1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau nhìn từ thực tiễn phòng, chống covid 19

86 9 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau nhìn từ thực tiễn phòng, chống COVID-19
Tác giả Đặng Thị Thu Thuỷ
Người hướng dẫn ThS. Hà Thị Hạnh
Trường học Trường Đại Học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Quốc tế
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau sau đây gọi là nguyên tắc hợp tác được xem như là “đòn bẩy”, là cơ sở giúp Việt Nam có đư

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT QUỐC TẾ

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Khoá luận này được viết trong khoảng thời gian dịch bệnh COVID-19 ở Việt Nam đang dần được kiểm soát và cuộc sống “bình thường mới” dần được thiết lập

Bốn năm trưởng thành từ Đại học Luật, bản thân em luôn biết ơn các Thầy Cô

vì đã tạo môi trường tốt để em cố gắng học tập, tích luỹ kiến thức và trau dồi kinh nghiệm cho bản thân mình Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Giảng viên hướng dẫn Th.S Hà Thị Hạnh đã hướng dẫn và hỗ trợ tận tình cho em trong quá trình thực hiện khoá luận Con cảm ơn bố mẹ và gia đình rất nhiều vì đã tạo điều kiện và động lực giúp con có thể tự tin vững bước trên con đường mình chọn Cảm ơn những người hùng thầm lặng bên em Cảm ơn Kim Dung và Tường Vi đã luôn cạnh em mỗi khi

em cần, cùng em chạy deadline cho suốt bốn năm qua và cho cả tương lai tươi đẹp

mà chúng ta hướng đến, tình bạn này sẽ được ghi vào “Kỷ lục Thuỷ Thanh” mãi mãi

Mặc dù đã nỗ lực và cố gắng hết mình trong việc tìm hiểu, nghiên cứu thực hiện khoá luận này nhưng do trình độ của bản thân còn nhiều hạn chế, cũng như đánh giá đề tài thực hiện tương đối mới, hạn chế về tài liệu tham khảo nên khoá luận chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía các Thầy Cô, các độc giả quan tâm đến đề tài để từ đó rút kinh nghiệm và hoàn thiện bản thân mình hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khoá luận tốt nghiệp với đề tài “Nguyên tắc các quốc gia có

nghĩa vụ hợp tác với nhau nhìn từ thực tiễn phòng, chống COVID-19” là công

trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của Th.S Hà Thị Hạnh

- Giảng viên Khoa Luật Quốc tế - Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Mọi tài liệu và trích dẫn được tham khảo trong khoá luận đều ghi rõ nguồn gốc, vị trí

sử dụng tại phần trích dẫn cuối trang và phần tài liệu tham khảo cuối khoá luận Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về lời cam đoan này

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm Sinh viên thực hiện khoá luận

Đặng Thị Thu Thuỷ

Trang 4

Tiếng Anh

COVID-19 Coronavirus disease 2019 Bệnh Virus Corona 2019

Trang 5

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC CÁC QUỐC GIA CÓ

1.1 Tổng quan về các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế 7 1.2 Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau 9

1.2.1 Sự hình thành nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau 9 1.2.2 Nội dung của nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau 11 1.2.3 Đặc điểm của nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau 13 1.2.4 Vai trò của nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau 14

1.3 Cơ sở lý luận về nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau 16

2.1 Tầm quan trọng của nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau

Trang 6

2.1.2 Các giải pháp đối phó với dịch bệnh 34

2.2 Cơ chế hợp tác nhìn từ thực tiễn phòng, chống COVID-19 hiện nay 42

2.3 Thực tiễn vận dụng nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quốc gia là những thực thể độc lập, bình đẳng với nhau về chủ quyền và không chịu sự can thiệp của các chủ thể khác trong quan hệ quốc tế Tuy vậy, xu thế tất yếu của tiến trình phát triển quan hệ quốc tế hiện nay là sự hội nhập và hợp tác trên cơ sở các bên cùng có lợi, điều này đòi hỏi mối quan hệ hợp tác chặt chẽ của các quốc gia

Sự hợp tác giữa các quốc gia trong tất cả các lĩnh vực không phụ thuộc vào chế độ chính trị, kinh tế hay xã hội với mục đích duy trì hoà bình và an ninh quốc tế đã được các quốc gia thừa nhận và luật pháp hoá

Là một nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, nguyên tắc các quốc gia có nghĩa

vụ hợp tác với nhau (sau đây gọi là nguyên tắc hợp tác) được xem như là “đòn bẩy”,

là cơ sở giúp Việt Nam có được nhiều cơ hội hơn trong công tác đối ngoại, tăng cường

sự hợp tác, hữu nghị cũng như sự hỗ trợ song phương, khu vực và toàn cầu Đây là những vấn đề mà đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam hiện nay không

thể không chú trọng

Không chỉ Việt Nam, các quốc gia trên thế giới hiện nay đã và đang trải qua

giai đoạn chịu ảnh hưởng nghiêm trọng bởi dịch bệnh COVID-19 Kể từ thời điểm xuất hiện, COVID-19 đã gây ra những ảnh hưởng sâu sắc trên hầu hết các phương diện đặc biệt là khoa học y tế, kinh tế, chính trị, xã hội, Rất nhiều vấn đề khó khăn nảy sinh từ thực tiễn phòng, chống COVID-19 hiện nay như yêu cầu về quyền được sống, quyền tự do đi lại, quyền tiếp cận vắc-xin, quyền giữ bí mật thông tin sức khỏe của người bệnh,… Việt Nam không những phải tập trung tìm ra những giải pháp y học tối ưu nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh cũng như những chính sách khẩn cấp chăm lo cho đời sống của người dân mà còn phải đề ra cách thức để tiếp cận nguồn vắc-xin nhanh chóng, hiệu quả, giải quyết những vấn đề nảy sinh về quyền con người, tập trung đối phó với sự “tụt dốc” của nền kinh tế quốc gia,… Mặc dù cho đến thời điểm hiện tại, COVID-19 dần được kiểm soát nhờ những nỗ lực vượt bậc của mỗi quốc gia và của sự hợp tác quốc tế, tuy vậy nhân loại vẫn đứng trước những nguy cơ tiềm ẩn về dịch bệnh nguy hiểm trong tương lai Điều này đặt ra yêu cầu bắt

Trang 8

buộc đối với các quốc gia trong việc dự phòng những biện pháp phòng ngừa dịch bệnh, trong đó nguyên tắc hợp tác đóng vai trò hết sức quan trọng

Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu cho đến hiện nay, tác giả nhận thấy chưa

có nhiều công trình nghiên cứu tập trung phân tích, nhấn mạnh vai trò và hiệu quả của nguyên tắc hợp tác đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 cũng như đề ra biện pháp giải quyết những thách thức mà dịch bệnh gây ra hiện nay Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của nguyên tắc hợp tác, trên cơ sở xem xét việc vận dụng nguyên tắc trên thực tiễn phòng, chống COVID-19, tác giả mong muốn xây dựng một công trình nghiên cứu làm tài liệu tham khảo hữu ích cho quá trình học tập, nghiên cứu và vận dụng các nội dung liên quan đến đề tài

Vì những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau nhìn từ thực tiễn phòng, chống COVID-19” để thực hiện

khoá luận tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Về cơ bản, nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau không phải là

một nội dung mới Tuy nhiên, thực tiễn COVID-19 hiện nay đã đưa tới những vấn đề

mới trong việc vận dụng nguyên tắc mà chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu liên quan đến đề tài này Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu, tác giả chủ yếu tham khảo một số nghiên cứu mang tính chất lý luận tổng quát

Đối với tình hình nghiên cứu trong nước, một số đầu sách do các tác giả nghiên cứu liên quan đến tổng quan Luật quốc tế, đặc biệt phải kể đến:

TS Ngô Hữu Phước (2013), cuốn sách “Luật quốc tế” (tái bản có sửa chữa, bổ

sung), Nxb Chính trị Quốc Gia - Sự thật; TS Trần Văn Thắng và ThS Lê Mai Anh (đồng chủ biên) (2001) et al., cuốn sách “Luật quốc tế - Lý luận và Thực tiễn”, Nxb Giáo dục: Các tác giả đã có những nghiên cứu tổng quan về nguyên tắc hợp tác trên

cơ sở lý luận chung, giúp người nghiên cứu hiểu rõ hơn về một số vấn đề lý luận liên quan đến nguyên tắc Từ đó, có sự so sánh, đối chiếu các quan điểm trong quá trình thực hiện đề tài Tuy nhiên, bối cảnh COVID-19 hiện nay làm nảy sinh nhiều điểm mới chưa được các tác giả nghiên cứu tại thời điểm những cuốn sách này ra đời

Trang 9

Lư Vĩ An, Bài Tổng quan “Dịch bệnh trong lịch sử nhân loại: Nguồn gốc, tác động và biện pháp ứng phó”, đăng ngày 20/12/2020, trên Tạp chí Phát triển Khoa

học và Công nghệ - Khoa học Xã hội và Nhân văn: Tác giả đã có những nghiên cứu chuyên sâu về các loại dịch bệnh cũng như bình luận, đánh giá và đề ra các biện pháp ứng phó đối với dịch bệnh nhìn từ chiều dài của lịch sử thế giới Tuy nhiên, về thực tiễn vận dụng nguyên tắc hợp tác trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 hiện nay chưa được tác giả đặt vấn đề nghiên cứu

Nguyên tắc hợp tác và thực tiễn phòng, chống COVID-19 cũng được tìm thấy trong một số bài viết, nghiên cứu nước ngoài, cụ thể:

Laurence Boisson de Chazournes and Jason Rudall, “The UN Friendly Relations Declaration at 50: An Assessment of the Fundamental Principles of

lần thứ 50: Đánh giá các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế”): Các tác giả đã tìm

hiểu, phân tích quan điểm của các quốc gia về mức độ, phạm vi, đối tượng áp dụng của nguyên tắc hợp tác Đây là tài liệu hữu ích cho người nghiên cứu có thêm cơ sở

để bổ sung quan điểm trong phần lý luận chung Tuy nhiên, nội dung liên quan đến

đề tài khoá luận này nhằm tìm hiểu nguyên tắc hợp tác trên cơ sở thực tiễn

COVID-19 hiện nay cũng chưa được các tác giả đặt vấn đề nghiên cứu

Diane Desierto, “Beyond the State: Our Shared Duties to Cooperate to Realize Human Rights during the Evolving Risks of a Global Pandemic” (Tạm dịch: “Ngoài Nhà nước: Nhiệm vụ chung của chúng ta là Hợp tác để hiện thực hóa Quyền con người giữa các nguy cơ phát triển của Đại dịch Toàn cầu”), đăng ngày 20/8/2020 và

“Equitable COVID Vaccine Distribution and Access: Enforcing International Legal Obligations under Economic, Social, and Cultural Rights and the Right to Development”, (Tạm dịch: “Phân phối và tiếp cận vắc-xin COVID công bằng: Thực thi các nghĩa vụ pháp lý quốc tế theo Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa và Quyền Phát triển”), ngày 02/02/2021, đăng trên EJIL: Talk - Blog của Tạp chí Luật quốc tế

Châu Âu: Tác giả đề ra quan điểm mới về sự hợp tác trong bối cảnh dịch bệnh toàn

1 pp 105 – 132, Publisher: Cambridge University Press, Print publication year: 2020

