1 Từ cơn giận đến lời ca tụng Không hiếm khi Lời Chúa gây thắc mắc cho người đọc, câu 11 trong thánh vịnh 76(75) là một ví dụ điển hình “Cả cơn giận phàm nhân cũng thành lời ca tụng” Một độc giả, cha[.]
Trang 1Từ cơn giận đến lời ca tụng
Không hiếm khi Lời Chúa gây thắc mắc cho người đọc, câu 11 trong
thánh vịnh 76(75) là một ví dụ điển hình : “Cả cơn giận phàm nhân
cũng thành lời ca tụng” Một độc giả, cha Phêrô Phan Văn Lợi, một
người bạn đáng kính đã đặt câu hỏi như dưới đây cho Nhóm Phiên
dịch Các Giờ Kinh Phụng vụ Vì biết không chỉ có cha mới thắc
mắc, nên cha đã đồng ý cho Nhóm đăng đoạn thư của cha cùng với
bài trả lời của Nhóm dưới đây
De : Phan Van Loi <witness2005@gmail.com>
Date : dim 16 aout 2020 à 21 :54
Subject : Hỏi một câu trong Thánh vịnh
To : Tinh Nguyen Ngoc <pascaltinh2011@gmail.com>
Kính thưa Cha,
Kinh Trưa hôm nay (Chúa nhật 20 TN, Thánh vịnh tuần IV), có một câu con thắc mắc hoài trong Thánh vịnh 75(76) Đó là câu 11 : “Cả cơn giận phàm nhân cũng thành lời ca tụng Kẻ thoát lôi đình sẽ mở hội mừng Ngài” Cơn giận phàm nhân nghĩa là sao ? Chẳng lẽ Thiên Chúa có điều gì khiến con người phải nổi giận, đang khi “Tự chốn trời cao, Ngài tuyên án : Trái đất này kinh hãi lặng yên” (câu 9)
Con tra trong CHRITIAN COMMUNITY BIBLE (Fifth Edition) thì thấy dịch như thế này : “Pagan nations will bring you praise, their survivors will celebrate your name” Con thấy lối dịch này dễ hiểu hơn, ít gây thắc mắc hơn… Con xin cảm ơn Cha trước về sự hồi âm của Cha và Quý Nhóm
Con, Phêrô Phan Văn Lợi
Trả lời
“ CƠN GIẬN PHÀM NHÂN” (x Tv 76,11) Cha Phê-rô Phan văn Lợi có gởi đến chúng tôi thắc mắc như sau :
Kinh Trưa hôm nay (Chúa nhật 20 TN, Thánh vịnh tuần IV), có một câu con thắc mắc hoài trong Thánh vịnh 75(76) Đó là câu 11 : “Cả cơn giận phàm nhân cũng thành
lời ca tụng Kẻ thoát lôi đình sẽ mở hội mừng Ngài” Cơn giận phàm nhân nghĩa là
Trang 2sao ? Chẳng lẽ Thiên Chúa có điều gì khiến con người phải nổi giận, đang khi “Tự chốn trời cao, Ngài tuyên án : Trái đất này kinh hãi lặng yên” (câu 9)
Con tra trong CHRISTIAN COMMUNITY BIBLE (Fifth Edition) thì thấy dịch như thế này : “Pagan nations will bring you praise, their survivors will celebrate your name” Con thấy lối dịch này dễ hiểu hơn, ít gây thắc mắc hơn Là nhân vật lớn trong Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ, Cha nghĩ sao ? Con xin cảm ơn Cha trước về sự hồi
âm của Cha và Quý nhóm
Thay vì đi thẳng vào vấn đề, chúng tôi xin cùng với cha Phê-rô đọc lại Tv 76 :
Mi ền Giu-đa nức tiếng Chúa Trời, tại Ít-ra-en, danh Người cao cả
Chú a đã cắm lều ở Sa-lem, núi Xi-on là nơi Chúa ngự
Chính t ại đó, Người bẻ gãy cung tên, khiên mộc gươm đao, mọi võ khí
L ạy Chúa, Ngài quả là lẫm liệt oai hùng, vì chiến lợi phẩm thu về từng núi, đoạt của lớp anh hùng mê mệt ngủ say và đoàn dũng sĩ cánh tay rời rã
Lạy Chúa nhà Gia-cóp, Chúa thị uy là ngựa xe đứng liền tại chỗ
Qu ả thật Ngài đáng sợ ! Trong lúc Ngài nổi trận lôi đình, nào ai đứng vững
t rước Thánh Nhan ?
