19 Chuyên đề TRUNG QUỐC BAN HÀNH LUẬT HẢI CẢNH NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN THẾ GIỚI, KHU VỰC VÀ VIỆT NAM Ngày 22012021 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc đã biểu quyết thông qua Luật Hải cảnh, trong cùng n....................................................................................................................................................
Trang 1TRUNG QUỐC BAN HÀNH LUẬT HẢI CẢNH NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN THẾ GIỚI, KHU VỰC VÀ VIỆT NAM
Ngày 22/01/2021 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc đã biểu quyết thông qua Luật Hải cảnh, trong cùng ngày 22/01/2021 Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã ký Sắc lệnh ban hành Luật này gồm 11 chương, 84 điều, có hiệu lực
từ ngày 01/02/2021.Việc Trung Quốc ban hành Luật Hải cảnh sẽ có những tác động lớn đối với thế giới, khu vực và Biển Đông trong đó có Việt Nam
I LỰC LƯỢNG HẢI CẢNH NƯỚC CHND TRUNG HOA
1 Quá trình phát triển
Hải cảnh (tên cũ là Hải cảnh Biên phòng) vốn là một đơn vị cảnh sát vũ trang nhân dân nằm dưới sự quản lý của Cục Quản lý Biên phòng, Bộ Công an Trung Quốc Sự hình thành, phát triển của lực lượng Hải cảnh qua 05 giai đoạn:
(1) Từ 1949 - 1978 là giai đoạn manh nha, nhiệm vụ trọng tâm là bảo vệ biển, đảo, chủ yếu do quân đội đảm nhận và một phần nhỏ dân sự thuộc Cục Giám sát cảng vụ/Bộ Giao thông vận tải
(2) Từ 1979 - 1997 là giai đoạn tìm tòi mô hình phù hợp, các bộ phận, biên chế thuộc bộ, ngành liên quan tới biển được thành lập; tiến hành tách riêng dân sự và quân sự; chức năng chấp pháp trên biển chuyển từ lực lượng Hải quân sang lực lượng chấp pháp chuyên nghiệp
(3) Từ 1998 - 2013 là giai đoạn trưởng thành, phát triển toàn diện của năm lực lượng Hải sự, Hải giám, Ngư chính, Hải cảnh Biên phòng, Hải quan
(4) Từ 2013 - 6/2018 là giai đoạn hợp nhất bốn lực lượng Hải giám, Ngư chính, Hải cảnh Biên phòng, Hải quan (trừ Hải sự) thành một lực lượng, khi hoạt động trên biển lấy danh nghĩa là Hải cảnh (Cảnh sát biển Trung Quốc, China Coast Guard)
Trang 2(5) Từ 6/2018 - nay, theo “Kế hoạch cải cách cơ cấu Đảng và Nhà nước”
của Trung Quốc, chức năng quản lý nhà nước về chấp pháp trên biển và Hải Cảnh chuyển từ Cục Hải dương quốc gia thuộc Quốc vụ viện về Tổng bộ Cảnh sát vũ trang (Vũ Cảnh); hoạt động của Hải cảnh đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp của Quân ủy Trung ương Trung Quốc
Qua từng thời kỳ, Trung Quốc đã không ngừng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển, ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về phạm vi hoạt động, nhiệm vụ, quyền hạn của Hải cảnh trong quản lý, bảo vệ biển, nghề
cá, vận tải biển, phòng vệ biển, như: Tuyên bố về lãnh hải nước CHND Trung Hoa 1949; Luật An toàn giao thông trên biển 1983; Luật Ngư nghiệp 1986; Luật Lãnh hải và vùng biển tiếp giáp nước CHND Trung Hoa 1992; Tuyên bố về đường cơ sở nước CHND Trung Hoa 1996; Luật Xử phạt vi phạm hành chính 1996; Luật Đặc quyền kinh tế và thềm lục địa nước CHND Trung Hoa 1998; Luật Bảo vệ môi trường biển 1999; Luật Quản lý, sử dụng biển 2001; Luật Bảo
