TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOAVIỆN TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG CỔ TRUNG ĐẠI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VIỆT..............................................................................................................................................................................................................
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA/VIỆN
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG CỔ TRUNG ĐẠI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
Họ tên học viên:……….
Lớp:……….,
- 2022
Trang 2MỤC LỤC
Trang
I QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC
1.2 Quan niệm về con người trong triết học phương Đông cổ
II.
ẢNH HƯỞNG CỦA QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG CỔ TRUNG ĐẠI ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
8
2.1 Quan niệm về con người trong triết học phương Đông cổ
trung đại với sự hình thành và phát triển con người Việt Nam 8 2.2 Vấn đề phát triển con người ở Việt Nam hiện nay 16
Trang 3MỞ ĐẦU
Con người, từ khá sớm trong lịch sử nhận thức cho đến tận hôm nay, vẫn được nhiều học thuyết khoa học xã hội coi là chiếm vị trí trung tâm của sự phát triển Tất nhiên, trong mỗi thời đại, con người được chú ý nghiên cứu trên các bình diện khác nhau Đến nay, quan điểm hiện đại về phát triển con người đã được thừa kế, bổ sung bằng nhiều nội dung mới và được nhiều quốc gia đề cao
và chú trọng thực hiện trong chương trình phát triển kinh tế - xã hội của mình, nhằm đạt tới mục tiêu phát triển nhanh và bền vững Con người là tài nguyên lớn nhất của mỗi quốc gia Bởi, một dân tộc có cường thịnh, hùng mạnh hay không phụ thuộc vào sự quy tụ sức người, sức của đại đoàn kết dân tộc Tuy nhiên, mặc dù coi con người là trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội, và do
đó, phát triển con người thường được nhiều quốc gia ưu tiên hàng đầu cho việc hoạch định chính sách kinh tế - xã hội, nhưng trên thực tế, không phải quốc gia nào cũng làm được điều này, kể cả các quốc gia phát triển có nhiều tiềm lực về kinh tế
Lấy con người làm trung tâm cho học thuyết của mình, triết học Trung Quốc cổ trung đại, với các đại biểu như Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử… đã chú
ý nghiên cứu số phận của con người và con đường giải phóng, phát triển cho con người Tuy nhiên, hầu hết các trường phái triết học đều dừng lại ở chỗ coi đời sống con người, sự phân chia đẳng cấp, giàu nghèo, sang hèn là do “thiên mệnh”, con người không nên và không thể thoát khỏi, cưỡng lại được “mệnh trời” Mọi cố gắng của con người nhằm thoát khỏi sự an bài trong hiện thực là
vô ích Mặc dù còn có những hạn chế nhất định, nhưng những quan niệm về con người trong triết học phương Đông cổ trung đại có nghĩa giá trị nhất định và có ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển con người Việt Nam hiện nay nói riêng
Vì vậy, nghiên cứu vấn đề “Quan niệm về con người trong triết học phương Đông cổ trung đại và ảnh hưởng của chúng đối với sự hình thành và phát triển con người Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn sâu sắc
Trang 4NỘI DUNG
I QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG CỔ TRUNG ĐẠI
1.1 Triết học phương Đông
Về khái niệm phương Đông, phương Tây cũng chỉ mới xuất hiện khoảng vài thế kỷ gần đây Phương đông dùng để chỉ các nước nằm ở phía đông, chỉ các nước Châu á và chỉ các nền văn minh sông Nin, sông Hằng và sông Hoàng Hà… Nói đến triết học phương Đông, chủ yếu chúng ta nói tới Ai Cập (hiện nay chủ yếu là chỉ các nước ả Rập), Trung Quốc và ấn Độ Còn phương Tây không là chỉ các nước còn lại Nói đến phương Tây và triết học phương Tây chủ yếu là chúng
ta nói đến triết học của các nước Tây Âu, mà tiêu biểu như: Anh, Pháp, Đức, ý,
áo, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… thậm chí hiện nay, người ta còn gộp cả Mỹ vào phương Tây
Triết học Mác - Lênin đã chỉ rõ, triết học cũng như ý thức triết học thuộc kiến trúc thượng tầng, bị quy định bởi cơ sở hạ tầng, bởi chính tồn tại xã hội ấy Như vậy, tồn tại xã hội như thế nào thì ý thức xã hội sẽ tương ứng như thế đó Tồn tại xã hội, cơ sở xã hội của phương Đông khác với phương Tây Chính sự khác nhau này, đã quy định sự khác biệt giưa hai nền triết học phương Đông và phương Tây C.Mác cho rằng: cơ sở của tất cả những hiện tượng ở phương Đông
đó là không có chế độ tư hữu về rộng đất Còn Ph.ăngghen khẳng định: “việc không có chế độ tư hữu về ruộng đất quả thật là chĩa khoá để hiểu toàn bộ phương Đông Đó là cơ sở của toàn bộ lịch sử chính tại và tôn giáo của phương đông” [1, tr.189]1
Từ phương pháp tiếp cận như vậy, chúng ta nghiên cứu một số điểm khác biệt căn bản giữa hai nền triết học phương Đông và phương Tây
1.2 Quan niệm về con người trong triết học phương Đông cổ trung đại
Khi nghiên cứu vấn đề con người, triết học phương Đông, điển hình là triết học Ấn Độ và Trung Quốc cổ - trung đại, cũng mới chỉ đạt đến trình độ
