Như chúng ta đã biết, trong thế giới tự nhiên các loài động thực vật và vi sinh vật chung sống với nhau trong mối quan hệ cân bằng động, xâu chuỗi và gắn kết với nhau trong sự tồn tại chung. Những tác động tiêu cực hay tích cực vào một thành phần hay yếu tố nào đó có thể sẽ gây ra những ảnh hưởng tới cả hệ sinh thái, thậm chí cân bằng sinh thái bị phá vỡ. Con người với những tác động vào rừng như chặt phá rừng bừa bãi; dùng thuốc trừ sâu… không những gây ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường mà còn ảnh hưởng lớn đến khả năng xuất hiện và phát dịch của sâu bệnh hại. Chính vì vậy, việc xây dựng hướng dẫn quản lý sâu bệnh hại rừng có một vai trò quan trọng, nó giúp các nhà hoạch định chính sách, người quản lý nắm bắt tình hình sâu bệnh hại để đề ra kế hoạch, chương trình trong công tác trồng rừng và quản lý sâu bệnh hiệu quả; người sản xuất bố trí cây trồng và có các biện pháp phòng trừ tổng hợp mang lại lợi ích từ rừng. Từ đó tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng về sâu bệnh hại của keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) trên vùng đất cát ven biển Thừa Thiên Huế”.
Trang 1Như chúng ta đã biết, trong thế giới tự nhiên các loài động thực vật và visinh vật chung sống với nhau trong mối quan hệ cân bằng động, xâu chuỗi vàgắn kết với nhau trong sự tồn tại chung Những tác động tiêu cực hay tích cựcvào một thành phần hay yếu tố nào đó có thể sẽ gây ra những ảnh hưởng tới cả
hệ sinh thái, thậm chí cân bằng sinh thái bị phá vỡ Con người với những tácđộng vào rừng như chặt phá rừng bừa bãi; dùng thuốc trừ sâu… không nhữnggây ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường mà còn ảnh hưởng lớn đến khả năngxuất hiện và phát dịch của sâu bệnh hại
Trong các hệ sinh thái, hệ sinh thái rừng tự nhiên có tính ổn định cao,không có sinh vật gây hại nghiêm trọng và nó có thể tự điều chỉnh để cân bằng.Tuy nhiên, cũng có nơi xuất hiện sâu bệnh hại rừng tự nhiên thuần loài và cũng
có trường hợp phải can thiệp để giảm thiểu ảnh hưởng của sâu bệnh hại Mặc dùvậy, việc diệt trừ sâu bệnh hại rừng ở đây là ít có ý nghĩa Đối với hệ sinh tháirừng trồng tính bền vững và ổn định kém, vì vậy rất dễ bị tổn thương khi bị cáctác động bất lợi, do đó việc phòng trừ sâu bệnh hại rừng là cần thiết và có ýnghĩa rất quan trọng đối với sự sinh trưởng cũng như tồn tại của cây rừng Hàngnăm, dịch sâu bệnh hại rừng trồng đã gây nên những tổn thất lớn không nhữnglàm giảm chất lượng rừng, làm chết cây ước tính thiệt hại nhiều tỷ đồng mà cònlàm suy thoái môi trường Theo Nghị quyết của Quốc hội khoá X kỳ họp thứ haingày 5/12/1997, vấn đề sâu bệnh hại rừng là vấn đề sinh học Rừng càng đượctrồng trên quy mô lớn là những điềukiện thuận lợi về thức ăn cho sâu bệnh phátsinh và phát triển, tần suất dịch sẽ cao,hậu quả khó có thể lường trước được
Trang 2Chính vì vậy, việc xây dựng hướng dẫn quản lý sâu bệnh hại rừng có mộtvai trò quan trọng, nó giúp các nhà hoạch định chính sách, người quản lý nắmbắt tình hình sâu bệnh hại để đề ra kế hoạch, chương trình trong công tác trồngrừng và quản lý sâu bệnh hiệu quả; người sản xuất bố trí cây trồng và có cácbiện pháp phòng trừ tổng hợp mang lại lợi ích từ rừng
Từ đó tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng về sâu bệnh hại của keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa) trên vùng đất cát ven biển Thừa Thiên Huế”.
Trang 3PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Điểm qua một số công trình tiêu biểu trong và ngoài nước có liên quantới nội dung đề tài làm cơ sở định hướng cho việc lựa chọn phương phápnghiên cứu
2.1 Trên thế giới.
- Việc chọn lọc dòng có khả năng chịu nóng, chịu hạn và sinh trưởng vượttrội hơn cây đại trà là lựa chọn chỉ tiêu đánh giá phù hợp khi chọn lọc dòng câytrồng vùng đất cát ven biển Khả năng chịu hạn, nóng ở cây trồng là tính trạngđược kiểm soát bởi nhiều gen
- Nghiên cứu và xác định gen điều khiển trong việc chọn tạo giống câytrồng có khả năng kháng hạn, nóng đã và đang là tâm điểm của hàng loạt cácphòng thí nghiệm trên toàn thế giới
Theo (Pederson et al, 1993), Khảo nghiệm xuất xứ có thể được tiến hànhngay sau giai đoạn loại trừ loài nghĩa là giai đoạn loại trừ loài có thể được đánhgiá sau 1/10 - 1/5 luân kỳ thì khảo nghiệm xuất xứ cũng có thể bắt đầu ngay sau
đó Khảo nghiệm nhiều xuất xứ: Đây là khảo nghiệm nhằm xác định quy mô vàkiểu biến dị giữa các xuất xứ của những loài có triển vọng, nhằm chọn ra một số
ít xuất xứ có triển vọng nhất, cũng như chỉ ra khu vực không thể lấy hạt và khuvực không thể nhập hạt để gây trồng
Quy mô của khảo nghiệm phụ thuộc vào phân bố địa lý và mức độ biến dịcủa loài Loài càng có phạm vi phân bố rộng trên nhiều điều kiện lập địa khácnhau càng có nhiều xuất xứ tham gia khảo nghiệm, ngược lại, loài có phạm viphân bố hẹp sẽ có ít xuất xứ tham gia khảo nghiệm Số xuất xứ tham gia khảonghiệm thường là 10 - 30 xuất xứ
Kích thước ô nhỏ, song đủ để theo dõi, số cây trong mỗi ô là 25 cây (5 x 5),
có thêm 1 hàng đệm
Số lần lặp là 3 - 4 lần
Thời gian theo dõi khảo nghiệm 1/4 - 1/2 luân kỳ, các chương trình cảithiện giống phải được xây dựng cho từng loài cây cụ thể trong từng điều kiệnsinh thái cụ thể và phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh cần thiết Nhưvậy có thể nói ba yếu tố chính để tạo nên năng suất rừng là giống được cải thiện,các biện pháp kỹ thuật thâm canh và điều kiện sinh thái phù hợp
Trang 4Cuối cùng cần phải nói thêm rằng bất cứ một nền sản xuất nông lâmnghiệp nào thì giống cũng phải đi trước một bước Riêng đối với cây rừng thìthời gian đi trước trồng rừng ít nhất phải 5 - 10 năm.