T ự chốn trời cao, Ngài tuyên án : trái đất này kinh hãi lặng yên,
khi Chúa Tr ời đứng lên xét xử, cứu mọi kẻ nghèo hèn chốn dương gian
C ả cơn giận phàm nhân cũng thành lời ca tụng, kẻ thoát lôi đình sẽ mở hội
m ừng Ngài
Hãy kh ấn nguyền và giữ y lời hứa với CHÚA là Thiên Chúa các ngươi Kẻ hầu
c ận Đấng khả tôn khả uý hãy đem lễ vật tiến dâng Người
Người đập tan khí thế bao thủ lãnh, gây kinh hoàng cho vua chúa trần gian
I Chuy ện dài nhiều tập
Hơn 48 năm trước, một người trong chúng tôi đã viết những dòng này :
“ v ấn đề quan trọng là làm sao cho có một bản dịch vừa trung thành với nguyên
ng ữ, vừa xuôi tiếng Việt, vừa có tiết điệu và âm thanh dễ nghe, có thú vị nữa, tiện dụng cho vi ệc đọc chung
nguyên quán c ủa Thánh vịnh là xứ Palestin, cách chúng ta hàng mấy ngàn cây
số ; về thời gian, các Thánh vịnh “già” chừng từ 2.000 tới 3.000 năm
ta g ặp thấy trong các Thánh vịnh những kiểu nói lạ tai như : sừng cứu rỗi, dầu hoan l ạc, cánh tay phải Thiên Chúa hay những chữ thật khó dịch cho hết nghĩa như
c ặp misericordia et veritas (nhân nghĩa và thành tín ? từ bi và chân lý ? tình yêu và sự
th ật ?), justitia (công chính, đức công bình ?) ; hay những tên xa lạ như Moab, Êdom, Sirion v v Đọc những chỗ đó, ta có cảm tưởng như lạc vào một thế giới khác, ta thấy khó hi ểu và tự hỏi những cái đó có ăn nhằm gì với chúng ta bây giờ và ở đây
Trang 3N ếu chỉ có thế thôi, có lẽ cũng còn được Nhưng trong Thánh vịnh chúng ta con
v ấp phải những lời lẽ không phù hợp với lương tâm Ki-tô hữu chúng ta thấy tác giả nhi ều khi có những lời lẽ đầy căm giận oán hờn với thù địch : nào là rủa chúng bị trăm ngàn tai h ọa, bị tiêu diệt, nào là ước nguyện được “rửa chân trong máu kẻ gian tà” v v ”1
Chính vì thế chúng tôi không lấy làm lạ mỗi khi có người hỏi thăm những chỗ khó hiểu trong bản dịch mà chúng tôi đã thực hiện Không phải để kể khổ, nhưng chúng tôi cũng muốn giãi bày thế này Ngày từng ngày thực hiện công việc dịch thuật Kinh Thánh, chính chúng tôi, nhiều thế hệ xưa cũng như nay, vẫn liên tục cùng nhau học và
hỏi : “ X nghĩa là sao ?”
II T ừ gợi ý của Cha Phê-rô
1 Hỏi : Cơn giận phàm nhân nghĩa là sao ?
Cụm từ ם ָד ָא ת ַמֲח gồm có hai danh từ : (1) ה ָמֵח là danh giống cái, số ít, trạng thái kết cấu Dịch sát là “cơn giận của”2 ; (2) ם ָד ָאlà danh từ giống đực, số ít, trạng thái tuyệt đối Dịch sát là “A-đam, phàm nhân, con người, loài người, nhân loại” Chính vì thế trong bản KPA3, CGKPV đã dịch cụm từ ם ָד ָא ת ַמ ֲח là “cơn giận phàm nhân.4” Về hình thái từ ngữ, trình bày như trên chắc cũng đã đủ Còn “cơn giận phàm nhân nghĩa là sao” thì xin
cứ bình tâm đọc đến phần cuối bài viết này
1 T RẦN P HÚC N HÂN A., “Học hỏi Thánh Vịnh”, Học hỏi Thánh Vịnh để cầu nguyện, Nhà Chúa 26 (tháng 4-1972) tr 188-199
2 “Cơn giận” của E-xau (x St 27,44) ; “cơn nóng giận” của người chồng (Cn 6,34) ; “cơn giận” của
k ẻ áp bức (Is 51,13) ; “cơn giận” của đức vua (2Sm 11,20 ; Et 2,1 ; Cn 16,14) ; “cơn lôi đình, cơn
ph ẫn nộ, cơn thịnh nộ” của ĐỨC CHÚA (Is 51,20 ; 6,11 ; 2V 22,13 ; 2Sb 34,21 ; 36,16) ; “nọc độc” (x Đnl 32,24.33 ; Tv 58,5 ; 140,4) ; “sức nóng, cơn nóng” (x Hs 7,5) Cũng cần lưu ý, khi đọc những thủ bản không có nguyên âm, người đọc sẽ không thấy sự khác biệt của hình thái danh
t ừ này với tên thành hay địa danh Kha-mát (x Ds 34,8 ; Gs 13,5 ; Tl 3,3 ; 2Sm 8,9 ; 1V 8,65 ; 2V 14,25.28 ; 17,30 ; 18,34 ; 19,13 ; 23,33 ; 25,21 ; 1Sb 13,5 ; 18,9 ; 2Sb 7,8 ; 8,3 ; Is 10,9 ; 36,19 ; 37,13 ; Gr 39,5 ; 49,23 ; 52,9.27 ; Ed 47,16.17.20 ; 48,1 ; Am 6,2 ? 6,14 ; Dcr 9,2)
3 KPA là B ản Dịch Kinh Thánh trọn bộ do Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ thực hiện với
nh ững tiêu chí như : (1) trung thành với nguyên ngữ ; (2) xuôi tiếng Việt ; (3) có tiết điệu và âm thanh dễ nghe, có thú vị ; (4) tiện dụng cho việc đọc chung Hiện nay Nhóm vẫn đang thực hiện bản KPB với các tiêu chí của một bản dịch được dùng để nghiên cứu học hỏi Chúng tôi đã hoàn
t ất phần lớn, đang phát hành từng phần với số lượng hạn chế để phục vụ cho việc nghiên cứu của
nh ững ai có nhu cầu Hy vọng có thể ra mắt bản dịch Kinh Thánh trọn bộ trong tương lai không
xa
4 D ị bản : ה ָמ ָדֲא ה ָת ְמָח (đất giận dữ) hoặc םֹדֱא ˊח (giận đỏ mặt)
Trang 42 Thắc mắc : Chẳng lẽ Thiên Chúa có điều gì khiến con người phải nổi giận, đang khi “Tự chốn trời cao, Ngài tuyên án : Trái đất này kinh hãi lặng yên” (câu 9)
Trước khi trả lời, tưởng cũng cần chia câu trên làm hai vế : (vế 1) chẳng lẽ Thiên Chúa có điều gì khiến con người phải nổi giận ; (vế 2) đang khi “Tự chốn trời cao, Ngài tuyên án : Trái đất này kinh hãi lặng yên.”