1 C.Mác và Ph.ăng-ghen toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 1976.
Trang 5thừa nhận con người có phần xác và phần hồn Phần lớn các quan điểm đều cho rằng, đối với con người, “phần xác” có thể chết, mất đi, nhưng “phần hồn” vẫn tồn tại Điển hình như quan điểm của các trường phái chính thống của triết học
Ấn Độ Sự hình thành và phát triển các tư tưởng về con người của triết học Ấn
Độ cổ - trung đại gắn với quan niệm tôn giáo Con người chỉ phát triển trong khuôn khổ của sự chi phối của các lực lượng thần thánh, siêu nhiên Tư tưởng
“giải thoát” con người khỏi những đau khổ trầm luân của Phật giáo, tuy nhuốm màu sắc tôn giáo, song ít nhiều cũng thể hiện sự quan tâm đối với vấn đề phát triển con người Thành ra, ở giai đoạn này, việc phát triển con người được luận giải theo hướng duy tâm, chỉ là sự giải thoát về mặt “linh hồn” và phát triển là
sự giải thoát của linh hồn cá thể khỏi thể xác, trở về với linh hồn tối cao (Kinh Vêda), về thế giới bên kia, hay với cõi Niết bàn của đức Phật
Bên cạnh các quan điểm duy tâm, tôn giáo về vấn đề con người và phát triển con người, ở Ấn Độ và Trung Quốc cổ - trung đại còn có một số quan điểm tiến bộ khi nhìn nhận con người một cách duy vật (Phái Lokayata, phái Âm dương - Ngũ hành ), coi tính người là do rèn luyện, do giáo dục mà nên
Triết học phương Đông cổ trung đại đặc biệt coi trọng vấn đề đào tạo con người Vấn đề đào tạo con người trong triết lý của Nho giáo xuất phát từ luận điểm cho rằng tuy bản chất đơn sơ của mọi người gần giống nhau, song do sự tác động của môi trường, của điều kiện sống sẽ đem lại lại cho người này tính lành, kẻ kia tính ác Nội dung đào tạo con người trong triết lý của Nho giáo không đi vào các nghề làm ruộng, làm vườn, cầm quân, đánh giặc mà chuyên dạy cách làm người, dạy đạo lý, dạy nghĩa vụ cuộc đời, dạy tu dưỡng tinh thần, chau chuốt nhân cách và ít nhiều dạy văn chương, nhạc nghệ
Chủ trương đào tạo con người trong triết học phương Đông cổ trung đại là bình dân giáo dục, xóa nạn mũ chữ trong toàn dân
Nội dung đào tạo con người trong triết học phương Đông cổ trung đại là cho dân không làm điều ác, không phạm tội Nếu không giáo hóa dân, để dân
Trang 6phạm tội rồi giết, như vậy tàn ngược Với quyết định này, thì trước hết phải dạy cho dân biết điều thiện, ác để mà thực thi
Về phương pháp đào tạo con người trong triết học phương Đông cổ trung đại chủ trương trước hết phải dạy những điều đơn giản, sau đó dần dần dạy đến những điều phức tạp Trả lời vấn đề học như thế nào và cách học, cách dạy
“Tiên chi dĩ Thi Thư, nhi đạo chi dĩ hiếu đễ, thuyết chi dĩ nhân nghĩa, quan chi
dĩ lễ nhạc, nhiên hậu thành chi dĩ văn đức”: trước hết dùng những điều đơn giản
hàng ngày mà dạy, rồi lấy hiếu đễ mà dẫn dắt người ta, lấy nhân nghĩa mà giảng