Theo Davidson, 1996 ảnh hường của cải thiện giống đến sinh trưởng, tăngtrưởng thể tích gỗ của các loài keo ngay từ giai đoạn vườn ươm: Năm 1 ở vườnươm tỷ lệ tham gia của việc cải thiên giống chiếm 15%; năm 2 ở rừng trồng tỷ lệ20% và năm 3 tỷ lệ tham gia đến 50% Vì vậy chọn lọc giống/dòng loài keo láliềm có thể thực hiện trong vòng 3 năm đầu đã đảm bảo độ tin cậy cho phép
Theo Molotcov (1987) thì chọn giống có mục tiêu là một nét đặc trưngcủa chọn giống lâm nghiệp hiện đại trong những thập niên tới Loài keo lá liềmtrồng trên vùng đất cát ven biển muc tiêu kinh doanh chính là phòng hộ bảo vệmôi trường kết hợp mục tiêu kinh doanh gỗ,củi vì vậy chỉ tiêu cần quan tâmtrong cải thiện giống là khả năng chịu nóng, hạn và sức sinh trưởng của loài
Theo Pirags (1985) Giai đoạn chọn cây trội (tức cây giống) để xây dựngvườn giống bằng cây ghép và bằng cây hạt Kết quả của giai đoạn này thườngnâng sản lượng của rừng trồng trong đời sau lên 10 - 15% so với rừng trồng từcây hạt không được chọn lọc giai đoạn chọn giống tổng hợp (syntheticselection) Trong giai đoạn này cây trội được kiểm tra cẩn thận về mặt di truyềntheo dòng hệ Cùng với việc chọn lọc là việc áp dụng các phương pháp tổng hợpkhác như lai giống, gây đột biến và đa bội hoá để tạo vật liệu khởi đầu Sau khiđã tạo được tổ hợp lai tối ưu hoặc vật liệu khởi đầu tối ưu người ta dùng cácphương pháp nhân giống sinh dưỡng (bao gồm cả nhân giống hom và nuôi cấy
mô phân sinh) để phát triển giống vào sản xuất Theo Pirags (1985) thì kết quảcủa chọn giống tổng hợp có thể nâng năng suất rừng lên 45 - 50% so với rừngtrồng từ giống không được chọn lọc
Một trong những khảo nghiệm xuất xứ lâu năm nhất là dãy khảo nghiệm
của IUFRO về (Picea abies) tiến hành trong một loạt nước Bắc Âu bắt đầu từ
năm 1938 Các kết quả khảo nghiệm tại Donjelt ở Thuỵ Điển trong 41 năm(Stahl, 1986)1 đã cho thấy rằng tổng thể tích của xuất xứ tốt nhất đã vượt trị sốtrung bình của tất cả các xuất xứ là 46%, trong lúc giống được cải thiện chỉ vượtxuất xứ địa phương không được cải thiện 39%
Theo Willan (1988) thì việc chọn xuất xứ trong các loài có biến dị lớn cóthể cho tăng thu 15 - 30%, trong các loài có biến dị ở mức trung bình là 5 - 15%,
Trang 5Vì vậy, điều quan trọng khi bắt đầu khảo nghiệm xuất xứ là phải nghiên cứu kỹkhả năng biến dị và đặc điểm phân bố của loài Những loài có phạm vi phân bốhẹp thì rất ít có khả năng chọn được những xuất xứ có giá trị
Theo (Eldridge, 1977) Sau khi đã chọn được xuất xứ thích hợp nhất cho
mỗi vùng thì bước đi thích hợp nhất là chọn lọc cây trội và gây tạo giống mới.Việc chọn lọc cây trội chủ yếu được tiến hành trong các rừng đồng tuổi nhằmchọn ra những cá thể đáp ứng yêu cầu cao nhất về sản lượng và chất lượng theomục tiêu kinh tế Đối với nhiều loài cây thì việc chọn lọc cây trội là khâu quantrọng nhất và quyết định nhất trong quá trình cải thiện giống cây trồng Cây trội
là nền tảng của một chương trình chọn giống
Theo Dubinin (1971) Nếu trong nông nghiệp người ta ít khi sử dụng trựctiếp cây lai đời thứ nhất (F1) mà phải qua một quá trình chọn lọc để đào thảinhững cá thể mang gen lặn bất lợi hoặc dùng ưu thế lai đời F1 bằng cách lợidụng dòng bất thụ đực để lai giống, thì trong lâm nghiệp lại phải dùng trực tiếp
ưu thế lai của đời F1 thông qua nhân giống sinh dưỡng bằng hom hoặc nuôi cấy
mô phân sinh, tiến hành khảo nghiệm dòng vô tính để chọn ra những dòng câylai tốt nhất, sau đó lại dùng nhân giống hom hoặc nuôi cấy mô phân sinh để pháttriển giống vào sản xuất
Do những khó khăn trên mà hướng chọn giống trong lâm nghiệp chủ yếu
là sử dụng những biến dị hoặc những thể đột biến tự nhiên, được chọn lọc tựnhiên giữ lại, và đã thích ứng với hoàn cảnh của từng vùng Chính vì vậy màtrong những năm gần đây, việc khảo nghiệm xuất xứ, một phương pháp vậndụng dãy cùng nguồn trong biến dị di truyền, sử dụng các kết quả của sự phátsinh biến dị và chọn lọc tự nhiên trong nhiều thế hệ, kết hợp với việc chọn lọccây trội lai giống và nhân giống sinh dưỡng, đã được áp dụng rộng rãi
Cuối cùng, cần nói thêm rằng, ngày nay mặc dù công nghệ di truyền đãphát triển đến đỉnh cao, người ra đã có thể xây dựng được công nghệ ghép gen
để tạo nên những cây trồng có tính chất tổng hợp, đã nghĩ đến việc tạo ra các môhình không có trong tự nhiên như tạo giống đại mạch có khả năng tổng hợpđược đạm khí quyển và tổng hợp được trong hạt của nó các protein quý giá của
Đậu tương (A Sizonov, 1984) Xian Hanchen (1989) đã dùng tần số siêu cao để
chuyển tải thành công các thông tin di truyền cho những cơ thể khác loài Songphương pháp chọn giống cổ điển vẫn không hề giảm ý nghĩa của nó Có điềucần thấy rằng bất cứ ở đâu và khi nào thì chọn giống cây rừng cũng đều đi sau
Trang 6chọn giống cây nông nghiệp ngắn ngày Điều đó vừa do tính cấp thiết của câynông nghiệp đối với cuộc sống con người vừa do tính chất ngắn ngày của nó làmcho việc chọn giống mau đạt đến mục tiêu Thấy được điều này để một mặt biếtvận dụng các kết quả di truyền học hiện đại và chọn giống cây nông nghiệp vàochọn giống cây rừng, mặt khác trong chọn giống cây rừng phải bình tĩnh vàkhông nôn nóng mới mang lại kết quả chắc chắn Đương nhiên cải thiện giốngcây rừng phải mau chóng đáp ứng yêu cầu cấp bách của sản xuất là tăng sảnlượng và chất lượng rừng, song cải thiện giống cây rừng là một quá trình liên tụcđòi hỏi nhiều thời gian và công sức mới làm được.
2.2 Ở Việt Nam.
Sau hơn 10 năm nghiên cứu, xây dựng thành công nhiều mô hình thửnghiệm trên nhiều vùng sinh thái khác nhau của nước ta, đặc biệt là các đồi cátnội đồng và đồi cát di động ở tỉnh Thừa Thiên-Huế, các nhà khoa học ViệnKhoa học lâm nghiệp Việt Nam phối hợp với Trung tâm giống cây lâm nghiệpthuộc Sở NN-PTNT tỉnh Bình Thuận và Chi cục lâm nghiệp Thừa Thiên-Huếđưa ra khuyến cáo bà con và các địa phương vùng duyên hải miền Trung nước
ta bổ sung vào cơ cấu trồng rừng phòng hộ ven biển giống keo lưỡi liềm đượcchọn tạo thành công từ nguồn giống nhập nội của Australia
- Keo lưỡi liềm (Acacia crassicarpa A.Cunn ex benth) thuộc họ trinh nữ
(Minosaceae) Qua điều tra tập đoàn cây trồng cây trồng rừng chủ yếu trên đất
cát nội đồng vùng miền Trung đã xác định Keo lưỡi Liềm là loài cây trồng cótriển vọng nhất Đây là loài cây có khả năng thích nghi trong điều kiện khắcnghiệt của đất cát nội đồng, có khả năng sinh trưởng tốt trên cát nội đồng úngngập khi được lên líp, vừa thích hợp trong điều kiện cát bay cục bộ nhờ bộ rễđặc biệt phát triển Ngoài ra, với bộ rễ có nhiều nốt sần và bộ tán lá dày, rụng lánhiều nên có ưu thế trong việc cải tạo đất, cải tạo môi trường Gỗ lớn dùng đóng
đồ mộc, gỗ xây dựng, làm ván ghép thanh… Gỗ nhỏ dùng làm nguyên liệu giấy,dăm, ván sợi ép, trụ mỏ
Theo Đặng Thái Dương 2008, Sinh trưởng đường kính của 4 loài keo gaiđoạn 9 tháng tuổi trong mô hình là có khác nhau Giá trị trung bình về đườngkính gốc của 105 cây mỗi loài thì loài keo lưỡi Liềm là lớn nhất 3,13 cm và thấpnhất là keo lá tràm 1,46cm Qua kết quả phân tích phương sai cho thấy: + Ftính
= 6957,3> F05 = 4,75 điều này chứng tỏ sinh trường về đường kính gốc D0 củacác loài keo ở mô hình này đã có sự sai khác nhau rõ rệt với độ tin cậy 95%
