Việc học tập Tiếng Việt không chỉ giúp học sinh nắm vững tri thức cơ bản về Tiếng Việt mà đồng thời hình thành 4 kĩ năng Đọc – viết – nói và nghe một cách vững chắc. Thông qua các hoạt động học tập học sinh sẽ chủ động, tự tin, phát huy khả năng tư duy và năng lực tối ưu của mình. Đồng thời giúp giáo viên nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ sư phạm. Năm học 20202021 là năm học đầu tiên giáo viên và học sinh lớp 1 được học chương trình giáo dục phổ thông mới. Trường Tiểu học Trà Thanh thuộc huyện Hớn Quản được học bộ sách giáo khoa Chân trời sáng tạo. Trong bộ sách giáo khoa Chân trời sáng tạo môn Tiếng Việt là một môn học được thiết kế từng hoạt động dạy học cụ thể, trong đó có phần Hoạt động mở rộng là một hoạt động cuối cùng của bài học.
Trang 1Giúp học sinh lớp Một/ 1 học tốt phần "Hoạt động mở rộng" trong môn Tiếng Việt lớp 1 sách Chân trời sáng tạo.
Với những thông tin về sáng kiến cụ thể như sau:
1 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường Tiểu học
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục( Môn Tiếng Việt)
3 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Ngày 5/1/2021
4 Mô tả bản chất của sáng kiến
4.1 Tình trạng của giải pháp đã biết:
Việc học tập Tiếng Việt không chỉ giúp học sinh nắm vững tri thức cơ bản
về Tiếng Việt mà đồng thời hình thành 4 kĩ năng "Đọc – viết – nói và nghe" một cách vững chắc Thông qua các hoạt động học tập học sinh sẽ chủ động, tự tin, phát huy khả năng tư duy và năng lực tối ưu của mình Đồng thời giúp giáo viên nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ sư phạm
Năm học 2020-2021 là năm học đầu tiên giáo viên và học sinh lớp 1 được học chương trình giáo dục phổ thông mới Trường Tiểu học Trà Thanh thuộc huyện Hớn Quản được học bộ sách giáo khoa Chân trời sáng tạo Trong bộ sách giáo khoa Chân trời sáng tạo môn Tiếng Việt là một môn học được thiết kế từng hoạt động dạy học cụ thể, trong đó có phần "Hoạt động mở rộng" là một hoạt động cuối cùng của bài học Tuy nhiên đây là một hoạt động đòi hỏi giáo viên giảng dạy một cách khoa học, có hệ thống để học sinh có thể tiếp nhận tri thức một cách chính xác, chắc chắn và biết vận dụng nó để giao tiếp, để học tập các môn học trong trường tiểu học và hoàn thiện nhân cách của mình.Vì vậy trong quá trình giảng dạy "Hoạt động mở rộng" giáo viên gặp khó khăn sau:
* Về phía giáo viên:
- Tiếp cận với nội dung chương trình sách giáo khoa mới bước đầu có
nhiều bỡ ngỡ về: cách dạy - cách học
- Chưa có tranh ảnh và đồ dùng để giảng dạy "Hoạt động mở rộng".
- Giáo viên tổ chức các hoạt động học tập chưa gây hứng thú cho học
sinh
Trang 2- Việc ứng dụng công nghệ thông tin của giáo viên còn hạn chế, ngại tiếp
xúc với phương tiện hiện đại trong quá trình soạn giảng
- Việc nhận xét và đánh giá học sinh chưa phát huy được phẩm chất và
năng lực của từng em
* Về phía học sinh:
- Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên thời gian nghỉ học của trẻ Mầm
non kéo dài Chính vì vậy khi vào học lớp 1 nhiều em còn nhút nhát, thụ động, nói còn ngọng, vốn từ chưa phong phú
Từ những khó khăn trên ảnh hưởng đến việc giảng dạy của giáo viên và việc học tập của học sinh Vì vậy đối với giáo viên cần phải dạy những nội dung
gì trọng tâm? Dạy học bằng cách nào? Dạy như thế nào để tất cả học sinh đều được tham gia thực hành luyện tập, hòa nhập với tất cả các bạn để tăng thêm tình đoàn kết, giúp các em nắm vững kiến thức bài học và nâng cao chất lượng học tập môn Tiếng Việt Trước những câu hỏi trên làm tôi luôn suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng những phương pháp, tổ chức hình thức dạy học vào thực tế dạy học giúp các em nhớ bài lâu, hiểu bài sâu, phát huy tính tích cực học tập của từng
em Trải qua ba tháng áp dụng vào giảng dạy tại lớp Một/1 bản thân giáo viên nhận thấy mang lại hiệu quả trong quá trình giảng dạy Chính vì lí do trên nên
tôi chọn và viết đề tài: "Giúp học sinh lớp Một/ 1 học tốt phần "Hoạt động mở rộng"trong môn Tiếng Việt lớp 1 sách Chân trời sáng tạo.