Trang 10

cầu, đề cao vai trò của sự hợp tác trên thực tiễn bảo đảm tôn trọng quyền con người Tuy nhiên, tác giả nghiên cứu trên bình diện quốc tế chung, chưa đi sâu nghiên cứu nguyên tắc hợp tác cũng như thực tiễn phòng, chống COVID-19 hiện nay tại các quốc gia một cách cụ thể Bài viết giúp người nghiên cứu có hướng tiếp cận mới trong quá trình tìm hiểu, đánh giá và rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

の国際協力2 ” (Tạm dịch: Sách trắng năm 2020 về hợp tác phát triển Hợp tác quốc

tế của Nhật Bản, tiêu đề “Hợp tác quốc tế trong thời kỳ Corona, hướng đến tương lai”): Cuốn sách đề ra định hướng, đường lối của Nhật Bản về sự chú trọng hợp tác

quốc tế trong bối cảnh COVID-19 hiện nay, là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho người nghiên cứu trong việc xem xét, đánh giá và rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở kế thừa những thành quả nghiên cứu trước đó, khoá luận này hướng đến việc phát triển đề tài ở một mức độ sâu sắc và toàn diện hơn

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Tác giả lựa chọn đề tài “Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau nhìn từ thực tiễn phòng, chống COVID-19” với mục đích sau:

Thứ nhất, tìm hiểu sự hình thành, nội dung, đặc điểm, vai trò, cơ sở lý luận của

nguyên tắc hợp tác và cơ chế hợp tác hiện nay

Thứ hai, nhìn nhận, đánh giá tầm quan trọng của việc vận dụng nguyên tắc hợp

tác trên cơ sở thực tiễn phòng, chống COVID-19 tại Việt Nam và trên thế giới

Thứ ba, rút ra một số bài học kinh nghiệm từ thực tiễn phù hợp trong việc dự

phòng, ứng phó với dịch bệnh nói riêng và những vấn đề về hợp tác quốc tế nói chung của nước ta hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

2 令和 3 年 3 月 12 日 発行 編 集 外 務 省 〒100-8919 東京都千代田区霞が関 2-2-1 電 話(03)3580 -3311(代表)

Trang 11

Đối tượng nghiên cứu

Trên cơ sở mục tiêu chung của đề tài là nghiên cứu nguyên tắc hợp tác trên thực tiễn phòng, chống COVID-19 từ đó đưa ra những đánh giá, kết luận và bài học kinh nghiệm về các vấn đề liên quan, tác giả chú trọng vào những đối tượng nghiên cứu

cụ thể, bao gồm: Các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế trong đó tập trung nghiên cứu sự hình thành, cơ sở lý luận chung về nguyên tắc hợp tác và cơ chế hợp tác giữa các quốc gia; thực tiễn phòng, chống COVID-19 và việc vận dụng nguyên tắc hợp tác hiện nay

Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau trong đó Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc và các văn bản pháp lý quốc tế khác làm nền tảng cho cơ sở lý luận Thực tiễn phòng, chống dịch bệnh, các chính sách, giải pháp và việc vận dụng nguyên tắc hợp tác trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 tại Việt Nam và một số quốc gia khác trên thế giới (Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ) thông qua các công bố trên các trang mạng điện tử, thông cáo báo chí, bài viết, tác phẩm báo chí chính thống,…

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện khoá luận, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như phân tích, liệt kê, so sánh đối chiếu, bình luận, đánh giá, tổng hợp và thống kê Cụ thể:

Chương 1: Tác giả tiến hành tìm hiểu, phân tích những lý luận chung về nguyên

tắc cơ bản của Luật quốc tế, tập trung chủ yếu về sự ra đời, nội dung, đặc điểm, cơ chế, vai trò của nguyên tắc hợp tác giữa các quốc gia hiện nay Từ đó, tác giả tổng hợp và rút ra ý chính cho mỗi vấn đề

Chương 2: Tác giả tiến hành tìm hiểu, thống kê, liệt kê, so sánh đối chiếu những

số liệu về các dịch bệnh, về COVID-19 nhằm nêu bật sức ảnh hưởng của dịch bệnh cũng như phân tích tầm quan trọng, thực trạng áp dụng nguyên tắc hợp tác, những biện pháp phòng, chống dịch bệnh tại các quốc gia trong từng thời điểm dịch bệnh

Từ đó nhìn nhận đánh giá, rút ra kết luận và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Trang 12

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Về ý nghĩa khoa học, đề tài nghiên cứu có hệ thống các vấn đề lý luận chung về

nguyên tắc hợp tác bằng những tìm hiểu, phân tích các quan điểm về sự hình thành

và tính chất bắt buộc của nguyên tắc Trên cơ sở đó, đề tài có những đánh giá khách quan, toàn diện về nguyên tắc hợp tác cũng như rút ra một số kinh nghiệm từ việc vận dụng nguyên tắc trên thực tiễn phòng, chống COVID-19 hiện nay và dự phòng cho tương lai

Về giá trị ứng dụng, đề tài giúp người đọc có cái nhìn tổng quan về nguyên tắc

hợp tác, cung cấp không chỉ những thông tin về dịch bệnh COVID-19 mà còn nhìn nhận, đánh giá thực tiễn vận dụng nguyên tắc hợp tác tại Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới Từ đó, rút ra một số bài học kinh nghiệm thực tiễn hữu ích cho Việt Nam Tác giả hy vọng khoá luận này sẽ trở thành tài liệu tham khảo hữu ích cho việc học tập, nghiên cứu và vận dụng nguyên tắc hợp tác trên thực tiễn hiện nay cũng như cho tầm nhìn dài hạn trong tương lai

7 Bố cục đề tài khoá luận

Ngoài phần mục lục, phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận được chia làm 2 chương:

Chương 1: Nhận thức chung về nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau

Chương 2: Thực trạng áp dụng nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau trong phòng, chống COVID-19 – Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC CÁC QUỐC GIA

CÓ NGHĨA VỤ HỢP TÁC VỚI NHAU

1.1 Tổng quan về các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế

Nhìn từ phương diện pháp lý, bất cứ một ngành, hệ thống pháp luật nào cũng bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật nhất định và luôn có những quy phạm được xem là nguyên tắc của cả ngành hay hệ thống pháp luật ấy Theo đó, những nguyên tắc của Luật quốc tế là những tư tưởng chính trị pháp lý quan trọng, thể hiện cô đọng các quy phạm Luật quốc tế Và trong số đó có một số nguyên tắc được xem là nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế 3

Căn cứ theo Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc có bảy

nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, bao gồm: (1) Nguyên tắc không dùng vũ lực và

đe dọa sử dụng vũ lực; (2) Nguyên tắc hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế; (3) Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; (4) Nguyên tắc quốc gia

có nghĩa vụ hợp tác với nhau; (5) Nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc; (6) Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia; và (7) Nguyên tắc tuân thủ các cam kết quốc tế

Nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế tồn tại chủ yếu dưới dạng các quy phạm pháp luật thể hiện trong các điều ước và tập quán quốc tế Quy phạm Luật quốc tế là những quy tắc xử sự do các quốc gia và chủ thể khác của Luật quốc tế thỏa thuận xây dựng hoặc cùng nhau thừa nhận giá trị pháp lý ràng buộc của chúng khi tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế4 Nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế bao gồm những đặc điểm sau:

Thứ nhất, các nguyên tắc cơ bản là cơ sở của Luật quốc tế Dựa vào các nguyên

tắc đó, các chủ thể Luật quốc tế có thể dễ dàng xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật một cách thống nhất Các quốc gia là chủ thể của Luật quốc tế khi ban hành bất kỳ một quy phạm pháp luật nào đều phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản, khi đó quy phạm pháp luật này mới được xem là có hiệu lực thi hành

3 Trường Đại học Huế (2018), Giáo trình Luật quốc tế, Nxb Công an Nhân dân, tr 63

4 Trường Đại học Luật TP HCM (2017), Giáo Trình Công pháp Quốc tế (quyền 1), Nxb Hồng Đức, tr 22

Trang 14

Thứ hai, các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế là những quy phạm mang tính chất phổ biến, phổ cập Đặc trưng này thể hiện ở việc các nguyên tắc cơ bản của Luật

quốc tế được áp dụng trong phạm vi toàn cầu, trong quan hệ giữa tất cả các quốc gia với nhau không phân biệt chế độ chính trị, kinh tế, vai trò và vị trí của quốc gia đó trong quan hệ quốc tế Các nguyên tắc được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế quan trọng như Hiến chương Liên Hợp Quốc (1945), Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc,…

Thứ ba, các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế là các quy phạm mang tính chất mệnh lệnh, có giá trị pháp lý cao nhất Tính chất mệnh lệnh của các nguyên tắc

được xác định trong Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế, theo đó tại

Điều 53 đã chỉ rõ các nguyên tắc này được coi là “quy phạm mệnh lệnh của Luật quốc

tế chung, được cả cộng đồng quốc tế công nhận và áp dụng” Cũng như hệ thống

pháp luật quốc gia, bất cứ một quy định pháp luật nào khi ban hành đều phải tuân thủ Hiến pháp – văn bản pháp luật cao nhất do quốc gia ban hành Là những quy phạm mang tính chất mệnh lệnh, các nguyên tắc cơ bản là cơ sở của toàn hệ thống Luật quốc tế, đảm bảo sự ổn định của trật tự pháp lý quốc tế Mọi điều ước quốc tế dù là

đa phương hay song phương, toàn cầu hay khu vực đều phải được xây dựng trên cơ

sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế

Thứ tư, các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế có tính chất bao trùm nhất Bởi

chúng được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực của quan hệ quốc tế Có thể dễ dàng nhận thấy điều này khi nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia là nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt trong quan hệ giữa các chủ thể Luật quốc tế Hay nguyên tắc hợp tác đặt ra yêu cầu các quốc gia không chỉ đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu mà còn phải hoà bình, hợp tác với nhau để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của quốc gia khác như các vấn đề về biến đổi khí hậu toàn cầu, y tế, dịch bệnh, quyền con người,… Đây là những vấn đề mà bất kể quốc gia nào gặp phải cũng trải qua khó khăn, thậm chí không thể giải quyết nếu không có sự hợp tác với các quốc gia khác Bởi thế, việc tuân thủ nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế là hết sức hợp lý và cần thiết

Trang 15

Thứ năm, các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau trong một chỉnh thể thống nhất Việc giải thích và áp dụng những nguyên tắc

cơ bản của Luật quốc tế là có sự tương quan với nhau và mỗi nguyên tắc sẽ được hiểu trong mối quan hệ với những nguyên tắc khác5 Ví dụ: nguyên tắc không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực có mối quan hệ tương hỗ, đảm bảo thực hiện nguyên tắc hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế và ngược lại Các quốc gia cam kết không

sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, hướng đến giải quyết các tranh chấp bằng phương pháp hoà bình Mặt khác, để tuân thủ nguyên tắc hoà bình giải quyết tranh chấp, các quốc gia cần từ bỏ việc sử dụng vũ lực và đe doạ sử dụng nó, thay vào đó

là những biện pháp đàm phán, thoả thuận,… một cách hoà bình, đồng thời đảm bảo các nguyên tắc cơ bản khác của Luật quốc tế Chính vì vậy, khi giải thích và áp dụng từng nguyên tắc, các chủ thể phải xem xét, so sánh đối chiếu nó trong mối quan hệ với tất cả các nguyên tắc khác vì chúng được xem là một chỉnh thể, một hệ thống pháp lý quan trọng duy trì trật tự pháp lý quốc tế

