Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhằm giải quyết những yêu cầu đầy đủ của đề tài thì tiểu luận của em có những nội dung chính sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ở Việt Nam.3 Lần đầu tiên được tiếp xúc với đề tài nghiên cứu, mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô để bài tiểu luận của em có thể hoàn thiện hơn.
Trang 2 Nhận xét của giảng viên
Điểm tiểu luận:
Họ tên & chữ kí của giảng viên
Nguyễn Quang Đạo
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 4
Chương 1: Những vấn đề lý luận về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật 4
1.1 Khái niệm, đặc điểm và lịch sử hình thành về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật 4
1.2 Ảnh hưởng của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với các bên trong quan hệ lao động 4
1.2.1 Ảnh hưởng đến người lao động 5
1.2.2 Ảnh hưởng đến người sử dụng lao động 5
1.2.3 Ảnh hưởng đến đời sống xã hội 5
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật 5
2.1 Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật 5
2.2 Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật 6
2.3.Hậu quả pháp lý của người lao động và người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật 8
2.3.1 Đối với người lao động 8
2.3.2 Đối với người sử dụng lao động 8
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật ở Việt Nam 9
3.1 Hoàn thiện các quy định hiện hành của pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật 9
3.2.Một số biện pháp nhằm hạn chế đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật 10
KẾT LUẬN 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế ngày càng phát triển, đời sống xã hội ngày càng đi lên, khái niệm
về hợp đồng lao động đã không còn quá xa lạ với người dân Tuy vậy, nhưng vẫn
có rất nhiều trường hợp thiếu hiểu biết về hợp đồng lao động dẫn đến bị thiệt hại đặc biệt ở đây là tầng lớp lao động, những người thường yếu thế hơn so với người sử dụng lao động Từ đó, hợp đồng lao động được lập ra như một bảng thỏa thuận giữa đôi bên về quyền và nghĩa vụ giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Xuất phát từ nhu cầu cũng như đòi hỏi của nền kinh tế thị trường hiện nay
ở nước ta, Nhà nước đã đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật lao động Từ khi hình thành đến nay, hệ thống pháp luật lao động Việt Nam đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung để có thể phù hợp hơn với bối cảnh chung của thị trường lao động Việt Nam Tuy nhiên do mặt trái của thị trường cũng như những lý do chủ quan khác mà dẫn đến hậu quả vi phạm pháp luật lao động Đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật là một trong những vấn đề phổ biến đó Điều đó làm ảnh hưởng không hề nhỏ đến quan hệ lao động, lợi ích của chủ thể cũng như nền kinh tế thị trường nói chung.
Xuất phát từ những vấn đề bức xúc trên thì em xin chọn đề tài “Đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật” này làm đề tài nghiên cứu trong bài tiểu luận cuối kì của môn Pháp luật đại cương nhằm mục đích góp phần hoàn thiện, nhận thức rõ hơn về bản chất pháp lý và hoàn thiện hệ thống pháp luật về việc Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật ở Việt Nam.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhằm giải quyết những yêu cầu đầy đủ của đề tài thì tiểu luận của em có những nội dung chính sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ở Việt Nam.
Trang 5Lần đầu tiên được tiếp xúc với đề tài nghiên cứu, mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô để bài tiểu luận của em có thể hoàn thiện hơn.
Trang 6NỘI DUNG Chương 1: Những vấn đề lý luận về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
1.1 Khái niệm, đặc điểm và lịch sử hình thành về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
Khái niệm hợp đồng lao động đã xuất hiện từ rất lâu trong hệ thống pháp luật ở các nước tư bản, có nhiều cách lý giải khác nhau về lý luận khoa học Luật Lao động, cơ sở pháp lý, điều kiện kinh tế- xã hội, Nhưng các khái niệm ít nhiều gì cũng có những nét tương đồng Hiện nay trong hệ thống pháp luật Việt
Nam, khái niệm hợp đồng lao động được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 13-BLLD 2019 ‘’Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người
sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền
và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương
và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được gọi là hợp đồng lao động’’
Thực hiện hợp đồng lao động là nghĩa vụ của cả người lao động và người
sử dung lao động tuy nhiên do trình độ và ý thức pháp luật của các bên còn hạn chế dẫn đến sự thiếu tôn trọng và lợi ích của đôi bên mà phá vỡ trật tự pháp luật trên Theo phương diện khoa học pháp lý thì đó được gọi là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật Còn về khái niệm đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động trái pháp luật ta có thể hiểu như sau, “Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là việc người lao động hoặc người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động không tuân thủ các trường hợp mà pháp luật cho phép mỗi bên được ủy quyền đơn phương chấm dứt”.
1.2 Ảnh hưởng của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với các bên trong quan hệ lao động.
