1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Rèn đọc, viết cho học sinh lớp 1, 2

18 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rèn đọc, viết cho học sinh lớp 1, 2
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục tiểu học
Thể loại Đề tài hướng dẫn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 237 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở thực tiễn của việc dạy học Tiếng Việt lớp 1, 2: a.Về phía giáo viên: Giáo viên đã giảng dạy đúng nội dung chương trình, giáo viên đã hướng dẫn học sinh rèn các kĩ năng và cho học s

Trang 1

Chuyên đề : Rèn đọc, viết cho học sinh lớp 1, 2.

1 Đặt vấn đề

- Môn Tiếng Việt là môn học có tầm quan trọng với học sinh đăc biệt ở bậc tiểu học, Thông qua môn Tiếng Việt học sinh được hình thành và phát triển các kĩ năng quan trọng , đó là kĩ năng nghe, nói, đọc , viết , để học sinh sử dụng trong học tập và giao tiếp Vì vậy, kĩ năng đọc, viết không những có quan hệ mật thiết tới chất lượng học tập ở các môn học khác mà còn góp phần rèn luyện một trong những kỹ năng hàng đầu của việc học môn Tiếng Việt trong trường tiểu học Thông qua chữ viết có thể đánh giá được “nét chữ, nết người” Nếu học sinh viết đúng, đẹp, rõ ràng, đảm bảo tốc độ quy định thì học sinh ghi chép bài học tốt, nhờ vậy mà kết quả học tập tốt hơn, ngược lại khi viết các em mắc nhiều lỗi chính tả , chưa đúng nét , … sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của các em

- Trong quá trình dạy học, tôi thấy kĩ năng đọc, viết của một số em chưa đảm bảo, phát âm, đọc còn nhỏ, chưa rõ rang; viết không đúng quy trình, chưa liền mạch, còn sai nhiều lỗi chính tả….;một số em viết đẹp nhưng không có ý thức giữ gìn sách vở, còn để quăn mép, bong bìa, viết vẽ bừa bãi lên vở Chính vì vậy,tôi đã áp dụng một số biện pháp để rèn đọc, viết cho học sinh lớp 1, 2 đạt hiệu quả cao hơn

2 Cơ sở thực tiễn của việc dạy học Tiếng Việt lớp 1, 2:

a.Về phía giáo viên:

Giáo viên đã giảng dạy đúng nội dung chương trình, giáo viên đã hướng dẫn học sinh rèn các kĩ năng và cho học sinh được luyện đọc nhiều

- Giáo viên đã chuẩn bị bài, nghiên cứu bài dạy trước khi lên lớp

- Thực hiện đầy đủ, đúng quy trình bốn việc

- Giáo viên đã vận dụng khá linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học (đọc cá nhân, đọc nhóm, tổ…) Bên cạnh đó còn nhiều giáo viên còn lúng túng như:

+ Trong dạy học giáo viên còn nói nhiều, vừa sử dụng lệnh vừa nói

+ Việc phân bố thời gian giữa các hoạt động chưa hợp lý

+ Giáo viên chưa thật chú ý đến đối tượng học sinh đọc chưa tốt

- Một số giáo viên chưa làm chủ được các phương pháp, thủ pháp dạy học do đó chưa kịp thời sửa các lỗi phát âm cho học sinh, chưa luyện tốt cho học sinh đọc, viết hiệu quả

- Một số giáo viên chưa chịu khó học hỏi, đọc các tài liệu về dạy học để tìm hiểu, vận dụng phương pháp dạy học tốt

- Một số giáo viên chưa dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu nội dung bài dạy

- Kĩ năng tổ chức các hoạt động dạy học ở một số giáo viên còn lúng túng, hiệu quả chưa cao

b Về phía học sinh:

* Ưu điểm:

- Đa số học sinh ngoan ngoãn, có ý thức tự giác trong học tập

- Có Sách giáo khoa đầy đủ

- Có nhiều em đọc to, rõ ràng, chữ viết cẩn thận

Trang 2

* Hạn chế:

- Ý thức tập trung vào việc học của học sinh chưa cao,có nhiều em học sinh chưa đọc , viết tốt

- Thao tác đọc của học sinh còn chậm, âm lượng nhỏ nên ảnh hưởng đến hiệu quả của giờ dạy

3 Một số biện pháp đã áp dụng:

3 1 Thường xuyên quan tâm nề nếp lớp học:

Nề nếp lớp học rất quan trọng, do đó giáo viên cần ổn định nề nếp ngay từ đầu Nếu ngay từ đầu không xây dựng được nề nếp cho HS, chỉ cần một số ít em không tập trung, không chú ý là đã ảnh hưởng đến việc tổ chức dạy của

GV và tiết học không đạt được yêu cầu đề ra Ngày đầu tiên mới nhận học sinh từ lớp dưới lên, giáo viên cần thể hiện sự nghiêm khắc nhưng cũng phải biết kết hợp dạy học với các trò chơi; cần tạo sự thân mật giữa thầy và trò:

- Giáo viên vừa cứng rắn cương quyết vừa thể hiện tình cảm dịu dàng yêu thương chăm sóc các em

- Giáo viên cho cả lớp bình chọn một học sinh có năng lực làm lớp trưởng, lớp trưởng phải được cả lớp tin tưởng, phải học tốt, chăm ngoan và có kĩ năng thực hiện được các công việc mà cô giáo giao

- Sau mỗi tuần, tôi đã tổ chức những buổi sinh hoạt lớp để nhận xét công việc trong tuần qua : Cả lớp cùng nhận xét các việc mà lớp đã thực hiện, nhận xét được mặt tốt cần phát huy trong thời gian tới

Song song với việc xây dựng nề nếp trật tự, kỷ luật cho học sinh , giáo viên cũng rèn cho học sinh nề nếp tự quản trong học tập

Ví dụ : Vào đầu giờ mỗi buổi học, tôi thường hướng dẫn lớp trưởng yêu cầu các bạn lấy sách ra đọc bài, ôn lại

những bài đã học; hoặc luyện viết các chữ ghi âm, vần đã học nhằm rèn kĩ năng đọc cũng như rèn nề nếp học tập cho học sinh

Ví dụ: Trong các tiết sinh hoạt mười lăm phút đầu buổi, tôi thường hướng dẫn các em luyện đọc lại các bài đã học

của buổi học hôm trước, chú ý luyện đọc cho những em đọc còn chậm, còn nhỏ

Với những em nhận diện và phát âm còn chậm, tôi giúp em phát âm lại những âm khó, những âm em thường nhầm lẫn

Với những học sinh có kĩ năng đọc tốt, tôi đã kịp thời tuyên dương nhằm nhân rộng điển hình trong lớp, giúp nhiều học sinh học hỏi theo

Trong quá trình dạy học, từ những ngày đầu nhận lớp, tôi đã luôn theo dõi, quan sát để nắm được từng đối tượng học sinh; biết năng lực học tập của mỗi học sinh để từ đó có kế hoạch cụ thể trong dạy học

- Nếu trong lớp có học sinh chưa học tốt giáo viên phải liên hệ với phụ huynh hoặc ghé thăm gia đình học sinh để tìm hiểu nguyên nhân

- Đối với học sinh có hoàn cảnh khó khăn giáo viên cần tìm hiểu tận tình: đến gia đình thăm hỏi đồng thời đề ra biện pháp hỗ trợ gíup đỡ các em

- Giáo viên phải thường xuyên kiểm tra, nhận xét việc đọc, viết của học sinh để nắm được tình hình sức học của các em kịp thời uốn nắn, giúp đỡ kịp thời

- Trong quá trình dạy học , giáo viên là người điều khiển, tổ chức hướng dẫn học sinh học tập; học sinh phải biết tự giác học tập để chiếm lĩnh kiến thức Vì vậy giáo viên phải biết áp dụng các hình thức học tập nhằm phát huy tính tích cực của học sinh

