24 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH VIỆN TIỂU LUẬN NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG, ĐẶC TRƯNG CỦA CHÍNH SÁCH CÔNG ĐỀ XUẤT VÀ PHÂN TÍCH ÍT NHẤT 03 GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH ĐỂ NGƯỜI NÔNG DÂN VIỆT NAM THOÁT NGHÈO.
Trang 1VIỆN …
TIỂU LUẬN NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG, ĐẶC TRƯNG CỦA CHÍNH SÁCH CÔNG ĐỀ XUẤT VÀ PHÂN TÍCH ÍT NHẤT 03 GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH ĐỂ NGƯỜI NÔNG DÂN VIỆT
NAM THOÁT NGHÈO BỀN VỮNG
Họ tên học viên:……….
Mã số học viên:
Lớp:………., Khóa học:
Hà Nội - 2022
Trang 2II ĐỀ XUẤT VÀ PHÂN TÍCH ÍT NHẤT 03 GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH ĐỂ NGƯỜI NÔNG DÂN
2.1 Chính sách bảo vệ môi trường giúp người nông dân ViệtNam thoát nghèo bền vững 72.2 Chính sách hỗ trợ người nghèoNam thoát nghèo bền vững giúp người nông dân Việt 142.3 Chính sách an sinh xã hội giúp người nông dân Việt Namthoát nghèo bền vững 162.4 Chính sách thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ hàng nông sản của ViệtNam giúp người nông dân Việt Nam thoát nghèo bền vững 20
Trang 3Đảng và Nhà nước ta từ nhiều năm nay đã đưa xóa đói giảm nghèo, hỗ trợngười khèo vượt qua hoàn cảnh khó khăn là trách nhiệm của cả hệ thống chínhtrị phấn đấu không ai bị bỏ lại phía sau Đại hội XI là “Tập trung giải quyết vấn
đề việc làm và thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinhthần của nhân dân Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xãhội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo; cải thiện điều kiện chăm sócsức khỏe cho nhân dân” [2, tr.110] Chương trình giảm nghèo Việt Nam thuđược nhiều thành tựu, phần nào cải thiện đời sống vật chất và tinh thần củangười nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nôngthôn và thành thị, giữa các vùng dân tộc và các nhóm dân cư Những thành tựugiảm nghèo ở Việt Nam thời gian qua đã được quốc tế ghi nhận và đánh giá cao
Vì vậy, nghiên cứu vấn đề “Những vấn đề chung, đặc trưng của chính sách công Đề xuất và phân tích ít nhất 03 giải pháp chính sách để người nông dân Việt Nam thoát nghèo bền vững” làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn sâu sắc
Trang 4Chính sách công là ý chí chính trị của đảng cầm quyền, được thể hiện cụthể là các quyết sách, quyết định chính trị của nhà nước Các quyết định nàynhằm duy trì tình trạng xã hội hoặc giải quyết các vấn để xã hội, đáp ứng nhucầu của người dân Ý chí chính trị của đảng cầm quyển được cụ thể hóa thànhchính sách, thông qua đó thiết lập mối quan hệ giữa đảng, nhà nước với ngườidân Thông qua chính sách công đảng cầm quyền dẫn dắt các quan hệ trong xãhội theo định hướng của đảng Các cá nhân trong xã hội là những đối tượng trựctiếp thụ hưởng và thực hiện chính sách Vì vậy, chính sách chỉ có hiệu lực, hiệuquả thực sự khi được các cá nhân trong xã hội tiếp nhận và thực hiện Để đạtđược điều đó thì điều kiện tối thiểu là chính sách công phải minh bạch, ổn định,
dễ hiểu và vai trò chủ thể thực hiện chính sách công phải là công chúng, mặc dùngười khởi xướng chính sách là nhà nước
Trang 5Vai trò cơ bản của chính sách công thể hiện ở chỗ là công cụ hữu hiệu chủyếu để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, duy trì sự tồn tại vàphát triển của nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ người dân Dướigóc độ quản lý, quản trị quốc gia, nhà nước sử dụng chính sách công như mộtcông cụ quan trọng tác động vào các lĩnh vực đời sống xã hội để đạt được mụctiêu định hướng của nhà nước Ngoài vai trò cơ bản này, chính sách công còn cóvai trò cụ thể sau:
Thứ nhất, định hướng mục tiêu cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh
tế - xã hội Do chính sách phản ánh thái độ, cách xử sự của nhà nước đối với
