Luận văn Nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự hài lòng của bệnh nhân ngoại trú sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại khoa khám Bệnh bệnh viện Đa Khoa Đà Nẵng có cấu trúc gồm 4 chương trình bày cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng; dịch vụ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế ngoại trú tại khoa Khám bệnh bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng; thiết kế nghiên cứu; kết quả nghiên cứu.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYÊN THỊ HÀ
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TÓ TÁC ĐỘNG ĐÉN
SỰ HÀI LÒNG CỦA BỆNH NHÂN NGOẠI TRÚ
SỬ DỤNG DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH
BẢO HIẾM Y TẾ TẠI KHOA KHÁM BỆNH BỆNH
VIỆN ĐA KHOA ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYÊN THỊ BÍCH THU
Đà Nẵng - Năm 2014
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bồ trong bắt kỳ công trình nào khác
Tác gia
Nguyễn Thị Hà
Trang 3
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
6 Tổng quan tải liệu
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬ NVE SỰ HÀI ÀI LÔNG C CỦA KHÁCH
1.3 CAC MÔ HINH DO LUONG CHAT LƯỢNG DỊCH VỤ
1.3.1 Mô hình SERVQUAL (Parasuraman, 1985)
1.3.2 M6 hinh SERVPERF (Cronin and Taylor, 1992) -
1.4 CÁC MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG SỰ HAI LONG CỦA BỆNH NHÂN
Trang 4NẴNG 27
2.1 TÔNG QUAN BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐA NẴNG 272.2 BỆNH NHÂN NGOẠI TRÚ VÀ CHÍNH SÁCH BẢO DHIÊM Y VTÊ
„32 2.3 DỊCH VỤ KCB BHYT NGOẠI TRÚ TẠI KHOA KHÁM BỆNH
2.3.2 Hoạt động KCB BHYT ngoại trú
CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨ
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
3.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
3.3.1 Thảo luận nhóm chuyên gia và hiệu chỉnh thang đo
3.3.2 Mô hình nghiên cứu chính thức và định nghĩa các biến
3.3.3 Các giả thuyết của mô hình nghiên cứn 6 3.3.4 Xây dựng bảng câu hỏi 2222zttetrrreerercee Š7
3.4 NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG -sssssercceeceeree Š
Trang 54.1.1 Mô tả thông tin thu thập và kích cỡ mẫu nghiên cứu
4.1.2 Thống kê mô tả kết quả khảo sát 61
4.2 DANH GIA THANG DO BANG HE SO TIN CAY CRONBACH’S
4.2.2 Thang đo sự hài lòng của bệnh nhân - Ổ 7
4.3 PHAN TICH NHAN TO KHAM PHA - FFA
4.3.2 Thang đo sự hài lòng của bệnh nhân
4.3.3 Đánh giá lại thang đo bằng cronbach”s alpha sau khi phân tích
4.3.4 Mô hình nghiên cứu sau khi phân tích EFA 7Í
4.4 KIÊM ĐỊNH GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
4.4.1 Đánh giá độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính bội 72
4.4.2 Kiểm định các giả thuyết của mô hình
4.4.3 Thống kê mô tả thang điểm Likert đối với các thang đo được rút ra
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH " 81 DANH MUC TAI LIEU THAM KHAO
QUYET DINH GIAO DE TAI
PHY LUC
Trang 6
: Khám chữa bệnh
: Kaiser-Meyer-Olkin
: Trung cấp chuyên nghiệp — cao đẳng : Thanh phé Da Ning
Trang 7
R Sổ liệu người dân tham gia BHYT trong 3 năm 2010, | 5
2011,2012
3.1 “Thang đo của các mô hình đi trước 45
32 Các biển quan sát thuộc thang đo Sự thuận tiện 49
33 Các biển quan sát thuộc thang đo Thái độ phục vụ 49
34 Các biển quan sát thuộc thang đo Năng lực phục vụ 50
36 Các biên quan sát thuộc thang đo Chỉ phí dịch vụ y tễ 51
38 Bảng tổng hợp thang đo và biến quan sát chính thức 52
41 Giới tính mẫu nghiên cứu 61
Cfonbachs Alpha thang đo các thành phân ảnh hưởng
` đến sự hài lòng của bệnh nhân ngoại trú sử dụng dịch 65
vụ khám chữa bệnh BHYT tại khoa Khám bệnh Bệnh viên Da Khoa Da Ning
4s Két qua Cronbach’s Alpha thang do St hai lòng của
bệnh nhân7
Trang 8
4.10 [Kết quả KMO trong phân tích EFA lần 2 69
Kết quả cuối cùng EFA của các thành phân ảnh hưởng
an đến sự hài lòng của bệnh nhân ngoại trú sử dụng dịch 20
vụ khám chữa bệnh tại Khoa khám bệnh Bệnh viện Đa
Khoa Đà Nẵng
Kết qua EFA cia các thành phân sự hài lòng của bệnh 4.12 | nhân ngoại trú sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh BHYT |_ 71
tại Khoa khám bệnh Bệnh viện Đa Khoa Đà Nẵng
Chất lượng chăm sóc ayo, | Ciấitrung bình của các biễn quan sắt thuộc nhân tô 79
Chỉ phí dịch vụ y tế
‘doo, _ | Ciấitrung bình của các biễn quan sắt thuộc nhân tô
Phương tiện hữu hìnhs0
Trang 9
7 (Quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng khách |,
hàng
13 Mô hình nghiên cứu của tác giả Ny Net 25
lá Mồ hình nghiên cứu của tác giả Phạm Trí Dũng và 36
cộng sự
21 Sơ đỗ tô chức bệnh viện đa khoa Đà Nẵng 28
41 Mồ hình nghiên cứu sau khi phân tich EFA 72
Trang 10
Trong điều kiện khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại, bệnh nhân ý thức
được nhu cầu và quyền lợi của mình Họ biết rằng tắt cả các bệnh viện, các cơ
sở y tế được thành lập là để cung cấp các dịch vụ y tế đạt yêu cầu và có chất
lượng Vì đối với các bệnh viện thì bệnh nhân là khách hàng Chức năng
chính của nó là chăm sóc bệnh nhân Day là một trong những thước đo để đo
lường sự thành công của dịch vụ mà nó tạo ra Hiệu quả của bệnh viện phụ
thuộc vào việc chăm sóc bệnh nhân có tốt hay không Hiện nay, chất lượng, dịch vụ tại các cơ sở y tế tư nhân trong nước cũng như các cơ sở y tế tư nhân
có vốn nước ngoài ngày càng được nâng cao Nó đã và đang tạo ra những
thách thức vô cùng to lớn đối với các cơ sở y tế công trên địa bàn thành phó
Đà Nẵng (TPĐN) nói riêng và cả nước nói chung Bệnh viện Đa khoa Da Nẵng (BVĐKĐN), tuy là một bệnh viện công hạng I nhưng vẫn không nằm ngoài thách thức nêu trên
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về sự hài lòng và các yếu tố liên
quan đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ y tế Đánh giá sự hài
lòng của người bệnh nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ y tế, cũng
như khẳng định quyền được hưởng những dịch vụ tốt nhất của người dân Nghiên cứu của Tengilimoglu và cộng sự (2001) trên 420 người bệnh tại bệnh viện ở Ankara, Thô Nhĩ Kỳ cho thấy: không thể cải thiện chất lượng dịch vụ
nếu không quan tâm đến ý kiến đóng góp hay phàn nàn của người bệnh Sự
hài lòng của người bệnh cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sự lựa chọn dịch vụ và
sự cạnh tranh giữa các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế
Không chỉ các bệnh viện tư mà các bệnh viện công hiện nay đều hướng tới tiêu chí đó là sự hải lòng của bệnh nhân Sự hài lòng của bệnh nhân ngày nay đã trở thành một khía cạnh quan trọng trong việc đánh giá các dịch vụ
Trang 11trạng quá tải dẫn đến việc không tránh khỏi than phiền của một số bệnh nhân
về dịch vụ khám chữa bệnh được cung ứng, từ khâu đón tiếp, làm thủ tục, nộp
tiền, khám, xét nghiệm, nhận thuốc Bên cạnh đó thì khâu quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế còn nhiều bắt cập ví như một số chính sách không còn phù hợp, văn bản chồng chéo nhau, sự thiếu hụt nguồn lực ngành y tế cả về số
lượng và chất lượng
Chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) tại Việt Nam được thực hiện dựa trên
một trong những nguyên tắc đó là bảo đảm chia sẽ rủi ro giữa những người
tham gia BHYT tức là trên cơ sở lấy số đông bù số ít, người khỏe hỗ trợ người đau ốm, người có khả năng về kinh tế hỗ trợ người khó khăn hơn mình Trong xu hướng hội nhập quốc tế, đảm bảo phúc lợi an sinh xã hội, chắc chắn trong tương lai không xa, ngành Y tế và ngành Bảo hiểm sẽ tiếp tục nghiên cứu để có thể đưa BHYT đến mọi tầng lớp dân cư
Xuất phát từ những lý do trên đây, với thời gian còn hạn chế, em chọn
đề tài “Nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự hài lòng của bệnh nhân
ngoại trú sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế tại khoa Khám
bệnh Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng”
2 Mục tiêu nghiên cứu
1) Xác định các nhân tố tác động đến sự hài lòng của bệnh nhân ngoại trú sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh BHYT tại khoa Khám bệnh Bệnh viện
Đa khoa Đà Nẵng
2) Phân tích, đánh giá mức độ hài lòng của bệnh nhân khi tham gia khám chữa bệnh BHYT và trên cơ sở đó để xuất một số giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao sự hài lòng của nguời bệnh về dịch vụ khám chữa bệnh BHYT.