3 2 Hướng dẫn học sinh thực hiện tốt các lệnh:

Ngay từ đầu tôi đã chú ý tập cho HS làm quen với cách thực hiện mọi hoạt động theo “lệnh” Lệnh là các quy ước

mà GV thống nhất với HS khi thực hiện các hoạt động (gồm lời nói, hành động, ký hiệu) Giáo viên không nên vừa

sử dụng ký hiệu vừa sử dụng lời nói để hướng dẫn HS cùng làm một việc Lệnh phải dứt khoát, rõ ràng, ngắn gọn

Trang 3

Ví dụ: Tôi đã quy ước với học sinh: b là bảng con, v là vở tập viết, s là sách giáo khoa; o là khoanh tay lên bàn,

không nói chuyện Khi cô đưa tay về phía học sinh là mời đọc, cô xoè 2 tay là đọc đồng thanh, gõ ngang thước( 1 gõ) là lật bảng con sang mặt khác, để dọc thước ở các chữ là đọc trơn, để ngang thước ở mô hình, ở chữ là đọc phân tích …

Tôi đã chú ý sử dụng lệnh chuẩn xác, nghiêm túc, đồng nhất Trong giờ học tôi luôn yêu cầu học sinh phải tập trung chú ý mới có thể thực hiện tốt theo lệnh của giáo viên Khi thực hiện giao các lệnh, tôi chỉ giao lệnh một lần, không nhắc đi nhắc lại, không làm đi làm lại tạo cho HS một tư duy không tốt Khi một em không nghe rõ, nhìn rõ lệnh hoặc không thực hiện được lệnh thì tôi không nhắc lại mà mời một học sinh ngồi bên cạnh nhắc lại cho bạn rõ Khi thực hiện phải để tất cả học sinh cùng thực hiện xong lệnh đó rồi mới chuyển sang lệnh khác.(VD như khi viết nét, viết chữ…)

3 3 Thực hiện tốt quy trình d¹y häc.:

Trong quá trình giảng dạy môn Tiếng Việt, tôi luôn tuân thủ và thực hiên nghiêm túc theo quy trình 4 việc Đặc biệt, các tiết lập mẫu là những tiết học rất quan trọng, do đó khi dạy các tiết lập mẫu tôi dạy rất tỉ mỉ , dạy chắc chắn từng việc để tạo tiền đề cho những tiết dùng mẫu

- Giáo viên luôn chủ động linh hoạt hoạt trong quá trình tổ chức tiết học sao cho phù hợp với học sinh lớp mình Cần đảm bảo quy trình tiết dạy diễn ra một cách nhẹ nhàng, với một phong thái tự nhiên; hãy xem việc dạy như việc trao đổi với học sinh về những vấn đề diễn ra trong cuộc sống, như vậy tiết học mới hiệu quả mọi cái thầy đem đến một cách tự nhiên thì trò cũng sẽ nhận một cách tự nhiên và hiệu quả

+ Khi hướng dẫn học sinh luyện viết, tôi luôntuân thủ quy trình viết: hướng dẫn chấm điểm toạ độ, viết mẫu, hướng

dẫn cách viết, học sinh viết ở bảng con, phát âm lại

Tất cả các nét, từ đơn giản đến phức tạp đều không được bỏ qua công đoạn chấm điểm toạ độ, bởi HS lớp 1 tay còn yếu, lại không hề được học chữ ở trường Mầm Non như trước đây nên nếu không sử dụng điểm toạ độ sẽ dẫn đến việc viết sai, không đảm bảo độ cao, độ rộng, không đúng quy trình viết (đưa nét bút bắt đầu từ trên xuống dưới,

từ trái qua phải…) Khi tập viết nét nên tách riêng thành 2 bước :

-Bước 1: Xác định điểm tọa độ trên đường kẻ Quy ước đường kẻ đậm gọi là đường 1, tiếp đó là đường 2, 3…(cả

phía trên và phía dưới đường kẻ 1) GV làm mẫu trên bảng lớn rồi cho HS thực hiện trên bảng con và trong vở

- Bước 2: Viết nét (hay nối nét): Sau khi HS chấm được điểm tọa độ xong thì GV mới hướng dẫn quy trình viết nét.

Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh viết chữ a, tôi hướng dẫn học sinh biết chữ a gồm một nét cong kín và một nét móc

ngược, độ cao chữ a là hai li nhỏ

Tiếp đó, tôi hướng dẫn học sinh nhìn lên các dòng kẻ ở bảng lớn để hướng dẫn chấm điểm tọa độ: Chấm một điểm tọa độ ở dưới đường kẻ ba để viết nét cong kín; Chấm một điểm tọa độ ở đường kẻ ba để viết nét móc ngươc; Chầm một điểm tọa độ ở đường kẻ hai là điểm dừng bút của nét móc ngược Như vậy, để viết chữ a, tôi hướng dẫn học sinh chấm ba điểm tọa độ

- Sau khi hướng dẫn cách chấm điểm tọa độ, tôi hướng dẫn học sinh luyện viết nét cong kín, nét mọc ngược để có chữ a

- Để học sinh luyện viết thành thạo và nhớ được chữ mình vừa viết, tôi thường cho học sinh viết mỗi chữ 2- 3 lần, yêu cầu học sinh vừa viết vừa tự nhẩm để nhớ các nét, nhớ tên chữ

Sau mỗi lần viết, tôi đều nhận xét, bổ sung cách viết về độ cao, độ rộng, điểm đặt bút, điểm dừng bút, khoảng cách giữa các nét, các chữ để giúp học sinh viết các chữ đúng quy định, đúng cấu tạo

Ví dụ: Khi dạy học sinh viết chữ a, tôi đã hướng dẫn cách viết nhưng qua quan sát ở bảng tôi thấy vẫn còn một số

em viết nét mọc ngược chưa đủ độ cao hai đơn vị, có em viết nét mọc ngược dừng bút ở giữa đường kẻ một và hai Lúc đó tôi đã đến từng em và nhẹ nhàng chỉ ra những chỗ chưa phù hợp để giúp em quan sát lại chữ mẫu và sửa lại kịp thời

+ Khi đọc cho HS viết chính tả, tôi thường yêu cầu học sinh phải thật chú ý để nghe viết đúng, và tôi đọc chậm, đọc

rõ nhưng chỉ đọc một lần, không đọc đi đọc lại để tạo cho HS thói quen phải luôn tập trung chú ý vào bài học Đồng thời, sử dụng một số phương pháp dạy học như: Phương pháp làm mẫu, phương pháp phân tích mẫu, phương pháp hỏi đáp, phương pháp trực quan… kết hợp với nhiều hình thức dạy học như: Học theo lớp, nhóm; cá nhân,

Trang 4

Giáo viên luôn yêu cầu học sinh thực hành và rèn luyện kỹ năng đọc, viết; yêu cầu từ dễ đến khó: đọc đúng, đọc to,

rõ ràng; viết đúng, viết đẹp Để làm được điều này, người giáo viên chỉ nhiệt tình giảng dạy là không đủ mà còn phải vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học; phải biết kích thích lòng say mê học tập của các