4.2 Những nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm của giải pháp.
Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểu học Bao giờ cũng đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng Giáo viên và học sinh sử dụng các thiết bị và đồ dùng học tập là con đường kết hợp chặt chẽ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng, xây dựng cho học sinh biết quan sát một cách có tổ chức, có kế hoạch, biết tư duy một cách độc lập, linh hoạt, sáng tạo, biết tưởng tượng một cách đúng hướng và phong phú
Ở mỗi tiết dạy, các phương pháp dạy học chỉ được thực hiện nhờ có sự hỗ trợ của thiết bị và đồ dùng học nhất định, phối kết hợp những phương pháp đa
Trang 3dạng và phong phú, tạo ra nhiều khả năng để giáo viên trình bày nội dung bài học một cách sâu sắc Để giảng dạy phần" Hoạt động mở rộng" đạt hiệu quả cao thì mỗi giáo viên phải làm tốt những nội dung sau:
4.2.1 Chuẩn bị đồ dùng dạy học
Đồ dùng dạy học có vai trò rất quan trọng trong việc giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung và "Hoạt động mở rộng" nói riêng Thông qua đồ dùng học tập giúp học sinh:
- Thu nhận thông tin về sự vật một cách sinh động, đầy đủ và chính xác.
- Giúp học sinh nắm được kiến thức mới, dễ hiểu bài, nhớ lâu kiến thức.
- Đồ dùng dạy học rất phù hợp với học sinh lớp 1 chiếm ưu thế, gây hứng
thú cho học sinh học tập, phát triển tư duy
- Giúp giáo viên trình bày bài giảng một cách đầy đủ, chính xác, sinh
động, hấp dẫn qua đó nâng cao được hiệu quả bài dạy
- Qua thực tiễn dạy học giáo viên thường xuyên sưu tầm và sử dụng
những đồ dùng sẵn có như: máy chiếu, ti vi, tranh ảnh,…và hướng dẫn học sinh khai thác tốt đồ dùng dạy học để tìm ra kiến thức bài học thì tiết học trở nên nhẹ
nhàng hơn - tự nhiên hơn - hiệu quả hơn.
4.2.2 Giúp học sinh phát triển lời nói
- Tạo được nhu cầu hội thoại cho học sinh
Việc tạo ra nhu cầu giao tiếp cho học sinh là điều hết sức quan trọng Khi học sinh có nhu cầu biểu đạt các em sẽ mạnh dạn, tự tin, hứng thú để trình bày những suy nghĩ riêng của mình về chủ đề đang được nói đến
Để tạo ra nhu cầu giao tiếp cho học sinh, giáo viên cần tạo ra những tình huống giao tiếp giả định nhưng phải gần gũi và có sức hấp dẫn, kích thích nhu cầu nói của các em
- Tạo ra được hoàn cảnh giao tiếp tốt
Hoàn cảnh giao tiếp trong giờ Tiếng Việt chính là điều kiện của lớp học trong giờ học "Hoạt động mở rộng" bao gồm: Không khí lớp học, tư thế của giáo viên, hoạt động nghe của học sinh, trật tự của lớp học và một số hoạt động
Trang 4khác ảnh hưởng đến việc giao tiếp của học sinh Học sinh sẽ tự tin hơn nếu giáo viên cởi mở, khích lệ các em học tập
Khi học sinh đang trình bày giáo viên không nên ngắt lời dẫn đến gián đoạn trong lời nói làm cho các em lúng túng Giáo viên nên sửa sai sau khi học sinh đã kết thúc phần trình bày
Cô và trò rất hào hứng khi cùng nhau giao tiếp thông qua hình ảnh.
4.2.3.Vận dụng các phương pháp dạy học
- Phương pháp vấn đáp.
