26 PHẦN MỞ ĐẦU I ĐẶT VẤN ĐỀ Mục tiêu của chương trình Tiếng Việt cấp Tiểu học đã ghi rõ Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụngTiếng Việt ( nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiế[.]
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
I ĐẶT VẤN ĐỀ.
Mục tiêu của chương trình Tiếng Việt cấp Tiểu học đã ghi rõ:
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụngTiếng Việt ( nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi
Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy
- Cung cấp cho nhhọc sinh những kiến thức sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài
- Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa
Để thực hiện mục tiêu trên, chương trình Tiếng Việt lớp 3 cũng được đổi mới từ các phân môn Tập đọc, Chính tả, Tập làm văn và đặc biệt là phân môn Luyện từ và câu
Trong phân môn Luyện từ và câu, ngoài việc học sinh được học các từ ngữ thuộc dạng bài Mở rộng vốn từ, các kiến thức về các mẫu câu, bước đầu học sinh làm quen với các biện pháp tu từ so sánh
và nhân hóa Đây là hai biện pháp tu từ đầu tiên được đưa vào trong chương trình tiểu học
Cùng với biện pháp so sánh được học trong chương trình Tiếng Việt kì I, nhân hoá là biện pháp
tu từ được học trong chương trình học kì II Đây là một biện pháp tu từ góp phần không nhỏ trong việc hình thành cho học sinh Tiểu học thái độ, tình cảm gần gũi, yêu thích các sự vật xung quanh: Bởi nhờ nhân hoá, các con vật, đồ vật trở nên sống động, có hồn, có tính cách như con người, trở thành người bạn thân thiết của các em Nhân hoá góp phần nâng cánh ước mơ, phát triển năng lực cảm thụ và khả năng tư duy cho các em Qua đó góp phần lớn vào việc hình thành nhân cách cho các em
Trong những năm qua, cùng với lòng yêu thích môn Tiếng Việt cộng với kinh nghiệm nhiều năm dạy lớp 3 tôi nhận thấy:
+ Trong sách giáo khoa Tiếng Việt 3, biện pháp tu từ này được đưa vào chương trình không nhiều
và được dạy trong 6 tiết cùng với dạy kiến thức về câu, các bộ phận của câu Ngoài ra học sinh chỉ được tiếp xúc với biện pháp nhân hóa qua một số bài tập đọc, các tiết Chính tả ( Nếu giáo viên quan tâm và đưa vào dạy tích hợp trong các tiết Tập đọc, các tiết Chính tả) Chính vì vậy, việc hiểu và nắm các kiến thức cơ bản nhất về nhân hóa qua các phần học ít ỏi trong các tiết Luyện từ và câu chưa đem lại hiệu quả cao HS chỉ mới dừng lại việc làm các bài tập về nhân hóa trong các tiết học có trong sách giáo khoa còn khi đưa bài tập khác ngoài sách giáo khoa học sinh rất lúng túng Bên cạnh đó, nguyên nhân dẫn đến
Trang 2hiệu quả chưa cao cũng do khi hướng dẫn học sinh giải các bài tập về nhân hóa, một số giáo viên chưa bao quát toàn bộ các dạng bài tập, chưa nhận ra sự liên quan giữa các bài tập trong các tuần để có phương pháp dạy học thích hợp nhất từ đó khắc sâu kiến thức và cách làm từng loại bài tập
Vậy trong chương trình lớp 3 có những dạng bài tập nào? Làm thế nào để giúp HS giải các bài tập
về nhân hóa một cách dễ dàng nhất? Việc ứng dụng biện pháp nhân hóa để giúp HS viết đoạn văn có sử dụng biện pháp nhân hóa như thế nào? Đó là những câu hỏi khiến tôi quyết định chọn đề tài: “ Các bài tập về nhân hóa và hướng dẫn học sinh lớp 3 giải các bài tập về nhân hóa.”
II NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI.