Trang 7+ Kết quả tính toán tiêu chuẩn t xác định loài có sinh trưởng đường kínhtốt nhất được kết quả ttính= 5,5 > t05 = 4,3, cho thấy sinh trưởng đường kính củaloài keo lưởi liềm lớn hơn rõ rệt so với loài keo lai Dựa vào số liệu và kết quả
xử lý thống kê cho thấy sinh trưởng về đường kinh sgốc của loài keo lưỡi liềm làlớn nhất Do đó ta chọn loài keo có đường kính gốc trung bình lớn nhất là keolưỡi liềm sinh trưởng về chiều cao bình quân số cây của 3 lần lặp thì keo lai làlớn nhất (1,4 cm) và thấp nhất là keo lá tràm (0,78 cm)
Qua kết quả phân tích phương sai cho thấy: + Ftính = 723,9 > F05 = 4,75điều này chứng tỏ sinh trường về chiều cao vút ngọn của các loài keo ở mô hìnhnày đã có sự chênh lệch với độ tin cậy ≥ 95%
+ Xác định loài sinh trưởng chiều cao lớn nhất, tiến hành so sánh chiềucao giữa hai loài có giá trị bình quân lớn nhất và lớn nhì, kết quả là: ttính = 4,0 <
t05 = 4,3 cho thấy sinh trường chiều cao vút ngọn của hai loài keo lai và keo lưỡiliềm trên vùng đất cát ven biển là như nhau sinh trưởng đường kính tán của cácloài keo trên vùng đất cát ven biển là khá lớn đặc biệt là keo lưỡi liềm đạt(1,26m-1,36m) và keo lai (1,18m-1,22m) Với mật độ trồng rừng là 2m x 2m thìchỉ sau 8 tháng tuổi độ tán che của rừng loài keo lưỡi Liềm đạt 65,5%, loài keolai đạt 60%, keo tai tượng đạt 35%, keo lá tràm đạt 31% Qua kết quả phân tíchphương sai cho thấy:
+ Ftính = 1224,1 > F05 = 4,75 điều này chứng tỏ sinh trường về đường kínhtán của các loài keo ở mô hình này là có khác nhau với độ tin cậy ≥ 95%
+ Dùng tiêu chuẩn t để lựa chọn loài sinh trưởng tốt nhất về đường kính tánkết quả được ttính = 6.35 > t05 = 4,3 Do đó sinh trưởng về đường kính tán của keolưỡi liềm là tốt nhất
Qua việc phân tích kết quả về sinh trưởng chiều cao, đường kính, đuờngkính tán của 4 loài keo trồng trên vùng đất cát ven biển thấy rằng: Sinh trưởngđường kính gốc và đường kính tán của loài keo lưỡi Liềm là lớn nhất; sinhtrưởng chiều cao của keo lai và keo lưõi liềm là như nhau và lớn hơn rõ rệt loàikeo lá tràm và keo tai tượng
Tỷ lệ sống của rừng trồng là một chi tiêu rất quan trong trong việc đánhgiá sự thành công hay thất bại của công tác trồng rừng, đặc biệt là trồng rừngtrên vùng đất cát ven biển Hiện nay số loài cây lâm nghiệp tồn tại được trênvùng cát trắng ven biển còn rất ít, lý do chủ yếu do tính chất khắc nghiệt của đấtcát và khí hậu vùng cát làm cho cây trồng không thể chịu đựng nỗi Tỷ lệ sống
Trang 8của các loài keo trồng trong mô hình là khá cao: keo tai tượng đạt 75%, keo látràm là 85%, keo lai 95% và cao nhất là keo lưỡi Liềm 96% Qua nghiên cứuthấy rằng kỹ thuật làm đất, chế độ chăm sóc và trồng dặm sau thời kỳ lạnh nhấttrong năm (tháng 1-3) đã đảm bảo tỷ lệ sống của cây trồng Các loài keo có khảnăng chịu nóng và chịu hạn tốt vì vậy trong thời kỳ nóng nhất trong năm (tháng5,6,7) tỷ lệ sống của rừng keo vẫn ổn định.
Các loài keo vùng thấp là những loài có diện tích trồng rừng lớn nhất ởnước ta Có thể nói gần 40% diện tích trồng rừng ở vùng đồi thấp hiện nay làkeo vì thế nghiên cứu chọn giống cho các loài keo vùng thấp từ khâu khảonghiệm xuất xứ đến chọn lọc cây trội, lai giống và khảo nghiệm giống là có ýnghĩa rất thiết thực trong sản xuất lâm nghiệp
Đầu những năm 1980 bốn loài keo vùng thấp là keo lá tràm, keo tai tượng
(A mangium), keo lá liềm (A crassicarpa), và keo nâu (A alaucocarpa) đã
được nhập trồng thử tại Ba Vì (Hà Tây), Hóa Thượng (Thái Nguyên) và TrảngBom (Đồng Nai) Đánh giá sơ bộ năm 1991 đã thấy trong 4 loài keo được trồngthử năm 1982 tại Ba Vì và năm 1984 tại Hóa Thượng thì ba loài keo có sinhtrưởng nhanh là keo tai tượng, keo lá liềm (Lê Đình Khả, Nguyễn Hoàng Nghĩa,1991) tại Đông Hà đã trồng các lô hạt của CSIRO (Australia) gồm 13 xuất xứ
keo lá tràm (A auriculiformis), 9 xuất xứ Keo lá liềm (A crassicarpa) Đây là
những nguồn vật liệu rất có ý nghĩa và thuận lợi cho những nghiên cứu tiếp
theo Keo lá liềm (A crasscicarpa) có nguồn gốc từ Australia, Papua New
Guinea và Indonesia, có phân bố ở vĩ độ 8 - 20o Nam, độ cao 5 - 200 m trên mặtbiển, lượng mưa 1000 -3500 mm/năm, gỗ có tỷ trọng 0,6 - 0,7 thích hợp cho xâydựng, làm đồ mộc (Doran, Turnbull, et.al, 1997) Keo lá liềm là loài cây mớiđược đưa vào trồng ở nước ta vào đầu những năm 1980, là loài có sinh trưởngnhanh nhất trong các loài keo ở vùng thấp, có thể gây trồng trên đất cát nội đồng
có lên líp ở tỉnh ThừaThiên-Huế, đồng thời có thể sinh trưởng trên các lập địađất đồi núi ở nhiều vùng trong cả nước Vì vậy nghiên cứu chọn tạo giống keo láliềm trồng trên vùng đất cát là có cơ sở khoa học và thực tiển cao
Theo Nguyễn Thị Liệu 2008 Keo lưỡi liềm là loài có triển vọng nhất trênđất cát nội đồng vùng Bắc Trung Bộ Đây là loài cây có khả năng thích nghi tốttrên điều kiện khắc nghiệt của đất cát nội đồng Chúng có khả năng sinh trưởngtốt trên cát nội đồng úng ngập khi được lên líp, vừa thích hợp trong điều kiện cátbay cục bộ vì nó có bộ rễ đặc biệt phát triển Ngoài ra với bộ rễ phát triển, có
Trang 9nhiều nốt sần và bộ tán lá dày, rụng lá nhiều nó có ưu thế trong việc cải tạo đất,cải tạo môi trường
Diễn biến một số tính chất đất trước và sau khi trồng rừng
- Mẫu đất được phân tích tại Viện Thổ nhưỡng Nông hoá
+ Kết quả
Đất từ trạng thái chua: pH = 5,56 đã được cải tạo trở nên ít chua pH =6,43, đây là một khả năng cải tạo đất vô cùng quan trọng, làm cho đất ngày càngđược cải thiện Có thể thấy rằng pH tăng trong trường hợp này có thể do khảnăng cải tạo đất của cây, cũng có thể do sau khi lên líp và trồng rừng, tạo đượcvành đai chắn gió, chống cát bay, khắc phục được hiện tượng úng ngập thườngxuyên, do đó dần dần làm tăng độ pH của đất
Hàm lượng cacbon hữu cơ, N2, P2O5 và K2O đều tăng, như vậy keo lưỡiliềm đã làm tăng hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất, đáp ứng được nhucầu cải tạo môi trường đất cát nội đồng Các chất dinh dưỡng khoáng trong đấttăng là do rễ keo lưỡi liềm có rất nhiều nốt sần có khả năng cố định Nitơ tự do
từ khí trời, ngoài ra cây có hệ tán lá phát triển rất mạnh, vật rơi rụng rất nhiều,được vi sinh vật phân huỷ, trả lại chất hữu cơ cho đất
Vi sinh vật hoạt động và tổng số vi sinh vật đều tăng sẽ làm tăngkhả năng cải tạo đất thông qua hoạt động của chúng bằng phân huỹ chấthữu cơ từ cành khô lá rụng, cố định đạm, hấp phụ lân khó tiêu để trả lạicho đất P2O5 dễ tiêu
+ Tại các rừng trồng keo lá liềm trên cát nội đồng, qua kiểm tra rất nhiềuđiểm trên đất trống trong rừng, kể cả những nơi khảong cách 3-4m so với gốccây gần nhất đều phát hiện thấy rễ của keo lưỡi liềm có mang rất nhiều nốt sần.Điều này chứng tỏ rễ của keo lưỡi liềm vươn rất xa, khả năng sinh trưởng tốt vàkhả năng cải tạo đất cũng rất tốt
+ Trên đất rừng keo lưỡi liềm khối lượng lá rụng rất lớn, che phủ đất
và cải tạo đất tốt, do đó keo lưỡi liềm có khả năng cải tạo đất cát nội đồng tốt,vừa thích hợp được với điều kiện úng ngập vừa thích hợp cho điều kiện cátbay cục bộ
+ Bên cạnh rừng trồng keo lá liềm trước đây thường bị úng ngập hoặc cátbay, nên hầu hết người dân bỏ hoang, nay hầu như không còn hiện tượng cátbay, người dân đã trồng được các loại hoa màu như: Ngô, Lạc, Dưa hấu, Dưa
Trang 10chuột Thậm chí trước đây một số vùng trũng trong rừng không thể trồng rừngđược, nay người dân cũng xin xen vào giữa để trồng các loại hoa màu đó.