Theo tác giả, trong các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, nguyên tắc nào cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu nguyên tắc hợp tác với vai trò là một nguyên tắc cơ

bản của Luật quốc tế trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 hiện nay

1.2 Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau

1.2.1 Sự hình thành nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau

Tại khoản 3, Điều 1 Hiến chương Liên Hợp Quốc (1945) lần đầu tiên ghi nhận

và cho thấy tinh thần của nguyên tắc hợp tác: “3 Thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hoá, nhân đạo và khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền của con người và các tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo” Mặc dù đây

chỉ là những quy định liên quan đến mục đích hoạt động của Liên Hợp Quốc (LHQ), nhưng đã cho thấy sự cần thiết của nguyên tắc hợp tác trong quan hệ quốc tế

5 Điều 2 (Điều khoản chung) Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc

Trang 16

Đứng trước những vấn đề mang tính toàn cầu như chiến tranh, hòa bình, y tế, nhân đạo,… các quốc gia dần nhận thức được sự mất mát, tầm nguy hại do các vấn

đề này gây ra Vì vậy sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nguyên tắc hợp tác trở thành một nguyên tắc quan trọng của Luật quốc tế

Sự ra đời của Nghị quyết số 2625 (XXV) ngày 24/10/1970 của Đại Hội Đồng

LHQ đã chính thức ghi nhận một cách rõ ràng “những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia, phù hợp với Hiến chương LHQ” Trong Tuyên bố năm 1970, ngoài năm nguyên tắc đã nêu trong Điều 2 Hiến chương, bao gồm: Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các quốc gia thành viên; Tận tâm thực hiện cam kết quốc tế; Hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế; Không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ bằng vũ lực trong quan hệ quốc tế; Không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác; còn bổ sung thêm hai nguyên tắc đó là nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau và nguyên tắc dân tộc tự quyết

Sự xuất hiện của nguyên tắc hợp tác trong Tuyên bố năm 1970 đã gây ra nhiều quan điểm tranh luận khác nhau

Có quan điểm cho rằng, nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau chỉ được nói tới từ sau năm 1945 Trong bảy nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, nguyên tắc tuân thủ các cam kết quốc tế được hình thành sớm nhất, ngay từ khi Luật quốc tế ra đời Tuy nhiên trước năm 1945 nó chủ yếu ghi nhận dưới dạng tập quán

pháp quốc tế và chưa thể hiện đầy đủ những đặc điểm như đã phân tích tại Mục 1.1

của khoá luận này Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia về mặt chủ quyền được xuất hiện từ thời kỳ Cách mạng Tư sản ở phương Tây Và phải trải qua một thời kỳ lâu dài, khó khăn, chúng mới được thừa nhận mang tính hạn chế, dưới dạng tập quán pháp quốc tế Kể

từ sau khi Hiến chương LHQ có hiệu lực pháp lý, các nguyên tắc đó đã chính thức trở thành nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế Nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc, nguyên tắc không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực và nguyên

Trang 17

tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế đã có mầm mống từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX6

Quan điểm khác cho rằng, sự liên kết và hợp tác giữa các quốc gia đã được thiết lập từ thời kỳ đầu xuất hiện Nhà nước Tuy nhiên lúc bấy giờ, hợp tác giữa các quốc gia chỉ dừng lại ở các lĩnh vực cơ bản như phân định lãnh thổ - biên giới, hợp tác nhằm giải quyết các vấn đề về chiến tranh, hoà bình, về ngoại giao, lãnh sự,… và hợp tác là quyền của các quốc gia Thế nhưng, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đứng trước các vấn đề mang tính toàn cầu như chiến tranh, hoà bình, y tế, nhân đạo, môi trường, thương mại quốc tế, chống đói nghèo,… cộng đồng quốc tế đã xác định hợp tác quốc

tế là một nghĩa vụ pháp lý quốc tế, hợp tác để xây dựng một thế giới hoà bình, thịnh vượng, ổn định và phát triển7

Tựu chung lại, các quan điểm đều cho thấy được sự ra đời của nguyên tắc hợp tác gắn liền với sự ra đời của các nguyên tắc cơ bản khác của Luật quốc tế theo một quá trình cũng như hoàn cảnh lịch sử cụ thể Các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế tồn tại và phát triển trong sự ổn định và kế thừa Tuy nhiên, trong quá trình phát triển cũng xuất hiện những thay đổi, nhưng không phải là sự thay thế nguyên tắc này bằng nguyên tắc khác mà là sự bổ sung những nội dung mới phù hợp hơn với sự phát triển của quan hệ quốc tế Vì vậy, sự ra đời của nguyên tắc hợp tác chính là sự bổ sung cần thiết cho quan hệ quốc tế hiện đại Và hơn thế nữa, nguyên tắc hợp tác đã trở thành một nguyên tắc quan trọng của Luật quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 hiện nay

1.2.2 Nội dung của nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau

Nguyên tắc hợp tác ra đời được xem là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế Bản chất của nguyên tắc này là thúc đẩy mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa các quốc gia có chủ quyền Sự ra đời của các văn bản pháp luật như Luật quốc

tế, Luật Nhân đạo Quốc tế, Luật Môi trường Quốc tế, Luật Hình sự Quốc tế,… được

6 Trường Đại học Huế (2018), tlđd (3), tr 65

7 Ngô Hữu Phước, Luật quốc tế (tái bản có sửa chữa, bổ sung), Nxb Chính trị Quốc Gia – Sự thật, Hà Nội,

2013, tr 147

Trang 18

ban hành cũng một phần dựa trên nguyên tắc hợp tác8 Ngoài ra, nguyên tắc hợp tác

đã dẫn đến việc thoả thuận, ký kết nhiều điều ước quốc tế giữa các quốc gia với nhiều tên gọi khác nhau như Thoả ước, Hiệp định, Công ước Quốc tế,… đặc biệt liên quan đến các vấn đề mang tính quốc tế trong đó có các vấn đề về phòng, chống và khắc phục hậu quả của COVID-19 hiện nay

Ngay trong lời nói đầu của Tuyên bố năm 1970 đã xác nhận lại một lần nữa mục đích cơ bản của LHQ là giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế, phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia bất chấp sự khác biệt về chế độ chính trị, kinh tế,

xã hội và trình độ phát triển Đặc biệt xem xét việc tuân thủ một cách tận tâm những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị, hợp tác và thực hiện có thiện chí nghĩa vụ của các quốc gia phù hợp với Hiến chương LHQ là vấn đề quan trọng bậc nhất cho sự gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế và cho việc thực hiện những mục đích khác của tổ chức này Tuyên bố năm 1970 thừa nhận sự phát triển và pháp điển hóa không ngừng của những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế trong đó có

“Nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương 9”

Như vậy có thể thấy, ngoài Hiến chương LHQ, Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng LHQ và các văn bản pháp lý quốc tế10 chính là cơ sở pháp lý quan trọng ghi nhận nguyên tắc hợp tác là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế Tác giả trên cơ sở khách quan sẽ chứng minh điều này thông qua việc tìm hiểu, phân tích

nội dung, đặc điểm, cơ chế và vai trò của nguyên tắc hợp tác dưới đây

Theo Điều 1 Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng LHQ nêu rõ nguyên tắc hợp tác bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, mỗi quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với các quốc gia khác trong lĩnh

vực quan hệ quốc tế để gìn giữ hoà bình và an ninh quốc tế, khuyến khích sự ổn định

và tiến bộ, vì lợi ích chung của các dân tộc và hợp tác quốc tế mà không có sự phân biệt chế độ chính trị, kinh tế và văn hoá Vì mục đích đó, mỗi quốc gia sẽ hợp tác với

8 Trần Văn Thắng, Lê Mai Anh (đồng chủ biên) et al., Luật quốc tế - Lý luận và thực tiễn, Nxb Giáo dục, Hà

Nội, 2001, tr 144

9 Lời nói đầu, Điều 1 Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc

10 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966, Tuyên bố về Quyền phát triển năm 1986, Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc,

Trang 19

các quốc gia khác để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế; hợp tác để khuyến khích sự tôn trọng và tuân thủ các quyền con người và tự do cơ bản trên toàn thế giới và trong việc loại trừ tất cả các hình thức phân biệt về sắc tộc và tôn giáo; thực hiện các quan

hệ quốc tế của mình trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, kỹ thuật và thương mại phù hợp với những điều khoản tương ứng của Hiến chương LHQ

Thứ hai, các quốc gia thành viên của LHQ có nhiệm vụ phải hành động tập thể

hoặc riêng rẽ trong hợp tác với LHQ theo quy định phù hợp với Hiến chương Điều này có nghĩa là các quốc gia phải thể hiện nỗ lực giải quyết các vấn đề quốc tế thông qua sự hợp tác, phối hợp với nhau Nội dung này cũng đã được ghi nhận trong Điều

55 và 56 của Hiến chương LHQ Đặc biệt tại Điều 56 quy định “Tất cả các quốc gia thành viên LHQ phải cam kết bằng các hành động chung hoặc riêng trong sự nghiệp hợp tác với LHQ để đạt được những mục đích nói trên (tại Điều 55)” Quy định này

cho thấy rõ hai nghĩa vụ của các quốc gia là hợp tác với nhau và hợp tác với LHQ để thực hiện tôn chỉ, mục đích của Hiến chương Tuỳ vào từng hoàn cảnh, thời điểm và mục đích cụ thể của mỗi quốc gia, việc thực thi những nghĩa vụ quốc tế mà các quốc gia phải gánh vác có thể sẽ khác nhau

Thứ ba, các quốc gia phải hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá - xã hội

cũng như khoa học - công nghệ, thúc đẩy tiến bộ văn hoá và giáo dục quốc tế Các quốc gia phải hợp tác trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trên toàn thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển Các lĩnh vực hợp tác được LHQ mở rộng một cách toàn diện cho thấy vai trò cần thiết, quan trọng của nguyên tắc hợp tác trong mọi phương diện của đời sống quốc tế hiện nay

1.2.3 Đặc điểm của nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau

Nguyên tắc hợp tác mang những đặc điểm chung của các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế Các đặc điểm của nguyên tắc này được chỉ ra sau đây11:

Tính phổ biến rộng rãi, bao trùm: Nguyên tắc hợp tác được thừa nhận một cách

rộng rãi cũng như được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quan trọng có thể kể đến như khoản 3 Điều 1, Điều 13, 49, 55, 56,… Hiến chương LHQ, Lời nói đầu và Điều

11 Trường Đại học Luật TP HCM (2017), tlđd (4), tr 84

Trang 20

1 Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng LHQ,… Sự hợp tác giữa các quốc gia bao trùm lên hầu hết các lĩnh vực kinh tế, chính trị, khoa học, kỹ thuật, công nghệ, văn hoá, xã hội,… và ngày càng được mở rộng với mục tiêu các bên cùng có lợi, mục tiêu nhân đạo cùng những mục tiêu khác trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế nói chung và nguyên tắc hợp tác nói riêng