- Giúp học sinh hiểu khái niệm về nhân hoá, biết các cách nhân hóa, biết tìm các từ ngữ sử dụng để nhân hóa, từ đó HS biết áp dụng các kiến thức đó để nói và viết ác câu văn, đoạn văn có sử dụng biện pháp nhân hóa
- Giúp học sinh tiếp cận kịp thời với Sách giáo khoa đồng thời giúp giáo viên có các phương pháp giúp học sinh rèn luyện kỹ năng nhận biết và sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá vào học Tiếng Việt ở lớp 3 và ban đầu biết ứng dụng vào cuộc sống.
III GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
- Các dạng bài tập về nhân hóa trong chương trình lớp 3 và phương pháp giải
- Ứng dụng để viết đoạn văn ngắn cảm nhận cái đẹp của sự vật khi sử dụng biện pháp nhân hóa
IV PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH.
- Khảo sát thực trạng dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 3 về nhân hóa.
- Tìm hiểu, tập hợp các dạng bài tập về nhân hoá và tìm phương pháp để hướng dẫn
HS giải các bài tập theo dạng
- Đối chiếu so sánh phương pháp dạy-học và đánh giá theo chuẩn Kiến thức kỹ năng.
- Thống kê số liệu.
Trang 3B NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
I CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI.
1 Cơ sở lí luận.
Như chúng ta đã biết nội dung kiến thức phân môn “Luyện từ và câu” trong sách Tiếng Việt lớp 3 bao gồm:
- Mở rộng vốn từ cho học sinh theo các chủ điểm trong sách, cung cấp những hiểu biết sơ giản về từ loại của các từ thông qua những từ học sinh đã có hoặc mới học
- Rèn kỹ năng dùng từ đặt câu theo một số mẫu câu phổ biến đã học ở lớp 2; rèn
kỹ năng nói viết thành câu theo một số mục đích nói thông thường, biết dùng một
số dấu câu phổ biến khi viết
- HS được cung cấp những kiến thức ban đầu về biện pháp tu từ về từ phổ biến đó là so sánh và nhân hóa Cụ thể: thông qua các bài tập trong sách giáo khoa, học sinh nắm được một số hiểu biết cơ bản ban đầu về hai biện pháp tu từ đó là nhân hóa và so sánh
Trong phạm vi đề tài này tôi chỉ đi sâu về biện pháp Nhân hóa:
Trước hết ta cần hiểu: Nhân hóa là gì?
Trong sách 10 chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi Văn – Tiếng Việt, tác giả Thạc sĩ Phạm Văn Công trang 54 có viết:
“Nhân hóa là dùng những từ chỉ người để nói về các sự vật nhằm làm cho các sự vật được nhân hóa thêm đẹp hơn, hấp dẫn hơn.”
Trong chương trình tiểu học có các cách nhân hóa nào?
* Có 4 cách nhân hóa
+ Gọi sự vật bằng từ gọi người
+ Tả sự vật bằng từ tả người
+ Nói với sự vật thân mật như người
+ Coi sự vật là người ( Đóng vai nhân vật định nói tới)
Tu từ nhân hóa là một trong những nội dung dạy học thuộc phân môn “Luyện từ và câu” Về mức
độ dạy học, chương trình chỉ giới thiệu sơ bộ cho học sinh về biện pháp nhân hóa Sách giáo khoa Tiếng Việt 3 hình thành cho học sinh một số hiểu biết và kỹ năng ban đầu về nhân hóa thông qua các bài tập
học kỳ 2 và trong các tuần: 19, 21, 23, 25, 28, 33) Những hiểu biết và kỹ năng này sẽ giúp học sinh bước
Trang 4đầu cảm nhận được cái hay cái đẹp sự vật trong một số đoạn thơ, đoạn văn Ở lớp 3 học sinh bước đầu cảm nhận được biện pháp nhân hóa và hiểu sơ bộ “nhân hóa là biện pháp gắn cho đồ vật, cây cối, con vật những tình cảm, đặc điểm, tính chất của người, nhằm làm cho đối tượng được miêu tả gần gũi, sinh động” Mặt khác việc dạy dạng bài tu từ nhân hóa cho học sinh lớp 3 cũng là một cách chuẩn bị cho các