Ở Việt Nam, keo lưỡi liềm được trồng ở hầu khắp các tỉnh từ Bắc vàoNam, tập trung nhiều ở các vùng triền sông, vùng bán sơn địa và các vùng mớikhai hoang Đặc biệt tại vùng đất thấp
Keo lưỡi liềm là loại cây dễ trồng, chịu hạn tốt, phù hợp với điều kiệntrồng trên những vùng đất có độ cao dưới 800m Đây là loại cây có củ ít bị sâubệnh hại Để phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp bền vững, các địaphương nên phát triển trồng nhiều cây keo lá liềm Ở các thành phố, thị trấn, các
cơ quan, nhà ở có vườn quanh nhà, chúng ta có thể đào hố ven hàng rào để trồngkeo nhằm mục đich cải tạo môi trường sinh thái con cung câp gỗ, củi tăng thunhập kinh tế
Trang 11PHẦN 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Do thời gian có hạn nên đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu tại vươn ươm
Hương Thủy, vườn ươm Phong Điền và một số rừng trồng ở huyện Phong Điềntỉnh Thừa Thiên Huế
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Keo lưỡi liềm (còn gọi là keo lá liềm vì lá có hình lưỡi liềm) có tên khoa
3.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu, đề tài tiến hành nghiên cứu các nội dung vàphương pháp sau:
3.3.1 Nội dung
1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực ngiên cứu
2 Tìm hiểu tình hình chung về sâu bệnh hại keo
Trang 123 Nghiên cứu một số sâu bệnh hại keo lưỡi liềm giai đoạn vườn ươm vàrừng trồng.
4 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học loài sâu ăn lá ở keo lưỡi liềm trênvùng cát ven biển
5 Đề xuất một số giải pháp phòng trừ sâu bệnh
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu:
3.3.2.1.Điều tra sơ bộ:
a Đối với vườn ươm cây lâm nghiệp:
Vườn ươm cây lâm nghiệp ở nước ta thường có quy mô nhỏ, không cốđịnh, nằm gần hiện trường trồng rừng Các nhóm sâu hại thường gặp ở vườnươm là: sâu hại rễ, mầm non, sâu hại lá và sâu hại thân cành Trong thực tế đốivới loại vườn ươm nhỏ thường bỏ qua các bước điều tra sơ bộ mà tiến hành điềutra tỉ mỉ ngay Một vườn ươm được quản lý, kinh doanh tốt sẽ không phải điềutra sơ bộ về sâu bệnh
Để điều tra sơ bộ ở vườn ươm ta dùng phương pháp quan sát trực tiếp Cụthể đối với vườn ươm có diện tích dưới 5ha thì quan sát vườn bằng cách đi theocác rãnh luống: diện tích trên 5ha nên dung tuyến điều tra
Tuyến điều tra thường đi theo đường song song với rãnh luống Tùy theomức độ chính xác yêu cầu mà tuyến nọ cách tuyến kia từ 3-5 luống Tuyến điềutra yêu cầu phải đi qua các loài cây, thời gian gieo và cấy khác nhau
Mẫu bảng điều tra sơ bộ ở vườn ươm
Ngày điều tra:
Hại lá Hại thân cành Hại mầm và rễ
1
2
3
Trang 13- Phương pháp xác định tuyến điều tra:
Tuyến điều tra phải giúp ta nhanh chóng có được kết quả đại diện cho khuvực điều tra Vì thế yêu cầu tuyến điều tra phải đi qua các dạng cây trồng chính,các dạng địa hình, các dạng thực bì và thời gian trồng khác nhau Trong một khuvực điều tra không nên bố trí quá nhiều tuyến vì việc xác định tuyến ngoài thựcđịa yêu cầu phải đơn giản Nếu có thể được chỉ nên bố trí một tuyến điều tra dàixuên suốt khu vực điều tra Các hình thức bố trí tuyến điều tra thường gặp là:tuyến song song, tuyến chữ chi ( díc dắc), tuyến nan quạt, tuyến xoắn trôn ốc…Người điều tra cần căn cứ vào đặc điểm địa hình, đặc điểm rừng để bố trí chohợp lí Nếu phải điều tra trên nhiều tuyến thì khoảng cách giữa các tuyến là 200-500m viếc lợi dụng các đường mòn, ranh giới lô, khoảnh trong thiết kế tuyếnđiều tra sẽ có lợi cho định hướng khi đi trên tuyến điều tra sau này
Trên tuyến điều tra cứ cách 100m lại xác định một điểm điều tra Điểmđiều tra phải nằm trên đất có rừng Nếu điểm điều tra rơi đúng đường mòn, ranhgiới lô hay khoảng trống người điều tra phải rẽ sang bên trái hoặc ben phảivuông gốc với tuyến điều tra và cách tuyến điều tra 20m để xác định một điểmđiều tra khác thay thế Tại điểm điều tra, quan sát một diện tích rừng có bán kính10m ( hay chọn 30 cây gần điểm điều tra nhất) để ước tính về mật độ sâu bệnhhại, mức độ bị hại và tình hình phân bố của những cây và cành bị sâu bệnh hại
Các tuyến điều tra được vạch trên bản đồ, đặt tên hay đánh số thứ tự sốlượng điểm điều tra cũng cần được xác định và đánh số thứ tự để có thể chuẩn bịcác biểu mẫu và dụng cụ cần thiết khác Cần có sổ ghi đặc điểm như độ dài, địadanh, loài cây… của tuyến điều tra
Trang 14- Điều tra trên điểm điều tra:
Trong điểm điều tra, xác định tỉ lệ cây có sâu vè mức độ gây hại củachúng Để đánh giá mức độ bị hại vè tình hình phân bố của các cây bị hại,thường dựa vào các chỉ tiêu sau:
+ Mức độ sâu hại lá:
Không: Tán lá không bị hại
Hại nhẹ: Tán lá bị ăn hại dưới 25%
Hại vừa: Tán lá bị ăn hại từ 25-50%
Hại nặng: Tán lá bị ăn hại dưới 51-75%
Hại rất nặng: Tán lá bị ăn hại trên 75%
+ Mức độ sâu hại hoa quả:
Không: Không có hoa hay quả bị hại
Hại vừa: Dưới 30% số hoa hay quả bị hại
Hại nặng: Trên 30% số hoa hay quả bị hại
+ Mức độ sâu hại ngọn:
Không: Không có ngọn bị hại
Hại vừa: Dưới 30% số ngọn bị hại
Hại nặng: Trên 30% số ngọn bị hại
+ Mức độ cây bị sâu hại thân, cành, rễ:
Không: Không có cây bị hại
Hại nhẹ: Lẻ tẻ có vài cây bị hại ( dưới 10% số cây)
Hại vừa: Cây bị hại tập trung từ 3-10 cây (10-30% số cây)
Hại nặng: Cây bị hại tập trung trên10 cây (trên 30% số cây).Kết quả ghi vào mẫu bảng:
Mẫu điều tra sơ bộ sâu hại rừng trồng
Nơi điều tra:
Tuyến điều tra:
Ngày điều tra: Người điều tra:
Điểm
khoảnh
Loàicây
Nămtrồng
Độtànche
Tỉ lệ cây có sâu hại(P%) haymức độ bị hại(R%)
Hạilá
Hạithâncành
Hạingọn
Hạihoaquả
Hạirễ
1
2
3.3.2.2 Điều tra tỉ mỉ:
Trang 15a Điều tra tỉ mỉ ở vườn ươm:
Ở vườn ươm cây lâm nghiệp thường dùng phương pháp điều tra trực tiếp
để nắm chính xác thành phần, mực độ và mức độ gây hại của sâu bệnh Để trên cơsở đó rút ra loài chủ yếu phục vụ cho công tác phòng trừ sâu bệnh hại Tại vườnươm thường không lập ô tiêu chuẩn mà điều tra sâu bệnh hại cây theo từng loàicây, đôi khi theo từng đọ tuổi, từng phương thức tạo cây và chăm sóc của một loàicây ( ví dụ : cây rễ trần, cây có bầu, phương thức bón phân, che nắng…)
- Điều tra thành phần sâu hại thân cành:
Các loài cây ở vườn ươm thường được giao hay cấy theo hàng trongluống thì dùng phương pháp ngẫu nhiên hệ thống để chọn đơn vị điều tra là mộtcây theo các bước sau:
+ Cách k luống điều tra 1 luống ( 1<=k<=5)
+ Trong luống được chọn cách m hàng điều tra 1 hàng (1<=m<=5)
+ Trong hàng được chọn cách n cây điều tra 1 cây
Chỉ số k, m, n được chọn sao cho với 1 độ tuổi, phương thức chăm sóccủa 1 loài cây có tổng số cây điều tra >=30 cây
Nếu gieo vãi hoặc cấy trong bầu nhỏ xếp thành luống thì đơn vị điều tra là
ô dạng bản 1m2 và được chọn theo các bước sau đây;
+ Cách k luống điều tra 1 luống ( 1<=k<=5)
+ Tại mỗi luống được chọn đặt 2 ô dạng bản ở 2 đầu luống, một ô ở giữaluống hoặc cứ cách một đoạn có độ dài nhất định điều tra một ô dạng bản
+ Chỉ số k được chọn và số lượng ô dạnh bản của luống điều tra được bốtrí sao cho với một độ tuổi, một phương thức chăm sóc của một loài cây có tổng
- Đối với sâu hại thân cành: ngoài việc tính số cây bị hại còn phải quan sát
kĩ hoặc chẻ thân cành để xác định rõ loài sâu hại và mật độ của chúng
Kết quả ghi vào 2 bảng mẫu sau:
Mẫu bảng kết quả điều tra sâu hại lá, thân cành ở vườn ươm gieo cấy
theo hàng
Trang 16Tên vườn ươm: Ngày điều tra:
STT
cây ĐT
Tên loàisâu
Số lượng sâu bệnh hại
Ghi chúTrứng Sâu non Nhộng Trưởng
thành1
Số cây
có sâu
Số lượng sâu bệnh hại
Ghichú
- Điều tra mức độ hại lá:
Điều tra mức độ hại lá dựa trên cơ sở phân cấp 30 cây tiêu chuẩn Nếu đã
sử dụng phương pháp chọn ô dạng bản 1m2 thì trước hết chọn mỗi ô dạng bản 30cây theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống sau khi đã tiến hành điều tra thànhphần sâu hại thân cành
Để đánh giá mức độ hại lá của từng loại sâu, bệnh ta phải phân cấp tất cảcác lá bị hại của từng cây theo tiêu chuẩn sau đây:
Trang 17III (hại nặng) 51-75%
Kết quả ghi vào bảng sau:
Ni là số lá bị hại ở cấp hại i
Vi là trị số của cấp hại hại I ( vi = 0, 1, 2, 3, 4)
N là tổng só lá quan sát trên một cây ( N = ∑ni )
V là trị số cấp bệnh cao nhất ( ở trường hợp nay V = 4)Sau đó tính chỉ số hại trung bình cho các cây điều tra đối với từng loại sâubệnh và từng loài cây trong toàn vườn
Cuối cùng căn cứ vào R% trung bình của từng loại sâu và từng loài câyđối chiếu với các tiêu chuẩn dưới đây để đánh giá mức độ hại
+ Hại nhẹ: R%tb < 25%
+ Hại vừa: R%tb từ 25-50%
+ Hại nặng: R%tb từ 51-75%
+ Hại rất nặng: R%tb > 75%
- Điều tra thành phần và số lượng sâu hại dưới đất:
Sâu hại rễ và cây mầm non ở vườn ươm thường gặp là các loại dế, sâuxám, sâu bọ hung và sâu vòi voi Để điều tra sâu dưới đất tiến hành đặt các ôdạng bản Diện tích của mỗi ô dạng bản là 1m2 (1x1m) Mỗi hecta điều tra từ 5-7
ô, các ô dạng bản được bố trí theo đường chéo gốc hay ô bàn cờ, vị trí các ôthường đặt trên các luống
Trang 18Sau khi dung thước xác định vị trí các ô dạng bản, thống kê số cây bị hạitrong tổng số cây trong ô, rồi tiến hành đào từng lớp đất có chiều sâu là 10cmlần lượt đưa sang các phía của ô Mỗi lớp đất đào lên được bóp nhỏ để tìm các
cá thể các loài sâu hại và cứ làm như vậy cho tới khi không thấy sâu hại thì thôi.Kết quả ghi vào bảng 4
Mẫu điều tra sâu dưới đất
STT ô
dạng
bản
Tỉ lệcây bịhại
Độsâu(cm)
Tên loài sâuhay thiênđịch
Số lượng sâu hại và thiên địch
non Nhộng Tr.thành
Căn cứ vào số liệu điều tra bảng 5 để tính ra mật độ ( sâu hại và thiênđịch), tỉ lệ có sâu của từng loài sâu hại và tỉ lệ cây bị hại trung bình của 1m2
b Điều tra tỉ mỉ ở rừng trồng:
Điều tra tỉ mỉ ở rừng trồng là một nội dung quan trọng nhất của công tácđiều tra Các phương pháp điều tra được thực hiện trong các ô tiêu chuẩn, trêntuyến điều tra hay trong một lô mẫu Để xác định số lượng sâu hại có thể dùngphương pháp đếm trực tiếp hay phương pháp gián tiếp
- Điều tra sâu hại lá và thiên địch:
+ Chọn mẫu điều tra trong ô tiêu chuẩn:
Chọn mẫu điều tra trong ô tiêu chuẩn:
Có thể chọn ô tiêu chuẩn bằng các phương pháp như: phương pháp ngẫunhiên hệ thống, phương pháp bốc thăm hoặc phương pháp 5 điểm
+ Phương pháp ngẫu nhiên hệ thống: nếu rừng trồng theo hàng, cứ cách 1hàng điều tra 1 hàng Trong hàng được chọn, cứ 2-5 cây điều tra 1 cây tùy theo
số lượng cây tiêu chuẩn cần có
+ Phương pháp bốc thăm: nếu rừng không trồng thành hàng, phải đánh sốtoàn bộ số cây của ô tiêu chuẩn bằng sơn, phấn hoặc băng keo Sau đó lấy ngẫunhiên một số lượng cây cần thiết bằng cách bốc thăm để điều tra miễn sao số câycần điều tra đảm bảo trên 10% tổng số cây trong ô
Trang 19+ Phương pháp 5 điểm: là phương pháp lập ô không có ranh giới thực.Trước hết chọn một điểm tại vị trí trung tâm ô tiêu chuẩn giả định rồi đánh dấu
từ 2-6 cây gần đó Từ điểm này chọn 4 điểm vuông gốc với nhau cách đều trungtâm 10-20m Tại mỗi điểm điều tra này tiếp tục chọn 2-6 cây gần nhất Như vậycũng sẽ có 10-30 cây tiêu chuẩn mà không mất thời gian xác định ranh giới ôtiêu chuẩn
- Chọn mẫu và điều tra trong tán cây:
Nếu cây rừng có chiều cao thấp hơn 2.5m và tán lá nhỏ thì một mẫu điềutra sẽ là toàn bộ cây Trường hợp này nên chọn 10-30 cây tiêu chuẩn làm mẫuđiều tra và thực hiện biện pháp đo đếm trực tiếp và toàn diện trên cây tiêuchuẩn Trong trường hợp cây tiêu chuẩn có chiều cao lớn hơn 2.5m, sử dụngbiện pháp lấy mẫu bằng cành tiêu chuẩn, túm lá hay lá điều tra… Để mẫu điềutra phân bố đều trong tán lá người ta chia tán lá ra làm 3 phần: phần trên, phầngiữa và phần dưới của tán lá, mỗi phần chọn 2 cành điều tra đối xứng với nhau
và vuông gốc với phương của 2 cành ở phần tán kế cận Trường hợp tán lá cóhình tháp có thể chọn phần trên của tán 1 cành Thông thường cành điều trađược chọn là cành cấp I – cành mọc ra từ thân chính Ngoài việc thống kê sâubệnh hại trên các cành điều tra còn phải đếm tổng số cành cùng cấp trên cây tiêuchuẩn để suy luận kết quả cho toàn cây
Mẫu điều tra thành phần, số lượng sâu bệnh hại lá
Trứng Số sâu non ở các tuổi Nhộng Sâu
tt
∑sốcành
- Điều tra thân cây và xung quanh gốc cây:
Một số loài sâu có tập tính qua đông hay ban ngày ẩn nấp trong kẻ nứt vỏcây hoặc ban ngày ẩn nấp dưới lớp lá khô quanh gốc cây, một số khắc hóanhộng trên và xung quanh gốc cây Do vậy cần phải điều tra thống kê thànhphần loài và số lượng cá thể từng loài ở các vị trí đó Kết quả thu được sẽ gộpchung với kết quả điều tra trên phần tán của cây tiêu chuẩn tương ứng
Trang 20Khi điều tra thân cây, chủ yếu tập trung cho đoạn thân trong phạm vi cáchmặt đất 2m Điều tra xung quanh gốc cây thì chỉ nên tập trung trong khu vựccách gốc cây 60cm.