Nguyên tắc hợp tác có mối quan hệ mật thiết với các nguyên tắc cơ bản khác của Luật quốc tế: Các nguyên tắc có sự hỗ trợ qua lại, nguyên tắc này là cơ sở, là hệ

quả của nguyên tắc khác và ngược lại Chúng được xem như một chỉnh thể của Luật quốc tế, đảm bảo sự tôn trọng giữa các quốc gia với nhau vì mục đích gìn giữ hoà

bình, trật tự an ninh thế giới Tính kế thừa xuất phát từ mối quan hệ này, bất kỳ nguyên

tắc cơ bản nào của pháp luật quốc tế đều phải trải qua một giai đoạn hình thành lâu dài và kế thừa lẫn nhau Và nguyên tắc hợp tác chính là sự kế thừa, bổ sung phù hợp cho quá trình phát triển của quan hệ quốc tế hiện đại

Tính bắt buộc chung: Là quy phạm mang tính chất mệnh lệnh, nguyên tắc hợp

tác là nguyên tắc bắt buộc đối với mọi chủ thể khi tham gia các quan hệ quốc tế Có rất nhiều tranh cãi xoay quanh đặc điểm này, bởi các quốc gia là những chủ thể có chủ quyền độc lập, các quốc gia khác không có thẩm quyền xâm phạm Vậy việc các quốc gia hợp tác với nhau là “quyền” hay “nghĩa vụ” Vì tính chất đặc biệt của nó,

đặc điểm này sẽ được phân tích cụ thể hơn tại Mục 1.3 của khoá luận này

Những đặc điểm nêu trên của nguyên tắc hợp tác đã giúp cho việc thừa nhận, xác định nguyên tắc hợp tác chính là nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế một cách

khách quan và chính xác hơn

1.2.4 Vai trò của nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau

Thứ nhất, là một nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, nguyên tắc hợp tác là công

cụ hữu ích giúp LHQ thuận lợi điều chỉnh hệ thống pháp luật quốc tế vì mục đích cao

cả là gìn giữ hoà bình và an ninh thế giới, tạo ra khối đoàn kết quốc tế sâu rộng, cùng phát triển Trong mọi văn kiện quốc tế quan trọng hiện nay, nguyên tắc hợp tác luôn được viện dẫn và đề cập đến Hơn thế nữa, ý nghĩa và tầm quan trọng của nguyên tắc này còn được nhắc đến trong thực tiễn quan hệ quốc tế Các vấn đề mang tính chất

Trang 21

toàn cầu dần được giải quyết nhờ vận dụng nguyên tắc hợp tác Các quốc gia đi đến hợp tác ký kết các Hiệp định, Thoả ước, thành lập các tổ chức quốc tế,… nhằm hiệp lực đưa ra các phương án tối ưu nhất xây dựng cơ chế giải quyết chung mang tính hiệu quả, lâu dài và bền vững

Thứ hai, nguyên tắc hợp tác thực hiện chức năng quan trọng trong quan hệ giữa

các chủ thể Nó quy định cơ sở của sự tác động qua lại giữa các quốc gia khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Các quốc gia hợp tác với nhau một cách hoà bình trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế, hợp tác nhằm đảm bảo không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác và tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế nói chung,… Hơn thế nữa, nguyên tắc hợp tác còn là cơ sở nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của Luật quốc tế và cho trật tự pháp lý quốc tế nói chung

Thứ ba, là hạt nhân của hệ thống Luật quốc tế, nguyên tắc hợp tác đã thực sự

giữ vai trò tiên phong, tác động mạnh mẽ vào quá trình hợp tác liên quốc gia trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc tế Tạo cơ hội cho tất cả các quốc gia xây dựng mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp, cũng như mang đến lợi ích thiết thực trong quan hệ quốc

tế hiện nay và cả trong tương lai Việc hình thành các tổ chức hợp tác như Liên Hợp Quốc, Liên minh Châu Âu (EU), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN),… chính là minh chứng nổi bật nhất cho vai trò tiên phong của nguyên tắc hợp tác Ngoài ra, nguyên tắc hợp tác còn là căn cứ pháp lý hữu ích để giải quyết tranh chấp quốc tế, nguyên tắc này thường được viện dẫn trong hệ thống văn bản của các

cơ quan chuyên môn của LHQ, nhất là trong Nghị quyết của Đại hội đồng, Quyết định của Hội đồng Bảo an và trong các Phán quyết của Tòa án quốc tế12

Trong xu thế phát triển toàn cầu hiện nay, Việt Nam và hầu hết các quốc gia trên thế giới đều hướng đến việc tạo dựng các mối quan hệ ngoại giao hữu nghị, hợp tác cùng phát triển Nguyên tắc hợp tác chính là cơ sở, là cơ hội để các quốc gia tiến hành hội nhập một cách sâu rộng và hiệu quả nhất

12 Trần Văn Thắng và Lê Mai Anh (đồng chủ biên) et al., (2001), tlđd (8), tr 100

Trang 22

1.3 Cơ sở lý luận về nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau

Nhìn từ cách đặt tên nguyên tắc, Tuyên bố năm 1970 ghi rõ “The duty of States

to co-operate with one another in accordance with the Charter” tạm dịch là “Nghĩa

vụ của các Quốc gia hợp tác với nhau phù hợp với Hiến chương” là một trong những

nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế Điều này gây ra nhiều tranh cãi về tính chất bắt buộc và chủ thể áp dụng của nguyên tắc hợp tác Trên thực tế, có rất nhiều quan điểm được nêu ra đối với vấn đề này

Trong cuộc họp của Uỷ ban đặc biệt năm 196613, trước khi Tuyên bố năm 1970

ra đời, các quốc gia thảo luận về vấn đề phạm vi áp dụng của nguyên tắc hợp tác Một câu hỏi khó gây ra nhiều tranh luận đó là “mức độ và phạm vi mà nguyên tắc hợp tác được thể hiện theo Điều 56 của Hiến chương LHQ có được áp dụng cho các quốc gia

ngoài LHQ hay không?” Điều 56 quy định “Tất cả các quốc gia thành viên LHQ phải cam kết bằng các hành động chung hoặc riêng trong sự nghiệp hợp tác với LHQ để đạt được những mục đích nói trên (tại Điều 55)” Một số quốc gia cho rằng hợp tác

được áp dụng cho tất cả các quốc gia Một số quốc gia khác lại quan điểm rằng hợp tác được áp dụng rộng rãi nhưng không thể áp đặt đối với những quốc gia không phải

là thành viên Các quốc gia không liên kết lúc bấy giờ, đặc biệt là Algeria, Myanmar, Cameroon, Ấn Độ, Kenya, Lebanon, Madagascar, Cộng hòa Ả Rập Thống nhất

(UAR) và Nam Tư đã đưa ra một đề xuất rằng “sự khác biệt trong hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội của các quốc gia cũng như mức độ phát triển kinh tế và xã hội của

rõ ràng nhưng có thể nhận thấy, xu hướng đồng tình nghiêng về lập luận phạm vi áp dụng của nguyên tắc hợp tác là áp dụng đối với tất cả các quốc gia không phân biệt

và sự ra đời của Tuyên bố năm 1970 cho thấy điều đó

Một quan điểm khác cho rằng, về nguyên tắc, hợp tác quốc tế là quyền và nhu cầu tất yếu của các quốc gia và các chủ thể khác của Luật quốc tế Theo đó, các quốc

13 Laurence Boisson de Chazournes and Jason Rudall, “The UN Friendly Relations Declaration at 50: An

Assessment of the Fundamental Principles of International Law”, pp 105 – 132, Publisher: Cambridge

University Press, Print publication year: 2020

14 Laurence Boisson de Chazournes and Jason Rudall (2020), tlđd (12), tr 105-132

Trang 23

gia có quyền tự do lựa chọn, thiết lập và thực hiện các quan hệ hợp tác quốc tế để tồn tại và phát triển Tuy nhiên, trong xã hội quốc tế từ trước đến nay có rất nhiều lĩnh vực, nhiều mối quan hệ mà không một quốc gia nào dù giàu mạnh đến đâu cũng không thể đơn phương giải quyết được, như các vấn đề về chiến tranh, hoà bình, nhân quyền, môi trường, y tế, nhân đạo,… Chính vì vậy, các quốc gia phải cùng nhau hợp tác để giải quyết vì lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp của cộng đồng quốc tế15

Theo một quan điểm khác, nguyên tắc hợp tác giữa các quốc gia đã gây ra nhiều tranh luận nhất trong số các nguyên tắc của Luật quốc tế, vì rằng về mặt pháp lý, việc bắt buộc các quốc gia vào sự hợp tác cụ thể khó khăn phức tạp hơn nhiều so với việc yêu cầu các quốc gia sống hữu nghị với một quốc gia khác Rất khó để hy vọng rằng

ý tưởng về nghĩa vụ hợp tác qua thời gian có thể trở thành nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế Hơn nữa, nếu xem xét nguyên tắc hợp tác một cách độc lập tách rời các nguyên tắc khác thì thật khó có thể khẳng định rằng đây là một nguyên tắc pháp lý bắt buộc đối với mọi quốc gia Vì thế, chỉ có thể khẳng định nguyên tắc này khi đặt

nó trong mối liên hệ chặt chẽ với các nguyên tắc khác Và lập luận này được coi là

có cơ sở khoa học, bởi lẽ việc thực hiện mọi nguyên tắc chỉ có thể thành công khi các quốc gia hợp tác chặt chẽ với nhau16

Cũng có quan điểm cho rằng, nguyên tắc hợp tác đặt ra cho tất cả các quốc gia nghĩa vụ phải tiến hành các hoạt động hợp tác trên cơ sở khuyến khích sự ổn định, tiến bộ và lợi ích chung của các quốc gia trong quan hệ quốc tế mà không có sự phân biệt về bất kể chế độ chính trị, trình độ kinh tế, dân tộc hay tôn giáo,… Ở thời điểm này, để các quốc gia buộc phải có nghĩa vụ hợp tác với tư cách là một quy phạm mệnh lệnh có tính chất bắt buộc thì không thể đảm bảo một cách tuyệt đối Bởi vì trong quan hệ quốc tế, không phải quốc gia nào cũng thực sự muốn thiết lập mối quan hệ với các quốc gia khác và cũng không phải là các quốc gia nào cũng hưởng ứng sự hợp tác dựa trên sự ổn định tiến bộ hay lợi ích chung của các dân tộc Nguyên tắc này chỉ thực hiện ở trên một mức độ nhất định, không thể đòi hỏi phải được thực hiện

15 Ngô Hữu Phước (2013), tlđd (7), tr 147

16 Trần Văn Thắng và Lê Mai Anh (đồng chủ biên) et al (2001), tlđd (8), tr 144

Trang 24

nghiêm chỉnh và đầy đủ giống như một nguyên tắc cơ bản của cộng đồng quốc tế Một ví dụ cho thấy rõ điều này khi Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) được Ngoại trưởng các nước ASEAN và Trung Quốc ký ngày 04/11/2002 tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 8 ở Phnompenh (Campuchia) Đây là văn kiện chung đầu tiên giữa ASEAN và Trung Quốc, trực tiếp liên quan vấn đề Biển Đông Mặc dù tuyên bố này chỉ là một tuyên bố chính trị nhưng nó cũng là một trong những hoạt động thể hiện sự hợp tác giữa các quốc gia nhưng Trung Quốc lại quan điểm cho rằng việc hợp tác của mình chỉ diễn ra ở hoạt động đàm phán, một mặt vẫn tiến hành các hoạt động chiếm đóng và gây ra căng thẳng giữa Biển Đông nhưng một mặt vẫn tuyên bố mình đã làm hết nghĩa vụ Đối với vấn đề này, cộng đồng quốc tế cũng khó

có thể can thiệp được bởi vì sự hợp tác là về mặt nguyên tắc nhưng hợp tác với mức

