Đối với hệ thống rừng phòng hộ vùng cát ven biển của tỉnh trong những năm qua đã được quan tâm đầu tư và đã có những thành công nhất định, diện tích rừng phòng hộ được mở rộng, rừng được quản lý bảo vệ tương đối tốt, một số loài cây đưa vào trồng rừng đã chứng tỏ được khả năng thích nghi và sức chống chịu trên điều kiện lập địa khắc nghiệt như Phi Lao, Keo lưỡi liềm, Keo lá tràm, Keo chịu hạn... Sau hơn 10 năm nghiên cứu, xây dựng thành công nhiều mô hình thử nghiệm trên nhiều vùng sinh thái khác nhau của nước ta, đặc biệt là các đồi cát nội đồng và đồi cát di động ở tỉnh Thừa Thiên-Huế, các nhà khoa học Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam phối hợp với Trung tâm giống cây lâm nghiệp thuộc Sở NN-PTNT tỉnh Bình Thuận và Chi cục lâm nghiệp Thừa Thiên-Huế đưa ra khuyến cáo bà con và các địa phương vùng duyên hải miền Trung nước ta bổ sung vào cơ cấu trồng rừng phòng hộ ven biển giống keo lưỡi liềm(Tên khoa học:Acacia crassicarpa)được chọn tạo thành công từ nguồn giống nhập nội của Australia.
Trang 1PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Vùng cát ven biển Tỉnh Thừa Thiên Huế có những nét khá đặc biệt về điềukiện địa hình và vị trí địa lý: nằm sát bờ biển Đông có chiều dài trên 120 km, có hệthống đầm phá nước lợ nổi tiếng trong khu vực như Phá Tam Giang, Đầm Cầu Hai,Đầm Lập An và một số đầm - trằm nước ngọt xen kẽ khác, đã tạo nên một mạnglưới thuỷ văn khá đa dạng và độc đáo So với toàn tỉnh, diện tích các xã vùng cát,vùng cửa sông và đầm phá chỉ chiếm 21%, nhưng đây là địa bàn mà dân cư sinhsống chiếm tới 37% dân số toàn tỉnh Địa bàn này thường chịu ảnh hưởng nặng
nề của các cơn bão nhiệt đới, gây nhiều thiệt hại lớn về người và tài sản củanhân dân, phá huỷ các công trình cơ sở hạ tầng ven biển và vùng đầm phá như
hệ thống, kè, đập, đường giao thông, hệ thống hồ nuôi tôm, nước mặn xâm thựcđồng ruộng làm hàng ngàn hecta đất nông nghiệp bị nhiễm mặn Ngoài ra, hiệntượng sạt lở bờ biển, bồi lấp cửa sông, cát bay vùi lấp đồng ruộng, làng mạc, pháhoại các công trình ven biển dưới tác động của yếu tố khí hậu cũng đã đe dọathường xuyên đối với vùng cát, vùng ven biển, vùng cửa sông và đầm phá Dovậy, yêu cầu về phòng hộ ở địa bàn này là rất lớn Một trong những giải pháp tốtnhất để bảo vệ cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, sản xuất và đời sống của nhân dân làxây dựng các đai rừng phòng hộ ở vùng cát, vùng ven biển, cửa sông, đầm phánhằm phát huy khả năng phòng hộ của rừng trong chắn sóng, chắn gió, chắn cát,đồng thời hình thành thềm đất vùng bờ biển, đầm phá, cửa sông vững chắc, hạn chếthiệt hại do thiên tai gây ra
Từ năm 2000 đến nay, tỉnh Thừa Thiên Huế đã có nhiều nỗ lực trong việcđầu tư cho xây dựng và phát triển rừng phòng hộ, trong đó công tác trồng rừngphòng hộ trên đất cát bằng nguồn vốn Dự án 661 đã mang lại những kết quảđáng ghi nhận, góp phần tích cực trong việc hạn chế những tác động của thiêntai.Trên các vùng cát, vùng bờ biển, cửa sông và đầm phá sự tồn tại của các đairừng có tính chất phòng hộ là rất quan trọng có liên quan mật thiết đến sự bảotoàn thềm đất ven biển, cửa sông và đầm phá của tỉnh với chức năng ngăn chặn
sự thâm nhập của sóng biển vào thềm đất cát thiếu vững chắc của bờ biển, hạnchế tốc độ gió để kiềm chế sự di động của cát, chắn sóng bảo vệ các chân đê,ngăn gió hại nhằm bảo vệ các cơ sở hạ tầng dân sinh kinh tế trong vùng, bảo vệvật nuôi cây trồng, tạo môi trường thuỷ sinh tốt cho các loài thuỷ hải sản sinh
Trang 2Đối với hệ thống rừng phòng hộ vùng cát ven biển của tỉnh trong nhữngnăm qua đã được quan tâm đầu tư và đã có những thành công nhất định, diệntích rừng phòng hộ được mở rộng, rừng được quản lý bảo vệ tương đối tốt, một
số loài cây đưa vào trồng rừng đã chứng tỏ được khả năng thích nghi và sứcchống chịu trên điều kiện lập địa khắc nghiệt như Phi Lao, Keo lưỡi liềm, Keo látràm, Keo chịu hạn
Sau hơn 10 năm nghiên cứu, xây dựng thành công nhiều mô hình thửnghiệm trên nhiều vùng sinh thái khác nhau của nước ta, đặc biệt là các đồi cátnội đồng và đồi cát di động ở tỉnh Thừa Thiên-Huế, các nhà khoa học ViệnKhoa học lâm nghiệp Việt Nam phối hợp với Trung tâm giống cây lâm nghiệpthuộc Sở NN-PTNT tỉnh Bình Thuận và Chi cục lâm nghiệp Thừa Thiên-Huếđưa ra khuyến cáo bà con và các địa phương vùng duyên hải miền Trung nước
ta bổ sung vào cơ cấu trồng rừng phòng hộ ven biển giống keo lưỡi liềm(Tên
khoa học:Acacia crassicarpa)được chọn tạo thành công từ nguồn giống nhập
nội của Australia
Đây là loài cây có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau kể cả đấtcát sâu và đất sét khó thoát nước Có thể chịu được độ mặn, đất cằn cỗi và khảnăng chịu lửa tốt Vì đây là loài cây mang lại nhiều lợi ích, có ý nghĩa lớn vềkinh tế xã hội nên đang được phát triển trồng nhiều trong người dân, đặc biệt làngười dân ở cùng cát Bắc Trung Bộ Việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuậtlâm sinh để đánh giá, lựa chọn các biện pháp thích hợp giúp nâng cao khả năngthích nghi ( khả năng sinh trưởng và tỉ lệ sống) của keo lá liềm là rất quan trọng
Vì vậy, dựa trên sự cần thiết ấy, em xin được làm đề tài “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng keo lá liềm (Acacia crassicarpa) trên vùng đất cát ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế”
Trang 3PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo (Hanum &Vander Maesen, 1997; p 57) "A crassicarpa có vùngphân bố rộng nhiệt độ thích hợp từ 15-34 độ C lượng mưa từ 500-3500
mm mùa khô có thể kéo dài 6 tháng phân bố từ vùng đất cát ven biển đến đấtđồi núi, xuất hiện ơ nơi đất khô hạn, nhiểm mặn Nó thích hợp với nhiều loạiđất ( Đất ven biển, đất vàng, đất núi lửa đất acid hay bị ngập lụt vào mùa ẩm.)
- Việc chọn lọc dòng có khả năng chịu nóng, chịu hạn và sinh trưởng vượttrội hơn cây đại trà là lựa chọn chỉ tiêu đánh giá phù hợp khi chọn lọc dòng câytrồng vùng đất cát ven biển Khả năng chịu hạn, nóng ở cây trồng là tính trạngđược kiểm soát bởi nhiều gen Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về cơchế phân tử của khả năng chịu hạn, nóng của thực vật trong các năm gần đây đãchỉ ra rằng: trong số hàng trăm gen tham gia vào quá trình chịu hạn, nóng củathực vât, chúng được chia thành hai nhóm: Nhóm1- gen điều khiển (gen tổnghợp protein điều khiển quá trình phiên mã -transcription factor, kinase ) vànhóm 2- gen chức năng (gen tham gia vào quá trình tổng hợp photphatases,protease, late embryogenesis abundant (LEA), các protein sinh tổng hợp aminoacids, đường: proline, mannitol, sorbitol làm cho thực vật tạo ra hàng loạt phảnứng sinh hoá và sinh lí để tồn tại và thích nghi Nghiên cứu tách chiết và xácđịnh gen điều khiển trong việc chọn tạo giống cây trồng có khả năng kháng hạn,nóng đã và đang là tâm điểm của hàng loạt các phòng thí nghiệm trên toàn thếgiới
Theo (Pederson et al, 1993), Khảo nghiệm xuất xứ có thể được tiến hànhngay sau giai đoạn loại trừ loài nghĩa là giai đoạn loại trừ loài có thể được đánhgiá sau 1/10 - 1/5 luân kỳ thì khảo nghiệm xuất xứ cũng có thể bắt đầu ngay sau
đó Khảo nghiệm nhiều xuất xứ: Đây là khảo nghiệm nhằm xác định quy mô vàkiểu biến dị giữa các xuất xứ của những loài có triển vọng, nhằm chọn ra một số
ít xuất xứ có triển vọng nhất, cũng như chỉ ra khu vực không thể lấy hạt và khuvực không thể nhập hạt để gây trồng
Quy mô của khảo nghiệm phụ thuộc vào phân bố địa lý và mức độ biến dịcủa loài Loài càng có phạm vi phân bố rộng trên nhiều điều kiện lập địa khác
Trang 4phân bố hẹp sẽ có ít xuất xứ tham gia khảo nghiệm Số xuất xứ tham gia khảonghiệm thường là 10 - 30 xuất xứ.