một vấn đề công, nên nó thể hiện rõ những xu thế tác động của nhà nước lên cácchủ thể trong xã hội, giúp họ vận động đạt được những giá trị tương lai mà nhànước mong muốn Giá trị đó chính là mục tiêu phát triển phù hợp với những nhucầu cơ bản của đời sống xã hội Nếu các chủ thể kinh tế, xã hội hoạt động theođịnh hướng tác động của chính sách thì không những dễ dàng đạt được mục tiêuphát triển mà còn nhận được những ưu đãi từ phía nhà nước hay xã hội Điểu đó
có nghĩa là, cùng với mục tiêu định hướng, cách thức tác động của chính sáchcông cũng có vai trò định hướng cho các chủ thể hành động
Thứ hai, tạo động lực cho các đối tượng tham gia hoạt động kinh tế - xã hội theo mục tiêu chung Muốn đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
chung, nhà nước phải ban hành nhiều chính sách, trong đó mỗi chính sách lại cónhững cách thức tác động mang tính khuyến khích đối với các chủ thể thuộc mọithành phần như: miễn giảm thuế, tạo cơ hội tiếp cận với nguồn vốn có lãi suất
ưu đãi, ban hành những thủ tục hành chính đơn giản và các chế độ ưu đãi đặcbiệt khác, Sự tác động của chính sách công không mang tính bắt buộc, mà chỉkhuyến khích các chủ thể hành động theo ý chí của nhà nước Chẳng hạn, đểtăng cường đầu tư vào nền kinh tế, Nhà nước ta ban hành chính sách khuyếnkhích các chủ thể trong nước và nước ngoài tích cực đầu tư vào các ngành, lĩnhvực hay những vùng cần được ưu tiên phát triển
Thứ ba, phát huy mặt tích cực, đồng thời khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cạnh tranh và các
Trang 6quy luật thị trường khác đã thúc đẩy mỗi chủ thể trong xã hội đầu tư vào sảnxuấtkinh doanh, không ngừng đổi mới công nghệ nâng cao năng suất lao động, chấtượng sản phẩm, hạ giá thành hàng hóa và dịch vụ cung cấp cho xã hội Nhờ đó
mà cả xã hội và từng người dân, tổ chức đều được hưởnq lợi như: hàng hóa vàdịch vụ tăng về số lượng, đa dạng, phong phú về chủng loại, thương hiệu, mẫu
mã, chất lượng ngày càng tược nâng cao với giá tiêu dùng ngày càng rẻ Nhưng,
sự vận hành của thị trường cũng gây ra những tác động tiêu cực mà các nhà kinh
tế gọi là mặt không thành công hay mặt trái của thị trường như: độc quyền trongsản xuất cung ứng không đầy đủ hàng hóa công cộng, sự bất công bằng, chênhlệch giàu nghèo và thất nghiệp gia tăng, bất ổn định kinh tế vĩ mô, cá lớn nuốt cábé gây ảnh hưởng không tốt lên toàn xã hội và mỗi người dân Trong tình hình
đó, nhà nước phải sử dụng hệ thống chính sách công để giải quyết những vấn đềbất cập về kinh tế, khắc phục những thất bại của thị trường thông qua trợ cấp,cung ứng dịch vụ công cho người dân do các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị
sự nghiệp công hay hội, tổ chức phi chính phủ thực hiện
Thứ tư, tạo lập các cân đối trong phát triển Để kinh tế - xã hội phát triển
một cách ổn định bền vững, nhà nước phải dùng chính sách để tạo lập các cânđối vĩ mô cơ bản như cân đối giữa hàng - tiền, cung - cầu, xuất - nhập khẩu, tiếtkiệm - tiêu dùng, Đồng thời, nhà nước còn dùng chính sách để điều tiết đảmbảo cho sự phát triển cân đối giữa các vùng miền của đất nước
Thứ năm, kiểm soát và phân bổ các nguồn lực trong xã hội Nhà nước
luôn luôn quan tâm đến quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực cho pháttriển Mục tiêu phát triển bền vững bao gồm cả gia tăng về lượng và cải thiện vềchất trong hiện tại và tương lai, vì thế tài nguyên tự nhien và xã hội của mộtquốc gia là cái hữu hạn luôn trở thành vấn đề quan tâm chính yếu của nhà nước
Để sử dụng có hiệu quả tài nguyên theo hướng bền vững, nhà nước thông quacác chính sách thực hiện kiểm soát qué trình khai thác, sử dụng tài nguyên vàphân bổ hợp lý các nguồn lực trong xã hội, ví dụ như chính sách xây dựng vùngkinh tế mới, chính sách xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, chính sách đấtđai, chính sách thuế, chính sách bảo vệ tài nguyên, môi trường
Trang 7Thứ sáu, tạo môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế - xã hội.