biện pháp này để viết các đoạn văn có sử dụng biện pháp nhân hóa trong phân môn Tập làm văn lớp 4,5
và sử dụng nó trong giao tiếp
Chính vì vậy việc nắm vững các dạng bài tập và cách giải các bài tập về nhân hóa trong sách giáo khoa Tiếng Việt 3 góp phần giúp học sinh học tốt hơn môn Tiếng Việt
2 Cơ sở thực tiễn và thực trạng của vấn đề
Để việc dạy dạng bài tu từ nhân hóa ở lớp 3 đạt kết quả tốt đòi hỏi giáo viên phải nắm vững khái niệm nhân hóa, các dạng bài tập, nội dung bài học, phải linh hoạt về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, có vốn từ phong phú để dẫn dắt học sinh thực hiện yêu cầu bài tập
Như chúng ta đã biết, từ khi đổi sách giáo khoa, giáo viên đã được tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn về các phân môn Tiếng Việt Đã có các chuyên đề từ cấp Thành phố tới cấp huyện và ở các đơn vị trường về việc dạy các dạng bài về Nhân hóa Đặc biệt trong sinh hoạt chuyên môn, nhiều giáo viên đã mạnh dạn đề ra những câu hỏi, những phương pháp nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình dạy Bên cạnh đó, trong các đợt thi viên chức Tiểu học đã có đề bài soạn bài dạy về Nhân hóa Như vậy, biện pháp nhân hóa được coi trọng trong chương trình dạy Luyện từ và câu ở lớp 3
Tuy nhiên, trên thực tế, bên cạnh nhiều tiết dạy, nhiều bài soạn dự thi đã thể hiện năng lực tốt, hệ thống các hoạt động đã phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh thì vẫn có những tiết dạy Tiếng Việt còn nhiều hạn chế - giáo viên lúng túng chưa phát huy được tính tích cực của học sinh, phương pháp dạy nhàm chán, giáo viên chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn học sinh giải các bài tập Sau tiết học, học sinh chỉ biết làm các bài tập cụ thể mà không có sự khái quát kiến thức để làm các bài tập khác
Do vậy học sinh không hứng thú trong học tập dẫn đến hiệu quả phần kiến thức còn hạn chế
Mặt khác chúng ta thấy rằng mục tiêu của phân môn “Luyện từ và câu” chú trọng đến việc rèn kỹ năng giao tiếp trong đó có việc sử dụng biện pháp nhân hóa trong nói và viết Tuy nhiên, ở một số tiết học giáo viên chỉ chú trọng đến việc cung cấp kiến thức cho học sinh mà chưa chú ý đến việc áp dụng kiến thức thực tế vào việc giao tiếp hàng ngày và áp dụng vào cách viết đoạn văn trong phân môn Tập làm văn Như vậy trong thực tế chưa đạt được mục tiêu môn học
Trang 5Cụ thể:
- Phần nhận biết biện pháp nhân hóa chỉ mới mức độ nhận biết sự vật được nhận hóa
- Phần vận dụng biện pháp nhân hóa chỉ mới mức độ nhận biết nhận biết nhân hóa qua câu thơ, câu văn chứ chưa phát huy được cách viết đoạn văn, câu thơ
có hình ảnh nhân hóa
Một thực trạng đáng quan tâm nữa chính là việc chưa hiểu sâu, hiểu kĩ, chưa hiểu ý tưởng của tác giả viết sách, chưa xác định rõ mục tiêu của tiết học nên giáo viên chưa khắc sâu kiến thức cho học sinh qua từng bài tập về cách nhân hóa Nguyên nhân của vấn đề này chính là việc trong phần yêu cầu của các bài tập trong sách, sách giáo khoa không nêu rõ, chưa hỏi học sinh về các cách nhân hóa nên rất nhiều giáo viên bỏ qua yêu cầu này Giáo viên chỉ dừng lại ở chỗ hướng dẫn học sinh cách trả lời các câu hỏi trong phần bài tập Chính vì vậy, đến tiết 8 của phần ôn tập giữa kì nhiều HS không làm được câu số 5 phần bài tập đọc hiểu ( trang 78 - Tiếng việt 3 tập II)