em, tạo được hứng thú học tập cho học sinh

3.4 Tổ chức trò chơi học tập giúp học sinh được thư giãn và vừa tạo hứng thú học tập cho học sinh.

Trò chơi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với học sinh Nó vừa thoả mãn nhu cầu được chơi, được giải trí của các em vừa góp phần phát triển các chức năng tâm lí và hình thành nhân cách cho học sinh Khi được tổ chức đúng cách, hợp lí, trò chơi sẽ kích thích sự phát triển trí tuệ của học sinh Sử dụng trò chơi trong dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh, tăng cường hoạt động cá thể phối hợp với học tập, giao lưu; hình thành và rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống Sử dụng trò chơi trong dạy học không chỉ giúp các em lĩnh hội tri thức một cách dễ dàng mà còn giúp các em củng cố và khắc sâu kiến thức đó Trong quá trình dạy các tiết Tiếng Việt tôi thường dành thời gian 4 – 5 phút tổ chức cho học sinh chơi một số trò chơi: Đi chợ; Gọi thuyền; Bắn tên; Giấu tay; Dùng tay, đoán tên nhằm giúp học sinh được thư giãn; vừa củng cố các âm, vần vừa học

Ví dụ: Khi dạy vần /uy/, kết thúc việc 1, 2 tôi đã tổ chức cho học sinh chơi trò chơi đoán tên nhằm giúp học sinh củng

cố vần vừa học

Trò chơi như sau:+ Giáo viên nêu luật chơi: Chúng ta tìm và đoán một số tiếng có vần /uy/( dùng để gọi tên người.)

Ai tìm được nhiều tiếng sẽ được tuyên dương

- Học sinh suy nghĩ(thêm các phụ âm vào vần uy để được các tiếng mới )

+Lớp trưởng tổ chức cho các bạn chơi: Mời các bạn chơi trò chơi đoán tên

- Cả lớp sẽ nói: tên gì, tên gì?

- Lớp trưởng trả lời: Đoán tên các bạn có vần uy

- Lớp trưởng mời từng bạn đoán và nêu những tên có vần uy: huy, thúy, quý, thủy, thùy…( cả lớp phân tích từng tiếng )

+ Sau mỗi lần chơi, giáo viên nhận xét, tuyên dương những em đoán được nhiều tên

Củng cố: Ở lớp mình có tên của bạn nào có vần uy không?( gọi 1, 2 em trả lời: huy, duy - cả lớp phân tích tiếng) Qua trò chơi này tôi thấy học sinh rất hứng thú khi tham gia trò chơi, những em có tên là các vần vừa học cũng cất vui vì được bạn, cả lớp nhắc đến tên mình Sau mỗi giờ học, tôi cũng thường nhắc các em luyệnđọc, viết tên của mình để vừa ghi nhớ vần vừa rèn luyện kĩ năng viết cho học sinh

3.5 Kiểm soát được việc học của học sinh:

Đây là việc làm rất quan trọng trong mỗi giờ học để hướng dẫn học sinh thực hiện có hiệu quả các việc, các hoạt động học tập Tôi luôn nhắc nhở học sinh trong giờ học cần nghiêm túc, cần chú ý để thực hiện tốt theo lệnh của cô,

để hiểu được nôi dung bài học; giờ nào cần làm việc đó Trong giờ học không được nói chuyện riêng, làm việc riêng, không được chơi các đồ chơi, không trêu chọc bạn

3.6 Thường xuyên kết hợp, trao đổi với phụ huynh học sinh.

Hàng ngày, sau mỗi buổi học tôi thường dành ít phút để gặp gỡ phụ huynh và trao đôi những nội dung cần thiết về nôi dung học tập của học sinh, để phụ huynh biết tình hình học tập của con Từ đó phụ huynh sẽ có kế hoạch hướng dẫn học sinh ôn bài, học bài ở nhà

Ví dụ: Cuối mỗi buổi học tôi thường gặp phụ huynh và trao đổi với phụ huynh về nội dung bài học vừa học; trao đổi

về việc hướng dẫn học sinh ôn bài, chuẩn bị bài ở nhà Đặc biệt là những em đọc, viết chưa tốt tôi thường dặn dò phụ huynh hướng dẫn học sinh ôn luyện thêm ở nhà