Kích thước ô nhỏ, song đủ để theo dõi, số cây trong mỗi ô là 25 cây (5 x 5),
có thêm 1 hàng đệm
Số lần lặp là 3 - 4 lần
Thời gian theo dõi khảo nghiệm 1/4 - 1/2 luân kỳ
Các chương trình cải thiện giống phải được xây dựng cho từng loài cây cụthể trong từng điều kiện sinh thái cụ thể và phải áp dụng các biện pháp kỹ thuậtthâm canh cần thiết Như vậy có thể nói ba yếu tố chính để tạo nên năng suấtrừng là giống được cải thiện, các biện pháp kỹ thuật thâm canh và điều kiện sinhthái phù hợp
Cuối cùng cần phải nói thêm rằng bất cứ một nền sản xuất nông lâm nghiệpnào thì giống cũng phải đi trước một bước Riêng đối với cây rừng thì thời gian
đi trước trồng rừng ít nhất phải 5 - 10 năm
Theo Davidson, 1996 ảnh hường của cải thiện giống đến sinh trưởng, tăngtrưởng thể tích gỗ của các loài keo ngay từ giai đoạn vườn ươm: Năm 1 ở vườnươm tỷ lệ tham gia của việc cải thiên giống chiếm 15%; năm 2 ở rừng trồng tỷ lệ20% và năm 3 tỷ lệ tham gia đến 50% Vì vậy chọn lọc giống/dòng loài keo láliềm có thể thực hiện trong vòng 3 năm đầu đã đảm bảo độ tin cậy cho phép.Theo Molotcov (1987) thì chọn giống có mục tiêu là một nét đặc trưng củachọn giống lâm nghiệp hiện đại trong những thập niên tới Loài keo lá liềmtrồng trên vùng đất cát ven biển muc tiêu kinh doanh chính là phòng hộ bảo vệmôi trường kết hợp mục tiêu kinh doanh gỗ,củi vì vậy chỉ tiêu cần quan tâmtrong cải thiện giống là khả năng chịu nóng, hạn và sức sinh trưởng của loài.Theo Pirags (1985) Giai đoạn chọn cây trội (tức cây giống) để xây dựngvườn giống bằng cây ghép và bằng cây hạt Kết quả của giai đoạn này thườngnâng sản lượng của rừng trồng trong đời sau lên 10 - 15% so với rừng trồng từcây hạt không được chọn lọc
Giai đoạn chọn giống tổng hợp (synthetic selection) Trong giai đoạn nàycây trội được kiểm tra cẩn thận về mặt di truyền theo dòng hệ Cùng với việcchọn lọc là việc áp dụng các phương pháp tổng hợp khác như lai giống, gây độtbiến và đa bội hoá để tạo vật liệu khởi đầu Sau khi đã tạo được tổ hợp lai tối ưuhoặc vật liệu khởi đầu tối ưu người ta dùng các phương pháp nhân giống sinh
Trang 5giống vào sản xuất Theo Pirags (1985) thì kết quả của chọn giống tổng hợp cóthể nâng năng suất rừng lên 45 - 50% so với rừng trồng từ giống không đượcchọn lọc.
Theo (Eldridge, 1977) Sau khi đã chọn được xuất xứ thích hợp nhất chomỗi vùng thì bước đi thích hợp nhất là chọn lọc cây trội và gây tạo giống mới.Việc chọn lọc cây trội chủ yếu được tiến hành trong các rừng đồng tuổi nhằmchọn ra những cá thể đáp ứng yêu cầu cao nhất về sản lượng và chất lượng theomục tiêu kinh tế Đối với nhiều loài cây thì việc chọn lọc cây trội là khâu quantrọng nhất và quyết định nhất trong quá trình cải thiện giống cây trồng Cây trội
là nền tảng của một chương trình chọn giống
Theo Dubinin (1971) Nếu trong nông nghiệp người ta ít khi sử dụng trựctiếp cây lai đời thứ nhất (F1) mà phải qua một quá trình chọn lọc để đào thảinhững cá thể mang gen lặn bất lợi hoặc dùng ưu thế lai đời F1 bằng cách lợidụng dòng bất thụ đực để lai giống, thì trong lâm nghiệp lại phải dùng trực tiếp
ưu thế lai của đời F1 thông qua nhân giống sinh dưỡng bằng hom hoặc nuôi cấy
mô phân sinh, tiến hành khảo nghiệm dòng vô tính để chọn ra những dòng câylai tốt nhất, sau đó lại dùng nhân giống hom hoặc nuôi cấy mô phân sinh để pháttriển giống vào sản xuất
Do những khó khăn trên mà hướng chọn giống trong lâm nghiệp chủ yếu là
sử dụng những biến dị hoặc những thể đột biến tự nhiên, được chọn lọc tự nhiêngiữ lại, và đã thích ứng với hoàn cảnh của từng vùng Chính vì vậy mà trongnhững năm gần đây, việc khảo nghiệm xuất xứ, một phương pháp vận dụng dãycùng nguồn trong biến dị di truyền, sử dụng các kết quả của sự phát sinh biến dị
và chọn lọc tự nhiên trong nhiều thế hệ, kết hợp với việc chọn lọc cây trội laigiống và nhân giống sinh dưỡng, đã được áp dụng rộng rãi
Cuối cùng, cần nói thêm rằng, ngày nay mặc dù công nghệ di truyền đãphát triển đến đỉnh cao, người ra đã có thể xây dựng được công nghệ ghép gen
để tạo nên những cây trồng có tính chất tổng hợp, đã nghĩ đến việc tạo ra các môhình không có trong tự nhiên như tạo giống đại mạch có khả năng tổng hợpđược đạm khí quyển và tổng hợp được trong hạt của nó các protein quý giá củaĐậu tương (A Sizonov, 1984) Xian Hanchen (1989) đã dùng tần số siêu cao đểchuyển tải thành công các thông tin di truyền cho những cơ thể khác loài Songphương pháp chọn giống cổ điển vẫn không hề giảm ý nghĩa của nó Có điềucần thấy rằng bất cứ ở đâu và khi nào thì chọn giống cây rừng cũng đều đi sauchọn giống cây nông nghiệp ngắn ngày Điều đó vừa do tính cấp thiết của cây
Trang 6nông nghiệp đối với cuộc sống con người vừa do tính chất ngắn ngày của nó làmcho việc chọn giống mau đạt đến mục tiêu Thấy được điều này để một mặt biếtvận dụng các kết quả di truyền học hiện đại và chọn giống cây nông nghiệp vàochọn giống cây rừng, mặt khác trong chọn giống cây rừng phải bình tĩnh vàkhông nôn nóng mới mang lại kết quả chắc chắn Đương nhiên cải thiện giốngcây rừng phải mau chóng đáp ứng yêu cầu cấp bách của sản xuất là tăng sảnlượng và chất lượng rừng, song cải thiện giống cây rừng là một quá trình liên tụcđòi hỏi nhiều thời gian và công sức mới làm được.