vệ hải đảo 2009; Điều khoản về quản lý, dự báo, giám sát hải dương 2012; Thông tư về tăng cường công tác quản lý hải dương và vấn đề liên quan 2015…
Sau khi Hải cảnh chuyển về trực thuộc Vũ Cảnh, Quốc hội Trung Quốc đã thông qua Luật sửa đổi về lực lượng Cảnh sát vũ trang (tháng 6/2020) Luật này quy định thành phần Vũ cảnh gồm: Vũ cảnh bảo vệ nội bộ, Vũ cảnh cơ động, Hải cảnh và các học viện, cơ quan nghiên cứu trực thuộc Cơ quan cao nhất của
Vũ Cảnh là Tổng bộ; cán bộ, nhân viên thuộc Vũ Cảnh đều là quân nhân; quân phục tương tự Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA), chỉ khác về màu sắc, cấp hàm giống PLA; biên chế tổ chức tương đương Đại quân khu; Tư lệnh, Chính ủy cấp hàm Thượng tướng Vị trí của Vũ cảnh (trong đó có Hải cảnh) là lực lượng bán quân sự, quản lý quân sự hóa hoàn toàn; thời chiến chịu sự chỉ huy của Quân ủy Trung ương hoặc 5 Bộ Tư lệnh các Chiến khu1, tham gia các hoạt động
1 Từ ngày 1 tháng 2 năm 2016, hệ thống 7 đại quân khu (Thất đại quân khu) bị giải thể và được thay bằng 5 đại chiến khu (Ngũ đại chiến khu) gồm:
1 Chiến khu Bắc bộ: Gần tương ứng với Quân khu Thẩm Dương và một phần Quân khu Tế Nam trước đây Địa
bàn gồm 5 tỉnh và đặc khu gồm Hắc Long Giang, Cát Lâm, Liêu Ninh, Nội Mông và Sơn Đông Bộ tư lệnh đặt tại Thẩm Dương, quản lý các tập đoàn quân số 16, 26, 39 và 40.
Trang 3tác chiến quân sự; thời bình, tiến hành diễn tập chung với PLA và thực thi các nhiệm vụ cụ thể (lần đầu tiên vị trí, chức năng của Hải cảnh được luật hóa)
2 Cơ cấu tổ chức, trang bị
Hải cảnh gồm: Cục Hải cảnh thuộc Tổng bộ Vũ Cảnh; căn cứ phân chia hành chính, khu vực nhiệm vụ, thành lập các Phân cục vùng biển (Bộ chỉ huy) Bắc Hải, Đông Hải và Nam Hải; các Cục Hải cảnh cấp tỉnh, cấp thành phố (trực thuộc) và Trạm/Đồn Hải cảnh các khu vực ven biển
Về tàu thuyền, Hải cảnh được trang bị hơn 300 tàu với nhiều loại khác nhau (đa số có trọng tải trên 2.000 tấn), cấu trúc thân tàu thiết kế tăng cường theo tiêu chuẩn tàu chiến, khả năng chống va chạm cao Đặc biệt, Hải cảnh có hai tàu thực thi pháp luật lớn nhất thế giới (số hiệu 2901, 3901), lượng giãn nước 12.000 tấn, trang bị pháo phòng không tầm gần, pháo bắn nhanh, thủy pháo (vòi rồng) cao áp, mang theo 2 trực thăng; nhiều hệ thống đối kháng điện tử, radar, sonar hiện đại Hiện nay, Trung Quốc đang cải tạo nhiều tàu chiến lớn Hải quân thành tàu Hải cảnh; tiếp tục đóng mới nhiều gam tàu hiện đại để gia tăng sức mạnh Hải cảnh theo hướng tiệm cận sức mạnh quân sự Hải cảnh có hơn 10 máy bay, trong
đó ít nhất 3 máy bay cánh cố định, 1 trực thăng vận tải đa năng và các loại trực thăng khác
Về phạm vi hoạt động của Hải cảnh, dù thực tế được chia thành ba khu vực là Bắc Hải, Đông Hải, Nam Hải song lực lượng này chủ yếu hoạt động ở Đông Hải (biển Hoa Đông) và Nam Hải (Biển Đông) Tại biển Hoa Đông, Hải cảnh thường xuyên tuần tra, kiểm soát, không ít lần đụng độ với Cảnh sát biển Nhật Bản ở khu vực gần quần đảo Điếu Ngư Tại Biển Đông, sự hiện
2 Chiến khu Đông bộ: Gần tương ứng với Quân khu Nam Kinh trước đây Địa bàn gồm 6 tỉnh gồm Giang Tô, Chiết
Giang, Thượng Hải, Phúc Kiến, An Huy và Giang Tây Bộ tư lệnh đặt tại Nam Kinh, quản lý các tập đoàn quân số 1, 12
và 31.