Cứ sự thường thì vế 2 được hiểu như mệnh đề trạng ngữ chỉ thời gian : “khi” hoặc
“đang khi” Chúa tuyên án và trái đất này kinh hãi lặng yên Còn vế 1 là vế chính Nhưng thật khó để hiểu cho đúng về điều mà vế chính này thực sự muốn nói Hai chữ
“chẳng lẽ” cho phép người đọc hiểu những gì được viết ra tiếp theo là lời bàn, thảo luận (deliberative) hoặc hỏi han với ý ngờ vực Trong trường hợp này, các ngôn ngữ
Âu Châu gốc Hy-lạp và La-tinh thường chia động từ ở subjunctive Lại nữa, người đọc cũng không thấy được sự liên kết mạch lạc giữa hai vế của ý kiến trên Phải chăng cha Phê-rô muốn đưa ra một lập luận như sau : “Một khi Thiên Chúa đã tuyên án từ trời cao thì trái đất này chỉ còn cách là câm mồm, run rẩy, khiếp kinh Dẫu vậy, Thiên Chúa
có điều gì khiến con người phải nổi giận ?”
Nêu lên vấn đề “chẳng lẽ Thiên Chúa có điều gì khiến con người phải nổi giận” thì người nghe cũng có thể hiểu đấy là một khẳng định : Thiên Chúa nhân lành chẳng làm điều gì khiến con người phải nổi giận Hoặc là nếu Thiên Chúa có làm chi khiến con người nổi giận thì đấy cũng cũng là vì lòng thương xót mà thôi Người Việt hay nói : “yêu cho roi cho vọt ; thuốc đắng dã (đã, đả) tật.” Trên bình diện ngữ học, kiểu nói này có thể được xếp vào trường hợp được gọi là “epistemic modality.” Quả thực, nếu ai cũng nghĩ như vậy thì hay quá Và sẽ còn tốt hơn nữa nếu mọi người dù ở trong hoàn cảnh nào, dù có cảm thấy mình oan khiên thế nào đi nữa, cũng đều ca tụng Chúa, cũng mở hội mừng Thiên Chúa thay vì giận hờn một cách vô ích Tóm lại, khi viết
“chẳng lẽ Thiên Chúa có điều gì khiến con người phải nổi giận,” phải chăng cha
Phê-rô cũng khéo léo đề nghị rằng nên xem lại chủ thể của “cơn giận” ấy là ai Cách nói này ngữ học gọi là “deontic modality.” Nếu vậy, để công tâm bàn bạc vấn đề, chúng ta cùng tham khảo một vài bản dịch
Trước hết, từ ngữ Híp-ri theo mặt chữ thiết tưởng cần được tôn trọng hết sức có thể “Cơn giận của phàm nhân” là “cơn giận của con người,” thế thôi ! Rất nhiều bản dịch xưa nay vẫn hiểu theo nghĩa này : ἐνθύμιον5 ἀνθρώπου (LXX) ; cogitatio/ira
5 Để dịch danh từ “ה ָמֵח,” LXX đã dùng danh từ “ἐνθύμιον” (tư duy, tư tưởng, suy xét, ý nghĩ, ý kiến, khái ni ệm, quan niệm, tâm tư, tâm hồn, tinh thần, tâm tính, thâm tâm ) Các dịch giả LXX ra như
đã chải chuốt từ ngữ hơn khi chọn danh từ “ἐνθύμιον,” bao gồm giới từ “ἐν = trong” và danh từ
“θυμός = cơn giận, nọc độc, nhiệt tâm, đam mê, ái tình ” (x St 27,44 ; 49,6.7 ; Xh 11,8 ; 15,8 ;
Cn 6,34 ; 20,2 ; Lv 26,24 ; 2V 24,3 ; 2Mcb 4,25 ; 4Mcb 2,20 ; Gv 7,3 ; Is 51,17 ; G 6,4 ; 20,16) Như vậy, tuy dùng một từ ngữ bóng bảy hơn, nhưng các dịch giả LXX vẫn cố giữ cái nghĩa chính
c ủa từ vựng Híp-ri là “ה ָמֵח = θυμός = cơn giận.”