Trang 12khám chữa bệnh BHYT tại khoa Khám bệnh BVĐK Đà Nẵng
— Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân đến khám chữa bệnh BHYT tại
khoa Khám bệnh BVĐK Đà Nẵng
~ Giới hạn nghiên cứu: Người bệnh tham gia khám chữa bệnh BHYT
ngoại trú tại khoa Khám bệnh Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng, có đủ năng lực đề trả lời các câu hỏi và đồng ý tham gia vào nghiên cứu Các đối tượng từ chối tham gia phỏng vấn sẽ được loại ra khỏi nghiên cứu này
— Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu đối với các đối tượng trực tiếp đến
khám chữa bệnh BHYT ngoại trú tại khoa Khám bệnh Bệnh viện Đa khoa Đà
Nẵng Vì vậy, các đối tượng tham gia khám chữa bệnh ngoại trú theo chế độ
dịch vụ (không có thẻ bảo hiểm y tế) không thuộc đối tượng nghiên cứu của
bài viết này Thời gian thực hiện nghiên cứu từ tháng 10/2012 đến tháng
9/2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện với sự kết hợp một số phương pháp nghiên cứu
sau đây:
— Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, thực chứng, đồng
tổng hợp, phân tích, so sánh các vấn đề lý thuyết và các thông tin để
ra mô hình nghiên cứu
— Phuong pháp phỏng vấn thử và tham khảo ý kiến của các chuyên gia
nhằm thu thập tài liệu nghiên cứu, thiết kế và hiệu chỉnh thang đo, hình thành
phiếu đánh giá đo lường sự hài lòng của bệnh nhân
— Phương pháp sử dụng bảng câu hỏi nhằm khảo sát, thu thập thông tin
từ bệnh nhân Thông tin thu thập được sẽ được xử lý và kiểm định bằng phần
mềm SPSS.
Trang 134 chương, cụ thể như sau:
— Chương I: Cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng
— Chương 2: Dịch vụ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế ngoại trú tại khoa
Khám bệnh bệnh viện Đa khoa Đà Ning
— Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
— Chương 4: Kết quả nghiên cứu
6 Tổng quan tài liệu
Chất lượng dịch vụ y tế là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự tồn tại
của một bệnh viện Sự hài lòng của người bệnh là chỉ số quan trọng phản ánh
chất lượng dịch vụ y tế Xuất phát từ ý nghĩa đó, vấn đề sự hài lòng của bệnh
nhân trong quá trình tham gia khám chữa bệnh tại các bệnh viện ngày càng
được sự quan tâm của nhiều tô chức, cá nhân trên thế giới
Để cung cấp một cái nhìn tổng thẻ về các hoạt động nghiên cứu trong lĩnh
vực này, vấn đề về sự hài lòng của bệnh nhân ngoại trú sẽ lần lượt được trình
bày tóm tắt thông qua một số khảo sát, bài báo, sách, tư liệu có liên quan
6.1 Các nghiên cứu của nước ngoài
Trên thế giới có rất nhiều các nhà nghiên cứu, các tổ chức, cá nhân đã
các cơ sở khám chữa bệnh Trong quá trình tham khảo tài liệu, có thể thấy các
nghiên cứu trong lĩnh vực này chủ yếu được tiếp cận như sau:
Tác giả Ny Net (2007), khoa đào tạo sau đại học, trường Đại học
Mahidol, Thái Lan Tác giả tiến hành nghiên cứu “Sự hài lòng của bệnh nhân
ngoại trú đối với dịch vụ y tế tại khoa khám bệnh bệnh viện lŸangnumyen,
tinh Sakaeo, Thái Lan” Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành dé đánh giá sự
hài lòng của bệnh nhân ngoại trú nhằm xác định liên kết giữa sự hài lòng và
Trang 14nhân Trong đó có một số nhân tó đáp ứng tốt nhu cầu của bệnh nhân nên được đánh giá cao: Sự sẵn có của các nguôn lực y tế, Môi trường vật lý, Phong cách
cá nhân Còn lại 3 nhân tố: Chất lượng chăm sóc, Chỉ phí dịch vụ y tế Khả
năng tiếp cận được bệnh nhân đánh giá tương đối thấp Khuyến nghị cho các
nghiên cứu khác trong tương lai là nghiên cứu về sự hài lòng của bệnh nhân đối
với dịch vụ y tế cần được tiến hành song song với các nghiên cứu về sự hài
lòng công việc của các nhà cung cấp dịch vụ y tế để hiểu rõ những mỗi quan tâm của bệnh nhân và tìm cách giải quyết vấn đề cho phù hợp
Tác giả Asma Ibrahim (2008), khoa dao tạo sau đại học, trường đại hoc
Mahidol, Thái Lan Tác giả tiến hành nghiên cứu “Sự hài lòng của bệnh nhân ngoại trú đối với dịch vụ y tế tại khoa khám bệnh bệnh viện Indira Gandhi
Memorial, Maldives” Nghién citu cắt ngang cũng được tiền hành đề đánh giá
sự hài lòng của bệnh nhân Sử dụng bảng câu hỏi, dữ liệu được lấy từ 251
bệnh nhân sử dụng dịch vụ khám bệnh tại khoa khám bệnh của bệnh viện
Nghiên cứu đã đưa ra 5 nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân
a
dich vu y té
: Lịch sự, Chất lượng chăm sóc, Môi trường vật lý, Sự thuận tiện, Chỉ phi
Tác giả Nazirah (2008), khoa đảo tạo sau đại học, trường đại học Mahidol, Thái Lan Tác giả tiến hành nghiên cứu “Sự hài lòng của bệnh nhân
đối với dich vu y tế tại trung tâm y té Kuta Blang, huyện Bireuen, tỉnh
Nanggroe Aceh Darussalam, Indonesia" Nghiên cứu cắt ngang cũng được
tiến hành để đánh giá mức độ hài lòng của bệnh nhân Dữ liệu được lấy từ
200 bệnh nhân đến khám bệnh tại bệnh viện, độ tuôi từ 15 đến 60, tiền hành
trong thời gian từ 6/1/2008 đến 28/2/2008 Nghiên cứu đưa ra 4 nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân bao gồm: ¿ch sự, Chất lượng chăm
Trang 15cải thiện Chất lượng dịch vụ tốt hay không ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của bệnh nhân Trung tâm y tế nên khuyến khích các nhà cung cấp dịch vụ y
tế trong việc cập nhật kiến thức và công nghệ mới