3.7 Phát động các phong trào thi đua trong lớp: Đôi bạn cùng tiến; Thi đọc to, rõ ràng; Thi viết chữ đẹp.

Trong lớp học, tôi đã tìm hiểu và phân loại được các đối tượng học sinh Từ đó tôi đã phân học sinh ngồi xen kẽ nhau: Những em đọc, viết tốt , tiếp thu bài nhanh hơn tôi đã xếp chỗ ngồi cạnh em tiếp thu bài còn chậm; để học sinh

Trang 5

có sự tương trợ, hướng dẫn nhau trong học tập Chính nhờ vậy, sau thời gian ngắn, tôi thấy nhiều em trong lớp đã học tập tiến bộ rõ rệt: Phát âm to, tự tin hơn trong học tập: thích xung phong đọc bài, thích đọc bài cho bạn nghe , chữ viết đúng mẫu, viết đẹp

-Trong các buổi học tôi thường dành thời gian quan tâm, hướng dẫn thêm cho học sinh có kĩ năng nhận diện, đọc, viết còn chậm để có biện pháp giúp đỡ kịp thời

- Hàng ngày, trong các giờ Tiếng Việt, tôi thường dành thời gian tổ chức cho học sinh thi đua đọc, viết giữa các tổ, các nhóm đôi, đọc cá nhân để tạo hừng thú học tập cho học sinh Khi tổ chức thi đọc, viêt tôi đã hướng dẫn học sinh nhận xét bạn, nhận xét nhóm bạn, bình chọn tổ, cá nhân đọc , viết tốt và có sự tuyên dương, động viên kịp thời

- Hàng ngày, hàng tuần tôi cũng kết hợp cùng ban giám hiệu, giáo viên trong khối tổ chức cho học sinh thi luyện viết chữ đẹp theo các hình thức:

- Viết các âm, vần, tiếng, từ ở bảng con, bảng lớp

- Viết bài trên giấy

- Chọn những bài viết đẹp trưng bày ở góc: “Trưng bày sản phẩm học tập” của học sinh

Trên đây là một số biện pháp tôi đã áp dụng trong quá trình giảng dạy nhằm nâng cao hiệu quả đọc, viết, cũng như nhằm nâng cao chất lượng cho học sinh Kính nhờ BGH, các bạn đồng nghiệp bổ sung thêm để chuyên đề hoàn thiện hơn

Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 1

Giải pháp1: Xây dựng nề nếp, thói quen học tập đúng đắn, khoa học.

a) Rèn nếp chuẩn bị, tư thế ngồi viết, cách cầm bút và sử dụng đồ dùng:

Bảng con, phấn trắng, khăn lau, vở viết, bút chì, bút mực đúng quy định

Chọn vở viết phải dầy, không nhòe mực

Chọn bút viết: Giai đoạn viết bút chì yêu cầu bút chì mềm, không đậm quá Giai đoạn viết bút mực, tôi cho các em viết bằng bút kim thiên long loại đắt tiền hoặc bút máy bơm mực của học sinh

Bởi vì rèn chữ cho các em trên hai hình thức viết trên bảng (bảng con, bảng lớp viết bằng phấn) và viết bằng bút chì trong vở “Em tập viết” và vở “Chính tả” Nếu thiếu một trong những đồ dùng này thì khiến cho việc viết chữ cũng bị hạn chế

Cách đặt vở: chếch khoảng 150

Cách cầm bút: Cầm bút bằng 3 ngón tay; Ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa của bàn tay phải Khi viết di chuyển bút từ trái sang phải, cán bút nghiêng về phía bên phải cổ tay, khuỷu tay và cánh tay cử động theo mềm mại thoải mái

- Muốn rèn chữ cho học sinh trước hết giáo viên phải rèn cho các em tư thế ngồi viết đúng: Lưng thẳng, không tỳ ngực vào bàn, đầu hơi cúi, mắt cách vở khoảng 25cm đến 30cm Hai chân đặt vuông góc dưới bàn, tay trái tì nhẹ nhàng mép vở để giữ vở