+ Phương pháp vấn đáp (hỏi - đáp) chiếm một vị trí quan trọng ở bậc
Tiểu học nói chung và ở lớp 1 nói riêng Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong quá trình dạy học nhằm gợi mở cho học sinh làm sáng tỏ những vấn đề mới, rút ra những kết luận cần thiết từ những điều đã học Tạo điều kiện cho học sinh phát huy được tính tích cực, độc lập nhận thức, phát triển hứng thú học tập
và khát vọng tìm kiếm vấn đề để giải quyết
Ở giai đoạn đầu (phần học âm, vần), phương pháp hỏi đáp được dùng nhiều hơn vì lúc này học sinh chưa có nhiều kinh nghiệm trong kỹ năng giao tiếp Khi ấy các em rất cần sự gợi mở, dẫn dắt dần dần của giáo viên, hướng các
em vào việc trình bày một vấn đề nào đó
Ví dụ: Chủ đề 1: Những bài học đầu tiên (Bài 4: o, dấu hỏi) - Sách giáo
khoa Tiếng Việt "Chân trời sáng tạo" trang 16 và trang 17
Trang 5Cách tiến hành:
Bước 1: Giáo viên giới thiệu tranh hoạt động mở rộng
Bước 2: Giáo viên yêu cầu học sinh đọc nội dung trong bóng nói (1-2 học
sinh đọc nội dung trong bóng nói)
- Giáo viên gợi ý câu hỏi và học sinh trả lời như sau:
+ Giáo viên hỏi: Tranh vẽ những con vật nào?
+ Học sinh trả lời: Tranh vẽ con gà trống và con bò.
+ Giáo viên hỏi: Thức ăn của gà trống và con bò là gì?
+ Thức ăn của gà trống là lúa, gạo, Thức ăn của con bò là cỏ, cám, + Giáo viên hỏi: Con gà trống thường gáy vào thời gian nào là nhiều nhất?
+ Học sinh trả lời: Con gà trống thường gáy vào lúc sáng sớm là nhiều
nhất
+ Giáo viên hỏi: Con gà trống gáy như thế nào?
+ Học sinh trả lời: Con gà trống gáy ò ó o.
+ Giáo viên tổ chức cho cả lớp bắt chước tiếng gáy của con gà trống + Giáo viên yêu cầu học sinh đặt câu: Em hãy đặt cho cô 1 câu có cụm từ" ò ó o"?
+ Học sinh đặt câu (1 đến 2 em trình bày)
Học sinh thứ nhất: Con gà trống gáy ò ó o
Học sinh thứ hai: Sáng sớm con gà trống gáy ò ó o
Bước 3: Củng cố lại âm vừa học
+ Trong tiếng "bò, cỏ" chứa âm gì vừa học? (tiếng "bò, cỏ" chứa âm "o")
Bước 4: Liên hệ tích hợp liên môn Tự nhiên và xã hội: Khi nuôi "gà" và
"bò" thì các em cần phải làm gì? (cho ăn, uống nước, vệ sinh chuồng sạch sẽ, )
Trang 6Chúng mình cùng nhau trả lời nhé!
* Một số điều cần chú ý khi sử dụng phương pháp vấn đáp.
- Giáo viên cần xác định rõ mục đích, yêu cầu hỏi đáp để đưa ra hệ thống
câu hỏi chính và những câu hỏi phụ để gợi mở
- Các câu hỏi cần có mối liên hệ với nhau để trở thành đoạn hội thoại giữa
giáo viên và học sinh
- Câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp trình độ của học sinh.
- Câu hỏi phải có tác dụng kích thích tính tích cực, độc lập tư duy, phát
triển hứng thú nhận thức của học sinh
- Giáo viên luôn động viên, khuyến khích học sinh trả lời, tập thành thói
quen trả lời một cách đầy đủ, đúng ý, sáng tạo, tránh trả lời rập khuôn, máy móc, không đủ ý, đủ câu
- Giáo viên cần tổng kết phần hỏi đáp bằng cách yêu cầu học sinh độc
thoại, nói một đoạn ngắn về chủ đề đó (dành cho học sinh năng khiếu) để rèn kỹ năng độc thoại cho các em
- Phương pháp thảo luận nhóm
Phương pháp thảo luận nhóm là một phương pháp dạy học trong đó giáo viên tạo điều kiện cho học sinh học tập theo từng nhóm nhằm luyện tập khả năng giao tiếp bằng cách trao đổi, hợp tác, tranh luận, bàn bạc… với nhau để giải quyết các vấn đề học tập và tìm ra được những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới cho bản thân Qua thảo luận nhóm, ngôn ngữ và năng lực tư duy của học sinh
Trang 7trở nên linh hoạt hơn, đồng thời còn giúp các em luyện tập tính tự giác, tính đoàn kết tập thể, có sự mạnh dạn, tự tin trong học tập và giao tiếp
Ví dụ: Chủ đề 2: Bé và bà( bài Ô- ô- dấu ngã) - Sách giáo khoa Tiếng Việt
"Chân trời sáng tạo" trang 22- và trang 23
Cách tiến hành:
Bước 1: Giáo viên trình chiếu tranh.