Trang 5hominis (VUL/Nova VUL) ; the wrath of man (NAS ; ESV ; NAB) ; la collera dell’uomo (CEI) ; la fureur des hommes (TOB) ; la colère de l’homme (FBJ) ; la cólera humana (PER) ; ira humana (ARA) ; der Grimm des Menschen (ELB) ; der Zorn des Menschen (SCL) ; ِنﺎَﺴْﻧِﻹا ﺐَﻀَﻏ (AVD) ; 人の憤り (JAS) ; 人の怒り (KOG) ; 人的忿
怒 (CNV) Cha Nguyễn Thế Thuấn dịch hẳn ra là “phàm nhân tức tối” (NTT) ; Bản dịch Truyền Thống của anh em Tin Lành cũng dịch là “cơn giận loài người” (VIE) Và
Cố Chính Linh (Albert Schlicklin) cứ bản Vulgata mà dịch toàn câu 11 là “Ý tưởng 5F
6
loài người sáng danh Chúa ; lo tưởng đã đoạn, mừng lễ Người.”
Thứ đến, ta cũng cần xét đến thông điệp thực sự của từ ngữ, tức là thử hỏi xem
“cơn giận phàm nhân nghĩa là sao ?” Một từ vựng, cụm từ, mệnh đề, câu văn luôn hàm chứa những ý nghĩa minh nhiên và mặc nhiên Các dịch giả hẳn cũng xem xét, đắn đo rồi tùy theo mục đích mà chọn lựa ưu tiên dịch sát chữ hay sát ý Có điều, ý nghĩa được chọn lựa đó có phải là ý định của bản văn gốc hay không ? Chúng ta cùng tiếp tục tham khảo một số chọn lựa của các bản dịch không dịch sát chữ
Bản dịch New International Version 2011 dịch là Tv 76,11 là “your wrath against mankind brings you praise = cơn giận của Ngài đập vào phàm nhân vẫn ca tụng Ngài.”
Về mặt văn phạm, rất có thể các dịch giả NIV đã áp dụng điểm văn phạm năng gọi là
“objective genitive”7 Và khi chọn dịch theo ý này, các dịch giả phải thêm thắt, diễn dịch cho câu văn tròn nghĩa Dịch ra là “your wrath” tức chỉ ra sở hữu chủ của cơn giận
là Thiên Chúa, thế nhưng bản Híp-ri không có những chữ “your.” Vấn đề là tại sao họ lại dịch như vậy ? Theo chỗ chúng tôi tìm hiểu, rất có thể các dịch giả NIV đã dựa trên bản dịch Targum Bản dịch Targum có ghi : “ךמע לע זגר תנא דכ – khi Ngài nổi giận trên dân Ngài.” Như chúng ta đã biết, bản Targum được tổng hợp lại trong khoảng thế kỷ II-V Công Nguyên Trên phương diện phê bình bản văn, trong trường hợp này, chúng tôi không chọn lựa bản dịch Targum như một chỗ dựa vững chắc nhất cho các bản dịch của mình
Một bản dịch tiếng Nga cũng cho thấy nhiều điểm khác lạ về Tv 76,11 : “гневе Ты попираешь людей, на уцелевших — вооружился Ты яростью ! = Trong cơn giận, Ngài giày xéo lên dân, trong số còn sót lại – Ngài vũ trang trên Mình bằng cơn thịnh nộ !” (CRV) Chúng ta biết rằng Nga là nước sở hữu nhiều thủ bản Sách Thánh rất cổ xưa và
Cũng chính vì dựa trên LXX mà bản VUL đi hơi xa khi dịch danh từ “ἐνθύμιον” thành “cogitatio” trong khi Nova Vulgata dùng hẳn từ “ira.” Tình cảm mà nói, danh từ Hy-lạp “ἐνθύμιον” cũng rất thâm thúy khi di ễn tả cơn giận gắn liền với vòng luẩn quẩn của nghĩ suy, tâm tư nơi thâm sâu tâm
h ồn
6 Ibid
7 Theo đó danh từ thứ nhất ngụ ý một hành động xảy ra cho ai (danh từ thứ hai), nhắm đến ai, vì ai
ho ặc chống lại ai đó (x Cn 20,2 ; Am 8,10 ; Ov 10 ; St 24,8 ; Tv 56,13 ; Gr 50,28 ; Đnl 4,31 ; Is 32,2 )
Trang 6khá trọn vẹn Tuy nhiên, dựa vào thủ bản nào, hay “ý thức hệ nào” để họ dịch như thế thì thú thật là quá tầm tìm hiểu của chúng tôi !