3 Chiến khu Nam bộ: Gần tương ứng với Quân khu Quảng Châu và một phần Quân khu Thành Đô trước đây Địa bàn
gồm 8 tỉnh và đặc khu gồm Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam, Hải Nam, Vân Nam, Quý Châu, Hương Cảng và Áo Môn.
4 Chiến khu Tây bộ: Gần tương ứng với Quân khu Lan Châu và một phần Quân khu Thành Đô trước đây Địa
bàn gồm 7 tỉnh và đặc khu gồm Tứ Xuyên, Tây Tạng, Cam Túc, Ninh Hạ, Thanh Hải, Tân Cương và Trùng Khánh Bộ tư lệnh đặt tại Thành Đô, quản lý các tập đoàn quân số 13, 21 và 47.
5 Chiến khu Trung ương: Gần tương ứng với Quân khu Bắc Kinh và một phần Quân khu Tế Nam trước đây Địa
bàn gồm 7 tỉnh và thành phố gồm Bắc Kinh, Thiên Tân, Hà Bắc, Sơn Tây, Hà Nam, Thiểm Tây và Hồ Bắc Bộ
tư lệnh đặt tại Bắc Kinh, quản lý các tập đoàn quân số 20, 27, 38, 54 và 65.
Trang 4diện của Hải cảnh đã vươn tới mọi tọa độ, từ Đài Loan ở phía Bắc đến Việt Nam ở phía Tây, Philippines ở phía Đông và Malaysia, Brunei, Indonesia ở phía Nam Quá trình hoạt động, Hải cảnh thực hiện nhiều hành động cứng rắn, mang tính áp đặt; vừa tích cực bảo vệ tàu cá, giàn khoan, tàu thăm dò Trung Quốc xâm phạm vùng biển nước khác, vừa theo dõi, quấy nhiễu, khiêu khích, hung hăng, đe dọa, đối đầu trực diện, sẵn sàng va chạm với tàu thực thi pháp luật, tàu công vụ, truy đuổi, đâm chìm tàu cá, cản trở hoạt động kinh tế biển hợp pháp của các nước ven Biển Đông (trong đó có Việt Nam) Mục tiêu của Trung Quốc sử dụng Hải cảnh nhằm từng bước biến vùng biển không
tranh chấp thành có tranh chấp, thực hiện chiến thuật “vùng xám” 2 , “tằm thực” 3 , tiến tới độc quyền kiểm soát Biển Đông.