6.2 Các nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam trong những năm qua các nghiên cứu trong lĩnh vực này cũng đã được sự quan tâm:
** Tác giả Phạm Trí Dũng và cộng sự (2009) đã thực hiện nghiên cứu
“Đánh giá sự hài lòng của người bệnh ngoại trú về dịch vụ khám chữa bệnh tại Khoa khám bệnh của ba bệnh viện hạng III” Đó là các bệnh viện Bệnh viện Đa khoa Thanh Miện Hải Dương (BVI), bệnh viện Đa khoa Tiên Du
Bắc Ninh (BV2), bệnh viện Điều dưỡng và phục hồi chức năng Đồng Tháp
(BV3) Bảng câu hỏi đo lường sự hài lòng của người bệnh do Parasuraman
xây dựng gồm 5 khía cạnh (Hữu hình, Tin tưởng, Đáp ứng, Dam bảo, Cảm
thông), mỗi khía cạnh 4 tiểu mục, tổng cộng 20 tiểu mục
** Nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Tân Mỹ và cộng sự (2011) “Khảo sắt sự hài lòng của người bệnh, người nhà người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện Vạn Ninh năm 2011” Mô tả cắt ngang với cỡ mẫu 234 người bệnh, người nhà người bệnh điều trị nội trú Công cụ thu thập dữ liệu là bộ câu hỏi được thiết kế sẵn bảo đảm tính giá trị và độ tin cậy cao Kết quả nghiên cứu mức độ hài lòng chung của người bệnh, người nhà người bệnh chiếm 89,74% (rất tốt là 23,2%, tốt đạt 66,54%, chưa tốt chiếm tỷ lệ 10,26%)
** Năm 2011 là năm thứ 2, Viện nghiên cứu Phát triển kinh tế - xã hội
Đà Nẵng khảo sát mức độ hài lòng của tô chức, công dân đối với dịch vụ hành chính công (dịch vụ công chứng, dịch vụ khám bệnh, thủ tục nhập học ) trên địa bàn thành phố Đà Nẵng theo chỉ đạo của UBND TP Khảo sát dịch vụ
Trang 16cơ sở y tế tư nhân (BV Hoàn Mỹ, BV Bình Dân, BV Vĩnh Toàn) Mỗi bệnh viện được khảo sát 120 khách hàng, riêng BV Đà Nẵng có 270 phiếu và BV
Vinh Toan 110 phiếu Tổng số phiếu điều tra là 1340 phiếu Qua kết quả khảo
sát thực tế tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cho thấy mức độ
hài lòng chung của người dân tham gia khám chữa bệnh tại cơ sở y tế công là
68,5% và các cơ sở y tế tư nhân là 91,4% Điều này cho thấy thách thức đối
với các bệnh viện công là không nhỏ trong việc hướng tới tiêu chí đó là sự hài lòng của bệnh nhân.
Trang 171.1 SU HAI LONG CUA KHACH HANG
1.1.1 Khái niệm sự hài lòng của khách hàng
Sự hài lòng khách hàng là một nội dung chủ yếu trong hoạt động kinh
doanh, do vậy có rất nhiều chủ đề, sách báo khoa học đã xuất bản về đề tài
này Theo Spreng, MacKenzie, và Olshavsky (1996), sự hài lòng của khách
hàng được xem là nền tảng trong khái niệm của marketing về việc thỏa mãn nhu cầu và mong ước của khách hàng [14] Có nhiều quan điểm đánh giá
khác nhau về sự hài lòng của khách hàng Sự hài lòng của khách hàng là phản
ứng của họ về sự khác biệt cảm nhận giữa kinh nghiệm đã biết và sự mong
đợi (Parasuraman và ctg, 1988; Spreng va ctg, 1996) Nghĩa là, kinh nghiệm
đã biết của khách hàng khi sử dụng một dịch vụ và kết quả sau khi dịch vụ
được cung cấp
Theo Kotler va Keller (2006), sự hài lòng là mức độ của trạng thái cảm
giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh nhận thức về một sản phẩm so
với mong đợi của người đó Theo đó, sự hài lòng có ba cấp độ sau:
~ Nếu nhận thức của khách hàng nhỏ hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận không thỏa mãn
~— Nếu nhận thức bằng kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận thỏa mãn
~ Nếu nhận thức lớn hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận là thỏa mãn hoặc thích thú
Một lý thuyết thông dụng để xem xét sự hài lòng của khách hàng là lý
thuyết “Kỳ vọng - Xác nhận” Lý thuyết được phát triển bởi Oliver (1980) và
được dùng để nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng của
các dịch vụ hay sản phẩm của một tổ chức Lý thuyết đó bao gồm hai quá
trình nhỏ có tác động độc lập đến sự hài lòng của khách hàng: kỳ vọng về
Trang 18(1) Trước hết, khách hàng hình thành trong suy nghĩ của mình những kỳ
vọng về những yếu tố cấu thành nên chất lượng dịch vụ mà nhà cung cấp có thể mang lại cho họ trước khi các khách hàng quyết định mua
(2) Sau đó, việc mua dịch vụ và sử dụng dịch vụ đóng góp vào niềm tin
khách hàng về hiệu năng thực sự của dịch vụ mà họ đang sử dụng
(3) Sự thỏa mãn của khách hàng chính là kết quả của sự so sánh hiệu quả
mà dịch vụ này mang lại giữa những gì mà họ kỳ vọng trước khi mua dịch vụ
và những gì mà họ đã nhận được sau khi đã sử dụng nó và sẽ có ba trường hợp: Kỳ vọng của khách hàng là:
*⁄ Được xác nhận nếu hiệu quả của dịch vụ đó hoàn toàn trùng với kỳ vọng của khách hàng;
v⁄ Sẽ thất vọng nếu hiệu quả dịch vụ không phù hợp với kỳ vọng, mong
đợi của khách hàng;
*⁄ Sẽ hài lòng nếu như những gì họ đã cảm nhận và trải nghiệm sau khi
đã sử dụng dịch vụ vượt quá những gì mà họ mong đợi, kỳ vọng trước khi
mua dịch vụ
Qua ý kiến của các chuyên gia, có thể nhận thấy sự hài lòng khách hàng
có vai trò tác động đối với mục tiêu, chiến lược phát triển của tô chức, doanh nghiệp Việc thỏa mãn khách hàng trở thành một tài sản quan trọng trong nỗ
lực nâng cao chất lượng dịch vụ, giữ vững sự trung thành, nâng cao năng lực cạnh tranh của tô chức, doanh nghiệp Khách hàng được thỏa mãn là một yếu
tố quan trọng dé duy trì được thành công lâu dài trong kinh doanh và các
chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm thu hút và duy trì khách hàng (Zeithaml
và ctg, 1996).