- Điều tra mức độ hại lá của sâu:
Đối với cây có chiều cao dưới 2.5m có thể ước lượng mức độ bị hại của
cả cây tiêu chuẩn
Đối với cây lá rộng, tùy theo mức độ phân bố của các lá trên cành và mức
độ chính xác yêu cầu mà có thể điều tra phân cấp tất cả các lá trên cành hoặctrên mỗi cành chỉ điều tra phân cấp 5-6 lá phân bố tương đối đều trên cành bằngcách chọn 2 lá ở gốc cành, 2 lá ở giữa cành và 1-2 lá ở ngọn cành để quan sát
Đối với cây lá kim, trên các cành điều tra chọn hệ thống khoảng từ 5-6túm lá để cắt khỏi tán lá Bằng cách rút mẫu đều theo túm lá để lấy được mộtnắm lá vừa nắm chặt trong tay từ những cành đã thu mẫu, chú ý lấy đủ cả nhữnggốc lá đã bị sâu ăn trụi Rãi nắm lá trên một tờ giấy báo và xếp các lá có gốc đềuđặn và nhô ra khỏi mép giấy 1cm; cuộn tờ giấy báo kín phần còn lại của lá Từphía gốc lá, rút ngẫu nhiên 30-50 cụm bao lá ra khỏi giấy để đánh giá mức độtổn hại của lá bằng cách phân cấp lá bị hại dựa vào chiều dài phần lá đã bị hại sovới chiều dài lá ban đầu
Cấp hại % diện tích hay chiều dài lá bị hại
Trang 21Mẫu điều tra mức độ hại lá của sâu
Số lá bị hại theo cấp
∑
Chỉ
số hạiR%
…
5Căn cứ vào số liệu điều tra tính chỉ số hại R% cho từng loại sâu hại ở từngcây điều tra theo công thức:
R% = (∑nivi).100/NVTrong đó: R% là chỉ số hại của từng loài tính theo %
ni là số lá bị hại thuộc cấp hại i
- Điều tra thành phần, số lượng sâu hại thân cành:
Sâu hại thân cành phần lớn có giai đoạn nằm sâu bên trong thân và cành,rất khó phát hiện, đặc biệt khi chúng mới xâm nhập Một số nhóm loài như bọxít, rệp chích hút nhựa cây chỉ để lại dấu vết rất nhỏ rất khó thấy Do đó điều trasâu hại thân cành thường được kết họp với điều tra thành phần, số lượng và điềutra mức độ hại
Điều tra sâu hại thân cành cũng được tiến hành ngay trên các cây và cànhdùng để điều tra sâu hại
Mẫu điều tra thành phần, số lượng và mức độ của các loài sâu hai thân cành
Trang 22Ngày điều tra: Người điều tra;
STT
cây
ĐT
Sốcành
bị hại/
∑sốcành
Sốngọn
bị hại/
∑sốngọn
Tênloàisâu
Số lượng sâu hại
Ghichú
a Điều tra thành phần, số lượng sâu dưới đất:
Để biết thành phần, số lượng và sự phân bố của các loài sâu ta cũng tiếnhành điều tra trên các ô dạng bản
Diện tích của ô dạng bản là 1m2 Số lượng ô dạng bản phụ thuộc vào yêucầu của độ chính xác Để điều tra sâu dưới đất thường mỗi ô tiêu chuẩn điều tra
5 ô dạng bản là đủ Các ô dạng bản được bố trí theo phương pháp đường chéotrong ô tiêu chuẩn: 4 ô ở 4 gốc và 1 ô ở trung tâm Dụng cụ cần thiết để diều trasâu hại đất là thước mét, cuốc xẻng, cào thưa, rây đất và mẫu biểu
Trang 23Mẫu điều tra thành phần, số lượng các loài sâu dưới đất rừng
Số hiệu OTC: Ngày điều tra: Người điều tra:
Số lượng sâu hại
ĐVkhác
GhichúTrứng Sâu non Nhộng Trưởng
Trang 24PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu:
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Địa bàn phát triển rừng vùng cát ven biển, vùng cửa sông và đầm phá tỉnhThừa Thiên Huế bao gồm 5 huyện (huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà,Phú Vang và Phú Lộc) với 33 xã Có vị trí địa lý khá đặc biệt, nằm bên bờ biểnĐông và chạy dài theo hướng Bắc - Nam Có toạ độ địa lý:
- Từ 16012’ 00’’ đến 16021’ 00’’ độ vĩ Bắc
- Từ 107018’ 00’’ đến 108000’ 00’’ độ kinh Đông
Phía Bắc giáp huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị
Phía Nam giáp Thành phố Đà Nẵng
Phía Đông giáp biển Đông
Phía Tây giáp các xã còn lại của các huyện trong vùng dự án
Tổng diện tích tự nhiên vùng dự án là 55.713,6 ha
4.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Khu vực nghiên cứu bao gồm 3 vùng:
a Vùng cát di động ven biển: nằm giáp với phá Tam Giang và giáp biểnĐông, tập trung chủ yếu phía bờ biển, chia làm 2 vùng sử dụng đất khác nhau:
- Vùng bãi cát ven biển với những cồn thấp, chỉ cao hơn mặt nước biểnvài mét, nằm gần bãi biển và có mực nước ngầm tương đối cao chỉ cách mặt đấtvài chục cm
- Vùng cồn cát cao, thường cách bờ bãi biển 200m Đây là những cồn cát
di động mạnh, được coi là một vùng sinh thái rất khó khăn cho việc trồng rừng
b Vùng cát cố định nội đồng: Chiếm diện tích tương đối lớn, gồm các xãnằm phái Tây hệ phá Tam Giang, là vùng đất rất nghèo chất dinh dưỡng, độ ph
từ 3,5 – 4,5 thể hiện đất chua, phèn Bề dày mặt đất chủ yếu là lớp đất cát mịn
và thường bị ngập úng vào mùa mưa và khô hạn vào mùa nắng
c Vùng đồng ruộng: Đất đai tương đối màu mở, cây nông nghiệp ngắnngày phát triển khá tốt, những diện tích này tập trung chủ yếu ven bờ phá TamGiang Hàng năm thường bị de dọa bởi thiên tai như lũ lụt, gió bão, nước mặnthâm nhập, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp làm giảm năng suất cây
Trang 25trồng Do đó, cần trồng các đai rừng phòng hộ chạy dọc phá Tam Giang và trêncác bờ vùng, bờ thửa…nhằm giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra và tạo cảnhquan môi trường sinh thái.