Thông qua các chính sách, nhà nước tạo những điều kiện cần thiết để hình thànhmôi trường thuận lợi cho các chủ thể xã hội hoạt động như: chính sách phát triểnthị trường lao động, thị trường vốn, thị trường khoa học và công nghệ, thị trườngbất động sản, phát triển cơ sở hạ tầng
Các chính sách là công cụ đặc thù và không thể thiếu được mà nhà nước
sử dụng để quản lý kinh tế vĩ mô, chúng có chức năng chung là tạo ra nhữngkích thích đủ lớn cần thiết để biến đường lối chiến lược của đảng cầm quyềnthành hiện thực, góp phần thống nhất tư tưởng và hành động của mọi ngườitrong xã hội, đẩy nhanh và hữu hiệu sự tiến bộ của các hoạt động thuộc mục tiêu
bộ phận mà chính sách hướng tới và thực hiện các mục tiêu chung của phát triểnkinh tế quốc dân
Trong hệ thống các công cụ quản lý, các chính sách kinh tế là bộ phậnnăng động nhất, có độ nhạy bén cao trước những biến động trong đời sống kinh
tế - xã hội của đất nưốc nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc mà xã hội đặt ra.Thực tiễn nước ta và nhiều nước trên thế giới cho thấy phần lớn những thànhcông trong công cuộc đổi mới và cải cách kinh tế đều bắt nguồn từ việc lựa chọn
và áp dụng những chính sách kinh tế thích hợp, có năng suất cao để khai thác tối
ưu các lợi thế so sánh của đất nước về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, nguồnnhân lực, vốn, công nghệ, thị trường, kết cấu hạ tầng
Có một hệ thống chính sách kinh tế đồng bộ, phù hợp với nhu cầu pháttriển của đất nước trong từng thời kỳ lịch sử nhất định sẽ là bảo đảm vững chắccho sự vận hành của cơ chế thị trường năng động, hiệu quả Nhờ đó có thể khơidậy các nguồn tiềm năng, phát huy tính tích cực, sáng tạo vã ý chí vươn lên làmcho dân giàu, nước mạnh của tầng lớp dân cư Ngược lại, chỉ cần một chính sáchkinh tế sai lầm, sẽ gây ra phản ứng tiêu cực dây chuyền đến các chính sách kinh
tế khác, cũng như đến các bộ phận khác của cơ chế quảr lý kinh tế, làm giảmhiệu quả của các cơ chế quản lý kinh tế, triệt tiêu động lực của sự phát triển kinh
tế - xã hội
Trang 8Thứ bảy, thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cấp, các ngành Việc thực hiện các giai đoạn trong chu trình chính sách không chỉ và không thể do
một cơ quan nhà nước đảm nhiệm, mà cần có sự tham gia của nhiều cơ quanthuộc các cấp, các ngành khác nhau hay của nhiều tổ chức, cá mân Vì vậy,thông qua quá trình chính sách sẽ thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cơquan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các tầng lớp nhân dân, góp phầntạo nên sự nhịp nhàng, đồng bộ trong hoạt động thực thi chính sách công
1.2 Đặc trưng chính sách công
Một là, chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước Các cơ quan Nhà
nước là chủ thể ban hành chính sách công, bao gồm: Quốc hội, Chính Phủ, các
Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Chính quyền địa phương các cấp,… Các chính sách đều
do Nhà nước đề ra và tổ chức thực thi, các chính sách công của nhà nước giúpphát huy được sức mạnh nội tại của người dân và là động lực để phát triển kinh
tế xã hội, hiện đại hóa đất nước
Hai là, chính sách công có nhiều quyết định liên quan lẫn nhau Chính
sách công là một chuỗi các quyết định nhằm mục đích cuối cùng là giải quyếtmột vấn đề chính sách, do một hay nhiều cấp khác nhau trong bộ máy nhà nướcban hành trong một thời gian dài Một chính sách công được ban hành có thểchế hóa thành văn bản pháp luật để tạo căn cứ pháp lí cho các giai đoạn thực thisau này Đầu tiên, chính sách công thể hiện được dự định của nhà hoạch địnhchính sách, làm thay đổi hoặc duy trì một thực trạng nào đó Tiếp đó, chính sáchcông còn bao gồm các hành vi để thực hiện các dự định nói trên và đưa ra cáckết quả thực tế nhất
Ba là, chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề trong xã hội.