5 Trong khổ thơ 3, suối được nhân hóa bằng cách nào?
a Tả suối bằng những từ ngữ chỉ người, chỉ hoạt động, đặc điểm của người
b Nói với suối như nói với người
c Bằng cả hai cách trên
Từ những vấn đề trên, qua kinh nghiệm nhiều năm trực tiếp dạy lớp 3, tôi đã theo đuổi việc tìm hiểu các dạng bài tập về nhân hóa và hướng dẫn học sinh giải các dạng bài tập đó
II CÁC DẠNG BÀI TẬP VỀ NHÂN HÓA
1 Mục đích của việc nắm các dạng bài tập về nhân hóa
Việc nắm vững các dạng bài tập về biện pháp tu từ nhân hóa, các cách nhân hóa giúp giáo viên định hướng được cách hướng dẫn học sinh giải các bài tập được tốt hơn
2 Phân loại: Căn cứ vào mục tiêu của từng phần kiến thức để phân loại các dạng bài tập về nhân hóa
2.1 Dạng bài tập nhận biết các sự vật nhân hóa và các cách nhân hóa
Kiểu bài tập này học sinh bước đầu nắm được nhân hóa là biện pháp gắn cho
đồ vậy, cây cối, con vật những tình cảm, đặc điểm, tính chất con người, nhằm làm cho đối tượng được miêu tả trở nên gần gũi, sinh động Đây là kiểu bài giúp học
Trang 6sinh bước đầu nắm được những đặc điểm của nhân hóa để nhận ra các sự vật được nhân hóa và các cách nhân hóa Loại bài tập này thường được thể hiện qua các đoạn văn, đoạn thơ và bằng việc thực hiện hệ thống các câu hỏi để nhận biết kiến thức về nhân hóa Qua đó giúp các em dễ tưởng tượng hình ảnh của chúng và cảm nhận được nét đáng yêu của các sự vật quen thuộc với các em
Loại bài tập này được tổng hợp qua bảng sau:
Nhận biết về
nhân hóa và
các cách nhân
hóa
Gọi sự vật bằng từ gọi người
Tả sự vật bằng
từ tả người
Nói với sự vật thân mật như người
Coi sự vật là người
Đặc điểm và mức độ của các cách nhân hóa
Đây là cách nhân hóa đơn giản nhất nên các em dễ nhận biết và dễ áp dụng vào văn nói và viết
Dấu hiệu để nhận ra cách nhân hóa này là
sử dụng các từ ngữ xưng hô trong các mối quan hệ hàng ngày: Cậu, mợ, thím, bác, chú, anh, chị…
Cách nhân hóa này ở mức độ cao hơn Để làm tốt bài tập này đòi hỏi các
em phải nắm chắc kiến thức
về từ chỉ hoạt động, từ chỉ đặc điểm của người và gắn
Đây là cách nhân hóa mà bản thân người nói, người viết phải cảm nhận
và biết cách thể hiện tình cảm, cảm xúc đối với sự vật
Đây là cách nhân hóa ở mức độ cao Loại bài tập này HS cần hiểu được các
sự vật được nói tới như một người bạn, một con người thực
sự Dấu hiệu để nhận biết cách nhân hóa này chính là sử dụng các từ ngữ xưng hô: Tôi, tớ, cậu
Ví dụ
1 Mặt trời gác núi
Bóng tối lan dần,
Anh Đóm chuyên cần Lên đèn đi gác
2 Chị mây vừa kéo đến
Trăng sao trốn
cả rồi
1 Mặt trời gác núi
Bóng tối lan dần,
Anh Đóm chuyên cần Lên đèn đi gác
Chị mây vừa kéo đến Trăng sao trốn mất rồi
Đất nóng nòng chờ đợi
Xuống đi nào, mưa ơi!