Bước 2: Giáo viên chia nhóm đôi- nêu câu hỏi thảo luận như sau:
+ Tranh vẽ gì?
+ Qua tranh vẽ giúp con nhớ đến bài hát nào?
Bước 3: Đại diện 2-3 nhóm trình bày trước lớp
Tranh vẽ hai bạn đang lái ô tô và các nốt nhạc Qua tranh vẽ giúp con nhớ đến bài hát"Em tập lái ô tô"
+ Học sinh cùng giáo viên nhận xét, bổ sung.
Bước 4: Tổ chức cho cả lớp vừa hát vừa vận động múa theo nhạc bài: Em
tập lái ô tô
Bước 5: Củng cố lại âm đã học.
+ Trong bài hát" Em tập lái ô tô" tiếng nào có chứa âm"ô" ?( tiếng ô, tiếng tô, tiếng pô có chứa âm"ô")
- Thông qua hoạt động giáo viên liên hệ giáo dục an toàn giao thông cho
học sinh: cần phải chấp hành đúng luật giao thông Khi ngồi trên xe máy các em phải đội mũ bảo hiểm để đảm bảo an toàn cho mình và mọi người
Trang 8
Vừa học vừa chơi vui quá!
* Một số chú ý khi tổ chức dạy học theo nhóm
- Các nội dung thảo luận phải có tác dụng kích thích sự suy nghĩ, gây sự
tò mò, chú ý của học sinh Vì nếu nội dung quá dễ thì học sinh chóng chán, thảo luận không có hiệu quả, còn nếu quá khó học sinh không có ý kiến thì cuộc thảo luận sẽ bế tắc
- Không quá lạm dụng hình thức thảo luận nhóm trong giờ dạy "Hoạt
động mở rộng" vì nếu kéo dài sẽ không có tác dụng
- Trong lúc thảo luận, giáo viên cần tạo điều kiện cho tất cả học sinh đều
được bày tỏ quan điểm, ý kiến Giáo viên nên quan sát để hỗ trợ khi học sinh cần, mặt khác để có biện pháp khích lệ đối với những học sinh sử dụng ngôn ngữ chưa tốt
- Giáo viên nên để học sinh có nhận xét các nhóm, sau đó mới đưa ra
đánh giá của mình và khen ngợi ý kiến đóng góp của các em, động viên tinh thần làm việc của các nhóm
Lưu ý: Phương pháp thảo luận nhóm giáo viên còn có thể áp dụng dạy
các bài:
Chủ đề 1: Những bài học đầu tiên (Bài 3: Âm c, dấu huyền, dấu sắc); sách
giáo khoa Tiếng Việt sách "Chân trời sáng tạo" trang 14 và trang 15
Chủ đề 5: Ở nhà (Bài 2: Âm r, tr); sách giáo khoa Tiếng Việt sách "Chân
trời sáng tạo" trang 52 và trang 53
- Phương pháp trò chơi học tập.