độ nào và tư duy của các quốc gia ra sao đối với hoạt động đó là vấn đề thuộc về ý chí và sự thiện chí của các quốc gia trong quan hệ quốc tế

Một trong những nghĩa vụ mang tính bắt buộc đặt ra một vấn đề khiến các quốc gia phải hết sức nghiêm túc trong cách nhìn nhận và vận dụng nguyên tắc hợp tác đó chính là bảo vệ quyền con người Việc các quốc gia hợp tác lại với nhau, tuân thủ các điều lệ quốc tế,… cũng vì mục đích bảo vệ quyền con người Vậy có hay chăng sự liên kết giữa quyền và nghĩa vụ của cá nhân với quyền và nghĩa vụ của quốc gia trong quan hệ quốc tế hiện nay

Có lập luận cho rằng nhiệm vụ hợp tác quốc tế theo luật nhân quyền quốc tế không chỉ thuộc về các quốc gia, mà còn là nghĩa vụ đối với các tổ chức tư nhân, các nhóm, cá nhân; nghĩa vụ đoàn kết và hợp tác phải được thực hiện thông qua các hành động trực tiếp của mỗi cá nhân, không cố ý gây nguy hiểm cho bản thân hoặc người khác Vì vậy nghĩa vụ hợp tác này không chỉ giới hạn ở các quốc gia, mà còn đối với mọi chủ thể của luật pháp quốc tế Hợp tác không chỉ là quyền, mà phải được duy trì với một ý thức rằng tất cả chúng ta đều bắt buộc thực hiện hợp tác như là nhân quyền cho thế giới17

17 Diane Desierto, “Beyond the State: Our Shared Duties to Cooperate to Realize Human Rights during the

Evolving Risks of a Global Pandemic”, EJIL:Talk! Blog of the European Journal of International Law, August

20, 2020

Trang 25

Thật vậy, nhân quyền vẫn là một vấn đề mang tính thách thức đối với Việt Nam

và cả thế giới, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến sự hợp tác diễn ra giữa các quốc gia Ngay cả khi nghĩa vụ hợp tác được luật hoá, một số các quốc gia thành viên vẫn xem nghĩa vụ này là không bắt buộc Điều đó có thể chứng minh bởi “chiến tranh lạnh” kéo dài giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, hay gần đây nhất có thể kể đến chiến sự giữa Nga và Ukraina đã và đang gây ra tác động hết sức nghiêm trọng đến toàn cầu trên nhiều phương diện Trong khi hầu hết các quốc gia này là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ Điều này nhanh chóng đẩy sự hợp tác và hỗ trợ quốc tế chuyển sang một lựa chọn chiến lược đối ngược, thay vì ý thức về nghĩa vụ pháp lý theo Điều 1.3, Điều 2.5 và Chương IX của Hiến chương LHQ hay Tuyên ngôn Quốc

tế Nhân quyền (UDHR) hiện nay

Trong khi Điều 1.3 và 2.5 của Hiến chương LHQ tập trung vào các nghĩa vụ của LHQ nhằm thúc đẩy và khuyến khích tôn trọng các quyền con người và các quyền

tự do cơ bản, Điều 55 (c) của Hiến chương LHQ lại “khuyến khích sự tôn trọng và tuân thủ triệt để các quyền và các tự do cơ bản của tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo” Hơn thế nữa, Điều 56 cũng quy định rõ

rằng tất cả các quốc gia thành viên LHQ phải cam kết bằng các hành động chung hoặc riêng trong sự nghiệp hợp tác với LHQ để đạt được những mục đích tại Điều 55 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền tuyên bố việc thực hiện quyền con người là một dự

án chung của các cá nhân, dân tộc, nhóm và hiệp hội, các quốc gia và các tổ chức quốc tế Tuyên ngôn nhấn mạnh nhiệm vụ chung của chúng ta là hợp tác trong việc

tuân thủ nhân quyền rằng “Ai cũng có quyền được hưởng một trật tự xã hội và trật tự quốc tế trong đó những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này có thể được thực hiện đầy đủ Ai cũng có nghĩa vụ đối với cộng đồng trong đó nhân cách của mình có thể được phát triển một cách tự do và đầy đủ Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra, những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo

lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa

Trang 26

mãn Trong mọi trường hợp, những quyền tự do này không thể hành xử trái với những

Sự kết hợp ban đầu này về nhiệm vụ cộng đồng của một cá nhân được cộng hưởng thông qua nhiều hiệp ước nhân quyền quốc tế cốt lõi Cả lời mở đầu của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) và lời mở đầu của Công ước

quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá (ICESCR) đều thừa nhận rằng “cá nhân, có nghĩa vụ đối với các cá nhân khác và cộng đồng mà người đó thuộc về, có trách nhiệm phấn đấu thúc đẩy và tuân thủ các quyền được công nhận trong Công ước này” Đây cũng là lý do tại sao nó cũng được quy định giống hệt nhau trong Điều

5 (1) của cả ICCPR và ICESCR rằng không có gì trong các Công ước này có thể được

hiểu là ngụ ý cho việc “bất kỳ quốc gia, nhóm hoặc cá nhân nào có quyền tham gia

vào bất kỳ hoạt động nào hoặc thực hiện bất kỳ hành động nào nhằm phá hủy bất kỳ quyền hoặc tự do nào được công nhận ở đây” Trên thực tế, bằng cách nào, ở mức độ

này hay mức độ khác, chúng ta không chỉ chịu trách nhiệm đối với những hành vi vi phạm nhân quyền vẫn đang diễn ra khắp mọi nơi, ở cấp độ cá nhân với cá nhân, quốc gia với quốc gia và với toàn thế giới Điều này là một câu hỏi khó mà chỉ một cá nhân, một quốc gia không thể nào giải quyết được Và vấn đề đặt ra ở đây chính là yêu cầu nghĩa vụ hợp tác một cách bắt buộc

Sự đoàn kết quốc tế hiện nay đòi hỏi một môi trường quốc gia và quốc tế thuận lợi được tạo ra thông qua tinh thần đoàn kết giữa các cá nhân, các dân tộc, các quốc gia và các tổ chức quốc tế, bao gồm liên minh các lợi ích, mục đích, hành động và công nhận các nhu cầu và quyền khác nhau để đạt được các mục tiêu chung trong đó bao gồm việc phát huy vai trò của nghĩa vụ hợp tác

Điều 1 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền nhấn mạnh cách chúng ta nên hành

động với nhau: “Tất cả mọi người được sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm giá và quyền lợi Họ được ban cho lý trí và lương tâm và phải đối xử với nhau trong tình

bác ái” Chính vì vậy, việc các quốc gia tuân thủ quyền con người, thực hiện nghĩa

18 Điều 28, Điều 29 Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948

Trang 27

vụ hợp tác là một điều hiển nhiên bắt buộc và có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự nghiệp thay đổi tư duy về nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia hiện nay

Tương tự như đối với các vấn đề về môi trường: Công ước khung của LHQ về Biến đổi khí hậu năm 1992 (UNFCCC) đề cập đến sự hợp tác trong một số điều khoản, bao gồm lời mở đầu và các Điều 3, 7 và 9; Điều 2 (b) Nghị định thư Kyoto và Thỏa thuận Paris tại các Điều 6, 7, 10 và 12; Chương trình nghị sự 2030 về phát triển bền vững, bao gồm các Mục tiêu Phát triển Bền vững, công nhận rõ ràng vai trò trung tâm

của hợp tác đối với biến đổi khí hậu như sau: “Bản chất toàn cầu của biến đổi khí hậu kêu gọi sự hợp tác quốc tế rộng rãi nhất có thể nhằm đẩy nhanh việc giảm phát thải khí nhà kính toàn cầu và giải quyết thích ứng với các tác động bất lợi của biến đổi khí hậu”; Nguyên tắc 27 của Tuyên bố Rio về Môi trường và Phát triển năm 1992

quy định các quốc gia và nhân dân sẽ hợp tác với thiện chí và trên tinh thần đối tác trong việc thực hiện các nguyên tắc được thể hiện trong Tuyên bố này và trong việc phát triển hơn nữa luật pháp quốc tế trong lĩnh vực phát triển bền vững Ngoài ra, các vấn đề về kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh,… cũng được luật hoá một cách cụ thể, thể hiện rõ tầm quan trọng của nguyên tắc hợp tác trong sự nghiệp bảo vệ hoà bình

và an ninh thế giới hiện nay

Mục đích của LHQ khi đề ra nguyên tắc hợp tác chính là sự bổ sung thiết thực cho quá trình tạo dựng mối quan hệ giữa các quốc gia cũng như làm cơ sở cho việc thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến hoà bình và an ninh thế giới Các quốc gia tạo dựng mối quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhau phần nào sẽ tạo ra sợi dây liên kết vững chắc mang lại nhiều lợi ích trong mối quan hệ đó Đồng thời, cũng chính sự hợp tác hữu nghị sẽ hạn chế được những rủi ro, mâu thuẫn, xung đột về mặt chính trị, từ

đó giữ vững được mục đích cao cả đề ra trong Điều 1 Hiến chương LHQ năm 1945

Từ những quan điểm và lập luận về sự hợp tác mang tính bắt buộc trong việc thực hiện quyền con người, bảo vệ môi trường,… nêu trên, chúng ta có thể đưa ra kết luận Trong xu thế hội nhập thế giới và sự phát triển đa dạng của các quan hệ quốc tế hiện nay, những vấn đề mang tính chất toàn cầu như bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền con người, xung đột chiến sự, phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ, vấn đề y tế,

Trang 28

dịch bệnh,… là những vấn đề “nóng” khiến một quốc gia đơn lẻ không thể tự mình giải quyết được mà phải cần đến sự hợp tác giữa các quốc gia với nhau Trên cơ sở pháp lý quốc tế, nguyên tắc hợp tác sẽ là nền móng quan trọng giúp cho các quốc gia

có cơ sở để tạo dựng các mối quan hệ ngoại giao hữu nghị đặc biệt đối với các quốc gia yếu thế, các quốc gia đang phát triển như Việt Nam Hợp tác trở thành nhu cầu tất yếu và hơn thế còn là nghĩa vụ bắt buộc đối với các quốc gia19

1.4 Cơ chế hợp tác quốc tế

1.4.1 Hợp tác theo quy mô khu vực địa lý

a) Hợp tác song phương

Quan hệ hợp tác song phương là việc tiến hành các mối quan hệ chính trị, kinh

tế hoặc văn hóa giữa hai quốc gia có chủ quyền Kể từ thời điểm được ghi nhận trong các văn bản pháp lý cụ thể, nguyên tắc hợp tác được các quốc gia ngày một quan tâm, chú trọng vận dụng trên thực tiễn Các quốc gia chủ động hợp tác song phương trên nhiều lĩnh vực thông qua việc ký kết các Hiệp định, Cam kết,…