II LUẬT HẢI CẢNH CỦA TRUNG QUỐC VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾ THẾ GIỚI, KHU VỰC, VIỆT NAM VÀ PHẢN ỨNG CỦA THẾ GIỚI
A LUẬT HẢI CẢNH CỦA TRUNG QUỐC VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾ THẾ GIỚI, KHU VỰC, VIỆT NAM
1 Nhận xét, đánh giá về Luật Hải cảnh Trung Quốc năm 2021
Luật Hải cảnh gồm 11 chương, 84 điều, có phạm vi áp dụng rất rộng, không rõ ràng, minh bạch (Điều 3, khoản 2 Điều 74) Quy định về vị trí Hải cảnh là lực lượng vũ trang quan trọng trên biển và lực lượng chấp pháp hành chính (Điều 2); hoạt động theo quy định quân sự và mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương (Điều 78, 79), có khả năng tạo ra một sự nhập nhằng giữa hoạt động chấp pháp với hoạt động quân sự; thể hiện ý đồ của Trung Quốc muốn sử dụng Hải cảnh với tư cách là một lực lượng bán quân sự, nâng cao khả năng phối hợp với Hải quân, Không quân và lực lượng khác, từ đó hình thành mạng lưới liền mạch để xử lý mọi vấn đề từ tuần tra, kiểm soát, thực thi pháp luật cho đến tiến hành, tham gia các chiến dịch quân sự của Trung Quốc trên Biển Đông
2 Chiến thuật "vùng xám" là hành động gây căng thẳng nhưng dưới mức chiến tranh, không tạo cớ cho xung đột xảy ra, để các nước khác không có cớ can thiệp quân sự chính thức Dùng lực lượng quân sự núp bóng các lực lượng dân sự hoạt động, kết hợp với một số chiến thuật khác như chiến tranh tâm lý, pháp lý, tuyên truyền , nhằm biến một vùng từ không tranh chấp thành tranh chấp.
Trang 5Quy định về nhiệm vụ Hải cảnh rất rộng, từ tuần tra, cảnh giới, canh gác, bảo vệ các đảo, đá, bãi trọng điểm, đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình, mục tiêu trọng yếu; quản lý, bảo vệ đường phân giới trên biển; phòng ngừa ngăn chặn, loại bỏ các hành vi gây nguy hại đến chủ quyền, an ninh và lợi ích biển của quốc gia; kiểm tra, điều tra và xử lý đối với các phương tiện, công trình trên biển, hoạt động khai phát đảo không người ở; sản xuất, đánh bắt; thăm dò, khảo sát, khai thác tài nguyên; hạ đặt cáp, đường ống; nghiên cứu khoa học biển liên quan đến yếu tố nước ngoài (Điều 11)
Quy định về quyền hạn của Hải cảnh bao gồm nhiều quyền hạn lớn, từ: ra lệnh dừng tàu; lên tàu kiểm tra, lục soát; xua đuổi; trấn áp, bắt giữ người, phương tiện; sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ; cưỡng chế dẫn kéo tàu, thuyền;
thiết lập vùng cấm trên biển tạm thời… (các điều 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20,
22, 23, 43, 44, 45) Tuy nhiên, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, trường hợp thực hiện quyền hạn của Hải cảnh lại không được quy định chặt chẽ, rõ ràng, tạo điều kiện cho Hải cảnh có thể tùy tiện, dễ dàng sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực
ở quy mô lớn, có khả năng đe dọa, gây sức ép cao khi hoạt động trên các vùng biển, vùng trời trên biển của nước khác trên Biển Đông
Dưới góc độ pháp lý, mặc dù trong quá trình xây dựng Luật Hải cảnh, Trung Quốc đã tham khảo, nghiên cứu Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), pháp luật quốc gia khác về lực lượng thực thi pháp luật trên biển (Mỹ, Nhật, Philippines, Việt Nam…), song dự thảo Luật vẫn tồn tại một số điểm chưa rõ ràng, không phù hợp quy định pháp luật quốc tế, như:
- Cụm từ “vùng biển thuộc quyền tài phán của nước CHND Trung Hoa”
(được sử dụng 12 lần trong dự thảo Luật) dùng để xác định phạm vi vùng biển
áp dụng luật và phạm vi hoạt động của Hải cảnh Đây là một quy định rất mơ hồ,