Một bản dịch tiếng Tây Ban Nha cũng khá đặc biệt Tv 76,11 được dịch là “La cólera humana los trituta, a los supervivientes de la cólera los rodeas = Cơn giận của con người nghiền nát họ, còn những người sót lại của cơn giận, Ngài bọc quanh” (PER) Chúng tôi hiểu rằng, rất có thể các dịch giả PER đã chọn nghĩa của động từ הדי là “ném, bắn, phóng, quăng, liệng, đổ, đá, đánh gục, đánh ngã ” Tuy nhiên chúng tôi không thấy được thuyết
phục vì hai lý do : (1) hình thái động từ này trong Tv 76,11 là ở dạng hiphil-yiqtol (ca tụng) chứ không phải ở dạng qal hay piel (quăng quật) ; (2) hậu tố của động từ ָךֶּדוֹתּ ở ngôi
thứ hai số ít chứ không phải là ngôi thứ ba số ít
Một cách uyển chuyển hơn, bản dịch tiếng Đức (EIN) đã dịch Tv 76,11 là “Denn auch der Mensch voll Trotz muß dich preisen und der Rest der Völker dich feiern = Vì
cả người bướng bỉnh cũng phải ca ngợi Ngài và số còn sót lại của dân sẽ mừng kính Ngài” Chúng tôi cảm thấy bản dịch này thuyết phục hơn Tuy nhiên, theo chỗ chúng tôi đấy chỉ là một khả thể Vì không muốn làm mất đi một ý nghĩa khả dĩ nào của bản văn gốc nên sau khi tham khảo một số bản dịch, chúng tôi đã chọn lựa theo ý nghĩa được phần đông bản dịch cổ ngữ lẫn sinh ngữ chọn lựa : “cả cơn giận phàm nhân cũng thành lời ca tụng “ Riêng đại từ “Ngài” chúng tôi chuyển xuống ở cuối câu
3 Đề nghị : Con thấy lối dịch này dễ hiểu hơn, ít gây thắc mắc hơn : “Pagan nations will bring you praise, their survivors will celebrate your name”
Khi dịch Kinh Thánh thường thì ai cũng phải khổ công nghiên cứu, tham khảo, xem xét kỹ lưỡng, nhất là những trường hợp khó Nhưng khi phải đưa ra quyết định
cuối cùng, đôi khi chúng ta đành phải khiêm nhường chọn lựa một giải pháp ít rủi ro nhất, một lối diễn đạt theo khả năng mà chúng ta nhận định là tốt nhất Các thành viên NPD CGKPV cũng luôn cùng nhau (không bao giờ dịch một mình) thực hiện các bản
dịch Kinh Thánh theo tinh thần này Chúng tôi luôn trân trọng các bản dịch và cũng trân trọng chọn lựa của độc giả
Về chọn lựa của cha Phê-rô, chúng tôi cũng thấy bản dịch quả thật có dễ hiểu hơn Tuy nhiên dễ hiểu quá so với bản gốc thì thường cũng bị nghi ngờ là bản dịch có thể
đã giảm bớt sự trung thành với bản gốc Về mặt kỹ thuật, bản văn khó được ưu tiên hơn bản văn dễ Đấy là nguyên tắc “lectio difficilior potior.” Nếu cùng một nội dung như nhau, bản văn ngắn thường là bản văn ra đời trước một bản văn dài Đấy là nguyên
tắc “lectio brevior”
Trường hợp mà cha Phê-rô đã tham khảo từ CHRISTIAN COMMUNITY BIBLE (CCB - Fifth Edition), chúng tôi nghĩ rằng bản dịch này có lẽ đã dựa trên bản dịch Targum và cũng cố gắng diễn dịch cho thật gần với bản Híp-ri Như chúng ta đã biết,
Trang 7khác với các bản dịch thuộc nhóm Targum Onkelos, các bản dịch Targum khác8thường vừa dịch vừa ghi thêm các lời giải thích (như những chữ để nghiêng trong bản dịch Targum tiếng Việt dưới đây) Và đôi khi vì bản dịch quá mượt mà nên dẫn đến tình trạng người đọc không biết đâu là những từ ngữ của bản gốc đâu là những dòng chú
giải thêm vào sau Với Tv 76,11, các dịch giả CCB có thể đã bị chi phối bởi từ ngữ (vd pagan, your name) và những giải thích có chủ ý của bản dịch Targum Từ những
gợi ý của bản dịch Targum, các dịch giả CCB có thể đã diễn dịch cho vắn gọn, dễ hiểu
và cố gắng “nắn lại” cho gần hơn với bản gốc Híp-ri Vả lại khi dùng cụm từ “pagan nations” (םע hay םמע trong tiếng A-ram có thể hiểu là gentiles) và “your name” (ךמשׁ), cũng rất có thể các dịch giả CCB cũng khảo cứu hai thánh vịnh Xi-on có nội dung rất gần với Tv 76 : (1) “Muôn dân náo động, muôn nước chuyển lay, tiếng Người vang lên
là trái đất rã rời Đấng gieo kinh hãi trên mặt địa cầu Người chấm dứt chiến tranh trên toàn cõi thế, cung tên bẻ gãy, gươm giáo đập tan, còn khiên thuẫn thì quăng vào
lửa ” (x Tv 46) ; (2) “Danh thánh Chúa gần xa truyền tụng, tiếng ngợi khen Ngài khắp cõi lừng vang Tay hữu Chúa thi hành công lý, khiến núi Xi-on tưng bừng hoan
hỷ ; thành thị miền Giu-đa hớn hở nhảy mừng vì những điều Ngài đã phán quyết.” (x