Không như các công cụ quản lý khác, thường là các kế hoạch, dự định, chiếnlược tổng quát về chương trình hành động bao gồm một hoặc nhiều lĩnh vựckinh tế xã hội, chính sách công sẽ tập trung giải quyết một hoặc một số vấn đềđang đặt ra
Có nghĩa là, không hẳn mọi mục tiêu đặt ra của chính sách công đều dẫntới hành động, mà có thể yêu cầu của chủ thể không được thực hiện Ví dụ chính
Trang 9sách thả nổi giá cả xác định việc Nhà nước sẽ không can thiệp vào quá trình lênxuống của giá cả, mà sẽ để chúng biến động tự nhiên theo cơ chế thị trường.
Bốn là, chính sách công tác động đến các đối tượng của chính sách Đối
tượng chính sách là những người chịu tác động hay hoạt động điều tiết của chínhsách Phạm vi điều tiết của chính sách có thể rộng hoặc hẹp tùy vào nội dungcủa từng chính sách
Năm là, chính sách công được nhà nước đề ra nhằm phục vụ lợi ích
chung của cộng đồng hoặc của quốc gia Thực tế, có nhiều tình trạng một chính
sách công không công bằng lợi ích cho từng nhóm dân cư, nhóm này thì đượclợi những nhóm kia thì không có hoặc thậm chí bị thiệt thòi
II ĐỀ XUẤT VÀ PHÂN TÍCH ÍT NHẤT 03 GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH ĐỂ NGƯỜI NÔNG DÂN VIỆT NAM THOÁT NGHÈO BỀN VỮNG
2.1 Chính sách bảo vệ môi trường giúp người nông dân Việt Nam thoát nghèo bền vững
* Chính sách bảo vệ môi trường ở Việt Nam
Một là, chủ thể ban hành chính sách bảo vệ môi trường là Nhà nước.
Trước bối cảnh mới của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, Ban Bí thưđang tập trung chỉ đạo tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 36/CT-Trung ương vàxây dựng dự thảo Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ môi trường,nhằm tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp bảo vệ môi trường, làm cơ sở cho sựphát triển đất nước bền vững Nhiều quan điểm mới của Đảng về phát triển bềnvững đang được cập nhật và quán triệt một cách sâu rộng tới các cấp ủy, chínhquyền các cấp, các tổ chức chính trị, xã hội và từng người dân
Ở nước ta, vấn đề bảo vệ môi trường từng bước được Đảng, Nhà nướcquan tâm thực hiện Năm 1993, Luật Bảo vệ môi trường được ban hành và được
bổ sung, sửa đổi năm 2020 Đây là văn bản quan trọng, tạo cơ sở pháp lý choviệc tổ chức thực hiện công tác bảo vệ môi trường Lần đầu tiên, các khái niệm
cơ bản có liên quan đến bảo vệ môi trường đã được xác định làm cơ sở cho việc
Trang 10vận dụng vào hoạt động quản lý môi trường Đồng thời, đây cũng là lần đầu tiênquyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức và cá nhân trong việc bảo
vệ môi trường được pháp luật quy định rõ ràng Trong đó, bảo vệ môi trườngđược hiểu là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành sạch đẹp, cải thiệnmôi trường, bảo đảm cân bằng sinh thái, ngăn chặn và khắc phục hậu quả xấu docon người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý vàtiết kiệm tài nguyên thiên nhiên Ngoài ra, các khái niệm về thành phần môitrường, chất thải, chất gây ô nhiễm, ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường,
sự cố môi trường, tiêu chuẩn môi trường, công nghệ sạch, hệ sinh thái, đa dạngsinh học, đánh giá tác động môi trường được giải thích rõ trong Luật Đồng thời,đây cũng là lần đầu tiên quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức
và cá nhân trong việc bảo vệ môi trường được pháp luật quy định
Hai là, chính sách bảo vệ môi trường có nhiều quyết định liên quan lẫn nhau Việc bảo vệ môi trường không những được quy định trong Luật Bảo vệ