không xác định cụ thể; khi vận dụng cùng yêu sách “Đường chín đoạn”, “Tứ
Sa” có khả năng biến các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của các nước ven
Biển Đông (đã được thiết lập phù hợp với quy định của UNCLOS 1982) thành
“vùng biển thuộc quyền tài phán của nước CHND Trung Hoa”
Trang 6Quyền tài phán là thẩm quyền riêng biệt của quốc gia ven biển trong việc đưa ra các quyết định, quy phạm và giám sát việc thực hiện mọi hoạt động trên vùng biển thuộc quyền chủ quyền của mình Theo UNCLOS 1982, tùy thuộc quy chế pháp lý của từng vùng biển (nội thủy, lãnh hải, tiếp giáp, đặc quyền kinh tế, biển quốc tế)4 thì “quyền tài phán” 5 của quốc gia ven biển được xác định ở một số lĩnh vực khác nhau Ví dụ: trong vùng tiếp giáp, q uốc gia ven biển có quyền thi hành sự kiểm soát cần thiết nhằm ngăn ngừa và trừng trị hành vi vi phạm các luật, quy định về hải quan, thuế khóa, nhập cư,
y tế (Điều 33 UNCLOS 1982); hoặc trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có quyền tài phán về lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết
bị và công trình; nghiên cứu khoa học về biển; bảo vệ và giữ gìn môi trường biển (Điều 56 UNCLOS 1982)
Như vậy, khái niệm “vùng biển thuộc quyền tài phán” của quốc gia không
tồn tại, không được ghi nhận trong UNCLOS 1982 Đây là trường hợp Trung Quốc quy phạm hóa và cố gắng tạo ra tiền lệ tranh chấp trên một khu vực biển
vốn không hề có tranh chấp, tiến tới “tranh chấp hóa” toàn bộ Biển Đông Quy
định này cho thấy Trung Quốc đang cố ý, đơn phương diễn giải lại UNCLOS
1982, đi ngược chuẩn mực, lợi ích chung của cộng đồng quốc tế nhằm biện hộ cho yêu sách phi lý cũng như các hành động trái pháp luật quốc tế của mình ở
4 Nội thủy: Các vùng nước ở phía trong đường cơ sở; nhất thể hóa với lãnh thổ đất liền nên có chế độ pháp lý đất liền -Lãnh hải: có chiều rộng là 12 hải lý tính từ đường cơ sở; có chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ trong vùng lãnh hải, song không tuyệt đối như nội thủy Tuy nhiên các tàu thuyền nước ngoài có quyền đi qua vùng lãnh hải của nước ven biển
mà không phải xin phép trước nếu họ không tiến hành bất kỳ hoạt động gây hại nào.
-Tiếp giáp: vùng tiếp giáp lãnh hải không vượt quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở; quốc gia ven biển có chủ quyền
về khai thác, thăm dò các tài nguyên biển vì mục đích hòa bình; chỉ được thực hiện thẩm quyền hạn chế trong một số lĩnh vực nhất định đối với các tàu thuyền nước ngoài.
- Vùng đặc quyền kinh tế: là vùng biển nằm ở ngoài lãnh hải có phạm vi rộng không vượt quá 200 hải lý tính từ đường
cơ sở Quốc gia ven biển có các quyền chủ quyền về việc thăm dò, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên sinh vật hoặc không sinh vật của vùng nước đáy biển, của đáy biển và vùng đất dưới đáy biển cũng như những hoạt động khác nhằm thăm dò, khai thác vùng này vì mục đích kinh tế Đối với các quốc gia khác: Được hưởng quyền
tự do hàng hải, hàng không; được tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm, nhưng phải thông báo và thỏa thuận với quốc gia ven biển; được tự do sử dụng biển vào các mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế.
- Biển quốc tế: vùng biển quốc tế là vùng biển nằm ngoài vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các nước ven biển; tất cả các nước đều có quyền tự do hàng hải, tự do hàng không, tự do đặt dây cáp và ống ngầm, tự do đánh bắt cá và tự do nghiên cứu khoa học.