Tớ là chiếc xe lu
Người tớ to lù lù
2.2 Dạng bài tập hiểu được tác dụng về nhân hóa và viết đoạn văn có sử dụng biện pháp nhân hóa
* Bài tập hiểu về tác dụng của nhân hóa được lồng ghép với dạng nhận biết các cách nhân hóa ở các tiết của tuần 23, Tuần 25, Tuần 33
Trang 7VD: Bài: Đồng hồ báo thức (Luyện từ và câu tuần 23) Tiếng Việt lớp 3 tập II - Trang 44)
Đồng hồ báo thức Bác kim giờ thận trọng Nhích từng li, từng li Anh kim phút lầm lì
Đi từng bước, từng bước
Bé kim giây tinh nghịch Chạy vút lên trước hàng
Ba kim cùng tới đích Rung một hồi chuông vang
a Trong bài thơ trên, những sự vật nào được nhân hóa?
b Những sự vật ấy được nhân hóa bằng cách nào?
c Em thích hình ảnh nào? Vì sao?
* Bài tập Viết đoạn văn ngắn có sử dụng phép nhân hóa: Đây là dạng bài tập duy nhất trong chương trình LT-C về nhân hóa ở lớp 3
VD: Hãy viết đoạn văn ngắn ( Từ 4 đến 5 câu ) trong đó có sử dụng phép nhân hóa để tả bầu trời buổi sớm hoặc tả một vườn cây ( Trang 127 - TV 3 tập II)
III PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HS GIẢI CÁC BÀI TẬP VỀ NHÂN HÓA
Để hướng dẫn học sinh giải các bài tập này bản thân giáo viên cần xác định rõ mục tiêu của từng bài tập, loại bài tập và mục đích của tác giả trong bài tập đó Bên cạnh đó phải xác đinh rõ trình độ của các nhóm học sinh trong lớp mình từ đó xây dựng hệ thống câu hỏi, cách tổ chức hình thức dạy học cho từng bài tập trong khoảng thời gian cho phép
Cụ thể:
DẠNG 1: Tìm các sự vật được nhân hóa và các cách nhân hóa: Để thực hiện được các bài tập ở dạng này học sinh phải tìm được các sự vật được nhắc tới trong bài, biết phân biệt được đâu là sự vật được nhân hóa và nhân hóa bằng cách nào
Ví dụ 1:
1 Đọc hai khổ thơ dưới đây và trả lời câu hỏi
Mặt trời gác núi Bóng tối lan dần
Trang 8Anh Đóm chuyên cầniêu của từng Lên đèn đi gác
Theo làn gió mát Đóm đi rất êm
Đi suốt một đêm
Lo cho người ngủ
a Con đom đóm dược gọi là gì?
b Tính nết và hoạt động của đom đóm được tả bằng những từ ngữ nào?
2 Trong bài thơ Anh Đom Đóm ( đã học ở kì I), còn những con vật nào nữa được gọi và tả như người? ( nhân hóa)
( Tiếng Việt 3 - Tập II - Trang 9)
Đây là bài tập đầu tiên về nhân hóa Chính vì thế để học sinh dễ tiếp cận với kiến thức về nhân hóa giáo viên nên thực hiện theo các bước sau:
- Sau khi HS đọc bài thơ giáo viên đặt câu hỏi:
+ Hai khổ thơ trên nhắc đến con vật nào? ( Con đom đóm)
+ Hãy kể về những điều em biết về con đom đóm ( Phát sáng và bay vào ban đêm)
GV có thể cho học sinh quan sát hình ảnh hay đoạn video ngắn về con đom đóm để học sinh dễ liên tưởng đến con đom đóm trong đoạn thơ
+ Trong hai khổ thơ, con đom đóm được gọi là gì? Cách gọi này có gì khác cách gọi thông thường?
+ Tính nết và hoạt động của đom đóm được tả bằng những từ ngữ nào?
+ Hãy so sánh những hoạt động bình thường của con đóm đóm và cách dùng những từ ngữ tả con đom đóm trong bài thơ
Với HS yếu giáo viên gợi ý bằng cách đưa ra sự so sánh
Cách gọi và các hoạt động bình thường của con
đom đóm
Cách gọi và tả con đom đóm trong khổ thơ
- Bay liên tục và phát sáng suốt đêm
- Bay rất nhẹ không gây ra tiếng động
- Chuyên cần, lên đèn đi gác, lo cho người ngủ
- đi rất êm
Từ cách so sánh trên giáo viên hỏi:
- Các từ: Anh, chuyên cần, lên đèn, đi gác, lo, đi là những từ dùng để gọi ai? Tả ai?