Mặc dù pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể để hạn chế việc các chủ thể tự ý đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng nó vẫn còn đang rất phổ biến Tình trạng đó không phải là vấn đề mới đây nhưng vẫn là vấn
Trang 7đề mang tính thời sự bởi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động, người sử dụng lạo động, thị trường…
1.2.1 Ảnh hưởng đến người lao động
Bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, người lao động
sẽ phải đối mặt với rất nhiều vấn đề như: sức ép mất công việc, mất thu nhập, áp lực gia đình là tiền đề cho việc gia tăng tệ nạn xã hội Vì vậy dù là nạn nhân hay là tác nhân đơn phương chấm chấm dứt hợp đồng lao động thì người lao động vẫn phải chịu hậu quả ảnh hưởng không hề nhỏ
1.2.2 Ảnh hưởng đến người sử dụng lao động
Bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, người sử dụng lao động sẽ bị tổn thất rất lớn về mặt tài chính và nguồn nhân lực, tốn thời gian trong các vụ tranh chấp là điều không thể tránh khỏi Xét ở nhiều góc độ thì người sử dụng lao động vẫn bị tổn thất một phần không hề nhỏ
1.2.3 Ảnh hưởng đến đời sống xã hội
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật không chỉ ảnh hưởng đến các chủ thể mà xã hội cũng bị tổn thất một phần Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật ngày càng gia tăng thì dẫn đến thất nghiệp ngày càng nhiều Hậu quả kế tiếp và nghiêm trọng hơn đó là tệ nạn xã hội gia tăng, đời sống chất lượng người dân đi xuống kéo theo đó là sự phát triển đất nước bị thụt lùi
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
2.1 Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần phải báo trước Tuy nhiên, việc chấm dứt này phải đảm bảo tuân thủ những quy định của Pháp luật tại Bộ Luật lao động được ban hành ngày 20/11/2019 Khi các bên kí với nhau bản giao kết hợp đồng lao động thì họ đã có sự dự tính trước về thời hạn của hợp đồng thì người lao động sẽ không được quyền tự ý đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn mà trừ trong các trường hợp
có căn cứ pháp luật mới được thực hiện hành vi này
Trang 8Theo pháp luật lao động hiện hành thì có 7 trường hợp người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 35- BLLD 2019:
- Trường hợp 1: Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc
hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này
- Trường hợp 2: Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời
hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này
- Trường hợp 3: Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có
lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động
- Trường hợp 4: Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc.
- Trường hợp 5: Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại
khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này
- Trường hợp 6: Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật
này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
- Trường hợp 7: Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung
thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động
Ngoài ra pháp luật Việt Nam hiện hành còn có 4 trường hợp cho phép người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động được quy định cụ thể khoản 1 Điều 35-BLLD 2019
như sau:
- Trường hợp 1: Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động
không xác định thời hạn
- Trường hợp 2: Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác
định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng
- Trường hợp 3: Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao
động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng
- Trường hợp 4: Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời
hạn báo trước được quy định theo quy định của Chính phủ( Điều 7 145/2020/NĐ-CP)
Bên cạnh bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động thì pháp luật Việt Nam không bỏ qua lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động Việc người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không báo trước sẽ ảnh hưởng đến người sử dụng lao động trong việc tìm người để thay thế Vì thế, pháp luật VIệt Nam quy định người lao động khi chấm dứt hợp đồng không báo trước được xem là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
2.2 Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
Trang 9Người sử dụng lao động được xem là vi phạm chấm dứt hợp đồng trái pháp luật với người lao động khi thực hiện sai các lý do và thủ tục khi chấm dứt hợp đồng lao động được pháp luật quy định cụ thể như sau:
Pháp luật lao động VN cho phép người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi có các lý do được quy định tại khoản 1 Điều 36-BLLD 2019 Nhưng khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong
trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:
Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn
Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ
12 tháng đến 36 tháng
Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này
Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được quy định theo quy định của Chính phủ( Điều 7 145/2020/NĐ-CP)
Ngoài ra pháp luật Việt Nam cũng quy định một số trường hợp người sử dụng lao
động không được phép đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động Theo Điều 37-BLLD 2019 quy định các trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
- Thứ nhất: Người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp
đang điều trị, điều dưỡng theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 36 của
Bộ luật này
Ví dụ: Công ty A không được đơn phương chấm dứt hợp đồng với người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn
- Thứ hai: Người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng và trường
hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý Theo quy định của pháp luật thì người lao động đang làm tại các doanh nghiệp, công ty sẽ có quyền được nghi hằng năm, nghỉ việc riêng nhưng phải có sự cho phép của người sử dụng lao động Vì vậy, nếu người sử dụng đơn phương chấm dứt hợp đồng trong trường hợp trên được coi là trái pháp luật
- Thứ ba: Người lao động nữ mang thai; người lao động đang nghỉ thai sản
hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi
Ví dụ: theo Điều 37, Bộ luật Lao động năm 2019 quy định người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động nữ mang thai; người lao động đang nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi Như vậy, công ty A không được đơn phương chấm dứt hợp đồng, việc công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng khi bạn đang mang thai là trái với quy định của pháp luật Công ty
có thể bị phạt 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi đơn
Trang 10phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do trên (điểm e, khoản 2, Điều 27, Nghị định 28/2020/NĐ-CP)
Việc đặt ra nguyên tắc này là hoàn toàn hợp lý Bởi vì dựa trên Luật Lao Động của pháp luật Việt Nam luôn đề cao việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động, đặc biệt là khi họ rơi vào hoàn cảnh bất lợi Người sử dụng lao động sẽ không thể lợi dụng những hoàn cảnh đó mà chấm dứt hợp đồng lao động
2.3.Hậu quả pháp lý của người lao động và người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.
2.3.1 Đối với người lao động
Theo Điều 43- BLLD 2019 thì khi vi phạm đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, người lao động phải chịu hậu quả pháp lý như sau:
Không được trợ cấp thôi việc
Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước
Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều
62 của Bộ luật này
2.3.2 Đối với người sử dụng lao động
Theo Điều 41- BLLD 2019 khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, người sủ dụng lao động phải chịu hậu quả pháp lý như sau:
- Thứ nhất: Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao
động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước
- Thứ ba: Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì
ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động
- Thứ tư: Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người
lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động