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
2.2.1 Đặc điểm và tầm quan trọng của keo lá liềm
- Keo lá liềm (Acacia crassicarpa A.Cunn ex benth) thuộc họ trinh nữ(Minosaceae) có nguồn gốc nhập nội từ Australia Qua điều tra tập đoàn câytrồng cây trồng rừng chủ yếu trên đất cát nội đồng vùng miền Trung đã xác địnhKeo lưỡi Liềm là loài cây trồng có triển vọng nhất Đây là loài cây có khả năngthích nghi trong điều kiện khắc nghiệt của đất cát nội đồng, có khả năng sinhtrưởng tốt trên cát nội đồng úng ngập khi được lên líp, vừa thích hợp trong điềukiện cát bay cục bộ nhờ bộ rễ đặc biệt phát triển Ngoài ra, với bộ rễ có nhiềunốt sần và bộ tán lá dày, rụng lá nhiều nên có ưu thế trong việc cải tạo đất, cảitạo môi trường Gỗ lớn dùng đóng đồ mộc, gỗ xây dựng, làm ván ghép thanh…
Gỗ nhỏ dùng làm nguyên liệu giấy, dăm, ván sợi ép, trụ mỏ
Tỷ lệ sống của rừng trồng là một chi tiêu rất quan trong trong việc đánh giá
sự thành công hay thất bại của công tác trồng rừng, đặc biệt là trồng rừng trênvùng đất cát ven biển Hiện nay số loài cây lâm nghiệp tồn tại được trên vùngcát trắng ven biển còn rất ít, lý do chủ yếu do tính chất khắc nghiệt của đất cát
và khí hậu vùng cát làm cho cây trồng không thể chịu đựng nỗi
Các loài keo vùng thấp là những loài có diện tích trồng rừng lớn nhất ởnước ta Có thể nói gần 40% diện tích trồng rừng ở vùng đồi thấp hiện nay làKeo vì thế nghiên cứu chọn giống cho các loài keo vùng thấp từ khâu khảonghiệm xuất xứ đến chọn lọc cây trội, lai giống và khảo nghiệm giống là có ýnghĩa rất thiết thực trong sản xuất lâm nghiệp
Đầu những năm 1980 bốn loài keo vùng thấp là Keo lá tràm, Keo tai tượng(A mangium), Keo lá liềm (A crassicarpa), và Keo nâu (A alaucocarpa) đãđược nhập trồng thử tại Ba Vì (Hà Tây), Hóa Thượng (Thái Nguyên) và TrảngBom (Đồng Nai) Đánh giá sơ bộ năm 1991 đã thấy trong 4 loài keo được trồng
Trang 7trưởng nhanh là Keo tai tượng, Keo lá liềm Tại Đông Hà đã trồng các lô hạt củaCSIRO (Australia) gồm 13 xuất xứ Keo lá tràm (A auriculiformis), 9 xuất xứKeo lá liềm (A crassicarpa) Đây là những nguồn vật liệu rất có ý nghĩa vàthuận lợi cho những nghiên cứu tiếp theo Keo lá liềm (A crasscicarpa) cónguồn gốc từ Australia, Papua New Guinea và Indonesia, có phân bố ở vĩ độ 8 -20o Nam, độ cao 5 - 200 m trên mặt biển, lượng mưa 1000 -3500 mm/năm, gỗ
có tỷ trọng 0,6 - 0,7 thích hợp cho xây dựng, làm đồ mộc Keo lá liềm là loài câymới được đưa vào trồng ở nước ta vào đầu những năm 1980, là loài có sinhtrưởng nhanh nhất trong các loài keo ở vùng thấp, có thể gây trồng trên đất cátnội đồng có lên líp ở tỉnh ThừaThiên-Huế, đồng thời có thể sinh trưởng trên cáclập địa đất đồi núi ở nhiều vùng trong cả nước Vì vậy việc nghiên cứu các biệnpháp kỹ thuật lâm sinh trồng keo lá liềm trên vùng đất cát là có cơ sở khoa học
và thực tiển cao
Theo Nguyễn Thị Liệu 2008 thì keo lưỡi Liềm là loài có triển vọng nhấttrên đất cát nội đồng vùng Bắc Trung Bộ Đây là loài cây có khả năng thích nghitốt trên điều kiện khắc nghiệt của đất cát nội đồng Chúng có khả năng sinhtrưởng tốt trên cát nội đồng úng ngập khi được lên líp, vừa thích hợp trong điềukiện cát bay cục bộ vì nó có bộ rễ đặc biệt phát triển Ngoài ra với bộ rễ pháttriển, có nhiều nốt sần và bộ tán lá dày, rụng lá nhiều nó có ưu thế trong việc cảitạo đất, cải tạo môi trường
Diễn biến một số tính chất đất trước và sau khi trồng rừng
Đất từ trạng thái chua: pH = 5,56 đã được cải tạo trở nên ít chua pH = 6,43, đây
là một khả năng cải tạo đất vô cùng quan trọng, làm cho đất ngày càng được cải thiện
Có thể thấy rằng pH tăng trong trường hợp này có thể do khả năng cải tạo đất của cây,cũng có thể do sau khi lên líp và trồng rừng, tạo được vành đai chắn gió, chống cátbay, khắc phục được hiện tượng úng ngập thường xuyên, do đó dần dần làm tăng độ
pH của đất
Hàm lượng cacbon hữu cơ, N2, P2O5 và K2O đều tăng, như vậy keo lưỡiLiềm đã làm tăng hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất, đáp ứng được nhu cầu cảitạo môi trường đất cát nội đồng Các chất dinh dưỡng khoáng trong đất tăng là do rễKeo lưỡi Liềm có rất nhiều nốt sần có khả năng cố định Nitơ tự do từ khí trời, ngoài racây có hệ tán lá phát triển rất mạnh, vật rơi rụng rất nhiều, được vi sinh vật phân huỷ,trả lại chất hữu cơ cho đất
Trang 8Vi sinh vật hoạt động và tổng số vi sinh vật đều tăng sẽ làm tăng khả năng cảitạo đất thông qua hoạt động của chúng bằng phân huỹ chất hữu cơ từ cành khô lárụng, cố định đạm, hấp phụ lân khó tiêu để trả lại cho đất P2O5 dễ tiêu.
Tại các rừng trồng keo lá liềm trên cát nội đồng, qua kiểm tra rất nhiều điểm trênđất trống trong rừng, kể cả những nơi khảong cách 3-4m so với gốc cây gần nhất đềuphát hiện thấy rễ của Keo lưỡi Liềm có mang rất nhiều nốt sần Điều này chứng tỏ rễcủa Keo lưỡi Liềm vươn rất xa, khả năng sinh trưởng tốt và khả năng cải tạo đất cũngrất tốt
Trên đất rừng keo lá liềm khối lượng lá rụng rất lớn, che phủ đất và cải tạo đấttốt, do đó Keo lưỡi Liềm có khả năng cải tạo đất cát nội đồng tốt, vừa thích hợp đượcvới điều kiện úng ngập vừa thích hợp cho điều kiện cát bay cục bộ
Bên cạnh rừng trồng keo lá liềm trước đây thường bị úng ngập hoặc cát bay, nênhầu hết người dân bỏ hoang, nay hầu như không còn hiện tượng cát bay, người dân đãtrồng được các loại hoa màu như: Ngô, Lạc, Dưa hấu, Dưa chuột Thậm chí trướcđây một số vùng trũng trong rừng không thể trồng rừng được, nay người dân cũng xinxen vào giữa để trồng các loại hoa màu đó
2.2.2 Công tác giống và cải thiện giống keo lá liềm ở Việt Nam trong những năm qua.
Giống là một trong những nhân tố quan trọng nhất của trồng rừng thâm canh.Không có giống được cải thiện theo mục tiêu kinh tế thì không thể đưa năng suất rừnglên cao
Cải thiện giống cây rừng ở nước ta đã đạt được một số thành tựu đáng kể trongnhững năm qua Đó là đã chọn được một số loài cây và xuất xứ có triển vọng nhất chomột số vùng sinh thái chính, chọn được cây trội và xây dựng một số vườn giống chomột số loài cây trồng rừng chủ yếu, cũng như các thành tựu về lai tạo và sử dụnggiống lai, về nhân giống hom và nuôi cấy mô phân sinh
Những giống mới thật sự có ý nghĩa vừa qua là các giống keo chịu hạn cho vùngcát khô hạn ven biển, các giống tràm cho vùng ngập phèn ở miền Nam, các cây trội cólượng nhựa cao của Thông nhựa, các giống Keo lai, Bạch đàn lai, các giống Bạch đànU6, PN2, PN14 và các giống phi lao 701, 601
Mặc dầu công tác giống vẫn chưa đáp ứng yêu cầu to lớn của sản xuất, song biết
sử dụng giống mới và kỹ thuật nhân giống tiên tiến phối hợp với các biện pháp thâmcanh thích hợp chắc chắn chúng ta sẽ đẩy mạnh công tác cải thiện giống cây rừng, gópphần tích cực vào việc tăng năng suất rừng trồng trong thời gian tới
Trang 9Ở Việt Nam, Keo lá liềm được trồng ở hầu khắp các tỉnh từ bắc vào nam, tậptrung nhiều ở các vùng triền sông, vùng bán sơn địa và các vùng mới khai hoang Đặcbiệt tại vùng đất thấp.