Trang 191.1.2 Phân loại sự hài lòng của khách hàng
Theo một số nhà nghiên cứu có thể phân loại sự hài lòng của khách hàng
thành ba loại và chúng có sự tác động khác nhau đến nhà cung cấp dịch vụ:
s* Hài lòng tích cực (Demanding customer satisfaction): đây là sự hài
lòng mang tính tích cực và được phản hồi thông qua các nhu cầu sử dụng ngày một tăng lên đối với nhà cung cấp dịch vụ Đối với những khách hàng
nhiệm lẫn nhau và cảm thấy hài lòng khi tham gia dịch vụ Hơn thế, họ cũng
hy vọng nhà cung cấp dịch vụ sẽ có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng
cao của mình Chính vì vậy, đây là nhóm khách hàng dễ trở thành khách hàng trung thành miễn là họ nhận thấy có nhiều cải thiện trong việc cung cấp dịch
vụ cho họ Yếu tố tích cực còn thể hiện ở chỗ, chính từ những yêu cầu không
chất lượng dịch vụ ngày càng trở nên hoàn thiện hơn
+ Hai lng ổn định (Stable customer satisfaction): đối với những khách
hàng có sự hài lòng ổn định, họ sẽ cảm thấy thoải mái và hài lòng với những
gì đang diễn ra và không muốn có sự thay đổi trong cách cung cấp dịch vụ
của bệnh viện Vì vậy, những khách hàng này tỏ ra dễ chịu, có sự tin tưởng
cao đối và sẵn lòng tiếp tục sử dụng dịch vụ
+ Hai long thu déng (Resigned customer satisfaction): những khách
hàng có sự hài lòng thụ động ít tin tưởng vào nhà cung cấp và họ cho rằng rất
khó có thể cải thiện được chất lượng dịch vụ và thay đổi từ nhà cung cấp theoyêu cầu của mình Vì vậy, họ sẽ không tích cực đóng góp ý kiến hay tỏ ra thờ
ơ với những nỗ lực cải tiến của nhà cung cấp dịch vụ
Mức độ hài lòng có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi khách hàng Khi
nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng thì việc làm cho khách hàng hài lòng là rất cần thiết mà việc giúp họ cảm thấy hoàn toàn hài lòng lại quan
Trang 20trọng hơn nhiều Ngay cả khi khách hàng có cùng sự hài lòng tích cực đối
nhưng mức độ hài lòng chỉ ở mức “hài lòng” thì họ cũng có thể tìm đến các
nhà cung cấp địch vụ khác và không tiếp tục sử dụng dịch vụ của nhà cung cấp cũ Chỉ những khách hàng có mức độ hài lòng cao nhất “rat hi
lòng” thì
họ chắc chắn sẽ là những khách hàng trung thành lâu dài Điều này rất có giá trị đối với những nhà cung ứng dịch vụ giúp họ có những biện pháp khắc phục, cải tiến chất lượng dịch vụ ngày càng tốt hơn, mang lại sự thỏa mãn,
mức độ hài lòng cao nhất cho khách hàng của mình
cung cấp dịch vụ và khách hàng để đáp ứng như cầu về sức khỏe như: khám
chữa bệnh, phòng bệnh, giáo dục sức khỏe, tư vấn sức khỏe do các cơ sở y tế
nhà nước (Trạm y tế xã/phường, Trung tâm y tế Quận/huyện/TP, các cơ sở y
tế tuyến tỉnh và trung ương) và các cơ sở y tế tư nhân (Các phòng khám, bệnh viện tư, hiệu thuốc) cung cấp
b Đặc điểm
Dịch vụ y tế là một dịch vụ khá đặc biệt Về bản chat, dịch vụ y tế bao
gồm các hoạt động được thực hiện bởi nhân viên y tế như khám, chữa bệnh
phục vụ bệnh nhân Thực tế, người bệnh ít khi đánh giá chính xác chất lượng
dịch vụ y tế mặc dù họ có thẻ cảm nhận qua tiếp xúc với nhân viên y tế, trang
thiết bị, cơ sở vật chất Một người bệnh được phẫu thuật khó lòng biết được
“chất lượng” của ca mồ như thế nào, ngoại trừ cảm giác đau sau mỗ và vết mô được nhìn thấy
Thị trường y tế không phải là thị trường tự đo Trong thị trường tự do, giá của một mặt hàng được xác định dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện giữa
Trang 21người mua và người bán Trong thị trường dịch vụ y tế không có sự thỏa thuận này, giá dịch vụ do người bán quyết định
Dịch vụ y tế là một ngành dịch vụ có điều kiện, tức là có sự hạn chế nhất định đối với sự gia nhập thị trường của các nhà cung ứng dịch vụ y tế Cụ thể,
muốn cung ứng dvyt cần được cấp giấy phép hành nghề và cần dam bao
những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất Nói một cách khác, trong thị
trường dịch vụ y tế không có sự cạnh tranh hoàn hảo
Bất đối xứng thông tin giữa bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch
vụ Trên thực tế, bệnh nhân hiểu biết rat ít về bệnh tật và các chỉ định điều tri,
do vậy hầu như người bệnh hoàn toàn phải dựa vào các quyết định của thầy thuốc trong việc lựa chọn các dịch vụ y tế (cầu do cung quyết định) Nếu vấn
dé nay không được kiểm soát tốt sẽ dẫn tới tình trạng lạm dụng dịch vụ từ
phía cung ứng, đẩy cao chỉ phí y tế
Dịch vụ y tế là các dịch vụ có đặc điểm “hàng hóa công cộng” và mang
tính chất “ngoại lai” Đặc điểm “ngoại lai” của các dịch vụ này là lợi ích
không chỉ giới hạn ở những người trả tiền để hưởng dich vu mà kể cả những người không trả tiền (Ví dụ: các dịch vụ y tế dự phòng, giáo dục sức khỏe)
Chính điều này không tạo ra được động cơ lợi nhuận cho nhà sản xuất, làm
việc cung ứng các dịch vụ đó thấp Lúc này, để đảm bảo đủ cung đáp ứng cho
cầu cần có sự can thiệp hỗ trợ của Nhà nước trong cung ứng các dịch vụ y tếmang tính công cộng
Do tính chất đặc thù của dịch vụ y tế và thị trường dịch vụ y tế, Nhà nước
đồng vai trò rất quan trọng trong việc quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc
sức khỏe Nhà nước cần giữ vai trò cung ứng đối với các dvyt “công cộng” và
dịch vụ dành cho các đối tượng cần ưu tiên còn để tư nhân cung ứng các dịch
vụ y tế tư Đồng thời với sự tạo điều kiện thuận lợi phát triển các loại hình dịch
vụ y tế tư, vai trò quản lý của Nhà nước rất cần thiết trong việc kiểm soát giá cả
Trang 22và chất lượng dịch vụ, tăng cường thông tin, thâm định điều kiện hành nghề như đã nêu ở trên Công cụ hữu hiệu nhất trong kiểm soát giá cả và dịch vụ cung ứng chính là phương thức chỉ trả phù hợp Kinh nghiệm quốc tế đã cho
với sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng như người nghèo, cận nghèo,
dân tộc thiểu số, người già và sự tham gia tự giác của cộng đồng
Dịch vụ y tế là một ngành dịch vụ trong đó người cung ứng và người sử
dụng quan hệ với nhau thông qua giá dịch vụ
Cũng như các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ y tế có đặc điểm sau:
— Tỉnh chất vô hình của dịch vụ: Dịch vụ xuất hiện đa dang nhưng không
tồn tại ở một mô hình cụ thể như đối với sản xuất hàng hóa
— Tỉnh chất đúng thời điểm và không thể dự trữ, không thỏa mãn hai điều
kiện này dịch vụ trở nên không có giá trị
— Do phụ thuộc quá nhiều yếu tố: Không gian, thời gian, trạng thái tâm
lý, hoàn cảnh của các bên tham gia nên chất lượng dịch vụ mang tính chất
— Dich vụ không thể tồn tại độc lập mà gắn liền với người tạo dịch vụ
Khác với hàng hóa, dịch vụ là sự gắn chặt song hành giữa dịch vụ với người tạo ra dịch vụ
~ Chính từ sự yêu cầu của người sử dụng mà dịch vụ hình thành và quá trình tạo ra dịch vụ cũng chính là quá trình tiêu dùng dịch vụ Đó là sự ảnh
hưởng mật thiết của người tiêu dùng tới sự tổn tại của dịch vụ
Trang 23Tuy nhiên, không giống các loại dịch vụ khác, dịch vụ y tế có một số đặc
điểm riêng, đó là:
—Mỗi người đều có nguy cơ mắc bệnh và có nhu cầu chăm sóc sức khỏe
ở các mức độ khác nhau Chính vì không dự đoán được thời điểm mắc bệnh
nên thường người ta gặp khó khăn trong chỉ trả các chỉ phí y tế không lường trước được
~ Dịch vụ y tế là loại hàng hóa mà người sử dụng (người bệnh) thường
không tự mình lựa chọn được mà chủ yếu do bên cung ứng (cơ sở y tế) quyết định Nói một cách khác, ngược lại với thông lệ “Cầu quyết định cung” trong
dịch vụ y tế “Cung quyết định cầu” Cụ thể, người bệnh có nhu cầu khám
chữa bệnh nhưng điều trị bằng phương pháp nào, thời gian bao lâu lại do bác
sĩ quyết định Như vậy, người bệnh chỉ có thể lựa chọn nơi điều trị, ở một
nhưng người ta vẫn phải mua (khám chữa bệnh) đây là đặc điểm đặc biệt
không giống các loại hàng hóa khác
~ Dịch vụ y tế nhiều khi không bình đẳng trong mối quan hệ, đặc biệt trong
tình trạng cấp cứu: không thẻ chờ đợi được và chấp nhận dịch vụ bằng mọi giá
~ Bên cung cấp dịch vụ có thể là một tổ chứa hay cũng có thể là một cá
nhân Để được là bên cung cấp dịch vụ y tế thì phải có giấy phép hành nghề
theo quy định của Nhà nước
Trang 24$4 Phân loại theo phân tuyến kỹ thuật và danh mục kỹ thuật trong KCB
Danh mục kỹ thuật trong khám chữa bệnh là những dịch vụ y tế mà các
cơ sở y tế đăng ký với Nhà nước được cung cấp tại đơn vị mình Danh mục
kỹ thuật trong khám chữa bệnh được sắp xếp theo chuyên khoa, chuyên ngành
như: dịch vụ ngoại khoa, chấn thương, nội, sản, nhi
Phân tuyến kỳ thuật là những quy định của cơ quan Nhà nước trong phạm
vi chuyên môn kỹ thuật có các tuyến từ xã, huyện, tỉnh đến trung ương (Phân
tuyến kỹ thuật và danh mục kỹ thuật trong khám chữa bệnh trong Quyết định
số 23/2005/QĐ-BYT ngày 30/08/2005 của Bộ y tế về việc ban hành Quy định phân tuyến kỹ thuật và danh mục kỹ thuật trong khám chữa bệnh)
Theo tiêu thức này thì dịch vụ y tế bao gồm các hoạt động sau:
— Hoạt động y tế dự phòng (Bao gồm cả lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm);
— Hoạt động khám chữa bệnh, phục hồi chức năng;
~ Hoạt động khám chữa bệnh bằng y học cỗ truyền;
— Hoạt động sản xuắt, kiểm nghiệm và phân phối thuốc
+ Phân loại theo tiêu chí của WTO
— Các dịch vụ nha khoa và y tế: Các dịch vụ chủ yếu nhằm mục đích dự
Trang 25phòng, chân đoán và chữa bệnh qua tham vấn với các bệnh nhân mà không có
chăm sóc tại bệnh viện
~— Các dịch vụ do hộ sinh, y tá, vật lý trị liệu và nhân viên kỹ thuật y tế
cung cấp: Các dịch vụ như giám sát trong thai kỳ và sinh con chăm sóc (không nhập viện), tư vấn và dự phòng cho bệnh nhân tại gia
— Các dịch vụ bệnh viện: Các dịch vụ được cung cấp theo chỉ dẫn của
bác sĩ chủ với các bệnh nhân nội trú nhằm mục đích chữa trị, phục hồi
và/hoặc duy trì tình trạng sức khỏe
— Cae dich vu y tế con người khác: Các dịch vụ ngoại trú; Các dịch vụ y
tế kèm nơi ở thay vì các dịch vụ bệnh viện
hất lượng dịch vụ y tế có tính khái quát cao và thường được sử dụng là:
— Chất lượng dịch vụ y tế bao hàm hai cấu phần riêng biệt là chất lượng
vận hành (functional quality), tức là cách thức người bệnh nhận được dịch vụ
(chất lượng thức ăn, tiếp cận dịch vụ) và chất lượng chuyên môn (technical
học và kỹ thuật theo cách thức nào đó đề tối đa hóa lợi ích về sức khỏe mà
không làm gia tăng các rủi ro tương ứng do ứng dụng các kỹ thuật này Do
đó, chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh chính là mức độ mà dịch vụ y tế được
kỳ vọng sẽ đem lại sự cân bằng mong muốn nhất giữa rủi ro và lợi ích [17]
~ Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là mức độ theo đó các dịch vụ y tế
mà cá nhân và cộng đồng sử dụng làm tăng khả năng đạt kết quả sức khỏe
Trang 26mong muốn và phù hợp với kiến thức chuyên môn hiện tại [18]
— Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh là hình thức tô chức các nguồn lực
một cách hiệu quả nhất nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của những
người có nhu cầu nhất nhằm mục đích phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe, an
toàn, không gây lãng phí mà vẫn đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu cao hơn
(Ovretveit) [19]
~ Chất lượng dịch vụ y tế là mức độ đạt được các mục đích bên trong của
hệ thống y tế nhằm nâng cao sức khỏe và đáp ứng được kỳ vọng chính đáng
của nhân dân [20]
b Đặc điểm
Như chúng ta thấy, các định nghĩa trên đều có sự linh hoạt trong việc xác
định chất lượng dịch vụ y tế tùy thuộc vào mục đích và vào điều kiện hiện tại
của hệ thống y tế; đều đề cập tới sự kỳ vọng của nhân dân, đến tính hiệu quả —
chi phi của địch vụ và hiệu quả điều trị của các địch vụ y tế nhằm đạt được
mục đích cuối cùng là sức khỏe
Định nghĩa về
dựng chiến lược và kế hoạch quốc gia về chất lượng dịch vụ y tế bởi vì nó
ất lượng do Ovretveit đưa ra rất hữu ích cho việc xây
nhấn mạnh tới cách thức sử dụng nguồn lực hiện tại thay vì chỉ tập trung vào
việc gia tăng nguôn lực sẵn có Định nghĩa này bao gồm 3 khía cạnh của chất lượng: chất lượng đáp ứng nhu cầu của người bệnh, chất lượng chuyên môn
