trong

nhiều trường hợp, họ muốn người đại diện

hợp pháp bào chữa cho mình vì đó có thể là

người hiểu họ nhất, sự tham gia của người

đại diện hợp pháp tạo tâm lí tốt cho họ

trong quá trình tố tụng Mặt khác, tư cách

đại diện của người đại diện hợp pháp sẽ

chấm dứt khi người mà họ đại diện thành

niên, khi đó họ vẫn tham gia tố tụng cùng

người họ bảo vệ quyền lợi hợp pháp với tư

cách là người bào chữa Vì vậy để bảo vệ

được người chưa thành niên, giúp cơ quan

tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình sự

đúng đắn vẫn nên quy định người bào chữa

có thể là người đại diện hợp pháp của người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Như vậy, để bảo đảm người đại diện hợp

pháp tham gia tố tụng với tư cách người bào

chữa, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp

của bị can, bị cáo chưa thành niên cần bổ

sung quy định về việc xác định ai là người

đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo chưa

thành niên Trong đó cần quy định rõ những

trường hợp không được công nhận là người đại diện hợp pháp để trường hợp người đại diện hợp pháp “lựa chọn” chính mình là người bào chữa sẽ không gây thiệt hại cho bị can, bị cáo chưa thành niên

Bổ sung quy định về tư cách tố tụng của người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên tại Chương IV BLTTHS(5) đồng thời bổ sung quy định về trường hợp không được tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp, cụ thể như sau:

“Điều…

1 Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có thể là…

2 Người đại diện hợp pháp của của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất tham gia tố tụng theo quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng

3 Người đại diện hợp pháp có thể bị từ chối tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách này khi có căn cứ cho rằng việc họ tham gia tố tụng sẽ gây thiệt hại cho lợi ích của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất

4 Quyền của người đại diện hợp pháp…”

2 Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên có thể yêu cầu người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp quyết định tự mình tham gia bào

Trang 5

chữa Cơ quan tiến hành tố tụng có trách

nhiệm cấp giấy chứng nhận bào chữa cho họ

để họ thực hiện quyền bào chữa của mình

Nếu được cấp giấy chứng nhận, họ sẽ tham

gia tố tụng với hai tư cách: người đại diện

hợp pháp và người bào chữa

Hiện nay, các luật sư được mời tham

gia bào chữa gặp nhiều khó khăn khi xin

cấp giấy chứng nhận Vì vậy có ý kiến cho

rằng nên bỏ quy định về việc phải có giấy

chứng nhận bào chữa Về ý kiến này, quan

điểm của tác giả như sau: Nếu luật quy

định chỉ có luật sư tham gia tố tụng với tư

cách người bào chữa thì việc bỏ thủ tục cấp

giấy chứng nhận bào chữa là cần thiết nhằm

tạo thuận lợi cho các luật sư khi tham gia

tố tụng Tuy nhiên, ngoài luật sư còn có

người đại diện hợp pháp, bào chữa viên

nhân dân cũng được luật quy định có thể

tham gia tố tụng với tư cách người bào

chữa, nếu không có giấy chứng nhận bào

chữa, việc tham gia tố tụng của các chủ thể

này sẽ gặp rất nhiều khó khăn (khi muốn

gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam nếu

không có giấy chứng nhận bào chữa thì

phải có giấy tờ nào để họ có thể thực hiện

được quyền này đồng thời không làm ảnh

hưởng đến quá trình giải quyết vụ án) Vì

vậy, việc cấp giấy chứng nhận bào chữa là

bắt buộc trong mọi trường hợp

Người đại diện hợp pháp đã được cấp

giấy chứng nhận bào chữa cho bị can, bị cáo

chưa thành niên có phải xin cấp lại giấy

chứng nhận bào chữa khi vụ án chuyển sang

giai đoạn tố tụng khác hay không? Vấn đề

này không chỉ được đặt ra đối với người bào chữa là người đại diện hợp pháp của bị can,

bị cáo chưa thành niên mà còn được đặt ra trong cả trường hợp người bào chữa là luật

sư, bào chữa viên nhân dân

Khoản 2 Điều 27 Luật luật sư năm 2006

quy định: “Luật sư được cơ quan tiến hành

t ố tụng cấp giấy chứng nhận người bào

ch ữa, giấy chứng nhận người bảo vệ quyền

l ợi của đương sự trong vụ án hình sự… (sau đây gọi chung là giấy chứng nhận tham gia

t ố tụng của luật sư)” Tại khoản 4 Điều 27 quy định: “Giấy chứng nhận tham gia tố

t ụng của luật sư có giá trị trong các giai đoạn tố tụng, trừ trường hợp bị thu hồi, luật

s ư bị thay đổi hoặc không được tham gia tố

t ụng theo quy định của pháp luật”