Việt Nam là một đại diện tiêu biểu trong công tác thực thi nghĩa vụ hợp tác hiện nay Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành viên LHQ, trong đó có quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với 30 nước, bao gồm 5 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ, toàn bộ Nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu (G7) và tất cả các thành viên ASEAN Đảng ta đã thiết lập quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia, Quốc hội Việt Nam có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 nước, 20

Việt Nam thực hiện quan hệ ngoại giao mở, ký kết và xây dựng mối quan hệ song phương trên nhiều lĩnh vực và phạm vi, cụ thể như: Hiệp định về Quan hệ Thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ năm 2000; Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) có hiệu lực từ ngày 01/10/2009; Hiệp định Thương mại Biên giới Việt - Trung vào năm 2016 nhằm tăng cường quan hệ láng giềng hữu nghị

19 Trường Đại học Luật TP HCM (2017), tlđd (4), tr.84

20 Báo Điện tử Chính phủ (Việt Nam), “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại”, ngày 14/12/2021, xem tại: https://baochinhphu.vn/xay-dung-nen-ngoai-giao-toan-dien-hien-dai-102305458.htm (truy cập lần cuối ngày 31/5/2022)

Trang 29

và thúc đẩy hợp tác thương mại ở vùng biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc trên

cơ sở bình đẳng, cùng có lợi; Việt Nam và Lào hợp tác song phương trên nhiều phương diện qua việc thảo luận và ký kết hàng loạt các Thoả thuận, Nghị định,…21

b) Hợp tác khu vực

Tổ chức khu vực, theo một nghĩa nào đó, là các tổ chức quốc tế kết hợp tư cách thành viên quốc tế và bao gồm các thực thể địa chính trị hoạt động vượt qua một quốc gia đơn lẻ Tư cách thành viên được đặc trưng bởi các ranh giới, đặc trưng cho một khu vực địa lý xác định và duy nhất Các tổ chức hợp tác khu vực được thành lập nhằm thúc đẩy hợp tác, hội nhập kinh tế, chính trị và đối thoại giữa các quốc gia hoặc thực thể trong một ranh giới địa lý hoặc địa chính trị hạn chế22

Các tổ chức hợp tác khu vực hiện nay có thể kể đến như: Diễn đàn Hợp tác Kinh

tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) là tổ chức quốc tế của các quốc gia nằm trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương với mục tiêu tăng cường mối quan hệ về kinh tế

và chính trị; Liên minh Châu Âu (EU) là một tổ chức liên chính phủ của các nước châu Âu; Liên minh Châu Phi (AU), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Liên đoàn Ả Rập (AL), Hội đồng Châu Âu (CoE), Liên minh Kinh tế Á-Âu (EAEU), Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á (SAARC), Tổ chức tư vấn pháp lý Á-Phi (AALCO),

Liên minh các quốc gia Nam Mỹ (USAN) và hàng loạt các tổ chức khác

Một trong những tổ chức hợp tác khu vực hoạt động nổi bật và hiệu quả hiện nay phải kể đến ASEAN - Tổ chức chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á Tổ chức này được thành lập vào năm 1967 nhằm biểu hiện tinh thần đoàn kết giữa các nước trong cùng khu vực với nhau, đồng thời hợp tác chống tình trạng bạo động và bất ổn tại những nước thành viên Đến năm

1992, Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) được ký kết với mục đích là nâng cao năng lực cạnh tranh của ASEAN với tư cách là một cơ sở sản xuất trên thế giới, đồng thời tăng cường tính hấp dẫn đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài Hiện tại,

21 Sở ngoại vụ Tiền Giang (Việt Nam), “Quan hệ Việt Nam – Lào”, ngày 22/10/2015, xem tại: https://songoaivu.tiengiang.gov.vn/thoa-thuan-quoc-te/-/asset_publisher/QSpp7P8RukDa/content/quan-he- viet-nam-lao (truy cập lần cuối ngày 31/5/2022)

22 https://vi.wikipedia.org/wiki/Tổ_chức_khu_vực

Trang 30

ASEAN gồm có 10 quốc gia thành viên: Brunei, Campuchia, Lào, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam Hai quốc gia bày tỏ ý muốn gia nhập ASEAN là Đông Timor và Papua New Guinea hiện đang giữ vai trò quan sát viên23

c) Hợp tác đa phương toàn cầu

Kể từ thời điểm nguyên tắc hợp tác được quy định cụ thể tại khoản 3 Điều 1 Hiến chương LHQ, chỉ rõ tại Tuyên bố năm 1970,… sự mở rộng mối quan hệ ngoại giao hữu nghị và hợp tác hỗ trợ lẫn nhau trên mọi mặt ngày càng được các quốc gia xúc tiến đẩy mạnh Với tiêu chí cùng nhau hợp tác, cùng nhau phát triển, mọi sự hợp tác đều đã mang lại nhiều hiệu quả đáng kể, đặc biệt trong giải quyết các vấn đề quan trọng mang tính khu vực và toàn cầu

Hợp tác đa phương được hiểu là sự hợp tác giữa quốc gia với quốc gia (từ ba bên trở lên), giữa quốc gia với các tổ chức quốc tế liên chính phủ và giữa các tổ chức quốc tế liên chính phủ trong đó các quốc gia với vai trò là thành viên Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các nước lớn gia tăng, các thách thức an ninh, phát triển ngày càng phức tạp, cơ chế hợp tác đa phương toàn cầu cũng gặp phải nhiều khó khăn Tuy vậy, vai trò và những thành tựu vượt bậc do cơ chế hợp tác đa phương mang lại là không thể phủ nhận và tiếp tục được các quốc gia chú trọng phát triển một cách linh hoạt Phát triển trên cơ sở hợp tác song phương và khu vực, cơ chế hợp tác nhóm24

hay hợp tác tiểu đa phương dần trở thành xu thế của các quốc gia Cơ chế hợp tác nhóm vượt khỏi các khuôn khổ địa lý để kết nối, tập trung vào một vài nội dung hợp tác cụ thể, nhất là liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội, các thách thức toàn cầu Không chỉ vậy, cơ chế hợp tác nhóm còn cam kết và ủng hộ với các nguyên tắc, phương châm, giá trị hợp tác có tính khái quát, phù hợp với lợi ích của đa số các quốc gia ở khu vực G20, G7,… là các nhóm quốc gia thành lập trên cơ chế hợp tác nhóm Trên cương vị là một tổ chức liên chính phủ lớn nhất hiện nay, LHQ hiện có

193 quốc gia thành viên và trở thành một hệ thống toàn diện gồm 6 cơ quan chính,

23 https://vi.wikipedia.org/wiki/Hiệp_hội_các_quốc_gia_Đông_Nam_Á

24 Vũ Lê Thái Hoàng, Lê Trung Kiên (2022), “Cơ chế hợp tác nhóm: Thực tiễn quốc tế và hàm ý chính sách đối với Việt Nam”, đăng trên Tạp chí Cộng sản, ngày 03/02/2022

Trang 31

nhiều cơ quan phụ trợ, 20 tổ chức chuyên môn và 5 Ủy ban kinh tế - xã hội đặt ở các khu vực; hàng chục quỹ và chương trình, hoạt động trên tất cả các lĩnh vực từ giải quyết và ngăn ngừa xung đột, giải trừ quân bị, chống khủng bố, bảo vệ người tị nạn, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, cho đến thúc đẩy dân chủ, nhân quyền, bình đẳng giới, phát triển kinh tế và xã hội,… Các quốc gia đã trao cho LHQ vai trò

là trung tâm điều hòa các nỗ lực quốc tế để thực hiện các mục tiêu chung là duy trì hòa bình và an ninh quốc tế; thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia; thúc đẩy hợp tác giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hóa, nhân đạo trên cơ sở tôn trọng các quyền và phẩm giá con người25 Trong đó, LHQ hướng đến đạt được sự hợp tác quốc tế trong mọi mặt cho tất cả mọi người, cho mọi quốc gia một cách bình đẳng, không có sự phân biệt Tất cả các quốc gia thành viên cam kết sẽ có hành động chung và riêng biệt trong hợp tác với tổ chức để đạt được mục đích và các tiêu chuẩn tốt hơn về cuộc sống tự do, hòa bình và an ninh quốc tế

1.4.2 Hợp tác theo lĩnh vực, mục đích

Ngoài cơ chế hợp tác theo quy mô khu vực địa lý, các quốc gia còn hợp tác với nhau thoả thuận, ký kết và ban hành các quy định chung, thành lập các cơ quan chuyên môn nhằm giải quyết các vấn đề chung, vấn đề quốc tế theo từng lĩnh vực, cụ thể:

Vấn đề về bảo vệ quyền con người: được quy định trong Tuyên ngôn quốc tế

nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Tuyên bố về quyền phát triển năm 1986 và Tuyên bố Vienna và Chương trình hành động năm 1993, Công ước LHQ về Quyền trẻ em năm 1990 Một ví dụ nổi bật tại

Điều 3.3 của Tuyên bố về Quyền phát triển quy định rằng “Các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau trong việc đảm bảo sự phát triển và loại bỏ các trở ngại cho sự phát triển”, và lời mở đầu của Tuyên bố kêu gọi “hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế có tính chất kinh tế, xã hội, văn hóa hoặc nhân đạo, và thúc đẩy và khuyến khích tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản”

25 Minh Anh, “LHQ: Tổ chức không thể thiếu trong nền chính trị thế giới”, ngày 17/09/2021, xem tại: https://dangcongsan.vn/thoi-su/lien-hop-quoc-to-chuc-khong-the-thieu-trong-nen-chinh-tri-the-gioi-591281.h

tm (truy cập ngày 02/5/2022)

Trang 32

Vấn đề về y tế, khoa học: là vấn đề cấp thiết liên quan đến quyền con người nhất

là trong bối cảnh ảnh hưởng sâu sắc của dịch bệnh COVID-19 và các mối nguy hiểm

đe doạ đến sức khoẻ, tính mạng con người nói chung hiện nay Sự ra đời của Tổ chức

Y tế Thế giới (WHO) là một cơ quan chuyên môn do LHQ thành lập vào ngày 07/4/1948 cho thấy điều đó WHO đóng vai trò điều phối các vấn đề sức khỏe và y tế cộng đồng trên bình diện quốc tế, tham gia giúp đỡ các quốc gia thành viên, cung cấp những thông tin chính xác, những địa chỉ đáng tin cậy trên lĩnh vực sức khỏe con người WHO sẽ đứng ra để giải quyết những vấn đề cấp bách về sức khỏe cộng đồng

và dịch bệnh của con người Ngoài ra các tổ chức liên minh GAVI, CEPI, COVAX, UNICEF,… cũng hoạt động rất tích cực và hiệu quả trong lĩnh vực này