5 Quyền tài phán là thẩm quyền riêng biệt của quốc gia ven biển trong việc đưa ra các quyết định, quy phạm và giám sát việc thực hiện mọi hoạt động trên biển thuộc quyền chủ quyền của quốc gia mình như: cấp phép, giải quyết và xử lý đối với một số hoạt động cụ thể, các đạo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển, trong đó có việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, bảo vệ và giữ gìn môi trường biển trong vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của quốc gia đó (Theo Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982).
Trang 7Biển Đông Lập luận này của Trung Quốc đã bị Phán quyết năm 2016 của Tòa trọng tài quốc tế, thành lập theo Phụ lục VII, UNCLOS 1982 bác bỏ trong vụ Philippines kiện Trung Quốc và bị nhiều nước trên thế giới phản đối mạnh mẽ
- Quy định về “quyền cưỡng chế dẫn kéo tàu thuyền quân sự nước ngoài,
tàu thuyền chính phủ hoạt động phi thương mại” tại Điều 18 dự thảo Luật trái
thông lệ và pháp luật quốc tế về quyền miễn trừ, quan hệ ngoại giao; trái quy định tại Tiểu mục C (từ Điều 29 đến Điều 32), Điều 95, 96 UNCLOS 1982 Cụ
thể, Điều 95 UNLCOS 1982 quy định: “Các tàu chiến trên biển cả được hưởng
quyền miễn trừ hoàn toàn về tài phán của bất kỳ quốc gia nào khác ngoài quốc gia mà tàu mang cờ”; Điều 96 UNCLOS 1982 quy định: “Các tàu thuyền của Nhà nước hay do Nhà nước khai thác và chỉ dùng cho một cơ quan Nhà nước không có tính chất thương mại trên biển cả được hưởng quyền miễn trừ hoàn toàn về tài phán của bất kỳ quốc gia nào khác ngoài quốc gia mà tàu mang cờ”.
- Ngoài ra, các quy định về quyền hạn của Hải cảnh trong dự thảo Luật nếu
áp dụng theo phạm vi yêu sách phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ dẫn tới hoạt động của Hải cảnh xâm phạm quyền tự do hàng hải, hàng không của quốc gia khác theo quy định của Điều 36, 58, 87 UNCLOS 1982; trái nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế về nghiêm cấm việc sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực
đã được quy định tại Điều 2 (4) Hiến chương Liên hiệp quốc năm 1945: “Các
quốc gia thành viên hạn chế việc đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế để chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của quốc gia khác”.
2 Những tác động đến thế giới, khu vực, Việt Nam
2.1 Tác động tới các tuyến hàng hải quốc tế đi qua Biển Đông
Với vị trí chiến lược, án ngữ các tuyến hàng hải quốc tế huyết mạch của thế giới, Biển Đông đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động thương mại hàng hải toàn cầu Sau khi dự thảo Luật được thông qua, trên cơ sở quy định
không rõ ràng, minh bạch về phạm vi áp dụng của luật “trên các vùng biển
thuộc quyền tài phán của Trung Quốc” tại Điều 3, khoản 2 Điều 74; phạm vi
Trang 8hoạt động, khu vực Hải cảnh có thẩm quyền thực thi pháp luật Trung Quốc sẽ
mở rộng tới các vùng biển thuộc yêu sách “Đường chín đoạn” hoặc “Tứ Sa”,
bao trùm, chồng lấn trên các tuyến hàng hải quốc tế đi qua Biển Đông
Khi Hải cảnh triển khai thực hiện các nhiệm vụ tại Điều 11, các quyền hạn trong bảo vệ an ninh trên biển từ Điều 13 đến Điều 19, trong chấp pháp hành chính trên biển từ Điều 20 đến Điều 33, trong sử dụng công cụ hỗ trợ và vũ khí
từ Điều 42 đến Điều 47, lực lượng này có quyền lực chấp pháp rất mạnh từ theo dõi, giám sát, ra lệnh dừng tàu; lên tàu kiểm tra, lục soát; xua đuổi; trấn áp, bắt giữ; sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ trong nhiều trường hợp; cưỡng chế dẫn kéo;