Như vậy, theo quy định của Luật luật sư năm 2006, nếu người bào chữa là luật sư, giấy chứng nhận được cấp một lần và không cần cấp lại trừ trường hợp quy định tại khoản

4 Điều 27 Luật luật sư

Tuy nhiên, tại điểm b mục 1 phần II (về việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo) Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC số 03/2004/NQ-HĐTP ngày

02/10/2004 hướng dẫn: “Trường hợp trong

các giai đoạn tố tụng trước đó, bị can, bị

nh ờ người bào chữa và nay vẫn tiếp tục

nh ờ người đó bào chữa thì… cấp giấy

ch ứng nhận người bào chữa cho người được nhờ bào chữa đó” Mặc dù đã được

cấp giấy chứng nhận bào chữa ở các giai đoạn tố tụng trước đó nhưng khi toà án thụ

Trang 6

lí hồ sơ vụ án toà án lại xét để cấp giấy

chứng nhận khác

Trên thực tế ở mỗi giai đoạn điều tra,

truy tố, xét xử để gặp được bị can, bị cáo

luật sư phải được từng cơ quan điều tra, viện

kiểm sát, toà án cấp giấy chứng nhận riêng

mới thực hiện được các quyền quy định cho

người bào chữa.(6) Cấp giấy chứng nhận

nhiều lần với một người bào chữa trong một

vụ án hình sự làm mất nhiều thời gian, là thủ

tục không cần thiết, mâu thuẫn giữa Luật

luật sư và Nghị quyết của Hội đồng thẩm

phán TANDTC số 03/2004/NQ-HĐTP ngày

02/10/2004 cần phải tháo gỡ Bên cạnh đó,

cũng cần phải có quy định cụ thể vì nếu

người bào chữa là người đại diện hợp pháp

của bị can, bị cáo chưa thành niên việc cấp

giấy chứng nhận nhiều lần sẽ còn gây nhiều

phiền hà hơn nữa cho họ

Liên quan đến thời điểm xác định tư

cách người bào chữa cần chỉnh sửa nội dung

quy định tại khoản 4 Điều 56 trong BLTTHS

Khoản 4 Điều 56 quy định: “Trong thời hạn

3 ngày, k ể từ ngày nhận được đề nghị của

ng ười bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan

đến việc bào chữa, cơ quan điều tra, viện

ki ểm sát, toà án phải xem xét, cấp giấy

ch ứng nhận bào chữa để họ thực hiện việc

chữa” trong quy định trên thành cụm từ

“những người quy định tại khoản 1 của Điều

này” mới chính xác vì thời điểm xin cấp giấy

chứng nhận họ chưa phải là người bào chữa

3. Theo quy định tại Điều 57 BLTTHS,

trong trường hợp bị can, bị cáo là người

chưa thành niên, người có nhược điểm về

tâm thần hoặc thể chất, nếu bị can, bị cáo hoặc

đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho bị can, bị cáo Khoản 2 Điều 305 BLTTHS cũng quy

định: “Trong trường hợp bị can, bị cáo là

ng ười chưa thành niên hoặc người đại diện

h ợp pháp của họ không lựa chọn được

ng ười bào chữa thì cơ quan điều tra, viện

ki ểm sát, toà án phải yêu cầu đoàn luật sư

ch ữa cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận

T ổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của

M ặt trận cử người bào chữa cho thành viên

c ủa tổ chức mình”

Căn cứ vào các quy định trên, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định người bào chữa đối với bị can, bị cáo chưa thành niên khi một trong các chủ thể: bị can, bị cáo chưa thành niên hoặc người đại diện hợp pháp không mời người bào chữa

Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC số

03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 “trường

h ợp bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp

c ủa họ không mời người bào chữa và theo

ng ười bào chữa cho họ…” thì cũng có thể

hiểu cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định người bào chữa khi cả bị can, bị cáo chưa thành niên và người đại diện hợp pháp không mời người bào chữa hay nói cách khác cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định người bào chữa khi bị can, bị cáo chưa thành