Keo lá Liềm là loại cây dễ trồng, chịu hạn tốt, phù hợp với điều kiện trồng trênnhững vùng đất có độ cao dưới 800m Đây là loại cây có củ ít bị sâu bệnh hại Để pháttriển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp bền vững, các địa phương nên phát triểntrồng nhiều cây keo lá liềm Ở các thành phố, thị trấn, các cơ quan, nhà ở có vườnquanh nhà, chúng ta có thể đào hố ven hàng rào để trồng keo nhằm mục đich cải tạomôi trường sinh thái con cung câp gỗ, củi tăng thu nhập kinh tế
Về chọn giống: hiện vẫn sử dụng các giống đang được sản xuất ở các địaphương; chưa có một công trình nào nghiên cứu chọn giống một cách có hệ thống.Các giống hiện sản xuất ở các hộ nông dân chủ yếu nông dân tự lựa chọn, không có cơ
sở khoa học; chỉ dựa vào kinh nghiệm của nông dân
Về nhân giống và sản xuất giống: Nông dân chủ yếu sử dụng phương pháp nhângiống bằng hạt
Theo số liệu từ các trung tâm điều tra quy hoạch của các tỉnh, hiện nay diện tíchđất cát hoang hóa chưa sử dụng của các tỉnh khá lớn chiếm bình quân từ 22-35% tổngdiện tích đất cát ven biển của tỉnh Như tỉnh Hà Tĩnh tổng diện tích đất cát còn hoanghóa là 8500ha/28.000ha chiếm 30,35%; Quảng Trị 10.020ha /30.133ha chiếm33,25%; Tỉnh Thừa Thiên Huế là 6515,97ha, đất hoang hóa chiếm tỷ lệ6515,97/28.498ha chiếm 22,86%; Tỉnh Quảng Bình tỷ lệ 8200ha/ 34000ha chiếm24,1% Đặc biệt 2 huyện Tuy Phong và Bắc Bình (Bình Thuận) có diện tích đất cáthoang hoá lớn khoảng 35000 ha Những vùng đất hoang hóa này rất khô căn và nắngnóng vì vậy bức bách và cần thiết phải chọn ra giống cây chịu hạn, nóng để phủ xanhvùng đất phòng hộ xung yếu này
Quá trình di động của cát và hiểm họa sa mạc hóa vùng duyên hải miền Trung đãthật sự trở thành mối hiểm nguy đe doạ đến môi trường sinh thái và sự phát triển ổnđịnh bền vững của kinh tế xã hội toàn vùng Nhiều vùng đất đai đã bị thoái hoá lâungày, đất cát di động mạnh hoặc phục hồi sự di động vẫn chưa đưa vào sử dụng được.Đời sống người dân trong vùng còn nghèo nàn, gặp nhiều khó khăn Ví dụ hai huyệnTuy Phong và Bắc Bình (Bình Thuận) có các đồi cát di động với diện tích khảong
5000 ha hiện nay là nguy cơ thưòng xuyên tạo ra những cơn bão cát, dữ dội, bay bốc,
di chuyển cát từ dải ven biển trở vào; đe doạ chôn vùi làng mạc, ruộng đồng, phủ lấpquốc lộ 1A trên một phạm vi rộng hàng ngàn ha
Trang 10Đây là vùng sinh thái rất nhạy cảm và khắc nghiệt, chịu sự tác động mạnh củacác yếu tố tự nhiên, thường xuyên bị ảnh hưởng của các loại hình thiên tai Rừng bịtàn phá nghiêm trọng do con người và do thiên nhiên, nạn chặt phá rừng, đào bới cát
để khai thác titan, nguyên liệu làm thủy tinh, vật liệu xây dựng và đào hồ nuôi tôm trêncát là mối nguy hại nghiêm trọng ảnh hướng đến hệ sinh thái khu vực ven biển
Đây là vùng đất có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về kinh tế - xã hội, anninh, quốc phòng và phòng hộ môi trường bờ biển của đất nước, chính vì vậy Đảng vàNhà nước ta rất quan tâm, chú ý tới việc đầu tư bảo tồn, phát triển môi trường-kinh tế -
xã hội ở vùng này Việc bảo tồn và lựa chọn cây lâm nghiệp để phục vụ trồng rừngven biển miền Trung là một trong những mục tiêu quan trọng của Chính phủ
Tuy vậy, hiện nay cơ cấu cây trồng trên vùng cát ven biển còn khá đơn giản.Nhiều loài cây đang trong giai đoạn khảo nghiệm, sự thích ứng và độ bền vững củanhững loài cây này trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt, đất khô nóng - nghèo chấtdinh dưỡng, đặc biệt là khu vực cát bay, tốc độ gió mạnh, nắng nóng cao, còn rấtnhiều hạn chế Cho đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu chọndòng cây lâm nghiệp có khả năng chống chịu tốt và năng suất cao để phát triển rừngven biển miền Trung
Nghiên cứu chọn tạo dòng keo lá liềm phục vụ phát triển rừng vùng đất cát biển
là hết sức cấp bách và cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao hiện nay
Trang 11PHẦN 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định một số chỉ tiêu kỹ thuật trồng rừng nhằm xây dựng bảng hướngdẫn kỹ thuật trồng rừng keo lá liềm trên vùng cát ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Keo lá liềm trên vùng cát ven biển và các biện pháp kỹ thuật lâm sinhtrồng keo lá liềm
3.3 Nội dung nghiên cứu:
1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội vùng cát ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
2 Đặc điểm hình thái và sinh thái cây keo lá liềm
3 Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp làm đất đến khả năng sinhtrưởng của keo lá liềm
4 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng củakeo lá liềm
5 Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại đất đến khả năng sinh trưởng của keo
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Thu thập thông tin bằng các phương pháp điều tra
Bằng phương pháp quan sát, xem xét từ đó có thể thấy được các mô hình,công thức trồng, tiến hành mô tả, phân tích đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng về
Trang 12đường kính, chiều cao, thể tích của cây keo lá liềm đối với mỗi mô hình côngthức trồng sau đó xử lý đánh giá sinh trưởng
Phương pháp đo đếm sử lý số liệu: phương pháp đo tiến hành lập ô tiêuchuẩn ở các mô hình
- Đo đường kính: dùng thước dây đo chu vi, sau đó suy ra đường kính D13
Trang 13PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội vùng cát ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Điểm cực Tây: 160 22’45’’ vĩ Bắc và 1070 00’56’’ kinh Đông tại bản Paré,
xã Hồng Thủy, huyện A Luới
- Điểm cực Đông: 160 13’18’’ vĩ Bắc và 1080 12’ 57’’kinh Đông tại bờ phíaĐông đảo Sơn Trà, thị trấn Lăng Cô,huyện Phú Lộc
4.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Do quá trình lắng đọng, bồi tụ và trầm tích vật chất, quá trình vận động tạosơn để hình thành đất, vì vậy vùng cát ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế được cấutạo bởi 3 kiểu địa hình sau:
a Địa hình bờ biển
Bờ biển tỉnh Thừa Thiên Huế có dạng lồi lõm, gồ ghề do bị chia cắt bởinhiều cửa sông và núi ăn lan ra biển, với đặc điểm đó nên đã xuất hiện vũng ChânMây là một lợi thế cho tỉnh trong việc xây dựng cảng biển nước sâu
Nhìn chung bờ biển Thừa Thiên Huế nằm trong hệ thống bờ biển vùng BắcTrung Bộ được cấu tạo bằng hai loại vật liệu chính được vận chuyển từ nơi khác tới
là phù sa và cát Ngoài ra còn có những đoạn cấu tạo bằng vật liệu tại chỗ được màimòn do sóng biển mà hình thành (đồi núi ăn lan ra biển)
Trang 14b Địa hình đồng bằng ven biển
Địa hình đồng bằng ven biển là đồng bằng hẹp xen kẽ các cồn cát, dải cáttrắng kéo dài từ Phong Điền đến Phú Lộc Bị chia cắt bởi các con sông, đầm phátrong địa bàn Đặc biệt vùng bờ biển của tỉnh có hệ thống đầm phá nổi tiếng nhưphá Tam Giang, đầm Cầu Hai, đầm Lập An Vùng đồng bằng là nơi tập trungdân cư sinh sống và có nguồn tài nguyên đất đai, mặt nước để nhân dân sảnxuất nông lâm ngư nghiệp
c Địa hình núi
Kiểu địa hình núi trong vùng dự án là núi thấp, tập trung ở huyện Phú Lộc.Đặc biệt có những dãy núi đâm ngang ra biển như núi Linh Thái, núi PhướcTượng, núi Phú Gia
4.1.1.3 Khí hậu, thủy - hải văn
a Khí hậu
Khu vực dự án chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa Mộtnăm có hai mùa: mùa khô và mùa mưa Mùa khô bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 9trong năm, mùa mưa bắt đầu từ tháng 10 và kết thúc vào tháng 01 năm sau
+ Gió mùa Đông Bắc xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau Đặc điểm gióthường kèm theo mưa, lạnh, nền nhiệt thấp, độ ẩm không khí cao Gió mùa Đông
Trang 15của thực vật và có khi gây nên sương muối làm chết nhiều loại cây trồng hoặc giảmnăng suất và chính gió mùa Đông bắc là động lực gây nên cát bay, cát lấp (từ phíabiển vào đất liền)