và chất lượng quản lý Chính điều này khiến định nghĩa của Ovretveit được 'WHO đưa áp dụng trong bảng hướng dẫn xây dựng chiến lược an toàn và chất lượng trong sự tiếp cận hệ thống y tế [21] và đĩnh nghĩa này cũng được coi là phù hợp với cách tiếp cận trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ KCB của
JAHR 2012 (AHR — Bao cdo chung Tổng quan ngành y tế hàng năm)
Có một định nghĩa do Viện Y học Mỹ đúc kết [22], và được WHO cho là một định nghĩa thiết thực [23] trong đó chỉ rõ sáu lĩnh vực hoặc khía cạnh của
Trang 27chất lượng dịch vụ y tế cần tác động đến để cải thiện chất lượng Việc đánh
giá dịch vụ từ các khía cạnh này rất có ích nhằm xác định các biện pháp can
thiệp để cải thiện chất lượng dịch vụ một cách cơ bản Các khía cạnh đó là:
© An foàn, cung cấp dịch vụ y tế với sự giảm thiểu rủi ro và nguy hại
© Công bằng cung cấp dịch vụ y tế không có khác biệt về chất lượng
theo các đặc điểm cá nhân của người bệnh như giới tính, chủng tộc, dân tộc,
vị trí địa lý, hoặc tình trạng kinh tế xã hội
Chất lượng vụ y tế bao gồm hai thành phan: chat lượng kỹ thuật
(technical quality) và chất lượng chức năng (fnetinonal quality) Chất lượng
kỹ thuật là sự chính xác trong ky chân đoán và điều trị bệnh Chất lượng chức
năng bao gồm các đặc tính như: cơ sở vật chất bệnh viện, giao tiếp với nhân viên y tế, cách thức tổ chức quy trình khám chữa bệnh mà người bệnh phải
thực hiện, cách thức bệnh viện chăm sóc người bệnh
Chỉ có nhân viên trong ngành y tế là những người được trang bị đầy đủ kiến thức để có thể đánh giá chất lượng kỹ thuật của dịch vụ y tế Người bệnh hiếm khi có khả năng nhận định và đánh giá chất lượng kỹ thuật Trong đa số các trường hợp, người bệnh đánh giá dịch vụ y tế dựa vào chất lượng chức năng hơn là chất lượng kỹ thuật
Trang 28Các chương trình đào tạo nhân lực về chuyên môn và quản lý trong
ngành y tế từ trước đến nay chủ yếu chú trọng đào tạo kiến thức và kỹ năng,
dé đảm bảo chất lượng kỹ thuật mà ít quan tâm đến các kiến thức và kỹ năng
dé đảm bảo cung cấp chất lượng chức năng Bên cạnh đó, tính cạnh tranh của các dịch vụ y tế trong thời gian qua không cao Các yếu tố trên làm cho chất
lượng dịch vụ y tế ở Việt Nam mát cân đối nghiêm trọng giữa hai thành phần cấu thành chính: kỹ thuật và chức năng
Trong khi nhu cầu của người bệnh và xã hội ngày càng phát triển, ngành
y tế vẫn chưa theo kịp đà phát triển này của xã hội, đặc biệt là việc nâng cao
chất lượng chức năng của dịch vụ y tế Thực tế cho thấy, với các bệnh viện
ngày càng quá tải khiến chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng đều giảm Bệnh viện công lập chủ yếu đầu tư vào chất lượng kỹ thuật bằng cách đầu tư con người và thiết bị để phát triển kỹ thuật mới và gia tăng quy mô để đảm bảo phục vụ nhu cầu ngày càng tăng
e- Quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng
Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng là
chủ đề được các nhà nghiên cứu đưa ra bàn luận liên tục trong các thập kỷ qua Nhiều nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng trong các ngành dịch vụ
đã được thực hiện và nhìn chung đều kết luận rằng chất lượng dịch vụ và sự hài lòng là hai khái niệm được phân biệt
Shemwell & cộng sự, 1998, dẫn theo Thongsamak, 2001 thì chất lượng
dịch vụ là khái niệm khách quan, mang tính lượng giá và nhận thức, trong khi
đó, sự hài lòng là sự kết hợp của các thành phần chủ quan, dựa vào cảm giác
và cảm xúc [15]
Sự hài lòng của khách hàng là một khái niệm tổng quát nói lên sự hài
lòng của họ khi tiêu dùng một dịch vụ, còn nói đến chất lượng dịch vụ là quan tâm đến các thành phần cụ thể của dịch vụ (Zeithaml & Bitner, 2000)
Theo Oliver (1993) cho rằng chất lượng dịch vụ ảnh hưởng đến mức độ
Trang 29thỏa mãn của khách hàng Nghĩa là chất lượng dịch vụ được xác định bởi
nhiều nhân tố khác nhau, là một phần nhân tố quyết định của sự hài lòng
(Parasuraman, 1985, 1988)
Nhiều công trình nghiên cứu thực tiễn về mối quan hệ giữa chất lượng
dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng Cronin & Taylor (1992) đã kiểm định
mối quan này và kết luận rằng cảm nhận chất lượng dịch vụ dẫn đến sự thỏa
mãn của khách hàng Các nghiên cứu đã kết luận rằng chất lượng dịch vụ là
tiền đề của sự thỏa mãn và là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự thỏa mãn
Do đó, muốn nâng cao sự hài lòng của khách hàng, nhà cung cấp dịch vụ
phải nâng cao chất lượng dịch vụ Nói cách khác, chất lượng dịch vụ và sự hài
lòng của khách hàng có mối quan hệ hỗ tương chặt chẽ với nhau, trong đó
chất lượng dịch vụ là cái được tạo ra trước và sau đó quyết định đến sự hài
lòng của khách hàng Mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố này là vấn đề then chốt trong hầu hết các nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng Trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai yếu tố này, Spreng va Mackoy (1996) cũng chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ là tiền đề của sự hài lòng khách hàng
Trang 304 Khác biệt giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng Theo Oliver (1993), tuy có quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng chất lượng
dịch vụ và sự hài lòng khách hàng có sự khác biệt nhất định thể hiện ở những
khía cạnh sau:
v⁄ Các tiêu chí đo lường chất lượng dịch vụ mang tính cụ thể trong khi
sự hài lòng khách hàng có liên quan đến nhiều yếu tố khác ngoài chất lượng
dịch vụ như giá cả, quan hệ khách hàng, thời gian sử dụng dịch vụ,
*⁄ Cách đánh giá chất lượng dịch vụ phục thuộc vào việc thực hiện dịch
vụ (service delivery) như thế nào nhưng sự hài lòng khách hàng lại là sự so sánh giữa các giá trị nhận được và các giá trị mong đợi đối với việc thực hiện dịch vụ đó
/ Nhận thức về chất lượng dịch vụ ít phụ thuộc vào kinh nghiệm với
nhà cung cắp dịch vụ, môi trường kinh doanh trong khi sự hài lòng của khách
hàng lại phụ thuộc nhiều vào các yếu tố này hơn
Việc tìm hiểu sự khác biệt này sẽ giúp chúng ta hạn chế được sự nhằm lần giữa việc xác định các nhân tô quyết định chất lượng dịch vụ và các nhân