( Từ gọi người, tả người)
Chốt: Cách sử dụng từ gọi người để gọi sự vật, dùng từ tả người để tả sự vật gọi là nhân hóa
Trang 9Vậy nhân hóa là gì?
Học sinh căn cứ vào cách chốt trên để nêu khái niệm về nhân hóa ( Không yêu cầu học sinh học thuộc khái niệm mà chỉ cần học sinh hiểu)
Sau đó giáo viên cho học sinh nêu ví dụ về từng cách nhân hóa mà học sinh vừa được tiếp cận
Ví dụ: Giáo viên đưa ra một con vật: Con gà
Hỏi - Em có thể gọi con gà bằng các cách gọi nào: Bác gà, cô gà mái, chị gà mái mơ, chú gà trống,……
- Con gà có những hoạt động nào? ( gáy, dẫn con đi ăn, bới đất tìm mồi….)
- Em hãy nói 1 câu văn có sử dụng cách nhân hóa tả hoạt động của con gà đó
3 Căn cứ vào các kiến thức vừa biết ở bài tập 1 giáo viên cho học sinh hoạt động nhóm để hoàn thành bài tập 2
- Cho HS báo cáo và nêu rõ:
+ Các sự vật đó được gọi là gì?
+ Tác giả đã sử dụng những từ ngữ nào để tả các con vật làm cho các con vật giống như một người?
Cách làm trên được gọi là gì? ( Nhân hóa)
- Qua hai bài tập trên các em hãy nêu các cách nhân hóa đã được tác giả sử dụng
Sau khi học sinh trả lời, giáo viên bổ sung và kết luận về hai cách nhân hóa đã học qua bài hôm nay:
Cách 1: Gọi sự vật bằng từ gọi người
Cách 2: Tả sự vật bằng từ tả người
HS ghi nhớ
* Ví dụ 2: Luyện từ và câu tuần 21 – TV3 trang 26-27
Bài 1:
1 Đọc bài thơ:
Ông trời bật lửa
Chị mây vừa kéo đến Trăng sao trốn cả rồi Đất nóng lòng chờ đợi Xuống đi nào, mưa ơi!
Mưa! Mưa xuống thật rồi!
Trang 10Đất hả hê uống nước Ông sấm vỗ tay cười Làm bé vừa tỉnh giấc
Chớp bỗng lòe chói mắt Soi sáng khắp ruộng vườn Ơ! Ông trời bật lửa
Xem lúa vừa trổ bông
Đỗ Xuân Thanh
2 Trong bài thơ trên, những sự vật nào được nhân hóa? Chúng được nhân hóa bằng những cách nào?
Gợi ý:
a Các sự vật được gọi bằng gì?
b Các sự vật được tả bằng những từ ngữ nào?
c Trong câu Xuống đi nào, mưa ơi!, tác giả nói với mưa thân mật như thế nào?
Để chuẩn bị cho bài tập 2, trong bài tập 1, trước khi học sinh đọc, giáo viên đặt câu hỏi định hướng: Trong bài thơ nhắc đến những sự vật nào trong thiên nhiên?
Bài 2: Bắt đầu vào bài tập giáo viên cho học sinh nhắc lại các sự vật đã nói đến trong bài 1, bằng những hiểu biết các cách nhân hóa ở bài LT - C tuần 19, giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm thực hiện theo yêu cầu của bài tập bằng cách điền vào phiếu học tập
Tên các sự vật được
nhân hóa
Cách nhân hóa Các sự các sự vật được
gọi bằng
Các sự vật được tả bằng những từ ngữ
Câu thơ thể hiện tình cảm thân mật của tác giả khi nói với mưa Trời
Mây
Trăng sao
Đất
Mưa
Sấm, chớp
- Sau khi học sinh hoàn thành phiếu học tập, giáo viên tổ chức cho học sinh báo cáo, nhận xét, bổ sung hoàn thiện phiếu
Các sự các sự vật được Các sự vật được tả bằng Câu thơ thể hiện tình