- Bão: Bão thường xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 12 trong năm, kèm theomưa lũ ở thượng nguồn gây triều cường, ngập úng ở vùng hạ lưu Trên địa bànvùng dự án thường hứng chịu các cơn bão có sức công phá lớn gây thiệt hại về tàisản của nhân dân và các công trình cơ sở hạ tầng và sản xuất Nông lâm ngư nghiệp
* Chế độ mưa
Tổng lượng mưa bình quân trong năm 3.056 mm, lượng mưa thấp nhất 27,9
mm vào tháng 1 và cao nhất 1.043 mm vào tháng 10 trong năm Đặc điểm mưaphân bố không đều các tháng trong năm, chủ yếu tập trung vào các tháng 9 đếntháng 12
b Thuỷ - hải văn
* Thuỷ văn sông và đầm phá
- Thuỷ văn sông:
Thừa Thiên - Huế có hệ thống sông ngòi khá dày đặc nhưng các sông đềunhỏ, độ dốc lớn Tổng chiều dài các sông chính chảy trên lãnh thổ của tỉnh làkhoảng 300 km trong đó hệ thống sông Hương chiếm đến 60%
Sông Hương là hệ thống sông dài nhất và có lưu vực lớn nhất trong tỉnh, gồm
3 nhánh hợp thành là sông Bồ, sông Hữu Trạch và sông Tả Trạch, chảy qua cáchuyện Hương Trà, Hương Thuỷ, Phú Vang và thành phố Huế, đổ cửa biển Thuận
Ngoài ra, tỉnh còn có sông Nông, sông Bu Lu, sông Cầu Hai
Nhìn chung, sông ngòi ở Huế ngắn và dốc, ít có sông lớn Các sông có sựchênh lệch rất lớn về dòng chảy trong năm Tổng lượng nước trong ba tháng mùa
Trang 16- Đầm phá:
Hệ thống đầm phá trên địa bàn vùng dự án khá đặc trưng không những củatỉnh Thừa Thiên Huế mà còn mang tính chất quốc gia, đặc biệt có hệ thống đầmphá Tam Giang chạy dài từ Phong Điền đến Phú Lộc là một trong 7 hệ thốngđầm phá nước lợ nổi tiếng về đa dạng sinh học của Việt Nam, là nơi cư trú củacác loài thuỷ hải sản nước lợ và các loài thuỷ sinh khác Ngoài ra trên địa bàncòn có đầm Cầu Hai, đầm Lập An ở huyện Phú Lộc có diện tích lớn, là nguồncung cấp thuỷ sản nước lợ nổi tiếng trong tỉnh
* Hải văn
- Thuỷ triều:
Dọc ven biển Thừa Thiên Huế thuỷ triều rất phức tạp do nằm giữa haivùng thủy triều phức tạp là Tây Thái Bình dương và Đông ấn Độ dương Vùngven biển của tỉnh có chế độ thuỷ triều là bán nhật triều, biên độ triều thay đổi rấtlớn, từ 3-5 m ở vùng biển, từ lâu con người đã lợi dụng thủy triều trong việccho các tàu thuyền ra vào các lòng lạch, bến cảng cũng như khi đi lại trên biển,tiêu lũ, thoát úng, nuôi trồng hải sản nước lợ Tuy nhiên, thuỷ triều lên khi cóbão lụt sẽ gây ra hiện tượng triều cường đe dọa nghiêm trọng cho bờ biển
- Sóng biển:
Trong mùa đông, hướng sóng chủ yếu trên biển khơi là hướng Đông Bắc
và có thể đạt trị số trung bình khoảng 2-3m về độ cao và 7-10 giây về chu kỳ,vùng biển Thừa Thiên Huế nằm trong vùng biển Bắc Trung Bộ là vùng có sónglớn nhất vịnh Bắc Bộ
Trong mùa hè, sóng gió theo hướng trùng với hướng gió mùa Tây Nam,song cường độ và tần suất đều yếu hơn sóng gió trong mùa đông: Trung bình 1-
2 m về độ cao và 5-8 giây về chu kỳ
Sóng trong bão là loại sóng phức tạp và nguy hiểm cho mọi hoạt động trênbiển và ven biển, đặc biệt nguy hiểm là sóng thần Độ cao của sóng trong bão tới
4 - 5m hoặc cao hơn nữa
Với điều kiện bờ biển của tỉnh Thừa Thiên Huế vào mùa đông sóng biểnkết hợp với gió biển đã làm sạt lở một số tuyến bờ biển của tỉnh nhất là vùng bờbiển các xã Quảng Công, Quảng Ngạn (Quảng Điền), Hải Dương (huyện HươngTrà), Thị trấn Thuận An, Phú Thuận, Phú Hải (huyện Phú Vang), Vinh Hải,Vinh Mỹ (huyện Phú Lộc)
Trang 17- Độ mặn nước biển:
Mùa có gió Đông Bắc, nước biển có độ mặn cao (trên 33,4%o), gần cáccửa sông thường thấp hơn (dưới 30%o) Mùa có gió Tây Nam, đồng thời cũng làmùa mưa độ mặn giảm đi một cách đáng kể, có khi xuống dưới 32%o, thậm chídưới 20 - 25%o ở gần các cửa sông vừa và lớn Biên độ trung bình năm của độmặn nước biển tầng mặt có thể vượt quá 2%o (10 - 15% ở cửa các sông lớn) Độmặn và mức độ ngập triều sẽ quyết định đến sự xâm lấn, khả năng sinh trưởng
và phát triển của các cây rừng ngập mặn cũng như khả năng nuôi trồng thủy sảnven biển
- Động lực biển và sạt lở bờ biển:
Sạt lở bờ biển là quy luật tự nhiên xảy ra ở bất cứ vùng bờ biển nào trênthế giới, nhất là các vùng nhiệt đới Trong mùa mưa bão, sóng biển là động lựcchính tác động đến bờ biển Cát bùn luôn được đánh tung lên và được dòng hảilưu chuyển ra ngoài bờ và tải đi bồi tích nơi khác Mực nước biển quyết định độảnh hưởng đến bờ biển Sự trùng lặp của mực nước cao nhất theo thuỷ triều,sóng thần với nước dâng và sóng hải lưu sẽ làm cho mức độ phá hoại của độnglực biển trở nên mạnh hơn Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của mỗi yếu tố trêntừng vùng biển riêng biệt hoàn toàn khác nhau ảnh hưởng của động lực biển làsóng, dòng hải lưu, mực nước triều trong chế độ gió mùa là nguyên nhân chínhgây sụt lở bờ biển
4.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
4.1.2.1 Đất
Miền duyên hải đất mặn tuy không nhiều, nhưng cũng chiếm trên
14000 hecta và ven các vùng cửa biển (Phú Vang, Lăng Cô) Trên các giải đấtmặn, cần nghiên cứu các mô hình sử dụng đất khác nhau: có nơi ngư lâm kếthợp, có nơi chỉ nuôi tôm sú, có nơi mô hình rừng sú vẹt vừa giữ đất, vừa nuôi
Trang 18Đất cát trên cồn cát duyên hải thì vừa khô hạn, vừa nghèo nàn Nhóm đấtnày có diện tích 43.962 ha, chiếm 8,7% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Gồm 2loại là: Cồn cát trắng vàng và đất cát biển.
- Cồn cát trắng vàng (Luvic Arenosols): Có diện tích 24.358 ha, chiếm4,82% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở các huyện ven biển như Phong Điền,Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc
Đất được hình thành từ nhiều nguồn gốc khác nhau Cát màu vàng cónguồn gốc biển - gió, phân bố thành dãy cồn - đụn cát ven biển và các bãi biểnkéo dài từ Điền Hương qua Hải Dương, Phú Diên đến Vinh Hiền, Lộc Hải Cátxám trắng chủ yếu có nguồn gốc biển và phân bố trên các dải gò cao nội dung từPhò Trạch đến Phong Điền, từ Phú Đa đến Vinh Thái Cát xám trắng cũng đượcphát hiện ở Vinh Thanh - Vinh Hiền và rải rác ở ven rìa đồng bằng Cát vàngnghệ nguồn gốc biển phần lớn bị cát vàng nhạt và cát xám trắng trẻ hơn che phủ.Loại cát vàng nghệ xuất lộ trên diện rộng ở Phú Bài, Lăng Cô, Bồ Điền và chỏmnhỏ ở Vinh Thanh
Loại đất này có hình thái phẫu diện ít phân hóa, đồng nhất cả về màu sắc vàthành phần cơ giới, từ trên xuống dưới đều là cát tơi hoặc cát dính Thành phần
cơ giới rất nhẹ, rời rạc Tỷ lệ sét rất thấp hoặc không đáng kể, chủ yếu là cấp hạtcát, tỷ lệ cát khô khá cao Các đồn cát, đụn cát phần lớn chưa ổn định, hiệntượng di dộng của cát đang thường xuyên xảy ra Những nơi có địa hình thấp thì
đã có sự phân hóa về màu sắc; nơi nào trũng đọng nước thì tầng mặt xám hơiđen, tầng dưới có màu xám vàng xen vệt trắng Đây là loại đất rất nghèo mùn vàcác chất dinh dưỡng; cation trao đổi rất thấp; dung tích hấp thu rất thấp, nên khảnăng giữ nước, giữ phân kém Phần lớn diện tích loại đất này đang bị bỏ hoang.Đây là loại đất có diện tích rất lớn, vì vậy cần có biện pháp tổ chức sản xuấttrên loại đất này, tùy theo từng nơi để bổ trí các loại cây nông, lâm nghiệp thíchhợp Trên cồn đụn cát cần trồng cây để chống cát bay lấn chiếm ruộng đồng,làng mạc Đối với các dải cát bằng, mịn, mực nước ngầm cao thì có thể khaithác sử dụng trồng các loại cây nông nghiệp hoặc nông lâm kết hợp
- Đất cát biển (Dystric Arenosols): Có diện tích 19.604 ha, chiếm 3,9%tổng diện tích tự nhiên của tỉnh, phân bố không thành dải dài tiên tục, có ở tất cảcác huyện ven biển của tỉnh, gồm: Quảng Điền, Hương Thủy (nay là Thị xãHương Thủy), Hương Trà, Phú Vang, Phong Điền, Phú Lộc
Đất cũng được hình thành do quá trình bồi tích của biển nhưng đã được
Trang 19chiều hướng có lợi cho sản xuất nông nghiệp Hình thái phẫu diện đã có sự phânhóa khá rõ, lớp đất mặt thường trắng hơi xám hoặc xám sáng, có nơi hơi vàng;các tầng dưới thường chặt, khả năng tích lũy oxyt sắt lớn nên màu sắc thườngvàng hoặc vàng nhạt Thành phần cơ giới cát đến cát rời - cát pha, nghèo mùn vàcác chất dinh dưỡng, nhưng so với loại cồn cát trắng vàng thì tỷ lệ cấp hạt sétcao hơn, kết cấu đất tốt hơn, hàm lượng mùn cao hơn, nên khả năng giữ nước,giữ phân tốt hơn nhiều.