dụ, lấy lễ nhạc khiến người ta xem xét, sau cùng mới lấy văn đức để dạy cho nên người Thi làm cho ý chí hứng khởi, lễ sửa sang cho phẩm cách đứng đắn, nhạc điều hoà cho tính tình hoàn hảo Khi dạy điều gì cũng phải khơi dậy tính năng động tư duy của người học, người học phải cố gắng suy nghĩ để tìm hiểu vấn đề
thì sự học mới vững chắc, ngược lại thì “Bất phẫn bất khải, bất phỉ bất phát Cử
nhất ngung bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục giã” [6, tr.164]2, nếu không ham hiểu biết thì không dạy cho, không nói ra được thì không bày cho Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra được ba góc kia thì không dạy nữa Cũng theo triết học phương Đông cổ trung đại, để nâng hiệu quả dạy học thì
cả người dạy lẫn người học đều phải tuân theo chuẩn mực đức độ của thánh hiền Người dạy phải luôn tự sửa mình, giữ lấy cái tâm của mình cho chính, vì
“mình cong queo thì không thể nào sửa cho người khác ngay thẳng được”, càng không được xấu hổ khi học hỏi người dưới, biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, như thế mới là biết… Người học phải chuyên tâm, từ chí, khiêm tốn, cầu tiến, cần mẫn, không tự thoả mãn, phải quan sát nhiều, nghe nhiều, hỏi nhiều, có tư duy sáng tạo, ôn cũ biết mới, học đi đôi với hành, hành lễ trước rồi mới học văn
Triết học phương Đông cổ trung đại quan niệm giáo dục không phải là dạy
dỗ đến tận cùng của vấn đề mà phải làm sao dạy ít, người học phải biết nhiều, tức là chỉ định hướng để người học phát huy được năng lực nội tại của mình
2 Nguyễn Thành Vinh (2006), Tìm hiểu tư tưởng giáo dục Nho giáo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Trang 7Dạy dỗ người chỉ thúc đẩy chứ không bức bách, chỉ mở lối soi đường chứ không dẫn dắt đến kỳ cùng Nho giáo cũng chủ trương: “Kẻ nào chẳng cố gắng tìm hiểu, ta chẳng chỉ cho Kẻ nào chẳng bộc lộ tư tưởng của mình, ta chẳng khai phóng cho Kẻ nào, ta nói một mà chẳng suy ra được ba, ta chẳng dạy cho” Vấn đề đào tạo con người trong triết học phương Đông cổ trung đại được thực hiện theo phương châm “tiên học lễ, hậu học văn” Lễ là một trong những phạm trù lớn và cơ bản của Nho giáo Nội hàm của Lễ phong phú Lễ là lễ nghi (của các việc quan, hôn, tang, tế); là quy định của xã hội về cách cư xử, giao tiếp giữa người với người; là quy định ngôi thứ, vị trí mỗi người trong xã hội; là những chuẩn tắc, quy củ không thái quá, không bất cập… Khổng Tử rất coi trọng lễ, một mặt, ông bảo vệ các lễ nghi, kỷ cương, luân lý của nhà Chu (Tây chu), mặt khác ông đề ra những nguyên tắc, nội dung mới hợp lý hóa những tư tưởng đó theo chiều hướng tiến bộ Chẳng hạn, ông yêu cầu mọi người khi thực hiện lễ cần phải chú trọng cả nội dung và hình thức, cần có thái độ thành tâm và kính trọng…