Trang 7

niên không có người bào chữa

Như vậy có thể nhận thấy sự thiếu thống

nhất giữa quy định của BLTTHS và văn bản

hướng dẫn của TANDTC trong việc thực thi

quy định về chỉ định người bào chữa

Về việc chỉ định người bào chữa cho bị

can, bị cáo chưa thành niên cần phân biệt hai

trường hợp Trường hợp thứ nhất, bị can, bị

cáo có thể “mời” chính người đại diện hợp

pháp của mình là người bào chữa, khi đó bị

can, bị cáo không còn rơi vào trường hợp cơ

quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người

bào chữa Trường hợp thứ hai, người đại

diện hợp pháp của bị can, bị cáo quyết định

tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa

(tức lựa chọn chính mình) nhưng bị can, bị

cáo chưa thành niên muốn cơ quan tiến hành

tố tụng chỉ định người bào chữa thì cơ quan

tiến hành tố tụng cũng không thể thực hiện

việc chỉ định người bào chữa vì trường hợp

này được xác định là bị can, bị cáo chưa

thành niên đã có người bào chữa Cơ quan

tiến hành tố tụng không phải thực hiện thủ

tục chỉ định người bào chữa theo quy định

tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS

Theo Nghị quyết của Hội đồng thẩm

phán TANDTC số 03/2004/NQ-HĐTP ngày

02/10/2004, bị can, bị cáo chưa thành niên

và người đại diện hợp pháp của họ cùng có

quyền lựa chọn người bào chữa Vì vậy, nếu

một chủ thể đã lựa người bào chữa, chủ thể

khác lại có yêu cầu bào chữa chỉ định thì

theo quan điểm của tác giả, để bảo đảm

quyền lợi cho bị can, bị cáo chưa thành niên

nếu bị can, bị cáo có yêu cầu, cơ quan tiến

hành tố tụng sẽ chỉ định người bào chữa cho

họ Bị can, bị cáo sẽ có nhiều người cùng tham gia bào chữa Cách giải quyết này không trái với quy định của pháp luật, tránh được tình trạng các cơ quan tiến hành tố tụng lợi dụng quy định của pháp luật cấp giấy chứng nhận bào chữa cho người đại diện hợp pháp và né tránh luật sư đồng thời cũng bảo đảm quyền của bị can, bị cáo có thể có nhiều người bào chữa cho mình./

(1) Về vấn đề xác định ai là người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo chưa thành niên có thể tham khảo

Đỗ Thị Phượng, “Kiến nghị bổ sung quy định về tư cách tố tụng của người đại diện hợp pháp và người bị

kết án vào BLTTHS năm 2003”, Tạp chí luật học, số

7/2008 Tuy nhiên trong bài viết này, tác giả chỉ thuần tuý đề cập việc bổ sung tư cách tố tụng của chủ thể này, chưa đề cập việc không thừa nhận tư cách đại diện hợp pháp để đảm bảo quyền bào chữa cho bị can,

bị cáo chưa thành niên

(2) Viện khoa học kiểm sát VKSNDTC, Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga (dịch từ nguyên bản tiếng Nga), Hà Nội, 2002

(3).Xem: Phạm Minh Tuyên “Một số vần đề về bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị

cáo trong luật tố tụng hình sự năm 2003”, Tạp chí

Toà án nhân dân, số 21/2007

(4) Tác giả đề cập cụ thể trong phần (3) của bài viết

(5).Xem: Đỗ Thị Phượng, Thủ tục tố tụng đối với vụ

án mà b ị can, bị cáo là người chưa thành niên, Luận

án tiến sĩ luật học, Hà Nội, 2009

(6) Thực tế hiện nay các luật sư phải xin cấp lại giấy chứng nhận bào chữa khi vụ án chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác, làm mất nhiều thời gian Xem: http://vietnamese-law-consultancy.com browse.ph? (Luật sư tham gia tố tụng từ giai đoạn điều tra, chuyện

cũ như mới, tháng 10/2006); http://phapluatvietnam com/tintuc/view.asp? Trần Công Ly Tao, Sự phối hợp

về trợ giúp pháp lí trong hoạt động tố tụng, tháng 3/2009

Ngày đăng: 24/03/2014, 10:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w