Vấn đề về chống biến đổi khí hậu: quy định trong Công ước khung của LHQ về

biến đổi khí hậu năm 1992 (UNFCCC) đề cập đến sự hợp tác trong một số điều khoản, bao gồm lời mở đầu và các Điều 3, 7 và 9; Điều 2 (b) Nghị định thư Kyoto và Thỏa thuận Paris tại các Điều 6, 7, 10 và 12; Chương trình nghị sự 2030 về phát triển bền vững, bao gồm các Mục tiêu Phát triển Bền vững, công nhận rõ ràng vai trò trung tâm của hợp tác đối với biến đổi khí hậu; Nguyên tắc 27 của Tuyên bố Rio về Môi trường

và Phát triển năm 1992 quy định các quốc gia và nhân dân sẽ hợp tác với thiện chí và trên tinh thần đối tác trong lĩnh vực phát triển bền vững

Vấn đề về kinh tế, văn hoá, xã hội: thể hiện rõ việc cần thiết phải có sự hợp tác

giữa các quốc gia thông qua Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966; Tuyên bố Thiên niên kỷ của LHQ năm 2000 và Chương trình hành động Addis Ababa của Hội nghị Quốc tế lần thứ ba về Tài trợ cho phát triển và Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững năm 2015 hay hoạt động hiệu quả của các cơ quan chuyên môn như

Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Hội đồng Kinh tế - Xã hội LHQ (ECOSOC),…

Về mục đích nhân đạo: hằng năm tại Hội nghị thượng đỉnh của lãnh đạo các

nước trong khối G7, các vấn đề liên quan đến xoá nợ, giảm nợ, giãn nợ, viện trợ nhân đạo,… cho các quốc gia đặc biệt nghèo đói, kém phát triển ở châu Phi là một trong

Trang 33

những chương trình nghị sự quan trọng của tổ chức này và hàng loạt các tổ chức nhân đạo trên khắp thế giới cũng được thành lập dựa trên sự hợp tác quốc tế Ngoài ra, UNICEF - một quỹ cứu tế được thành lập bởi Đại hội đồng LHQ ngày 11/12/1946 cũng hoạt động rất hiệu quả vì mục đích nhân đạo,…26

Ngoài ra, trong các lĩnh vực khác của quan hệ quốc tế hiện nay cũng được các quốc gia chú trọng, vận dụng nguyên tắc hợp tác một cách linh hoạt và hiệu quả

1.4.3 Đánh giá chung về cơ chế hợp tác quốc tế

Với sự phổ cập của nguyên tắc hợp tác, dần xuất hiện thêm một thuật ngữ sâu

rộng hơn nguyên tắc hợp tác đó là “hội nhập quốc tế” Về bản chất, hội nhập quốc tế

chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật - công nghệ hiện nay đã thúc đẩy sự phát triển vượt bậc các lĩnh vực đời sống, xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất và quốc tế hoá ngày một sâu sắc Điều này có được thông qua việc hợp tác ngày càng sâu rộng giữa các quốc gia ở tầm song phương, khu vực và toàn cầu27

Trong thời kỳ hiện đại, sự phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi các quốc gia phải mở rộng và hình thành thị trường khu vực và quốc tế Đây chính là động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế Nếu hiểu theo cách này thì chưa thể làm nổi bật được tính chất bắt buộc của nguyên tắc hợp tác Tuy nhiên, đây cũng là một yếu

tố quan trọng giúp thúc đẩy sự hợp tác cũng như nêu cao vai trò của nguyên tắc hợp tác trong xu thế toàn cầu hiện nay

Kể từ khi xuất hiện trong Hiến chương LHQ và Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng LHQ, nghĩa vụ hợp tác trên thực tế đã phát triển rộng và sâu hơn đến tất cả các lĩnh vực, không chỉ tồn tại ở những quy định, các quốc gia đã vận dụng hợp tác một cách linh hoạt, mang đến hiệu quả đáng ghi nhận Hợp tác để thực hiện quyền con người - đặc biệt là các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, các vấn đề về môi trường,

26 Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Hệ thống tư liệu – Văn kiện Đảng, Mục “Tổ chức quốc tế”, ngày 09/6/2022, xem tại: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ho-so-su-kien-nhan-chung/to-chuc-quoc-te?page=0 (truy cập lần cuối ngày 31/5/2022)

27 Trần Anh Tuấn - Vụ Pháp Luật quốc tế, “Khái quát chung về hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay”, ngày 02/5/2022, xem tại: https://moj.gov.vn/tttp/tintuc/Pages/thuong-mai-tai-chinh.aspx?ItemID=5 (truy cập lần cuối ngày 31/5/2022)

Trang 34

khoa học công nghệ,… tất cả các lĩnh vực đều được phát triển và giải quyết nhờ sự hợp tác Tuy Tuyên bố năm 1970 chỉ nêu ra nguyên tắc hợp tác trên cơ sở lý luận nhằm thúc đẩy sự hợp tác quốc tế nhưng cũng chính nhờ vậy nguyên tắc hợp tác đã được củng cố và được đặt làm trung tâm của việc bảo đảm trật tự pháp lý quốc tế, xây dựng nghĩa vụ hợp tác dựa trên Hiến chương LHQ Hơn thế nữa, nguyên tắc còn cung cấp một nền tảng vững chắc cho sự phát triển hợp tác đa dạng mà chúng ta có thể tìm thấy trong rất nhiều lĩnh vực của luật pháp quốc tế ngày nay28

Có thể đánh giá, hợp tác là một nguyên tắc bao hàm rộng lớn, không giới hạn; hợp tác mang tính bền vững và trách nhiệm, tạo môi trường chung sống hòa bình cho tất cả các thành viên của cộng đồng quốc tế, công bằng, bình đẳng, chia sẻ lợi ích và gánh nặng trong quan hệ quốc tế Trong khi toàn cầu hóa mở ra những cơ hội mới cho tăng trưởng và phát triển, nguyên tắc hợp tác cũng đặt ra những thách thức bao gồm bất bình đẳng ngày càng tăng, nghèo đói lan rộng, thất nghiệp và rủi ro môi trường, dịch bệnh đòi hỏi sự phối hợp và ra quyết định tập thể ở cấp độ toàn cầu Nguyên tắc hợp tác còn là một khái niệm cơ bản về việc củng cố mối quan hệ lẫn nhau giữa các cá nhân, các dân tộc và các quốc gia; một yếu tố thiết yếu làm nền tảng cho quan hệ đối tác toàn cầu; và hơn hết hợp tác là điều bắt buộc, cần thiết giúp các quốc gia có thể giải quyết và vượt qua nhanh chóng các thách thức toàn cầu hiện nay như thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, xung đột vũ trang, khủng bố, xoá đói giảm nghèo, bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em,…Các quốc gia phát triển hỗ trợ quốc gia đang phát triển, quốc gia đang phát triển hỗ trợ các quốc gia kém phát triển khác Hợp tác giải quyết những vấn đề liên quốc gia, hợp tác vì bất kỳ mục đích nào phù

hợp với Hiến chương LHQ, như câu tục ngữ “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” hay câu nói “lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều”, đấy chính là ý nghĩa của sự ra đời nguyên tắc hợp tác

Nhìn nhận từ cơ chế hợp tác giữa các quốc gia hiện nay, theo tác giả có thể phân chia thành nhiều phương diện dựa trên mục đích của sự hợp tác:

28 Laurence Boisson de Chazournes and Jason Rudall (2020), tlđd (12), pp 105-132

Trang 35

Phương diện thứ nhất, hợp tác để giải quyết các vấn đề chung Ví dụ như sự

hợp tác để nhanh chóng tìm ra loại vắc-xin, thuốc đặc trị phòng, chống dịch bệnh COVID-19 hiện nay hay giải quyết vấn đề về nguồn nước chung do những con sông chảy xuyên biên giới gây ra, vấn đề về phân tranh ranh giới quốc gia, vấn đề về vùng biển chung,… Đây có thể nói là sự hợp tác hiệu quả và thiết thực nhằm hạn chế tranh chấp, xung đột và thoả thuận trên nguyên tắc gìn giữ hoà bình, giải quyết các vấn đề

có tính chất nguy hiểm ảnh hưởng đến con người nói riêng và toàn cầu nói chung

Phương diện thứ hai, hợp tác một cách bình đẳng, đôi bên cùng có lợi Nhìn

chung, trước hết là hợp tác trên mặt kinh tế, khoa học công nghệ Các quốc gia hợp tác với nhau, trao đổi những điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu và thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia Đặc biệt là đối với quốc gia đang phát triển như Việt Nam, việc hợp tác với các quốc gia phát triển nhằm trao đổi thiết bị khoa học công nghệ, vật tư

y tế hiện đại trong công tác y tế hiện nay là một vấn đề hết sức cần thiết, đảm bảo cho quá trình “đi tắt đón đầu”, hiện đại hoá đất nước cũng như hướng đến sự hội nhập quốc tế nhanh chóng,…

Phương diện thứ ba, phát triển hợp tác nhằm tạo dựng vị thế của quốc gia, đảm

bảo thực hiện mục tiêu lâu dài đối với các quốc gia được hỗ trợ hợp tác Một số quốc gia xây dựng quan hệ ngoại giao chỉ một chiều cho và nhận để đổi lấy cơ hội lớn trong tương lai Quan hệ hợp tác này chủ yếu được tạo dựng bởi các quốc gia có nền kinh tế phát triển, có đủ tiềm lực để mở rộng mối quan hệ ngoại giao toàn cầu, vì mục đích lâu dài,…

Phương diện thứ tư, hợp tác vì mục đích nhân đạo và những mục đích khác

Hoạt động hầu hết đến từ các quốc gia có tiềm lực kinh tế lớn, các tổ chức quốc tế nhân đạo,… tiến hành các hoạt động hỗ trợ, cứu trợ những quốc gia, dân tộc đói nghèo, dịch bệnh Đây cũng là một trong những mục đích của LHQ khi đề ra nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau; Là một trong những hành động cụ thể giúp thúc đẩy mối quan hệ ngoại giao thân thiện, hữu nghị và củng cố cho mục đích chính vì hoà bình và an ninh thế giới

Trang 36

Tóm lại, nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau không chỉ mang đến những cơ hội Các quốc gia trên thế giới hiện nay luôn đặt lợi ích của chính quốc lên hàng đầu, một số quốc gia yếu thế sẽ gặp rất nhiều khó khăn để có thể vận dụng một cách hiệu quả nguyên tắc hợp tác Ví dụ như đối với các quốc gia đang, kém phát triển hiện nay, sự hợp tác quốc tế mang đến những cơ hội to lớn song cũng không ít những thách thức nảy sinh như vấn đề về cạnh tranh, thâu tóm thị trường, phát triển bền vững, hay thậm chí là ảnh hưởng đến việc bảo vệ chủ quyền quốc gia,… Hơn nữa, tình trạng “lợi ích nhóm” biểu hiện ở một số quốc gia có mục đích hợp tác với nhau để phát triển cụm quốc gia song lại tạo ra sự chia cách, phân biệt đối với các quốc gia khác,… Chính vì vậy, để có thể vận dụng nguyên tắc hợp tác một cách hiệu quả, tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc của Luật quốc tế, các quốc gia cần có sự nghiên cứu, đánh giá và thảo luận để đưa ra những chính sách đối nội, đối ngoại phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của quốc gia trong từng thời kỳ, từng giai đoạn

Trang 37

Kết luận Chương 1

Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, là nghĩa vụ bắt buộc mà các chủ thể của Luật quốc tế phải tuân theo Cơ chế hợp tác thực hiện trên tất cả các phương diện, hợp tác sâu rộng và có hiệu quả từng bước, từng giai đoạn, hợp tác song phương, đa phương toàn cầu,… trên cơ sở phù hợp với Hiến chương LHQ