Đây là loại đất có độ phì tự nhiên thấp, nhưng có lợi thế về thành phần cơgiới nhẹ, mực nước ngầm nông, lại thích hợp với nhiều loại cây trồng như: câycông nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, rau màu, dưa, cà, cây gia vị nếu chọnđược cơ cấu cây trồng thích hợp, chú ý vấn đề thủy lợi, đầu tư thêm phân hữu cơ
và các loại phân bón khác, thì có thể thu được hiệu quả kinh tế cao khi sản xuấttrên loại đất này
4.1.2.2 Hiện trạng sử dụng đất đai tài nguyên rừng vùng cát Thừa Thiên Huế
a Hiện trạng sử dụng đất vùng cát, vùng cửa sông và đầm phá
Tổng diện tích tự nhiên toàn vùng là 86.659,0 ha Trong đó:
Bảng 4.1 Hiện trạng sử dụng đất phân theo huyện
1
14.160, 0
2.596, 0
20.634, 9
27.456, 0
4.788, 5
Trang 203.3 Đất CSD khác 10.658,
7
340,3
606,3
257,9
2.570,2
6.884,0
Trang 21Kết quả bảng 01 cho thấy:
- Diện tích đất Nông nghiệp chiếm 37,4% diện tích tự nhiên Bao gồm đấtsản xuất nông nghiệp và đất lâm nghiệp
- Đất phi nông nghiệp chiếm 42,3% diện tích tự nhiên
- Đất chưa sử dụng chiếm 20,3% diện tích tự nhiên Bao gồm đất đồi núichưa sử dụng, đất cát và đất chưa sử dụng khác Diện tích đất đồi núi chưa sửdụng tập trung ở huyện Phú Lộc, đất cát chủ yếu tập trung ở Phong Điền còn ởQuảng Điền, Phú Vang, Phú Lộc diện tích rất ít, đây là quỹ đất cần đưa vào quyhoạch cho sản xuất lâm nghiệp của vùng bao gồm trồng rừng sản xuất, trồngrừng phòng hộ
b Hiện trạng đất lâm nghiệp vùng cát, vùng cửa sông và đầm phá
Bảng 4.2 Hiện trạng đất lâm nghiệp phân theo huyện
Phân theo huyện P.Điền Q.Điề
n
H.Tr
à P.Vang P.Lộc Tổng đất LN 100,0 12.311,5 4.788,5 1.456,2 129,7 1.460,4 4.476,6
Kết quả bảng 02 cho thấy:
Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 12.311,5 ha, chiếm 14,2% diện tích tựnhiên vùng dự án
Trang 22- Diện tích đất có rừng chiếm tỷ lệ lớn với 98,3% diện tích đất lâm nghiệp.Trong đó:
+ Rừng tự nhiên chiếm 15,5% diện tích đất có rừng Bao gồm trạng tháirừng phục hồi phân bố ở huyện Phú Lộc, trạng thái rú cát chỉ phân bố ở haihuyện Phong Điền và Phú Vang
Đối với trạng thái rừng ngập mặn ven đầm phá, qua khảo sát phúc tra bổsung hiện trạng trên địa bàn có 3,8 ha: 3,0 ha phân bố ở Rú Chá (Hương Phong -Hương Trà), 0,1 ha ở thôn Tân Mỹ (Thuận An - Phú Vang) và 0,7 ha ở thôn Bù
Bảng 4.3 Diện tích đất lâm nghiệp phân theo chủ quản lý
Trang 23Bảng 4.4 Diện tích đất lâm nghiệp phân theo chức năng
Với cơ cấu trên ta thấy diện tích đất lâm nghiệp quy hoạch cho rừng phòng
hộ chiếm tỷ lệ thấp hơn đất lâm nghiệp quy hoạch cho rừng sản xuất, trong khi
đó yêu cầu phòng hộ ở khu vực này rất cao Do đó việc đầu tư xây dựng và pháttriển rừng phòng hộ trong vùng trong giai đoạn tới là hết sức cần thiết
c Hiện trạng đất rừng phòng hộ vùng cát, vùng cửa sông và đầm phá
Bảng 4.5 Diện tích rừng phòng hộ phân theo loại hình phòng hộ
Môi trường Tổng đất LN 4.932,2 4.932,2 - -
Trang 24-Kết quả bảng 04 cho thấy trong vùng dự án chỉ có một loại hình phòng hộduy nhất là phòng hộ chắn cát, chắn gió với diện tích 4.932,2 ha, bao gồm rừng
Đối với thực vật rừng ngập mặn, mặc dầu mới được khảo sát bổ sung đểxây dựng dự án, diện tích rất ít, và chỉ có ở 3 địa điểm: Rú Chá (Hương Phong),Tân Mỹ (Thuận An) và cửa sông Bù Lu (Lộc Vĩnh), các loài cây của kiểu rừngnày là Đước (Rhyzophora sp), Vẹt (Bruguriera sp), Mắm (Avicennia marina), Sú(Acgyceras corniculatum)., Chá (sp)
- Kiểu thảm thực vật rừng
Vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế có các kiểu thảm thực vật sau:
+ Kiểu phụ rừng kín thứ sinh nhân tác trên vùng đồi núi: Tập trung chủ yếu
ở địa bàn vùng đồi, núi của huyện Phú Lộc, tài nguyên rừng bị suy giảm, cácloài thực vật quý hiếm dần dần bị biến mất Thay vào đó là một số loài cây gỗnhỏ, cây bụi có giá trị kinh tế thấp thuộc họ Ban, họ Hồ đào, họ Long não, họSim, họ Cà phê, họ Dung, họ Đay
+ Kiểu phụ rừng kín thứ sinh nhân tác trên vùng cát: Với trạng thái rừngphục hồi dạng rú cát còn sót lại, chỉ phân bố trên phạm vi hẹp ở các huyệnPhong Điền và Phú Vang Thực vật ở đây đơn giản về tổ thành loài, chủ yếu làTrâm sừng, Trâm bầu, Giẻ, Bời lời, mật độ cây phân bố theo đám hoặc theo cụm
và độ che phủ tương đối cao phủ nên khả năng phòng hộ cho vùng cát rất quantrọng
+ Kiểu phụ rừng kín thứ sinh nhân tác trên vùng đất ngập mặn: So với thựcvật rừng trên cạn, rừng ngập mặn không chỉ hạn chế về diện tích mà còn hạn chế
cả về thành phần loài cây với các loài: Đước (Rhyzophora sp), Vẹt (Brugurierasp), Mắm (Avicennia marina), Sú (Acgyceras corniculatum), Chá
Trang 25* Kiểu phụ rừng trồng vùng đồi, núi: Thường trồng thuần loại hoạc hỗngiao, tiêu biểu có các loài Thông nhựa, Keo lá tràm, Keo tai tượng, Bạch đàn
* Kiểu phụ rừng trồng trên vùng cát: Các loài cây trồng chủ yếu là Phi lao,Keo lá tràm, Keo lưỡi mác, các loài Keo chịu hạn
+ Kiểu phụ trảng cây bụi, trảng cỏ thứ sinh: Trên đất đồi núi với một sốloài cây gỗ tái sinh như Thành ngạnh, Cò ke, Trâm, Dung, Bời lời, Chẹo tía Một số loài cây bụi như: Sim, Mua, Chìa vôi Trên đất cát biển là một số loàicây thảm tươi như: Cỏ Lá, cỏ Mật, cỏ Quăn, cỏ Gấu biển, cỏ Lông chông,Muống biển
b Tài nguyên động vật rừng
Là vùng tiếp giáp đồng bằng với vùng đồi và gần khu dân cư nên động vậtrừng trong vùng dự án không mang tính đại diện cho động vật rừng trong tỉnh,trong địa bàn chỉ xuất hiện các loài Chồn, Sóc, Rắn, Kỳ nhông, ếch, Nhái vàcác loài chim: Cu gáy, Bìm bịp, Chèo bẻo, Chích choè,
4.1.2.4 Tài nguyên khoáng sản
Trên lãnh thổ Thừa Thiên Huế đã phát hiện được 120 mỏ, điểm khoáng sảnvới 25 loại khoáng sản, tài nguyên nước dưới đất, phân bố đều khắp, trong đóchiếm tỷ trọng đáng kể và có giá trị kinh tế là các khoáng sản phi kim loại vànhóm vật liệu xây dựng
Nhóm khoáng sản nhiên liệu chủ yếu là than bùn, phân bố từ Phong Điền ởphía Bắc đến Phú Lộc ở phía Nam, với các mỏ có trữ lượng lớn, chất lượng tốt
và điều kiện khai thác thuận lợi tập trung ở khu vực xã Phong Chương, huyệnPhong Điền Trữ lượng các mỏ than bùn ở khu vực các trằm tại Phong Chươngđược đánh giá lên tới 5 triệu mét khối Chất lượng than bùn Thừa Thiên Huếthuộc loại tốt, có những mỏ có độ mùn đạt trên 50% và hàm lượng axit humicđạt 30-40% Hiện tại than bùn ở đây đang được khai thác để chế biến phân hữu
cơ vi sinh
Nhóm khoáng sản kim loại có sắt, titan, chì, kẽm, vàng, thiếc, với trữlượng nói chung không lớn, trừ sa khoáng titan Nhóm khoáng sản phi kimloại
và nhóm vật liệu xây dựng là các nhóm có triển vọng lớn nhất của ThừaThiên Huế, bao gồm pyrit, phosphorit, kaolin, sét, đá granit, đá gabro, đá vôi,cuội sỏi và cát xây dựng Đặc biệt là do cấu tạo địa chất, như thân quặng đá vôichạy từ Bắc vào Nam, đến khu vực Thừa Thiên Huế là kết thúc, tạo ra một lợithế cạnh tranh cho ngành sản xuất xi măng, mà đá vôi là nguyên liệu chính Đa
Trang 26số các khoáng sản phi kim loại này đang được khai thác, ngành công nghiệpkhai khoáng và sản xuất vật liệu xây dựng đang trở thành ngành công nghiệpquan trọng của tỉnh.