16 tác động đến sự hài lòng khách hàng
1.3 CÁC MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG CHÁT LƯỢNG DỊCH VỤ
1.3.1 Mô hình SERVQUAL (Parasuraman, 1985)
Lấy ý tưởng lý thuyết trong mô hình của Gronroos (1984), Parasuraman
(1985) đã xây dựng một công cụ đo lường hỗn hợp, gọi là SERVQUAL, dùng
để đo lường chất lượng dịch vụ cảm nhận, bộ thang đo SERVQUAL chứa 22 cặp của các khoản mục đo theo thang điểm Likert để đo lường riêng biệt
những kỳ vọng và cảm nhận thực tế của khách hàng về chất lượng dịch vụ Trong đó, phần thứ nhất xác định “kỳ vọng” của khách hàng đối với dịch vụ nói chung; phần thứ hai nhằm xác định “cảm nhận” của khách hàng đối với
việc thực hiện dịch vụ Kết quả nghiên cứu nhằm nhận ra các khoảng cách
Trang 31giữa cảm nhận khách hàng về chất lượng dịch vụ do doanh nghiệp thực hiện
và kỳ vọng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ đó Cụ thể: Chất
lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận - Giá trị kỳ vọng Đây là một trong
những mô hình được sử dụng khá phổ biến để đánh giá chất lượng dịch vụ trong nhiều lĩnh vực khác nhau Mô hình SERVQUAL gồm 10 thành pI
~ Tin cậy (reliability): nói lên khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và
đúng thời hạn ngay là tiên
— Đáp ứng (Responsiveness): nói lên sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp các dịch vụ cho khách hàng,
— Năng lực phục vụ (Competence): Nói lên trình độ chuyên môn để thực hiện dịch vụ Khả năng phục vụ biểu hiện khi nhân viên tiếp xúc với
khách hàng, nhân viên trực tiếp thực hiện dịch vụ, khả năng nghiên cứu để
nắm bắt thông tin liên quan cằn thiết cho việc phục vụ khách hàng
— Tiếp cận (access): liên quan đến việc tạo mọi điều kiện đễ dàng cho
khách hàng trong việc tiếp cận với dịch vụ như rút ngắn thời gian chờ đợi của
khách hàng, địa
— Lịch sự (Courtesy): nói lên tính cách phục vụ niềm nở, tôn trọng và
phục vụ và giờ mở cửa thuận lợi cho khách hàng
thân thiện với khách hàng của nhân viên
— Thông tin (Communication): liên quan đến việc giao tiếp, thông đạt
cho khách hàng bằng ngôn ngữ mà họ (khách hàng) iết dễ dàng và lắng
nghe về những vấn để liên quan đến họ như giải thích dịch vụ, chỉ phí, giải
quyết khiếu nại thắc mắc
— Tin nhiệm (Credibility): nói lên khả năng tạo lòng tin cho khách hàng, làm cho khách hàng tin cậy vào công ty Khả năng này thể hiện qua tên tuôi và tiếng tăm của công ty, nhân cách của nhân viên phục vụ giao tiếp trực
tiếp với khách hàng
— An toan (Security): liên quan đến khả năng bảo đảm sự an toàn cho
Trang 32khách hàng, thể hiện qua sự an toàn về vật chất, tài chính, cũng như bảo mật
— Phương tiện hữu hình (Tangibles): thể hiện qua ngoại hình, trang
phục của nhân viên phục vụ, các trang thiết bị hỗ trợ cho dịch vụ
Phương pháp cơ bản được vận dụng trong SERVQUAL là phân tích
nhân tố, một phương pháp phân tích thống kê cho phép thu gọn dữ liệu đa biến ban đầu để hình thành các nhân tố trong đánh giá của khách hàng về chất
lượng dịch vụ
1.3.2 M6 hinh SERVPERF (Cronin and Taylor, 1992)
Trên cơ sở mô hình SERVQUAL của Parasuraman, Cronin và Taylor
(1992) đã khắc phục và cho ra đời mô hình SERVPERE, một biến thể của
SERVQUAL
Theo mô hình SERVPERF thì: Chất lượng dịch vụ = Mực độ cảm
nhận Kết luận này đã nhận được sự đồng tình bởi các nghiên cứu của Lee và
ctg (2000), Brady và ctg (2002) Bộ thang đo SERVPERF cũng có hai mươi
hai phát biểu với năm thành phần cơ bản tương tự như phần hỏi về cảm nhận của khách hàng trong mô hình SERVQUAL, tuy nhiên bỏ qua phần hỏi về kỳ
vọng, năm thành phan cơ bản, đó là:
— Tin cậy (reliability): thể hiện qua khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp
và đúng thời hạn ngay từ lần đầu tiên
— Dép teng (responsiveness): thé hign qua su mong muốn, sẵn sàng của
nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng
— Năng lực phục vụ (assurance) thê hiện qua trình độ chuyên môn và
Trang 33cung cách phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng
— Sw cam thông (empathy): thê hiện sự quan tâm, chăm sóc đến từng cá
nhân, khách hàng
— Phương tiện hữu hình (tangibles): thể hiện qua ngoại hình, trang phục
của nhân viên, các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ
Hình 1.2 Mô hình chất lượng dịch vụ SERVPERE
1.4 CAC MO HINH DO LUONG SY HAI LONG CUA BE!
1.4.1 Mô hình nghiên cứu của tác giã Ny Net (2007)
Nghiên cứu của Ny Net được tiến hành để đánh giá sự hai lòng của bệnh
HAN
nhân ngoại trú đối với dịch vụ y tế tại Khoa Khám bệnh bệnh viện
'Wangnumyen, tỉnh Sakaeo, Thái Lan Mô hình trong nghiên cứu của Ny Net gồm 6 yếu tổ:
Trang 341.4.3 Mô hình nghiên cứu của tác giã Nazirah (2008)
Nghiên cứu của Nazarah được tiến hành để đánh giá sự hài lòng của
bệnh nhân ngoại trú đối với dịch vụ y tế tại trung tâm y tế Kuta Blang, huyện
Bireuen, tỉnh Nanggroe Aceh Darussalam, Indonesia Mô hình nghiên cứu
Trang 35bệnh do Parasuraman xây dựng gồm 5 khía cạnh, mỗi khía cạnh có 4 tiểu
mục, tổng cộng có 20 tiều mục
Hình 1.4 Mô hình nghiên cứu của tác giả Phạm Trí Dũng và cộng sự
Trang 36CHUONG 2
DICH VU KHAM CHUA BENH BAO HIEM Y TE
NGOAI TRU TAI KHOA KHAM BENH BENH VIEN
DA KHOA DA NANG 2.1 TONG QUAN BENH VIEN DA KHOA DA NANG
2.1.1 Lịch sử hình thành
Bệnh viện Đà Nẵng được thành lập từ trước năm 1945, với tên ban đầu
là Hôspital de Danang Cơ sở đặt tại đường Hùng Vương (nay là Trường Cao Dang Y tế TW2) thuộc Sở Y tế thành phố Da Nẵng và một phần của Khu Dược)
Năm 1965, bệnh viện được chuyền vẻ vị trí hiện nay (124 Hải Phòng —
TP Da Nẵng) Từ năm 1970, được sự giúp đỡ của tổ chức Malteser, Trung
tâm Y tế toàn khoa Đà Nẵng đã phát triển số giường bệnh lên đến 1.000
giường (bao gồm 200 giường của Bệnh viện C Đà Nẵng)
Sau năm 1975, bệnh viện một lần nữa được mang tên Bệnh viện Đa khoa
Da Nẵng, trực thuộc Sở Y tế tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng Năm 1997, thành
phố Đà Nẵng trở thành Thành phố trực thuộc Trung ương, Bệnh viện Đà
Nẵng trực thuộc Sở Y tế thành phó Đà Nẵng Tháng 1 năm 2003, Bệnh viện