Trang 9Trò chơi là một hoạt động của con người nhằm mục đích vui chơi, giải trí, thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng Thông qua trò chơi, người chơi còn
có thể được rèn luyện về thể lực, sử dụng các giác quan, sự thông minh, nhanh nhẹn, sáng tạo, linh hoạt và đặc biệt là được giao lưu, học hỏi bạn bè, đồng đội Đối với trẻ em thì trò chơi có vai trò quan trọng trong sinh hoạt Vì vậy giáo viên kết hợp giữa học tập và vui chơi sẽ tạo được hiệu quả trong học tập, tránh được hiện tượng mệt mỏi, nhàm chán cho học sinh
Ví dụ: Chủ đề 4: Kì nghỉ (Bài 2: U, u - Ư, ư) - Sách giáo khoa Tiếng Việt
"Chân trời sáng tạo" trang 42 và trang 43
Mục đích: Học sinh củng cố âm vừa học; nhận biết tên của trò chơi dân gian
Cách tiến hành:
Bước 1: Giáo viên chiếu tranh - học sinh quan sát tranh và nêu tên hoạt
động mở rộng
Bước 2: Giáo viên giới thiệu tên trò chơi, hướng dẫn cách chơi như sau:
+ Cách chơi: Vạch hai đường vạch cách nhau khoảng 4 - 6 mét, chia số
người thành hai đội giống nhau
Sau khi oẳn tù tì, bên thắng đi trước bằng cách cho một máy bay xuất kích Người làm máy bay phải kêu "u" liên tục khi rời khỏi lãnh thổ của mình Nếu hết hơi trước khi vào trong vạch coi như máy bay bị rớt, bị bắt làm tù binh
+ Luật chơi:
Trong lúc lâm chiếm, bên đối phương ùa ra bắt máy bay bằng cách giữ không cho máy bay về được lãnh thổ của mình khi máy bay hết hơi không kêu
"u" nữa, lúc đó máy bay bị bắt làm tù binh Ngược lại, nếu đối phương giữ không chặt để máy bay vùng thoát về lãnh thổ của mình được thì những người giữ máy bay đều bị bắt làm tù binh Tù binh được giải cứu bằng cách cố chìa tay
ra làm sao chạm được vào máy bay phe mình Nếu nhiều tù binh bị bắt muốn được cứu hết phải nắm tay nhau thì máy bay chỉ cần chạm vào một người là tất
cả được cứu
Bước 3: Tổ chức cho một số học sinh chơi trước lớp.
Trang 10Bước 4: Củng cố - phát triển các tiếng, từ mới chứa âm vùa học.
+ Hỏi: Tìm tiếng hoặc từ mới có chứa âm u?
+ Học sinh trả lời: từ bú mẹ, chim tu hú, củ khoai,
Cô và chúng mình cùng chơi thích nhỉ?
Thông qua trò chơi học sinh tích cực mạnh dạn, tự tin, hoạt bát hơn Ngoài ra giáo viên còn giáo dục học sinh biết giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam (thông qua các trò chơi dân gian như: "U"; "Dung dăng dung dẻ;
"Chi chi chành chành",
Trò chơi trên vừa có thể tổ chức cho học sinh chơi trong lớp học vừa có thể tổ chức cho học sinh chơi ngoài sân trường trong các giờ ra chơi hoặc hoạt động ngoại khóa
* Một số chú ý khi sử dụng phương pháp trò chơi
Trang 11- Nội dung của trò chơi phải gắn liền với nội dung tri thức, kỹ năng cần
rèn luyện cho học sinh trong giờ học đó
- Tuy nhiên cũng không nên lạm dụng trò chơi quá nhiều trong giờ học,
chỉ nên chơi vào ít phút cuối của giờ học, khi xuất hiện yêu cầu củng cố kiến thức, kỹ năng, khi học sinh đã có dấu hiệu mệt mỏi Lúc đó trò chơi sẽ tạo sự hưng phấn để kết thúc tiết học và tạo thư giãn cho các em bước vào tiết học tiếp theo
4.2.4 Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy
- Để các tiết học đạt hiệu quả cao thì giáo viên phải thường xuyên sử dụng
các thiết bị dạy học trong đó có ứng dụng công nghệ thông tin
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong thực tế dạy học đã đem lại kết
quả đáng kể và những chuyển biến tích cực trong dạy học, nhất là về phương pháp dạy học, đó thực sự là “một cuộc cách mạng công nghệ trong giáo dục”
- Để mỗi bài giảng sinh động, hấp dẫn và dễ tiếp thu hơn khi được sự trợ
giúp của công nghệ thông giáo viên là người trực tiếp làm việc đó hằng ngày đứng khi trên bục giảng
- Giáo viên thường xuyên tham khảo các bài dạy trên internet, trên các
trang web như: bachkim.vn, violet, giaovien.net… để tham khảo
- Ngay từ đầu năm học vào tháng 9 khi chưa có đồ dùng dạy học phục vụ
cho dạy và học môn Tiếng việt, chưa có ti vi kết nối mạng Internet nhưng bản thân giáo viên thường xuyên soạn giáo án điện tử và sử dụng máy chiếu để giảng dạy Sang tháng 10 nhà trường đã trang bị ti vi và kết nối mạng Internet đó
là điều kiện thuận lợi cho giáo viên giảng dạy, giáo viên khai thác trực tiếp những video hoặc hình ảnh liên quan đến bài học Những video và hình ảnh đã giúp cho học sinh hứng phú, phấn khởi hơn khi tham gia học tập (nhất là hoạt động mở rộng)