Tài nguyên nước dưới đất khá phong phú, bao gồm cả nước nhạt và nướckhoáng nóng, được phân bố tương đối đều trên địa bàn toàn tỉnh Các khu vựckéo từ các xã Phong Chương, Phong Hiền, huyện Phong Điền đến xã QuảngLợi, huyện Quảng Điền, từ xã Phong Sơn, huyện Phong Điền đến thị trấn Tứ
Hạ, huyện Hương Trà, khu vực thị trấn Phú Bài, huyện Hương Thủy (nay là thị
xã Hương Thủy) là những vùng chứa nước dưới đất có triển vọng nhất cho khaithác và sử dụng của Thừa Thiên Huế Tổng trữ lượng nước dưới đất ở các vùng
đã nghiên cứu ở cấp C1 đạt gần 9.200m3/ngày Chính lượng nước này cùng với
hệ thống các thủy vực dày đặc với tổng lượng nước mặt phong phú đã đảm bảocho Thừa Thiên Huế tránh được những đợt hạn hán khốc liệt và kéo dài
4.1.2.5 Tài nguyên thuỷ sản
Thừa Thiên - Huế có bờ biển dài, vùng lãnh hải rộng lớn nên có lợi thế vềkhai thác thuỷ hải sản Ngoài ra, vùng đầm phá cũng là nơi cung cấp một lượnghải sản đáng kể Riêng hệ đầm phá của tỉnh đã có 162 loài cá thuộc 57 họ, 17 bộtrong đó có nhiều bộ, loài có giá trị kinh tế cao
4.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.3.1 Dân số, dân tộc và lao động
Bảng 4.6 Thống kê một số chỉ tiêu về lao động và dân số
Phú Lộc
1
4 15.860 4.818 28.656 31.3922
Nhân khẩu Người 379.30
Trang 27Mật độ DS Ng/
Trang 28Mật độ dân số bình quân trong khu vực là 489 người/km2.
Đặc điểm phân bố dân cư trong địa bàn rất phức tạp, bố trí nhiều điểm, cónhững nơi ở phân tán nhỏ lẻ, nhất là vùng ven biển có nhiều hộ sống trong vùngnguy hiểm của triều cường và hiện tượng sạt lở bờ biển diễn ra hàng ngày
b Lao động
Tổng số lao động trên địa bàn: 186.466 người Trong đó:
- Lao động phân theo giới tính Nam: 87.639 người, chiếm 47%; Nữ: 98.827người, chiếm 53%
- Lao động phân theo ngành nghề
+ Lao động nông lâm ngư nghiệp: 144.008 người, chiếm 77,2% số lao độngtoàn vùng
+ Lao động ngành nghề khác: 42.458 người, chiếm 22,8% số lao động toànvùng
4.1.3.2 Thực trạng kinh tế
a Thực trạng chung
Theo Niên giám thống kê các huyện năm 2006, tổng giá trị sản phẩm quốcnội (GDP) các huyện trong vùng dự án là 2.314.119 triệu đồng Trong đó:
- Nông nghiệp: 711.962 triệu đồng, chiếm 30,8%
- Lâm nghiệp: 61.207 triệu đồng, chiếm 2,6%
- Thuỷ sản: 584.596 triệu đồng, chiếm 25,3%
- Công nghiệp: 441.047 triệu đồng, chiếm 19,1%
- Dịch vụ và các ngành khác: 515.307 triệu đồng, chiếm 22,3%
Kết quả trên cho thấy cơ cấu về giá trị tổng sản phẩm giữa các ngành có sựchênh lệch, trong đó sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong cơ cấukinh tế với 30,8%, sản xuất thuỷ sản, dịch vụ và các ngành khác cũng chiếm tỷ
Trang 29lệ khá cao trong cơ cấu kinh tế của vùng Sản xuất công nghiệp chiếm vị trítrung bình nhưng cũng đem lại nguồn thu đáng kể.
b Sản xuất nông - ngư nghiệp
* Sản xuất nông nghiệp
- Trồng trọt: Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp trong vùng dự án là38.085 ha (tính cho diện tích gieo trồng cả năm) Loài cây trồng chủ yếu là câylượng thực (Lúa, ngô), cây màu (khoai, sắn), rau đậu các loại và cây côngnghiệp ngắn ngày (lạc, ớt, thuốc lá, mè) và các loài cây hàng năm khác Sảnphẩm nông nghiệp chủ yếu tự cung tự cấp tại chỗ trên địa bàn và cung cấp chothành phố Huế
Tổng diện tích trồng cây lương thực cả năm là 34.294 ha với tổng sảnlượng lương thực (kể cả màu quy thóc) đạt 117.802 tấn Bình quân lương thựcđầu người đạt 310 kg/năm và 26 kg/người/tháng,
- Chăn nuôi: Chăn nuôi trên địa bàn tương đối phát triển, đàn gia súc trongvùng gồm có: đàn trâu 15.614 con, đàn bò 6.496 con, đàn lợn 98.539 con, giacầm các loại 922.299 kg Sản phẩm chăn nuôi đã trở thành hàng hoá cung cấpcho nhu cầu tiêu dùng tại chỗ và tiêu thụ nơi khác nhất là Thành phố Huế
* Sản xuất Ngư nghiệp:
- Với lợi thế có diện tích đầm phá lớn, môi trường thích nghi cho phát triển cácloài tôm cá nước lợ vì vậy diện tích nuôi thuỷ sản trong vùng ngày càng được mởrộng, tổng diện tích mặt nước nuôi thuỷ sản 4.699 ha, sản lượng cá 183.710 tấn, tôm200.835 tấn, thuỷ sản khác 331 tấn
- Đánh bắt và khai thác nguồn lợi thuỷ sản biển trên địa bàn cũng đem lại nguồnthu lớn cho người dân ở trên địa bàn, tổng sản lượng đánh bắt thuỷ hải sản các loại là503.632 tấn
Tổng giá trị sản xuất ngư nghiệp là 584.596 triệu đồng
c Các ngành sản xuất khác
Các hoạt động sản xuất khác như dịch vụ - du lịch, xây dựng, thương nghiệp, tiểuthủ công nghiệp trên địa bàn cũng đóng góp một phần thu trong nhân dân Trong đóhoạt động về dịch vụ và du lịch có chiều hướng phát triển nhất là ở Phú Vang, PhúLộc có lợi thế về bờ biển và các thắng cảnh đã thu hút được nhiều vốn đầu tư trong vàngoài nước
Trang 30* Thuỷ lợi:
Hệ thống hồ đập trong vùng chủ yếu là các hồ đập có dung tích và công suất tướitiêu nhỏ, các hồ đập trong vùng chỉ đủ cung cấp nước tưới cho các chân ruộng thấptrong vùng, nhiều nơi xa nguồn nước do hệ thống kênh mương không đảm bảo nênkhông có nước cung cấp cho cây trồng
Hệ thống kênh mương các cấp trong vùng có tổng chiều dài 317 km, trong đókênh mương có chất lượng tốt 204 km, kênh mương đã xuống cấp 113 km Trong cáctrận mưa bão, lũ lụt của các năm vừa qua đã tàn phá làm hư hỏng nhiều đoạn kênhmương gây ảnh hưỏng đến năng suất và sản lượng cây trồng trên địa bàn
b Điện, nước sinh hoạt
- Hệ thống điện sinh hoạt trên địa bàn dự án đã được phủ kín đến tận các thônxóm, tỷ lệ hộ sử dụng điện toàn vùng chiếm 97,7% số hộ Mạng lưới điện cung cấpcho sản xuất và công nghiệp cũng đã đáp ứng đảm bảo yêu cầu sản xuất kinh doanhcủa các cơ sở chế biến, các nhà máy trên địa bàn
- Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch trên vùng chiếm 77,3% Một số địa bàn vũng trũngthấp của các xã Quảng Điền, Phú Vang thì nguy cơ ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt rấtcao vào mùa mưa lũ
c Y tế, giáo dục
- Mạng lưới y tế trên địa bàn đã khép kín từ cấp xã đến huyện, đảm bảo chứcnăng khám, điều trị bệnh thông thường và chăm sóc sức khoẻ nhân dân Toàn vùng có50/50 xã có trạm y tế, với 556 giường bệnh và 519 cán bộ y tế
- Công tác giáo dục trong vùng đã được quan tâm, các cháu trong độ tuổi đềuđược đến trường, chất lượng dạy và học đã từng bước được nâng lên, cơ sở vật chất
Trang 31Hệ thống nhà trẻ có 53 nhà trẻ với 1.288 cháu, 126 cô giáo; Mẫu giáo có 616 lớp với14.738 cháu và 872 giáo viên Tổng số trường học các cấp (cấp 1, 2,3): 150 trường,2.978 lớp học, với 104.115 em học sinh và 4.531 giáo viên.