thiết lập vùng cấm trên biển tạm thời… Hoạt động của Hải cảnh sẽ ảnh hưởng
tới tuyến hàng hải quốc tế đi qua Biển Đông ở một số khía cạnh sau:
- Tạo mối đe dọa, uy hiếp an ninh, an toàn đối với người, tàu thuyền, hàng hóa trên tuyến hàng hải quốc tế đi qua Biển Đông
- Cản trở quyền tự do hàng hải, có thể làm gián đoạn, tắc nghẽn các tuyến hàng hải quốc tế đi qua Biển Đông
- Có thể gây ảnh hưởng, tác động tiêu cực về mặt kinh tế, thương mại, quan hệ quốc tế không chỉ trong phạm vi khu vực mà cả trên phạm vi toàn cầu
2.2 Tác động tới các tuyến hàng không quốc tế qua Biển Đông
Vùng trời trên Biển Đông có hệ thống hàng trăm đường bay quốc tế qua lại, tần suất bay nhộn nhịp vào bậc nhất trên thế giới Trung Quốc không chỉ có tham vọng độc quyền kiểm soát các vùng biển, thềm lục địa, tài nguyên sinh vật dưới đáy Biển Đông mà còn có tham vọng kiểm soát vùng trời trên Biển Đông Thực tiễn, Trung Quốc đã đầu tư mạnh vào công nghệ quân sự (rada tần số cao, định vị
vệ tinh, thiết bị viễn thám, công nghệ giám sát không gian biển); sử dụng sức mạnh tổng hợp của Không quân, Hải quân, Hải cảnh kết hợp các điểm, đảo đã bồi đắp, quân sự hóa (đường băng, nhà chứa máy bay, tên lửa đất đối không, máy bay tuần thám, cảnh báo sớm…), chuẩn bị các kế hoạch thiết lập vùng nhận dạng
Trang 9phòng không (ADIZ)6 nhằm yêu cầu máy bay hoạt động ở vùng trời trên Biển Đông phải cung cấp nhận dạng, vị trí, chịu sự kiểm soát của Trung Quốc
Theo quy định của Luật Hải cảnh có chức năng, nhiệm vụ “triển khai
công tác chấp pháp bảo vệ quyền lợi của Trung Quốc trên không ở các vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc” (Điều 3) Hải cảnh với lợi thế
thường xuyên hiện diện trên biển, mật độ hoạt động dày đặc trên phạm vi rộng, được trang bị phương tiện, thiết bị kỹ thuật hiện đại có thể phát hiện, theo dõi, định vị, giám sát các hoạt động hàng không Hải cảnh có thể sử dụng quyền thiết lập khu vực cảnh giới trên biển tạm thời (Điều 22), quy định về phối hợp với quân đội (Điều 52), quy định về thực hiện tác chiến phòng vệ, quy định quân sự, mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương (Điều 79) để nhanh chóng chia sẻ thông tin, phối hợp với các lực lượng quân sự, dân sự khác nhằm kiểm soát một khu vực biển
và thiết lập ADIZ nhằm kiểm soát, quản lý vùng trời trên khu vực biển đó với lý
do bảo vệ quyền lợi của Trung Quốc Mặt khác, đa số tàu Hải cảnh hiện nay đều
có sàn đỗ máy bay hoặc được trang bị máy bay trực thăng; các máy bay này khi
hoạt động trên vùng trời ở Biển Đông theo yêu sách “Tứ Sa”, “Đường chín
đoạn” thường không có thông báo bay, dự báo bay Do đó, hoạt động của Hải
cảnh sẽ có tác động tới tuyến hàng không quốc tế qua Biển Đông ở một số khía cạnh sau:
- Vi phạm quy định pháp luật quốc tế (đã được các nước trên thế giới và ICAO7 thỏa thuận, thống nhất) về quyền tự do hàng không ở Biển Đông
- Tiềm ẩn nguy cơ đe dọa an ninh, an toàn đối với các máy bay tham gia hoạt động ở tuyến hàng không quốc tế qua Biển Đông
bay qua lại được thực hiện vì lợi ích an ninh quốc gia của nước tuyên bố ADIZ: Các máy bay dân sự sẽ cần báo cáo sự hiện diện của họ với kiểm soát không lưu Trung Quốc, và có khả năng bị chặn nếu không làm báo trước cho họ Trong khi nhiều quốc gia đưa ra ADIZ, khái niệm này không được xác định hoặc quy định bởi bất kỳ điều ước hoặc cơ quan quốc tế nào.