môi trường, mà còn được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khácđiều chỉnh các hoạt động của con người khi tác động vào thiên nhiên, ảnh hưởngđến môi trường sống
Ngoài văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp việc bảo vệ môi trường nhưLuật Bảo vệ môi trường, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môitrường, xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường, Nhà nước ta cũngban hành văn bản pháp luật chung và chuyên ngành khác quy định nghĩa vụ bảo
vệ môi trường đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân hữu quan như: Luật Bảo
vệ và phát triển rừng (2004), Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân (1989), Pháp lệnh
về Thu thuế tài nguyên (1989), Pháp lệnh Bảo vệ đê điều (1989), Pháp lệnh Bảo
vệ nguồn lợi thuỷ sản (1989), Luật Đất đai (năm 2013), Luật Dầu khí (1993),Luật Khoáng sản (2010), Pháp lệnh An toàn và kiểm soát bức xạ (1996), LuậtTài nguyên nước (2012), Pháp lệnh Thú y (2004), Pháp lệnh Bảo vệ và kiểmdịch thực vật (2013) Liên quan đến lĩnh vực môi trường, những văn bản phápluật này quy định về đánh giá tác động môi trường trong hoạt động sản xuất,
Trang 11kinh doanh; nghĩa vụ bảo vệ môi trường trong quá trình nuôi trồng, khai thác vàchế biến thuỷ sản, trong hoạt động dầu khí, trong quá trình tham gia giao thông,xây dựng ; chế độ pháp lý trong việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyênphục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội Đồng thời các văn bản pháp luật này cũngquy định các nguyên tắc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước với
tư cách là bảo vệ sinh thái, môi trường Ngoài ra, pháp luật môi trường cũng xácđịnh rõ bảo vệ môi trường là một bộ phận cấu thành trong hệ thống kinh tế, xãhội và được kế hoạch hoá đồng bộ với kế hoạch hoá của các ngành kinh tế quốcdân khác [3, tr.20]
Pháp luật nước ta quy định có hai hình thức xử phạt hành vi vi phạm tronglĩnh vực bảo vệ môi trường là cảnh cáo và phạt tiền Ngoài ra, cá nhân, tổ chức
vi phạm có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả: buộcthực hiện có thời hạn các biện pháp bảo vệ môi trường do cơ quan quản lý nhànước về bảo vệ môi trường yêu cầu; buộc thực hiện các biện pháp khắc phụctình trạng ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường do hành vi vi phạm gây ra; buộcđưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm gây ônhiễm môi trường; buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường
Nhìn chung, cho đến nay, hệ thống pháp luật về môi trường ở nước ta đãđiều chỉnh tương đối đầy đủ các thành tố tạo nên môi trường Hệ thống các tiêuchuẩn của môi trường cũng đã được ban hành làm cơ sở cho việc kiểm soát,đánh giá tác động môi trường Các văn bản pháp luật được ban hành đã tạo cơsở pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, nâng cao nhậnthức của cơ quan nhà nước, tổ chức, công dân đối với vấn đề môi trường Nước
ta cũng đã tham gia các công ước, hiệp định quốc tế về môi trường; đẩy mạnhhợp tác song phương và đa phương với các nước trong và ngoài khu vực về bảo
Trang 12nhiên, bắt đầu nảy sinh từ sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, tiếp tụcgia tăng trong suốt thời gian qua và đến nay đã tới mức báo động, đe dọa sự tồnvong của Trái đất Do vậy chính sách bảo vệ môi trường nhằm giải quyết vấn đềmôi trường ở nước ta.