Đà Nẵng chính thức được nâng hạng trở thành bệnh viện Hạng I
2.1.2 Tổ chức của bệnh viện Da Nẵng
a Các phòng chức năng
Bệnh viện Đà Nẵng gồm 07 phòng chức năng: Phòng Hành chính quản
trị, phòng Kế hoạch tông hợp, Phòng chỉ đạo tuyến, Phòng Tổ chức cán bộ,
Phòng điều dưỡng, Phòng Tài chính — Kế toán, Phòng vật tư kỹ thuật
b Các khoa điều trị
Bệnh viện Đà Nẵng gồm 36 khoa: Khoa Khám bệnh, Chống nhiễm
khuẩn, Dinh dưỡng, Dược, Đông y, Đơn vi tim bam sinh, Gây mê hồi sức,
Trang 37Giải phẫu bệnh, Hồi sức cấp cứu, Hồi sức sau mổ, Huyết học, Y học nhiệt
đới, Mắt, Nội tổng quát, Nội hô hấp, Nội tiêu hóa, Nội tìm mạch, Nội thần
kinh, Nội thận - tiết niệu, Ngoại bỏng - tạo hình, Ngoại chấn thương, Ngoại
tiết niệu, Ngoại tiêu hóa — tổng hợp, Ngoại tổng quát, Ngoại thần kinh, Phục
hồi chức năng, Răng hàm mặt, Sinh hóa, Tai mũi họng, Thận nhân tạo, Thăm
dò chân đoán, Trữ máu, Ung bướu, Vi sinh, Xquang, Y học hạt nhân
PHÒNG CHỨC NĂNG KHOA LÂM SÀNG KHOA CAN LAM SANG
Hành chính quản trị ~ Khoa Chống nhiễm ~ Khoa Giải phẫu bệnh
Kế hoạch tông hợp ~ Khoa Đông y ~ Thăm dò chân đoán
~ Đơn vị tìm bẩm sinh ~ Trữ máu
~ Khoa Hồi sức sau mỗ Phòng ~ Khoa Y học nhiệt đới
Tài chính kế toán ~ Khoa Mắt
Chỉ đạo tuyến — Khoa Tai mũi họng
~ Khoa Thận nhân tạo
Điều dưỡng
~— Khoa Y học hạt nhân
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức bệnh viện đa khoa Đà Nẵng
Trang 382.1.3 Chức năng nhiệm vụ
a Cấp cứu — khám bệnh — chữa bệnh
~— Bệnh viện Đà Nẵng là bệnh viện tuyến cuối cùng của thành phó Đà
Nẵng, chịu trách nhiệm thu dung điều trị bệnh nhân của thành phố Đà Nẵng,
tỉnh Quảng Nam và một số tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên như Quảng Ngãi,
Bình Định, Đak Lak BVĐN tiếp nhận tắt cả các trường hợp người bệnh từ
én để cấp cứu, khám bệnh,
bên ngoài vào hoặc các bệnh viện khác chuyél
chữa bệnh nội trú và ngoại trú
— Tổ chức khám sức khỏe và chứng nhận sức khỏe theo quy định của Nhà nước
— Tổ chức khám giám định sức khỏe khi hội đồng giám định y khoa thành phố trưng
khám giám định pháp y khi cơ quan bảo vệ pháp luật
trưng cầu
— Chuyển người bệnh lên tuyến trên hoặc chuyển sang các bệnh viện
chuyên khoa khi bệnh viện không đủ khả năng giải quyết
b Đào tạo cán bộ y tế
— Ngoài chức năng khám chữa bệnh, bệnh viện còn là cơ sở thực hành để
đào tạo cán bộ y tế ở Trường Đại học Y Huế, Học viện Quân Y, Trường Cao
đẳng Y tế TW2
~ Đồng thời BVĐN tổ chức đào tạo cho các nhân viên của mình và nhân
viên tuyến dưới nâng cao trình độ chuyên môn
e Nghiên cứu khoa học về y học
~ Tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu về y học và ứng dụng những
tiến bộ kỹ thuật y học ở cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp Cơ sở, chú trọng nghiên
cứu y học cô truyền kết hợp với y học hiện đại và các phương pháp chữa bệnh
không dùng thuốc — Kết hợp với các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành để
phát triển kỹ thuật của bệnh viện
Trang 39~— Nghiên cứu dịch tễ học cộng đồng trong công tác chăm sóc sức khỏe
ban đầu
d Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật
— Lap kế hoạch và tổ chức thực hiện việc chỉ đạo các bệnh viện tuyến
dưới phát triển kỹ thuật chuyên môn nâng cao chất lượng chan đoán và
điều trị
— Kết hợp với các bệnh viện tuyến dưới thực hiện chương trình và kế
hoạch chăm sóc sức khỏe ban đầu trong khu vực
e Phòng bệnh
~— Tuyên truyền, giáo dục sức khỏe cho cộng đồng
~ Phối hợp với các cơ sở y tế dự phòng thực hiện thường xuyên nhiệm
vụ phòng bệnh, phòng dịch
# Hợp tác quốc tế
Bệnh viện mở rộng quan hệ hợp tác với các tổ chức nước ngoài, tranh
thủ các nguồn viện trợ để nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị và giao lưu
về chuyên môn, chuyển giao các kỹ thuật mới trong chân đoán và điều trị Bệnh viện Đà Nẵng đã ký kết hợp tác về đảo tạo và hỗ trợ kỹ thuật với Đại
học UTMB Hoa Kỳ, Rotary Club Nhật Bản, Học Bồng Học mãi của Úc, Hội Medical Danang Thuy sĩ, Hội Trái tim vì trái tìm của Đức, Hội Face the
world
# Quản lý kinh tẾ trong bệnh viện
— C6 kế hoạch sử dụng hiệu quả cao ngân sách Nhà nước cấp
— Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về thu, chỉ ngân sách của bệnh viện Từng bước hạch toán chỉ phí khám bệnh, chữa bệnh
— Tạo thêm nguồn kinh phí từ các dịch vụ y tế: Viện phí, bảo hiểm y tế,
đầu tư của nước ngoài và các tô chức kinh tế khác
Trang 402.1.4 Quy mô
Với chỉ tiêu 1.610 giường bệnh, hơn 1200 cán bộ nhân viên bao gồm 31
TS & BSCKII và 204 ThS & BSCKI, thu dung khoảng hơn 3000 bệnh nhân (nội trú & ngoại trú) mỗi ngày, Bệnh viện Đà Nẵng đang phải luôn nỗ lực tự
hoàn thiện mình để đáp ứng với nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân thành phố Đà Nẵng và khu vực
2.1.5 Cơ sở hạ tầng
Được sự đầu tư của Uỷ ban nhân dân thành phố, cùng với sự viện trợ
nhân đạo của nhiều tổ chức từ thiện đặc biệt là Tổ chức AP và Tổ chức Đông
Tây hội ngộ Hoa Kỳ với kinh phí hơn 15 triệu USD, toàn bộ bệnh viện đã và đang được xây dựng lại theo một quy hoạch của một bệnh viện hiện đại Hiện
nay Khu hồi sức — cấp cứu đang được xây dựng thêm đề đáp ứng nhu cầu
khám chữa bệnh của người dân
2.1.6 Năng lực chuyên môn
s#* Các kỹ thuật chẩn đoán: X Quang kỹ thuật
biệt là 64 dãy, chụp mạch xoá nền (DSA), Cộng hưởng từ (MRI), chụp cắt lop
, CT scan đa lớp cắt đặc
đơn quang từ (SPECT), siêu âm màu, siêu âm 4 chiều, nội soi chẩn đoán va
can thiệp của các chuyên ngành, đo độ long xương bằng kỹ thuật DEXA, hệ
thông labô hiện đại về sinh hoá, huyết học tự động, kỹ thuật PCR
s+ Các kỹ thuật điều trị:
+ Triển khai ghép thận từ năm 2005
+ Triển khai mỗ tim hở năm 2006 đến nay đã phẫu thuật các bệnh tim
phức tạp bằng các kỹ thuật sửa van, thay van, sửa chữa dị tật tim Kỹ thuật can thiệp mạch cũng triển khai song hành như đặt stent, nong mạch, làm TOCE đặc biệt là điều trị can thiệp bằng Amplatzer, Coil trong một số bệnh
lý tim bẩm sinh Đến nay Don vi Tim mạch cùng với Quỹ Nhân đạo “Trái tìm