Việt Nam nói riêng và toàn cầu nói chung đã, đang và sẽ có thể tiếp tục phải

“chiến đấu” với các hiểm hoạ đe doạ đến tính mạng con người, đến sự phát triển ổn định của các quốc gia, đến hoà bình và an ninh thế giới Trong bối cảnh COVID-19 hiện nay, việc nhìn nhận và đánh giá sự cần thiết trong vận dụng nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau là một vấn đề mang tính chất bắt buộc, là cơ hội để các quốc gia vươn mình hội nhập quốc tế, tạo dựng mối quan hệ ngoại giao hữu nghị

và mang đến lợi ích thiết thực cho đất nước, cho dân tộc

Chính vì vậy, trên cơ sở tìm hiểu, phân tích sự hình thành, nội dung, đặc điểm, vai trò, tính chất bắt buộc cũng như cơ chế thực thi trên thực tiễn của nguyên tắc hợp tác trong Chương 1 này, đặc biệt trong giai đoạn thế giới ngày một đối phó nhiều hơn với các vấn đề ảnh hưởng sâu rộng trên toàn cầu hiện nay như dịch bệnh, biến đổi khí hậu, quyền con người,… Tác giả mong muốn sẽ có một cái nhìn khách quan và có cơ

sở đúng đắn khi khẳng định nguyên tắc hợp tác đóng một vai trò quan trọng và cần thiết trong việc thiết lập các mối quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia trên toàn cầu

Từ đó, đi đến đánh giá thực tiễn việc vận dụng nguyên tắc hợp tác trong thực tiễn phòng, chống COVID-19 hiện nay, kết luận và rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam tại Chương 2 của khoá luận này

Trang 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC CÁC QUỐC GIA

CÓ NGHĨA VỤ HỢP TÁC VỚI NHAU TRONG PHÒNG, CHỐNG COVID-19 – BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Dịch bệnh là một trong những tai hoạ thường xuyên xảy ra, đe dọa không chỉ đến sức khỏe, tính mạng của con người mà còn gây tác động đến nhiều mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của các dân tộc, các quốc gia trên toàn thế giới, trong

đó có Việt Nam Trên cơ sở tìm hiểu về thông tin dịch bệnh COVID-19 và các đại dịch trong lịch sử, nghiên cứu việc vận dụng nguyên tắc hợp tác qua thực tiễn phòng, chống COVID-19 tại Việt Nam và một số quốc gia khác, Chương 2 của khoá luận sẽ phân tích, đánh giá và rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong bối cảnh

chịu ảnh hưởng bởi COVID-19 hiện nay và dự phòng cho tương lai

2.1 Tầm quan trọng của nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau trong bối cảnh đại dịch COVID-19

2.1.1 Các đại dịch bệnh trong lịch sử thế giới

Từ đầu thế kỷ XX đến nay, thế giới đã và đang trải qua rất nhiều giai đoạn đối phó với các đại dịch nguy hiểm liên tiếp xảy ra với quy mô toàn cầu Đầu tiên phải

kể đến là đại dịch cúm 1918-191929, do vi-rút H1N1 thuộc chủng vi-rút cúm A gây

ra Đại dịch cúm 1918-1919 hay tên gọi khác là dịch cúm Tây Ban Nha đã lan rộng khắp thế giới từ tháng 3/1918 và kéo dài đến tháng 5/1919 Đại dịch đã càn quét thế giới qua ba đợt, trong đó đợt thứ hai là nghiêm trọng nhất và được xem là đại dịch tàn khốc nhất trong lịch sử nhân loại bởi số người chết có đến khoảng 50 triệu người, nhiều hơn bất cứ trận đại dịch nào khác đã xảy ra trước đó

Một dịch bệnh đáng lưu ý khác xuất hiện từ những thập niên cuối của thế kỷ

XX là HIV/AIDS30 Được ghi nhận lần đầu tiên tại Hoa Kỳ vào tháng 6/1981 và phải trải qua một thời gian dài, tên của căn bệnh mới được WHO công bố vào năm 1987 Không giống như các dịch bệnh cấp tính khác, HIV/AIDS là một dịch bệnh mãn tính

29 Xem tại: https://vi.wikipedia.org/wiki/Đại_dịch_cúm_Tây_Ban_Nha_1918

30 Hội chứng nhiễm vi-rút làm suy giảm miễn dịch ở người, tiếng Anh: Human Immunodeficiency Virus infection/Acquired Immunodeficiency Syndrome (Nguồn: Từ điển Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia)

Trang 39

Do đó tác động của nó thường không biểu hiện trong nhất thời mà kéo dài, trở thành

“căn bệnh thế kỷ” và để lại những hệ lụy lâu dài đối với xã hội loài người trên nhiều phương diện Tính đến năm 2020, số người nhiễm HIV trên thế giới có khoảng 37,7 triệu người, trong đó có khoảng 1,8 triệu là trẻ em dưới 15 tuổi Kể từ khi xuất hiện đến nay đã có tới khoảng 38 triệu người chết do HIV Khu vực châu Phi bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất, chiếm hơn 2/3 số người nhiễm HIV trên toàn thế giới31 Tại Việt Nam số người nhiễm HIV hiện đang còn sống được báo cáo đến ngày 30/9/2021 là 212.769 trường hợp, số người nhiễm HIV tử vong lũy tích tính từ thời điểm dịch xuất hiện là 108.849 trường hợp32 Ngoài ra, còn có rất nhiều đại dịch khác xuất hiện gây ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân loại

Bước sang thế kỷ XXI, trên thế giới lại xuất hiện một dịch bệnh mới nguy hiểm

là SARS (viết tắt từ Severe Acute Respiratory Syndrome, tức hội chứng hô hấp cấp tính nặng) do vi-rút SARS-CoV, một chủng vi-rút corona gây ra Kể từ khi ca bệnh đầu tiên được xác nhận tại miền nam Trung Quốc tháng 11/2002, SARS đã nhanh chóng lây lan khắp thế giới Đến cuối năm 2019, một dịch bệnh khác do vi-rút SARS-CoV-2 thuộc chủng vi-rút corona mới lại xuất hiện, bắt đầu từ thành phố Vũ Hán, Trung Quốc, lây lan ra khắp thế giới thành đại dịch COVID-19 Đại dịch này hiện vẫn đang diễn ra, lây lan nhanh chóng và tác động đến nhiều mặt của đời sống kinh

tế, chính trị, xã hội trên toàn cầu Đại dịch COVID-19 đã đặt nhân loại vào thách thức chưa từng có trong vòng 100 năm qua kể từ sau đại dịch cúm 1918-191933

Nhìn từ chiều dài lịch sử và diễn biến của các dịch bệnh, việc đối phó với các đại dịch không thể kịp thời nhanh chóng nếu không có sự học tập, đúc rút kinh nghiệm

từ những khu vực có dịch bệnh trước đó và từ các quốc gia lẫn nhau Vai trò của sự hợp tác ngày càng nêu cao bởi mức độ nguy hiểm và quy mô phân tán dịch bệnh ngày một diễn biến phức tạp cũng như sự phát triển khác nhau giữa các quốc gia, xu thế

31 Theo Báo cáo của Chương trình phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS (UNAIDS)

32 Bích Phượng, “Dịch HIV/AIDS có gì thay đổi trong năm 2021”, ngày 14/11/2021, xem tại: https://vaac.gov.vn/dich-hiv-aids-co-gi-thay-doi-trong-nam-2021.html (truy cập lần cuối ngày 31/5/2022)

33 Trọng Đức (tổng hợp), “Từ đại dịch cúm Tây Ban Nha đến COVID-19: Những bài học khó quên”, ngày 13/08/2020, xem tại: https://ncov.vnanet.vn/tin-tuc/tu-dai-dich-cum-tay-ban-nha-den-covid-19-nhung-bai- hoc-kho-quen/00b08a2e-bd46-40f9-8095-8dfb0a1ff837 (truy cập lần cuối ngày 31/5/2022)

Trang 40

toàn cầu hoá hiện nay đòi hỏi sự hợp tác, phối hợp cùng nhau đưa ra những giải pháp nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả nhất nhằm mục tiêu trước mắt là đẩy lùi dịch bệnh;

về lâu dài là xây dựng các mối quan hệ hợp tác hữu nghị cùng phát triển giữa các quốc gia nhằm giải quyết những hệ luỵ mà dịch bệnh gây ra trên mọi phương diện

2.1.2 Các giải pháp đối phó với dịch bệnh

Sự xuất hiện của nhiều loại dịch bệnh xuyên suốt tiến trình lịch sử nhân loại đã buộc các quốc gia phải đề ra những cách thức, biện pháp ngày một phù hợp hơn để ứng phó, thích nghi và bảo vệ con người trước ảnh hưởng nghiêm trọng của dịch bệnh Vai trò của nguyên tắc hợp tác trong việc đẩy lùi và giải quyết hậu quả của dịch bệnh

là không thể phủ nhận Mỗi giai đoạn cùng với sự phát triển của trình độ y tế, khoa học và con người khác nhau, các quốc gia đã tiến hành rất nhiều biện pháp nhằm đối phó với dịch bệnh

a) Biện pháp ứng phó với dịch bệnh

Khi hiểu biết của con người về bệnh tật còn hạn chế và niềm tin cho rằng dịch bệnh xảy ra là do sự trừng phạt của Thượng Đế đối với tội lỗi của con người lan rộng thì các phản ứng bằng niềm tin tôn giáo đã tồn tại cùng với các biện pháp về y tế và

xã hội Đó là biện pháp ứng phó với dịch bệnh về mặt tinh thần Một bộ phận người dân cho rằng việc cầu nguyện nhằm tìm kiếm sự cứu rỗi đóng vai trò quan trọng Tại nhiều vùng ở Châu Âu vào thời kỳ “Cái Chết Đen34” phong trào “flagellum” (roi da) đã phát triển mạnh mẽ trong thời gian dài Những nhóm người hành hương

đi từ thị trấn này đến thị trấn khác và tự hành hạ bản thân bằng roi da như một sự đền tội về mặt thân thể cùng những lời nguyện cầu cứu rỗi Còn ở các quốc gia phương Đông như Trung Quốc, ngoài các biện pháp ứng phó thực tế về mặt y học, người Trung Quốc còn tổ chức cầu đảo, cúng tế,… nhằm khẩn cầu sự ban phước và thương xót của các đấng siêu nhiên, mong dịch bệnh được kiểm soát,…35

34 Cái Chết Đen là tên gọi của 1 đại dịch xảy ra ở châu Á và châu Âu trong thế kỷ XIV, mà đỉnh điểm là ở châu

Âu trong 1346-1351, với số lượng người chết ở châu Âu và châu Á khoảng 75 - 200 triệu người, xem tại: https://vi.wikipedia.org/wiki/Cái_Chết_Đen (truy cập lần cuối ngày 31/5/2022)

35 Lư Vĩ An, “Dịch bệnh trong lịch sử nhân loại: Nguồn gốc, tác động và biện pháp ứng phó”

Sci.Tech.Dev.J.-Soc.Sci.Hum, Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn; 4(4):634-635

Ngày đăng: 03/01/2023, 13:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w