Tv 48)
Tưởng cũng nên biết rằng, cha Bernard Hurault, người đã giúp Alberto Rossa thực
hiện phiên bản dịch thuật tiếng Anh mà cha Phê-rô trích dẫn (CCB), đã dịch Tv 76,11 trong bản dịch tiếng Pháp như thế này, “La fureur des hommes tournera à ta gloire, ceux qui échappent à ta fureur te rendront grâce.9“ Dù sao đi nữa, chúng tôi luôn trân trọng chọn lựa của các bản dịch Nhân tiện bàn về bản dịch CCB chúng tôi cũng thử trình ra bản đối chiếu sau đây để phần nào hiểu được chọn lựa của các dịch giả :
ם ָד ָא ת ַמֲח־י ִכּ
10 ָךּ ֶדוֹתּ ךמע לע זגר תנא דכ ןוהילע םיחרמ תנא
ךמשׁל ןודוי ןוניהו איחתירד אראשׁו
Khi Ngài nổi giận với dân Ngài, Ngài bi ểu lộ tình thương cho h ọ, và họ sẽ cảm tạ Danh
Ngài ; nhưng số còn sót lại của
Pagan nations will bring you praise,
8 Ví d ụ như bản dịch Targum Neofiti
9 Vì không có trong tay cùng lúc c ả bốn bản hiệu đính tiếng Anh CCB và các bản hiệu đính tiếng Pháp ( ?) nên chúng tôi không biết bản tiếng Pháp sau cùng có, đã hoặc sẽ sửa theo CCB (Fifth Edition -
2012) hay không Trong khi đó, bản điện tử tiếng Pháp hiện nay (http ://www.bibledespeuples.org/Livres/index.html ?Liv=Ps) vẫn giữ nguyên cách dịch cũ như ấn
b ản 1998 Hai anh em cha Hurault là người pháp, thế nên theo chỗ chúng tôi, bản dịch tiếng Pháp và các chú thích hẳn có một thế giá đáng bàn hơn là phiên bản tiếng Anh x HURAULT B and H URAULT
L., La Bible des peuples, 1998
10 D ị bản :ד ַרוּתּ (siết chặt)
Trang 811 תי ִר ֵא ְשׁ
תֹמֵח12רֹגּ ְח ַתּ אזגור ןמ ךל ורייתשׁיאד זירזת אתזיגר יד
אלבחל
1
אימע
2
איממע ףוקתי דכ םורא (את)
ךמע לע ךזגור
ןובותי
ךמשׁל ןודויו
cơn thịnh nộ được để lại cho Ngài, thoát khỏi cơn giận mà Ngài đã biểu lộ, Ngài sẽ thắt
chặt để tiêu diệt các dân ngoại,
h ọ sẽ trở lại và tuyên xưng danh Ngài 13
their survivors will celebrate your name14
III Thánh V ịnh 76
1 Khung cảnh lịch sử và văn thể
Thánh vịnh 76 thuộc nhóm Thánh vịnh vãn ca Xi-on : đề cao Giê-ru-sa-lem thành thánh, nơi Chúa ngự Trong khung cảnh chiến thắng, Thánh vịnh 76 được viết ra để ca
tụng Giê-ru-sa-lem thoát khỏi cuộc bao vây của lực lượng vua Xan-khê-ríp năm 701 hoặc 688
Thánh vịnh 76 được sắp xếp làm năm khổ thơ : nhớ lại quá khứ (cc 2-4), tung hô (c 5), sự suy vi của những kẻ xâm lược (cc 6-7), tung hô (c 8), việc xét xử, những lời khuyến dụ và tung hô kết thúc thánh vịnh (cc 9-13) Cái khó hiểu trong câu 11 thuộc
khổ thơ cuối cùng của thánh vịnh 76 có lẽ hệ tại ở chỗ muốn nhấn mạnh đến cơn lôi đình của Thiên Chúa, cơn lôi đình khơi lên một phản ứng kép : (1) cơn giận của địch thù phải lặng câm khi thừa nhận quyền năng của Thiên Chúa ; (2) còn sau khi đã thoát khỏi cơn giận, số còn sót lại là những người cậy tin đang cảm nhận được sự che chở
của Thiên Chúa Cho dù có cảm thấy thế nào (phản ứng tiêu cực hoặc tích cực) thì cả hai cũng đều được xem như lời tán dương một Thiên Chúa uy quyền, công minh ít là
với những ai nương tựa vào Người
2 Cấu trúc song đối của khổ thơ Tv 76,9-12
Như chúng ta thấy, cùng với Tv 24, 46, 48, 84, 87, 122, thánh vịnh 76 cũng ca
ngợi Xi-on, Đền Thánh và chúc tụng Thiên Chúa là Đấng che chở phù trì Sau khi nhớ lại những việc Thiên Chúa thực hiện cho Giê-ru-sa-lem (cc 2-8), tác giả Thánh vịnh tôn vinh Thiên Chúa là Đấng cầm quyền xét xử và khuyến dụ dân chúng tuân giữ giao ước và phụng thờ Người Trước khi kết thúc thánh vịnh với lời tung hô hàm ý Thiên Chúa là Vua muôn vua ở câu 13, tác giả cũng tổng hợp lại những gì đã trình bày từ đầu
11 Các th ủ bản Syriac và Targum có thứ tự từ vựng thay đổi
12 D ị bản : ה ָת ְמָח (giận) hoặc ת ָמֲח (Kha-mát) hoặc תֹמָחְנ (sự an ủi)
13 Những chỗ in nghiêng là do các dịch giả bản Targum giải thích thêm
14 CCB (Fifth Edition, 2012) đã cô đọng lại những diễn ý của Targum, đấy là điểm mạnh của họ Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, điểm thiếu thuyết phục nhất của bản dịch CCB là họ đã bỏ đi hoàn toàn
c ụm từ “ם ָד ָא ת ַמֲח־י ִכּ” trong nguyên ngữ Híp-ri mà ít ra bản Targum diễn dịch là “ךמע לע זגר תנא דכ
= Khi Ngài n ổi gi ận với dân Ngài” !