Tư duy sai lầm của con người khi tự cho mình là chủ nhân của Trái đất, cóthể cải tạo và chinh phục tự nhiên, đã khai thác vốn tự nhiên một cách kiệt quệ
và không thương tiếc Để giải quyết những vấn đề này phải đổi mới tư duy vàhành động; các mô hình phát triển kinh tế - xã hội cần được dựa trên tư duy vàđạo đức sinh thái trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa Quan điểm tôn trọng
và sống hài hòa với thiên nhiên, phát triển dựa trên hệ sinh thái phải trở thànhtriết lý cho mục tiêu phát triển bền vững và giải quyết tận gốc các vấn đề suythoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường hiên nay [1, tr.90]
Hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường: Hoàn
thiện hệ thống thể chế, chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, như: Luậtbảo vệ môi trường sửa đổi và các văn bản hướng dẫn đảm bảo tính đồng bộ,thống nhất với các pháp luật khác đáp ứng kịp yêu cầu phát triển Đất nước vàhội nhập quốc tế (đặc biệt, phù hợp với các Hiệp định thương mại tự do thế hệmới mà Việt Nam đã ký kết, thông lệ quốc tế để giải quyết các vấn đề môitrường xuyên biên giới); quy định quản lý chất thải rắn theo hướng thống nhấtquản lý nhà nước chất thải rắn trên phạm vi cả nước và Ủy ban nhân dân cấptỉnh chịu trách nhiệm toàn diện về xử lý rác thải trên địa bàn; pháp luật về xửphát vi phạm về bảo vệ môi trường theo hướng tăng tính nghiêm minh và dănđe; hệ thống quy định về bảo vệ môi trường để chủ động phòng ngừa, ngăn chặncác xung đột, tranh chấp về môi trường gây mất ổn định chính trị, an ninh trật tự
xã hội; quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia và cấp tỉnh, quốc gia
và các quy hoạch khác liên quan; hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường quốcgia trên quan điểm áp dụng mức quy chuẩn, tiêu chuẩn tương đương các nướctiên tiến phát triển nhằm thiết lập hàng rào kỹ thuật duy trì và bảo vệ chất lượngmôi tường, đảm bảo chủ động đề kháng trước các nguy cơ ô nhiễm môi trường,
Trang 13dịch chuyển công nghệ lạc hậu vào Việt Nam Xây dựng và phát triển các công
cụ kinh tế trong quản lý môi trường phù hợp với điều kiện Việt Nam
Để giải quyết vấn đề môi trường, chính sách về môi trường hướng tới mục
tiên tăng cường nguồn nhân lực và năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường các cấp: Ưu tiên đầu tư phát triển nguồn nhân lực đủ mạnh và tăng
cường năng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường từ Trung ương đến địaphương đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Xây dựng và kiện toàn
cơ cấu tổ chức của các cơ quan Trung ương và địa phương để đảm bảo thực hiệnthống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường hiệu lực, hiệu quả Chú trọngcông tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ, kỹ năng quản lý cho đội ngũ cán bộ quản lý môi trường các cấp
Bốn là, chính sách bảo vệ môi trường tác động đến các đối tượng của chính sách Các đối tượng của chính sách bảo vệ môi trường rất rộng, liên quan
đến mọi cấp, mọi ngành, các tổ chức, doanh nghiệp… và toàn thể người dân.Bảo vệ môi trường không chỉ đơn thuần là công việc của Đảng, Nhà nước, củamột cơ quan hay tổ chức nào mà đó là trách nhiệm của toàn dân, toàn xã hội.Môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là nhân tố quan trọng hàng đầu
để bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân, do đó mọi đốitượng trong xã hội từ người già đến trẻ nhỏ, từ tổ chức đến cá nhân, từ người sảnxuất đến người tiêu dùng đều có quyền và nghĩa vụ trong việc giữ gìn và bảo vệmôi trường Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Mọi người có quyền được sốngtrong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” Quy định nàyghi nhận quyền và nghĩa vụ về bảo vệ môi trường của công dân, tạo cơ sở hiếnđịnh cho việc xác lập quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ môi trường vì lợi íchcủa thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau
công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và
toàn xã hội Đây là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ
trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơsở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công