Vấn đề đào tạo con người trong triết học phương Đông cổ trung đại chú ý giáo dục nhân cách con người theo các quy phạm đạo đức trong đạo “cương -thường” (tam cương - ngũ thường), khuyên con người giữ và thực hiện đạo lý, giữ cái danh trong sáng của mình Thực hiện giáo dục nhân cách bằng sự gương mẫu, bằng sự tu thân, cảm hóa người của người cầm quyền - người có nghĩa vụ giáo hóa dân Khổng Tử nói: “Bản thân (nhà cầm quyền) ngay thẳng, tuy không
ra lệnh, mọi việc vẫn trôi chảy; bản thân không ngay thẳng, dẫu có ra lệnh dân cũng chẳng theo” (Kỳ thân chính, bất lệnh nhi hành Kỳ thân bất chính, tuy lệnh bất cùng - Luận Ngữ Tử Lộ) Khổng Tử cho rằng, làm chính sự (việc nước) cũng như giáo dục nếu bản thân mình không ngay thẳng thì không thể làm cho người khác ngay thẳng được Do vậy, việc giáo dục phải dùng nhân cách của mình để cảm hóa học trò: “Chính trị là ngay thẳng nếu ngài lấy điều ngay thẳng
Trang 8dẫn dắt mọi người, thì ai lại dám không ngay thẳng?” (Chính giả chính dã Quân suất dĩ chính, thục cảm bất chính - Luận Ngữ Nhan Uyên) [7, tr.487]3
Nho giáo chủ trương giáo dục “Tứ giáo”: “Phu Tử lấy bốn điều để dạy người: văn chương, đức hạnh, lòng trung thực và lòng thành tín” (Tử dĩ tứ giáo: văn, hạnh, trung, tín - Luận Ngữ Thuật Nhi) Trong “tứ giáo”, Khổng Tử vẫn coi trọng và lấy đức hạnh là cơ bản Nội dung giáo dục là Thi, Lễ, Nhạc, Thư, Dịch và Xuân Thu (Lục Kinh) Mục đích của việc học nội dung trên chính là để
có được lòng nhân (Đức nhân - phẩm chất đạo đức cao quý nhất của con người
mà Nho giáo luôn mong muốn mọi người có được, đặc biệt là người quân tử) Ông nói: “Người mà không có lòng nhân, dùng lễ sao được? Người mà không
có lòng nhân, dùng nhạc sao đươc?” (Nhân nhi bất nhân, như lễ hà? Nhân nhi bất nhân, như nhạc hà?- Luận Ngữ - Bát Dật) [3, tr.239]4
Những nội dung giáo dục của triết học phương Đông cổ trung đại nêu trên
đã cho thấy việc triết học phương Đông cổ trung đại đề cao giáo dục đạo đức (dạy đạo làm người) là điều hợp lý và có ý nghĩa không chỉ trước đây mà còn cho đến ngày nay Ở đâu và lúc nào, nếu không chú trọng việc giáo dục đạo đức cho con người là ở đó, khi đó, đạo đức xã hội có vấn đề, lấy yêu cầu của hiện tại
ra mà phê phán người xưa là phi lịch sử
II ẢNH HƯỞNG CỦA QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG CỔ TRUNG ĐẠI ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Quan niệm về con người trong triết học phương Đông cổ trung đại với sự hình thành và phát triển con người Việt Nam
Trong những dòng chảy hợp thành của lịch sử tư tưởng Việt Nam, tư tưởng đào tạo phát triền con người là một bộ phận quan trọng, góp phần làm nên giá trị to lớn, nhiều mặt của tư tưởng truyền thống Việt Nam Có thể nói, từ rất sớm, cha ông ta đã hết sức quan tâm đến vấn đề sống còn này của đất nước Trải
3 Viện Triết học (2014), Lịch sử triết học phương Đông cổ trung đại, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội.