4.1.1.3 Khí hậu
Khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới giómùa Một năm có hai mùa: mùa khô và mùa mưa Mùa khô bắt đầu từ tháng 2đến tháng 9 trong năm, mùa mưa bắt đầu từ tháng 10 và kết thúc vào tháng 01năm sau
ra biển) nhưng không mạnh và ít gây hại hơn so với gió Đông Bắc Mỗi khi cógió Lào về làm cho nhiệt độ không khí lên rất cao (có khi lên đến trên 400C) và độ
ẩm không khí giảm xuống thấp, lượng nước bốc hơi mạnh làm ảnh hưởng đếnquá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng và dễ gây ra hạn hán vụ hè thu
Gió mùa Đông Bắc xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau Đặc điểmgió thường kèm theo mưa, lạnh, nền nhiệt thấp, độ ẩm không khí cao Gió mùaĐông Bắc về làm cho nhiệt độ giảm thấp, gây giá lạnh có hại cho sinh trưởng pháttriển của cây trồng và có khi gây nên sương muối làm chết nhiều loại cây trồnghoặc giảm năng suất và chính gió mùa Đông Bắc là nguyên nhân gây nên cát bay,cát lấp (từ phía biển vào đất liền)
Bão: Bão thường xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 12 trong năm, kèm theomưa lũ ở thượng nguồn gây triều cường, ngập úng ở vùng hạ lưu Trên địa bànvùng dự án thường hứng chịu các cơn bão có sức công phá lớn gây thiệt hại về tàisản của nhân dân và các công trình cơ sở hạ tầng và sản xuất Nông lâm ngư nghiệp
Trang 26- Chế độ mưa
Tổng lượng mưa bình quân trong năm 3.056 mm, lượng mưa thấp nhất27,9 mm vào tháng 1 và cao nhất 1.043 mm vào tháng 10 trong năm Đặc điểmmưa phân bố không đều các tháng trong năm, chủ yếu tập trung vào các tháng 9đến tháng 12
4.1.1.4 Thuỷ - hải văn
- Thuỷ văn sông và đầm phá
+Thuỷ văn sông:
Trên địa bàn vùng dự án có các con sông chính chảy từ thượng nguồn theohướng Tây đi qua địa bàn rồi chảy ra phá Tam Giang để ra biển Đông như sông ÔLâu, sông Bồ, sông Hương, sông Nông, sông Truồi, sông Thừa Lưu
Đặc điểm các sông trên thường ngắn và dốc ở thượng nguồn, phía hạ lưu bằng
do vậy mùa mưa lũ thường dồn nước về hạ lưu và kết hợp triều cường ở biển gâyhiện tượng ngập úng lâu ngày
+ Đầm phá:
Hệ thống đầm phá trên địa bàn vùng dự án khá đặc trưng không những củatỉnh Thừa Thiên Huế mà còn mang tính chất quốc gia, khu vực, đặc biệt có hệthống đầm phá Tam Giang chạy dài từ Phong Điền đến Phú Lộc là một trong 7 hệthống đầm phá nước lợ nổi tiếng về đa dạng sinh học của Việt Nam, là nơi cư trúcủa các loài thủy hải sản nước lợ và các loài thuỷ sinh khác Ngoài ra trên địa bàncòn có đầm Cầu Hai, đầm Lập An ở huyện Phú Lộc có diện tích lớn, là nguồncung cấp thuỷ sản nước lợ nổi tiếng trong tỉnh
+ Hải văn
Thuỷ triều: Dọc ven biển Thừa Thiên Huế thuỷ triều rất phức tạp do nằm giữa
hai vùng thủy triều phức tạp là Tây Thái Bình dương và Đông Ấn Độ dương Vùng
ven biển của tỉnh có chế độ thuỷ triều là bán nhật triều, biên độ triều thay đổi rất lớn,
từ 3-5 m ở vùng biển, từ lâu con người đã lợi dụng thủy triều trong việc cho cáctàu thuyền ra vào các lòng lạch, bến cảng cũng như khi đi lại trên biển, tiêu lũ,thoát úng, nuôi trồng hải sản nước lợ Tuy nhiên, thuỷ triều lên khi có bão lụt sẽgây ra hiện tượng triều cường đe dọa nghiêm trọng cho bờ biển
Sóng biển: Trong mùa đông, hướng sóng chủ yếu trên biển khơi là hướng
Đông Bắc và có thể đạt trị số trung bình khoảng 2-3m về độ cao và 7-10 giây về chu
kỳ, vùng biển Thừa Thiên Huế nằm trong vùng biển Bắc Trung Bộ là vùng có sónglớn nhất vịnh Bắc Bộ
Trang 27Trong mùa hè, sóng gió theo hướng trùng với hướng gió mùa Tây Nam,song cường độ và tần suất đều yếu hơn sóng gió trong mùa đông: Trung bình 1-
2 m về độ cao và 5-8 giây về chu kỳ
Sóng trong bão là loại sóng phức tạp và nguy hiểm cho mọi hoạt độngtrên biển và ven biển, đặc biệt nguy hiểm là sóng thần Độ cao của sóng trongbão tới 4 - 5m hoặc cao hơn nữa
Với điều kiện bờ biển của tỉnh Thừa Thiên Huế vào mùa đông sóng biểnkết hợp với gió biển đã làm sạt lở một số tuyến bờ biển của tỉnh, nhất là vùng bờbiển các xã Quảng Công, Quảng Ngạn (huyện Quảng Điền), Hải Dương (huyệnHương Trà), Thị trấn Thuận An, Phú Thuận, Phú Hải (huyện Phú Vang), VinhHải, Vinh Mỹ (huyện Phú Lộc)
Nước dâng: Khi có gió mạnh hay bão thường gây ra hiện tượng nước dâng,
tùy theo cường độ gió bão có thể gây ra nước dâng cao hơn mức bình thường 10 30cm và có thể truyền sâu vào sông 10 - 20 km Nước dâng khi có bão đều trên dưới1m, khi cực đại có thể vượt quá 2,0 - 2,5 m Sự trùng lặp của mực nước triều cao nhất,sóng thần với nước dâng và sóng hải lưu sẽ làm cho mức độ phá hoại của động lựcbiển trở nên ghê gớm hơn
-Độ mặn nước biển: Mùa có gió Đông Bắc, nước biển có độ mặn cao (trên 33,4%o), gần các cửa sông thường thấp hơn (dưới 30%o) Mùa có gió Tây Nam,
đồng thời cũng là mùa mưa độ mặn giảm đi một cách đáng kể, có khi xuống dưới
32%o, thậm chí dưới 20 - 25%o ở gần các cửa sông vừa và lớn Biên độ trung bình năm của độ mặn nước biển tầng mặt có thể vượt quá 2%o (10 - 15% ở cửa các
sông lớn) Độ mặn và mức độ ngập triều sẽ quyết định đến sự xâm lấn, khả năngsinh trưởng và phát triển của các cây rừng ngập mặn cũng như khả năng nuôi trồngthủy sản ven biển
Động lực biển và sạt lở bờ biển: Sạt lở bờ biển là quy luật tự nhiên xảy ra
ở bất cứ vùng bờ biển nào trên thế giới, nhất là các vùng nhiệt đới Trong mùamưa bão, sóng biển là động lực chính tác động đến bờ biển Cát bùn luôn đượcđánh tung lên và được dòng hải lưu chuyển ra ngoài bờ và tải đi bồi tích nơi khác.Mực nước biển quyết định độ ảnh hưởng đến bờ biển Sự trùng lặp của mực nướccao nhất theo thuỷ triều, sóng thần với nước dâng và sóng hải lưu sẽ làm cho mức
độ phá hoại của động lực biển trở nên mạnh hơn Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởngcủa mỗi yếu tố trên từng vùng biển riêng biệt hoàn toàn khác nhau, ảnh hưởng
Trang 28của động lực biển là sóng, dòng hải lưu, mực nước triều trong chế độ gió mùa lànguyên nhân chính gây sụt lở bờ biển
Có thể nói, sự biến đổi về thời tiết, khí hậu, thủy- hải văn vùng ven biển ThừaThiên Huế xảy ra một cách thất thường với tần suất cao Mưa to, sóng mạnh, bão lớn,triều cường, hạn hán, cát bay, cát trôi với tần suất tăng dần là đặc trưng nổi bật nhất vềkhí hậu thủy- hải văn vùng ven biển
4.1.2 Tình hình kinh tế, xã hội:
4.1.2.1 Dân số, dân tộc và lao động
Bảng 4.1 Thống kê một số chỉ tiêu về lao động và dân số
Hương Trà
Phú Vang
Phú Lộc
Mật độ dân số bình quân trong khu vực là 489 người/km2
Đặc điểm phân bố dân cư trong địa bàn rất phức tạp, bố trí nhiều điểm, cónhững nơi ở phân tán nhỏ lẻ, nhất là vùng ven biển có nhiều hộ sống trong vùngnguy hiểm của triều cường và hiện tượng sạt lở bờ biển diễn ra hàng ngày
- Lao động
Tổng số lao động trên địa bàn: 186.466 người Trong đó:
+ Lao động phân theo giới tính Nam: 87.639 người, chiếm 47%; Nữ:98.827 người, chiếm 53%
+ Lao động phân theo ngành nghề
Lao động nông lâm ngư nghiệp: 144.008 người, chiếm 77,2% số laođộng toàn vùng
Trang 29 Lao động ngành nghề khác: 42.458 người, chiếm 22,8% số lao độngtoàn vùng.