d Thông tin, văn hóa
Hệ thống thông tin văn hoá trong vùng đã được quan tâm đầu tư, tất cả các xãđều có điểm bưu điện văn hoá, đảm bảo nhu cầu thông tin liên lạc thường xuyên Tất
cả các xã trong địa bàn đều được phủ sóng truyền thanh và truyền hình đáp ứng đượcnhu cầu nghe nhìn của người dân Toàn vùng có 50 điểm bưu điện văn hoá, tỷ lệ hộdân dùng điện thoại toàn vùng là 26,3%
4.2 Đặc điểm hình thái và sinh thái cây keo lá liềm:
Hình 4.1 Keo lá liềm trên vùng cát
Trang 324.2.1 Đặc điểm hình thái cây keo lá liềm
Keo lưỡi liềm (còn gọi là keo lá liềm vì lá có hình lưỡi liềm) có tên khoa học
là Acacia crassicarpa A cunn ex benth, thuộc họ Trinh nữ (Mimosaceae) Cây thân
gỗ có thể biến dạng từ thân bụi đến thân gỗ lớn tùy môi trường sống Nơi nguyênsản tại các đụn cát ven biển (Australia) là cây thân bụi cao 2-3m, còn bình thườngcao 5-20m, nơi thích hợp cao tới 30m, đường kính thân ít khi to quá 50cm
Thân thẳng, đâm nhiều cành nhánh, vỏ màu sẫm hay nâu xám, nhiều vết nứtdọc sâu
Hình 4.2 Vỏ cây keo lá liềm
Trang 33Lá là loại lá giả, lá già nhẵn bóng mọc thành lá kép, màu xanh lục, lá đơn hìnhlưỡi liềm dài 14-16cm, rộng 1-4cm, thường xanh Hoa màu vàng nhạt gần giốnghoa keo lá tràm.
Hình 4.3 Lá cây keo lá liềm
Quả dạng quả đậu, màu nâu, vỏ cứng hóa gỗ, mọc xoắn, hạt nhẵn màu đen6x3 mm, khoảng 35.000-40.000 hạt/kg
Trang 34Rễ phát triển mạnh, có nhiều vi khuẩn cố định đạm cộng sinh nên vừa có tácdụng bảo vệ và cải tạo đất rất tốt, đặc biệt là các vùng cát trắng ven biển.
Hình 4.5 Rễ và nốt sần ở rễ cây keo lá liềm 4.2.2 Đặc điểm sinh thái cây keo lá liềm
Độ cao thích hợp dưới 200m, cũng có thể trồng tới độ cao 700m so với mặtbiển Lượng mưa bình quân hàng năm từ 1.000-2.500mm, mưa theo mùa hoặc mưatập trung vào mùa hè, chịu được khô hạn, gió Lào… Chịu nhiệt độ bình quân cáctháng nóng nhất là 31-340C, nhiệt độ bình quân các tháng lạnh nhất 15-220C, không
có sương giá Có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau kể cả đất cát sâu
và đất sét khó thoát nước Có thể chịu được độ mặn, đất cằn cỗi và khả năngchịu lửa tốt
Gỗ keo lưỡi liềm khá nặng, gỗ lớn dùng đóng đồ mộc, gỗ xây dựng, làm vánghép thanh; gỗ nhỏ dùng làm nguyên liệu giấy, dăm, ván ép, cọc trụ mỏ… Do tán
lá rộng thường xanh, mọc chồi khỏe, có khả năng cạnh tranh với cỏ dại nên dùng
để trồng trên đồi trọc làm cây che bóng cho các cây ăn quả, cây công nghiệp rất tốt.Trên các vùng đất dốc có thể trồng thành hàng rào hay băng xanh để chống xóimòn, làm băng cản lửa, chắn gió để bảo vệ đất rất hữu hiệu Với các vùng đất cátven biển, đặc biệt là các đồi cát nội đồng hoặc đồi cát di động, bán di động… là câytrồng lý tưởng để hình thành rừng phòng hộ bảo vệ đất, điều hóa khí hậu, chống cátbay, cát nhảy, cải tạo môi trường sinh thái, tạo điều kiện thuận lợi cho canh tácnông nghiệp và đời sống dân sinh
4.3 Ảnh hưởng của phương pháp làm đất trồng rừng đến sinh trưởng của cây:
Tuỳ vào điều kiện đất, loài cây trồng và phương thức trồng rừng mà đất có thểđược xử lý bằng nhiều phương pháp khác nhau.Thông thường sau khi xử lý thực
Trang 35bì, đất được đào thành hố theo kích thước và mật độ thiết kế Tuy nhiên trong một
số điều kiện nhất định, đất được xử lý bằng cách cày toàn diện hoặc lên líp trướckhi đào hố Đã có một vài thí nghiệm nhằm nâng cao sản lượng rừng trồng thôngqua việc làm đất
4.3.1 Ảnh hưởng của các phương pháp làm đất đến sinh trưởng đường kính
D 13 của keo lá liềm 5 năm tuổi vùng nội đồng
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của các phương pháp làm đất đến sinh trưởng và tăng
trưởng đường kính D 13
Đơn vị: cm
Ô tiêu chuẩn
Sinh trưởng và tăng trưởng đường kính D 13
Cuốc hố Cày lên luống
Biểu đồ 4.1 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của các phương pháp làm đất đến sinh
trưởng đường kính D 13 keo lá liềm 5 năm tuổi ở vùng nội đồng
Trang 36+ Ftính = 46.40 > F05 = 5.14 điều này chứng tỏ sinh trường về đường kính D13của keo lá liềm đối với các phương pháp làm đất có sự chênh lệch với độ tin cậy
≥ 95%
+ Chọn phương pháp làm đất cho keo lá liềm có sinh trưởng đường kínhlớn nhất: Dùng tiêu chuẩn t so sánh 2 phương pháp làm đất cho keo lá liềm có giátrị trung bình về đường kính lớn nhất và nhì được kết quả sau: Áp dụng công thức:
75
tính
Kết quả tính toán tiêu chuẩn t xác định loài có sinh trưởng đường kính tốtnhất được kết quả ttính= 10.75 > t05 = 4.3, cho thấy sinh trường về đường kính D13của keo lá liềm đối với hai phương pháp làm đất là lên luống rộng 2m và lênluống rộng 10m trên vùng đất cát nội đồng có sự sai khác nhau, và phương pháplàm đất lên luống rộng 10m là có sinh trưởng đường kính D13 lớn nhất
4.3.2 Ảnh hưởng của các phương pháp làm đất đến sinh trưởng chiều cao vút ngọn (H vn ) của keo lá liềm 5 năm tuổi vùng nội đồng
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của các phương pháp làm đất đến sinh trưởng và tăng
trưởng chiều cao vút ngọn (H vn )
Đơn vị: m
Ô tiêu chuẩn
Sinh trưởng và tăng trưởng chiều cao H vn
Cuốc hố Cày lên luống
Trang 37Biểu đồ 4.2 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của các phương pháp làm đất đến sinh
trưởng chiều cao Hvn keo lá liềm 5 năm tuổi ở vùng nội đồng
Qua kết quả phân tích phương sai cho thấy:
+ Ftính = 22 > F05 = 5.14 điều này chứng tỏ sinh trường về chiều cao vútngọn của keo lá liềm đối với mỗi phương pháp làm đất đã có sự chênh lệch với
tính
Kết quả tính toán tiêu chuẩn t xác định loài có sinh trưởng chiều cao tốt nhất được kết quả ttính= 4 < t05 = 4.3, cho thấy sinh trường chiều cao vút ngọn củakeo lá liềm đối với hai phương pháp làm đất là lên luống rộng 2m và lên luống rộng 10m trên vùng đất cát nội đồng là như nhau
Trang 384.3.3 Ảnh hưởng của các phương pháp làm đất đến sinh trưởng đường kính tán ( D t ) của keo lá liềm 5 năm tuổi vùng nội đồng
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của các phương pháp làm đất đến sinh trưởng và tăng
Biểu đồ 4.3 Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của các phương pháp làm đất đến sinh
trưởng đường kính tán D t keo lá liềm 5 năm tuổi ở vùng nội đồng
Qua kết quả phân tích phương sai cho thấy:
+ Ftính = 2.09< F05 = 5.11 điều này chứng tỏ sinh trường về đường kính tán lácủa keo lá liềm đối với mỗi phương pháp làm đất không có sự chênh lệch