4 Nguyễn Hiến Lê (2013), Đại cương triết học Trung Quốc, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
Trang 9bao thăng trầm của lịch sử, bao sự hưng vong của các triều đại tư tưởng đào tạo, phát triển con người của dân tộc Việt Nam đã tỏ rõ những giá trị to lớn nhưng đồng thời cũng bộc lộ những hạn chế của nó cần phải khắc phục và vượt lên Trong lịch sử cũng như ngày nay, quan niệm về con người trong triết học phương Đông cổ trung đại đã ảnh hướng lớn đến sự hình thành và phát triển con người Việt Nam
Chúng ta biết rằng, Việt Nam là một quốc gia nằm ở cửa ngõ vào Đông Nam châu Á, khí hậu khắc nghiệt, nóng lắm, mưa nhiều, bão lớn Đó là một môi trường sống khó khăn, thiên tai thường xuyên đe dọa sự tồn vong của cả cộng đồng cũng như mỗi một cá nhân Điều này đặt ra nhu cầu khách quan cần phải rèn luyện thân thể, phát triển thể lực đối với mọi người cũng như yêu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân Suốt mấy ngàn năm qua, nền kinh tế Việt Nam thực chất là kinh tế tiểu nông lạc hậu, dựa trên sản xuất nông nghiệp theo lối độc canh cây lúa là chủ yếu Công nghiệp bản địa không có, thủ công nghiệp manh mún, thương nghiệp què quặt Tư tưởng “Nhất nông vi bản” đè nặng lên toàn xã hội từ vua quan, cho đến thường dân Những người làm kỹ nghệ, thương mại bị xếp vào loại kém nhất trong bậc thang xã hội (Sĩ, nông, công, thương)
Do đó tính năng động của nền kinh tế rất kém
Cũng do nằm ở vị trí gặp gỡ, giao thoa của các nền văn hóa lớn: Văn hóa
Ấn Độ, văn hóa Trung Hoa và sau này là văn hóa Pháp, nên về đời sống tinh thần, tư tưởng chịu ảnh lớn của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo và Ki-tô giáo Trong lĩnh vực đào tạo, phát triển con người cho chế độ phong kiến Việt Nam, Nho giáo có ưu thế hơn các tôn giáo khác bởi nó có một hệ thống phạm trù, khái niệm khá hoàn chỉnh để giáo dục, đào tạo, phát triển con người với nội dung khá sâu sắc Hơn nữa, Nho giáo còn xây dựng được mẫu người lý tưởng cho xã hội phong kiến đó là những người “quân tử”, những “kẻ sĩ”, những “đại trượng phu
mà ở họ các năng lực, phẩm chất về mặt tinh thần được coi trọng và đề cao Điều này khá phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội cũng như tư tưởng, tâm lý của dân tộc Việt Nam vấn đề cao đạo làm người, tôn vinh tinh thần xả thân vì Tổ quốc và nhân dân của các thành viên trong cộng đồng Nho giáo còn đề ra những
Trang 10phương sách cụ thể để đào tạo phát triển con người, trong đó nhấn mạnh yếu tố
tự giác “tu thân” của các cá nhân - có ý nghĩa quyết định - đó là điều đáng ghi nhận trong lý luận giáo dục, đào tạo, phát triển con người bởi nó đề cao tính chủ động của con người trước hoàn cảnh
Nảy sinh và phát triển trên mảnh đất hiện thực đó, đồng thời bị qui định bởi những điều kiện mang tính khách quan của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, tư tưởng đào tạo, phát triển con người của dân tộc Việt Nam
đã góp phần quan trọng đào tạo cho đất nước, cho các triều đại phong kiến Việt Nam không ít những người “văn võ song toàn” những người “hiền tài” những anh hùng dân tộc, có đóng góp lớn cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước, làm rạng danh dân tộc, dòng họ và gia đình, để lại tấm gương muôn đời về lòng yêu nước, thương người, về tinh thần kiên cường, bất khuất, sự mưu trí dũng cảm, tinh thần quên mình vì dân vì nước như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Trần Bình Trọng, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu Họ là niềm tự hào của dân tộc
Tuy sống trong chế độ phong kiến, bị giới hạn bởi điều kiện kinh tế - xã hội của một nước phương Đông, của phương thức sản xuất châu Á đồng thời lại chịu ảnh hưởng của thế giới quan Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo Song, cha ông
ta cũng đã có cách nhìn biện chứng - dù còn ở trình độ chất phát, thô sơ, cảm tính về nguồn gốc, bản chất con người cũng như quá trình vận động và phát triển của nó
Khi bàn về vấn đề nguồn gốc, bản chất con người cha ông ta thường hay dùng khái niệm “tính người”, “bản tính con người” và nhấn mạnh vai trò chủ thể quyết định của con người trong quan hệ với tự nhiên “người ta là hoa của đất”;
“một mặt người bằng mười mặt của”, “nhân định thắng thiên”; “đức năng thắng số” [2, tr.210]5 Nhìn chung, do chịu ảnh hưởng sâu sắc của truyền thống văn hóa dân tộc, do gắn chặt với thực tiễn chiến đấu, sản xuất hàng ngày của nhân
5 Nguyễn Hùng Hậu (2012), Đại cương Triết học phương Đông cổ trung đại, Nxb Khoa học
Xã hội, Hà Nội.