Việc giúp học sinh ngồi viết đúng tư thế và cầm bút đúng sẽ giúp các em viết đúng và viết nhanh được

b) Rèn các em viết đúng các nét cơ bản:

Hướng dẫn cho học sinh nắm chắc và viết tốt các nét cơ bản của chữ; nắm được tên gọi và cấu tạo của từng nét cơ bản bao gồm: Nét ngang, nét thẳng đứng, nét xiên trái, nét xiên phải, nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc hai đầu (là kết hợp của nét móc xuôi và nét móc ngược), nét cong hở phải, nét cong hở trái, nét cong khép kín, nét khuyết trên, nét khuyết dưới, nét thắt… Việc nắm chắc cách viết, viết đúng, viết đẹp, thành thạo các nét cơ bản, nắm được cấu tạo của từng chữ cái giúp cho việc nối các nét thành chữ cái sẽ dễ dàng hơn

Trang 6

Sau đó, dạy học sinh cách xác định tọa độ của điểm đặt bút và điểm dừng bút phải dựa trên khung chữ làm chuẩn Hướng dẫn học sinh hiểu điểm đặt bút là điểm bắt đầu khi viết một nét trong một chữ cái hay một chữ

Điểm dừng bút là vị trí kết thúc của nét chữ đa số điểm kết thúc ở 1/3 đơn vị chiều cao của thân chữ Riêng đối với con chữ o vì là nét cong tròn khép kín nên điểm đặt bút trùng với điểm dừng bút

Để chữ viết không bị rời rạc, đứt nét, giáo viên cấn nhấn mạnh hơn chỗ nối nét, nhắc các em viết đều nét, liền mạch đúng kĩ thuật

Những em viết nét khuyết sai và chưa đẹp tôi yêu cầu các em quan sát kĩ và viết đi viết lại nét khuyết bao giờ đúng

thì mới thôi và liên tục cho các em viết các tiếng từ ứng dụng có nét khuyết như: anh, ách, nhà tranh, khách sạn, tủ

sách

Những học sinh viết thiếu nét hất thì yêu cầu các em viết lại các nét hất rồi ứng dụng viết lại các chữ có nét hất

c) Dạy cách rê bút, cách lia bút

Rê bút là nhấc nhẹ đầu bút nhưng vẫn chạm vào mặt giấy theo đường nét viết trước hoặc tạo ra vệt mờ để sau đó

có nét viết khác đè lên Từ rê được hiểu theo nghĩa di chuyển chậm đều đều, liên tục trên bề mặt của giấy, do vậy giữa đầu bút và mặt giấy không có khoảng cách)

Lia bút là dịch chuyển đầu bút từ điểm dừng này sang điểm đặt bút khác, không chạm vào mặt giấy Khi lia bút, ta phải nhấc bút lên để đưa nhanh sang điểm khác, tạo một khoảng cách nhất định giữa đầu bút và mặt giấy

Trong quá trình hướng dẫn học sinh về quy trình viết một chữ cái, rèn kĩ thuật nối chữ, viết liền mạch người giáo viên cần lưu ý sử dụng các thuật ngữ trên cho chính xác

Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh viết chữ m, tôi hướng dẫn như sau:

Nét 1: Đặt bút giữa đường kẻ 2 (ĐK 2) và đường kẻ 3 (ĐK 3), viết nét móc xuôi trái chạm ĐK3, dừng bút ở ĐK 1 Nét 2: Từ điểm dừng bút nét 1, rê bút lên gần ĐK 2 để viết tiếp nét móc xuôi thứ hai có độ rộng bằng một ô li rưỡi; dừng bút ở ĐK 1

Nét 3: Từ điểm dừng bút của nét 2, rê bút lên gần ĐK 2 để viết tiếp nét móc hai đầu (độ rộng bằng nét 2); dừng bút ở ĐK2.