4.1.2.2 Tình hình sản xuất, đời sống thu nhập
- Thực trạng chung
Theo Niên giám thống kê các huyện năm 2006, tổng giá trị sản phẩm quốc nội(GDP) các huyện trong vùng dự án là 2.314.119 triệu đồng Trong đó:
+ Nông nghiệp: 711.962 triệu đồng, chiếm 30,8%
+Lâm nghiệp: 61.207 triệu đồng, chiếm 2,6%
+ Thuỷ sản: 584.596 triệu đồng, chiếm 25,3%
+ Công nghiệp: 441.047 triệu đồng, chiếm 19,1%
+ Dịch vụ và các ngành khác: 515.307 triệu đồng, chiếm 22,3%
Kết quả trên cho thấy cơ cấu về giá trị tổng sản phẩm giữa các ngành có
sự chênh lệch, trong đó sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong cơcấu kinh tế với 30,8%, sản xuất thuỷ sản, dịch vụ và các ngành khác cũng chiếmtỷ lệ khá cao trong cơ cấu kinh tế của vùng Sản xuất công nghiệp chiếm vị trítrung bình nhưng cũng đem lại nguồn thu đáng kể
- Sản xuất nông - ngư nghiệp
+Sản xuất nông nghiệp
Trồng trọt: Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp trong vùng dự án là38.085 ha (tính cho diện tích gieo trồng cả năm) Loài cây trồng chủ yếu là câylượng thực (Lúa, ngô), cây màu (khoai, sắn), rau đậu các loại và cây côngnghiệp ngắn ngày (lạc, ớt, thuốc lá, mè) và các loài cây hàng năm khác Sảnphẩm nông nghiệp chủ yếu tự cung tự cấp tại chỗ trên địa bàn và cung cấp chothành phố Huế
Tổng diện tích trồng cây lương thực cả năm là 34.294 ha với tổng sảnlượng lương thực (kể cả màu quy thóc) đạt 117.802 tấn Bình quân lương thựcđầu người đạt 310 kg/năm và 26 kg/người/tháng
Chăn nuôi: Chăn nuôi trên địa bàn tương đối phát triển, đàn gia súctrong vùng gồm có: đàn trâu 15.614 con, đàn bò 6.496 con, đàn lợn 98.539 con,gia cầm các loại 922.299 kg Sản phẩm chăn nuôi đã trở thành hàng hoá cungcấp cho nhu cầu tiêu dùng tại chỗ và tiêu thụ nơi khác nhất là Thành phố Huế
- Sản xuất ngư nghiệp:
+Với lợi thế có diện tích đầm phá lớn, môi trường thích nghi cho phát triểncác loài tôm cá nước lợ vì vậy diện tích nuôi thuỷ sản trong vùng ngày càng đượcmở rộng, tổng diện tích mặt nước nuôi thuỷ sản 4.699 ha, sản lượng cá 183.710 tấn,tôm 200.835 tấn, thuỷ sản khác 331 tấn
Trang 30+ Đánh bắt và khai thác nguồn lợi thuỷ sản biển trên địa bàn cũng đem lạinguồn thu lớn cho người dân ở trên địa bàn, tổng sản lượng đánh bắt thuỷ hảisản các loại là 503.632 tấn
Tổng giá trị sản xuất ngư nghiệp là 584.596 triệu đồng
- Các ngành sản xuất khác
Các hoạt động sản xuất khác như dịch vụ - du lịch, xây dựng, thương nghiệp,tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn cũng đóng góp một phần thu trong nhân dân.Trong đó hoạt động về dịch vụ và du lịch có chiều hướng phát triển nhất là ở PhúVang, Phú Lộc có lợi thế về bờ biển và các thắng cảnh đã thu hút được nhiều vốnđầu tư trong và ngoài nước
4.1.2.3 Cơ sở hạ tầng và phúc lợi xã hội
- Giao thông, thuỷ lợi
+ Giao thông
Ngoài tuyến đường Quốc lộ IA, tuyến đường sắt Bắc Nam, tuyến Quốc lộ
49 và một số tuyến đường liên tỉnh, liên huyện cùng với hệ thống sông, đầm phá,biển và các cảng biển: cảng Thuận An, cảng nước sâu Chân Mây đã tạo nên hệthống giao thông khá thuận lợi trong vùng Đặc biệt trong những năm qua Nhànước quan tâm đã đầu tư xây dựng hai cây cầu lớn: cầu Trường Hà và cầu TưHiền, cầu Tam Giang và một số cây cầu nhỏ khác đã tạo điều kiện thuận lợi đểphát triển kinh tế xã hội của các xã ven biển
+Thuỷ lợi:
Hệ thống hồ đập trong vùng chủ yếu là các hồ đập có dung tích và công suấttưới tiêu nhỏ, các hồ đập trong vùng chỉ đủ cung cấp nước tưới cho các chân ruộngthấp trong vùng, nhiều nơi xa nguồn nước do hệ thống kênh mương không đảmbảo nên không có nước cung cấp cho cây trồng
Hệ thống kênh mương các cấp trong vùng có tổng chiều dài 317 km, trong
đó kênh mương có chất lượng tốt 204 km, kênh mương đã xuống cấp 113 km.Trong các trận mưa bão, lũ lụt của các năm vừa qua đã tàn phá làm hư hỏngnhiều đoạn kênh mương gây ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây trồngtrên địa bàn
- Điện, nước sinh hoạt
+ Hệ thống điện sinh hoạt trên địa bàn dự án đã được phủ kín đến tận cácthôn xóm, tỷ lệ hộ sử dụng điện toàn vùng chiếm 97,7% số hộ Mạng lưới điệncung cấp cho sản xuất và công nghiệp cũng đã đáp ứng đảm bảo yêu cầu sảnxuất kinh doanh của các cơ sở chế biến, các nhà máy trên địa bàn
Trang 31+ Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch trên vùng chiếm 77,3% Một số địa bànvũng trũng thấp của các xã Quảng Điền, Phú Vang thì nguy cơ ô nhiễm nguồnnước sinh hoạt rất cao vào mùa mưa lũ.
- Y tế, giáo dục
+Mạng lưới y tế trên địa bàn đã khép kín từ cấp xã đến huyện, đảm bảochức năng khám, điều trị bệnh thông thường và chăm sóc sức khoẻ nhân dân.Toàn vùng có 50/50 xã có trạm y tế, với 556 giường bệnh và 519 cán bộ y tế
+ Công tác giáo dục trong vùng đã được quan tâm, các cháu trong độ tuổiđều được đến trường, chất lượng dạy và học đã từng bước được nâng lên, cơ sởvật chất trang thiết bị học tập không ngừng được đầu tư, trường học đa số đãđược kiên cố hoá Hệ thống nhà trẻ có 53 nhà trẻ với 1.288 cháu, 126 cô giáo;Mẫu giáo có 616 lớp với 14.738 cháu và 872 giáo viên Tổng số trường học cáccấp (cấp 1, 2,3): 150 trường, 2.978 lớp học, với 104.115 em học sinh và 4.531giáo viên
- Thông tin, văn hóa
Hệ thống thông tin văn hoá trong vùng đã được quan tâm đầu tư, tất cảcác xã đều có trung tâm văn hoá, đảm bảo nhu cầu thông tin liên lạc thườngxuyên và đều được phủ sóng truyền thanh và truyền hình đáp ứng được nhu cầunghe nhìn của người dân Toàn vùng có 50 điểm bưu điện văn hoá, tỷ lệ hộ dândùng điện thoại toàn vùng là 26,3%
- Khái quát hệ thống đê điều, kênh mương, hồ đập vùng ven biển
+ Hệ thống đê điều
Hệ thống đê ven sông và đầm phá trong vùng dự án có tổng chiều là 169,5 km Bao gồm các tuyến đê:
Tuyến đê Đông Tây Ô Lâu ở Phong Điền có chiều dài 24 km;
Tuyến đê Tây phá Tam Giang ở Quảng Điền và Hương Trà có chiều dài32,5 km;
Tuyến đê Tây phá Tam Giang ở Phú Vang có chiều dài 40 km;
Tuyến đê Tây phá Cầu Hai ở Phú Vang và Phú Lộc có chiều dài 17 km;
Tuyến đê Đông phá Tam Giang ở Quảng Điền và Hương Trà có chiềudài 30 km;
Tuyến đê Đông phá Tam Giang ở Phú Vang có chiều dài 26 km