Trang 9đến câu 8 bằng một khổ thơ có cấu trúc chiasma, trong đó có những điểm nhấn đối xứng với nhau :
(A – B – C – D D’ – C’ – B’ – A’) A/ ןי ִדּ ָתּ ְﬠ ַמ ְשׁ ִה םִי ַמ ָשּׁ ִמ (c 9a) : Chúa Trời Uy Nghiêm (Trời Cao)
B/ ה ָטָק ָשׁ ְו ה ָא ְרָי ץ ֶר ֶא (c 9b) : Cõi Đất Phục Tùng (Đất Thấp)
C/ םי ִה�ֱא טָפּ ְשׁ ִמַּל־םוּק ְבּ (c 10a) : Chúa Trời Phán Xét (Thiên Chúa)
D/ ץ ֶר ֶא־יֵוְנַﬠ־לָכּ ַﬠי ִשׁוֹהְל (c 10b) : Kẻ Hèn Được Cứu (Con Người)
- Ngưng - הָלֶס - Cất cao cung giọng -
D’/ ָךּ ֶדוֹתּ ם ָד ָא ת ַמֲח־י ִכּ 15 (c 11a) : Tội Nhân Ca Tụng (Con Người)
C’/ 16רֹגּ ְח ַתּ תֹמֵח תי ִר ֵא ְשׁ (c 11b) : Chúa Trời Thi Ân (Thiên Chúa)
B’/ םֶכיֵה�ֱא הָוהיַל וּמְלּ ַשׁ ְו וּרֲדִנ (c 12a) : Loài Người Cải Hóa (Lề Luật)
A’/ א ָרוֹמַּל י ַשׁ וּלי ִבוֹי ויָבי ִב ְס־לָכּ (c 12b) : Chúa Trời Oai Linh (Tế Tự)
3 “ Cơn giận phàm nhân”
Thực ra trong các thủ bản không có các dấu nguyên âm và các phụ âm được viết dính liền với nhau, thì từ ngữ trong Sách Thánh lại chứa đựng những khả thể bất tận Khi các Ma-so-ra (q 600-900) đặt nguyên âm cho bản văn, một mặt họ đã giúp người đọc xác định ý nghĩa rõ ràng hơn, nhưng mặt khác họ cũng có thể khiến độc giả không còn để ý đến những ý nghĩa tiềm ẩn Cụm từ “cơn giận phàm nhân” là một trường hợp như vậy
Khi đọc cụm từ không nguyên âm “םדאתמח”, người ta cũng có thể liên tưởng đến thành Kha-mát và Ê-đôm, tức hai thành thù nghịch với dân Ít-ra-en Chính vì thế, có
15 Ph ần lớn các bản dịch đều dịch chữ “י ִכּ” là “vì, rằng” (consecutive) Nhưng đây là điểm văn phạm khá đặc biệt Theo chỗ chúng tôi hiểu, chữ “י ִכּ” dẫn vào một “asseverative clause” (mệnh đề quả quyết) tương tự trường hợp 1V 1,13 : “ �� ְמִי �ֵנ ְב הֹמ� ְשׁ־י ִכּ” Cho nên, thay vì nói “chắc chắn” hoặc
“th ậm chí,” chúng tôi dịch là “cả.”