hóa các nguyên tắc và kỹ thuật của dẫn đường hàng không quốc tế cũng như tạo điều kiện về kế hoạch và phát triển ngành vận tải hàng không quốc tế để đảm bảo an toàn và lớn mạnh một cách có thứ tự Ủy ban ICAO đưa
ra những tiêu chuẩn và những điều thực tế liên quan đến dẫn đường hàng không, và ngăn chặn mọi sự xuyên nhiễu trái luật cũng như làm thuận tiện quy trình bay từ nước này sang nước khác trong hàng không dân dụng.
Trang 10- Gây khó khăn cho công tác quản lý vùng trời của các quốc gia ven Biển Đông (trong đó có Việt Nam)
2.3 Tác động tới hoạt động bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam
Hiện nay, các lực lượng thuộc Bộ quốc phòng tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam, gồm: Hải quân, Không quân, Cảnh sát biển Việt Nam, Bộ đội Biên phòng, Đặc Công, Kiểm ngư (thuộc Hải quân), Bộ Tư lệnh 86, Hải đội Dân quân thường trực, Dân quân tự vệ biển các tỉnh, Quân khu ven biển… Sau khi Luật được thông qua, hoạt động của Hải cảnh Trung Quốc sẽ đặt ra nhiều thách thức, khó khăn cho hoạt động bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam Cụ thể:
- Quy định của Điều 3, khoản 2 Điều 74 làm phạm vi áp dụng Luật chồng lấn lên các vùng biển Việt Nam (xác định đúng quy định UNCLOS 1982) Phạm
vi hoạt động của Hải cảnh chồng chéo với phạm vi hoạt động của các lực lượng thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam trên biển; xảy ra hiện tượng hai nước đều thực hiện quy định pháp luật quân sự, quốc phòng nước mình trên cùng một vùng biển
- Hải cảnh với các quy định mới có nhiệm vụ, quyền hạn lớn; phạm vi hoạt động rộng sẽ gia tăng áp lực, hành động mạnh bạo, cứng rắn hơn, tiềm ẩn nguy cơ va chạm, xung đột và gây rủi ro, đe dọa tính mạng, sức khỏe cán bộ, chiến sĩ quân đội cũng như uy hiếp sự an toàn của tàu, thuyền, máy bay quân sự, phương tiện của ta đang thực thi nhiệm vụ trên biển và trên không ở Biển Đông
- Quy định của Điều 18, 19 dự thảo Luật đặc biệt nguy hiểm, giao quyền lớn, tạo điều kiện cho Hải cảnh tùy tiện thực hiện quyền theo dõi, giám sát, kiểm
tra, ngăn chặn hoặc sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực (truy đuổi, tạm giữ,
chặn bắt, xua đuổi, sử dụng vũ khí, thậm chí cưỡng chế dẫn kéo) đối với tàu
thuyền quân sự của lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển Việt Nam, Bộ đội Biên phòng, Đặc Công, Quân khu ven biển… đang hoạt động trong vùng biển Việt Nam Không loại trừ khả năng trong một số tình huống, Hải cảnh có thể bất chấp pháp luật quốc tế, vận dụng quy định của Điều 18, 19 làm cơ sở để thực