16 Trong Bản dịch KPB, chúng tôi bỏ qua hình thức văn thơ, niêm luật tiếng Việt để dịch thật sát cấu trúc ngôn ngữ Híp-ri : “s ố sót lại của những cơn giận, Ngài sẽ thắt làm đai lưng.” Trong bản
KPA, chúng tôi đã dịch xuôi thành “kẻ thoát lôi đình sẽ mở hội mừng Ngài” là vì chúng tôi muốn
d ịch sang lối thơ biền ngẫu được sử dụng rất nhiều trong thơ ca tiếng việt Tv 76,11 là một câu thơ
giàu hình tượng, có cặp ý sóng đôi với nhau, tuy chưa thật chuẩn (như lưu cổ đối) song cũng có
thể gọi là đối lưu thủy hay đúng hơn là đối tương đồng :
(C ả) Cơn giận phàm nhân cũng thành lời ca tụng
K ẻ thoát lôi đình sẽ mở hội mừng Ngài
T ất nhiên, người đọc có thể thắc mắc thêm Căn cứ vào đâu để dịch là “mở hội mừng Ngài” ? Xin thưa có hai lý do Thứ nhất, động từ Híp-ri רגח cũng có nghĩa là “đeo niềm hân hoan.” Thứ hai, có
lẽ vì hiểu theo nghĩa này nên các dịch giả LXX đã dịch là ἑορτάσει σοι (dâng lễ cho Ngài) Bản VUL cũng dịch như vậy : diem festum agent tibi Đây là trường hợp khó dịch trong một câu có
ng ữ nghĩa không dễ tìm hiểu Những trường hợp như vậy chúng tôi áp dụng quy tắc sau cùng là
d ựa vào bản dịch Vulgata
Trang 10giả thuyết cho rằng tác giả thánh vịnh 76 đã chơi chữ và có ý lấy cụm từ “םדאתמח” (Kha-mát “của” Ê-đôm = Thành Kha-mát, thành bị trừng phạt) làm biểu trưng cho số
phận điêu tàn của tất cả những ai thù nghịch với Thiên Chúa và dân Người Khi những người này hay thành trì của họ bị trừng phạt, thì ấy cũng là lời ca ngợi Thiên Chúa chính trực, công minh Nếu các dịch giả của CCB cũng dựa trên ý kiến này, thì quả là cụm từ “pagan nations” xem ra cũng có cơ sở
Nhưng xét về mặt thần học, vấn đề chính lại nằm ở chỗ, cả dân Chúa cũng luôn được Người sửa dạy, giáo huấn trong suốt dòng lịch sử cứu độ Rất nhiều lần cơn lôi đình của Thiên Chúa giáng xuống trên dân qua bàn tay của các nước ngoại bang thù nghịch Và cũng rất nhiều lần họ ca khen Thiên Chúa ngay trong những lúc cùng cực nhất Ít-ra-en của Thiên Chúa cũng nhiều lần cảm thấy mình vừa thoát khỏi cơn lôi đình của Người Trên thực tế, chính số phận của Sa-lem (Xi-on, Thành Thánh Giê-ru-sa-lem) mà tác giả đã xướng lên ngay từ đầu thánh vịnh này cũng có lúc tan hoang bi
thảm không khác gì Ê-đôm Chính vì thế, dịch là “cơn giận của người phàm17“ sẽ là một giải pháp tốt hơn Giải pháp này không chỉ vừa thỏa tiêu chí trung thành với bản gốc mà còn cố gắng giữ lại những ý nghĩa tiềm ẩn Theo đó, cả “dân ngoại” thù nghịch
với dân Chúa, lẫn những ai thuộc về dân Chúa nhưng nhận ra mình đã sống chẳng tốt hơn kẻ thù nghịch hay ít ra cũng chưa hiểu được thế nào là sự công chính của Thiên Chúa18cũng sẽ phải cúc cung thờ lạy và ca khen Thiên Chúa khi Người đứng lên xét
xử
17 Gương ông Giô-na cũng là một minh chứng về “cơn giận phàm nhân” và lòng từ bi, sự công chính
c ủa Thiên Chúa Sau mọi cố gắng theo những ý tưởng, quan niệm của mình, ông Giô-na cũng phải
đi giảng cho thành Ni-ni-vê Nhưng thành phải đi ba ngày mới hết thì ông đi chỉ có một ngày ! Rồi ông ngồi chờ Thiên Chúa giáng phạt dân thành Nhưng chỉ có một ngày nghe giảng mà cả thành sám hối, Thiên Chúa thương không phạt nữa Ông Giô-na vẫn tuyên xưng Thiên Chúa rất đúng, nhưng ông nổi giận và đòi chết còn hơn
“Đức Chúa hỏi ông : Ngươi nổi giận như thế có lý không ?” Ông không trả lời Thiên Chúa thương làm cho ông “cái dù” để ngồi chờ cho đỡ nắng Rồi Thiên Chúa lại chọc thủng cái dù Thế là ông mệt lả, ngất xỉu và xin cho mình được chết ! Bấy giờ, “Thiên Chúa [lại] hỏi ông Giô-na : ‘Ngươi nổi giận vì cây thầu dầu, như thế có lý không ?’ Ông trả lời : ‘Con có lý để nổi giận đến chết được !’ Đức Chúa phán : ‘Ngươi, ngươi thương hại cây thầu dầu mà ngươi đã không vất vả vì nó,
và không làm cho nó lớn lên ; trong một đêm, nó đã sinh ra, rồi trong một đêm, lại chết đi Còn
Ta, chẳng lẽ Ta lại không thương hại Ni-ni-vê, thành phố lớn, trong đó có hơn một trăm hai mươi ngàn người không phân biệt được bên phải với bên trái, lại có rất nhiều thú vật hay sao ?’” (x Gn 3-4)
Như thế, có khi con người giận Thiên Chúa (vì không hiểu Thiên Chúa) lại là dịp để Thiên Chúa mặc khải chính Người cho con người biết và ca tụng Người nhiều hơn !
18 2Sb 34,21 : “Hãy đi thỉnh ý ĐỨC CHÚA cho ta, cho số sót còn lại trong Ít-ra-en và trong Giu-đa
về những lời ghi chép trong sách đã tìm thấy đây, vì ĐỨC CHÚA đã bừng bừng nổi cơn thịnh nộ
đã được ghi chép trong sách này.”