Trang 7

d) Rèn viết đúng trọng tâm các nhóm chữ

Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo nét và mối quan hệ về cách viết các chữ cái, để học sinh viết đúng kĩ thuật, viết đẹp, nắm chắc mẫu chữ Chia chữ viết thành các nhóm và xác định trọng tâm đại diện cho mỗi nhóm chữ gồm những nét nào, những nét chữ nào học sinh hay viết sai, học sinh gặp khó khăn gì khi viết các nhóm chữ đó để khắc phục nhược điểm giúp học sinh viết đúng và đẹp mẫu chữ trong trường tiểu học cỡ vừa như sau:

Nhóm 1: Gồm các chữ: m, n, u, ư, i, t, v,r, p

Với nhóm này, các lỗi học sinh hay mắc là viết chưa đúng nét nối giữa các nét, nét móc thường hay bị đổ nghiêng, nét hất lên thường bị choãi chân ra không đúng

Cách khắc phục: Cho học sinh luyện viết nét sổ có độ cao 2 ô li, sau đó mới viết nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc hai đầu có độ cao 2 ô li thật đúng, thật thẳng

Khi học sinh viết thành thạo các nét đó, cho học sinh ghép các nét thành chữ Khi ghép chữ luôn chú ý điểm đặt bút, điểm dừng bút, độ cao, độ rộng của mỗi nét để chữ viết cân đối, đẹp

Nhóm 2: Gồm các chữ: b, l, h, k, y

Các lỗi hay mắc: Học sinh hay viết sai điểm giao nhau của nét, chữ viết còn cong vẹo

Cách khắc phục: Trước tiên cho học sinh viết nét sổ có độ cao 5 dòng li một cách ngay ngắn, thành thạo để rèn tư thế cầm bút chắc chắn cho học sinh Sau đó dạy học sinh viết nét khuyết trên có độ cao 5 dòng li, độ rộng trong lòng

1 ô li

Để giúp học sinh viết đúng điểm giao nhau của các nét khuyết, hướng dẫn học sinh đặt một dấu chấm nhỏ vào sát đường kẻ dọc, trên dòng kẻ ngang 2 của li thứ tư và rèn cho học sinh luôn đưa bút từ điểm bắt đầu qua đúng chấm rồi mới đưa bút lên tiếp viết nét khuyết trên có độ rộng bằng 1 li

Tương tự như vậy khi hướng dẫn viết chữ y, dạy học sinh viết nét khuyết dưới có độ cao 5 dòng li kéo dài xuống

phía dưới, độ rộng trong lòng 1ô li

Ví dụ: Khi dạy viết chữ h, hướng dẫn viết nét khuyết trên trước, từ điểm dừng bút của nét khuyết trên ở ĐK ngang 1 rê bút viết tiếp nét móc hai đầu có độ cao 2 li, độ rộng 1 li dừng bút ở ĐK ngang 2 Tương tự như vậy với các chữ còn lại.

Nhóm 3: Gồm các chữ: o, ô, ơ, a, ă, â, c, x, d, đ, q, g, e, ê, s

Các lỗi học sinh hay mắc: viết chữ o chiều ngang quá rộng hoặc quá hẹp, nét chữ không tròn đều đầu to, đầu bé, chữ o méo Hầu hết các em viết chữ o xấu

Cách khắc phục: Để viết được đúng và đẹp nhóm chữ này thì cần phải viết chữ o đúng và đẹp tròn theo quy định

Trang 8

Để chữ viết không bị rời rạc, đứt nét phải nhấn mạnh hơn chỗ nét nối, nhất là chỗ rê bút, từ điểm dừng bút của con chữ vừa viết, rê bút lên viết liền mạch đến đâu mới được nhấc bút

Ở phần đầu học chữ ghi âm, học sinh đã được hướng dẫn rất kĩ về độ cao, độ rộng của từng nét chữ, con chữ Trong quá trình hướng dẫn học sinh viết, trước tiên là phương pháp trực quan, giáo viên đưa ra chữ mẫu cho học sinh quan sát khắc sâu biểu tượng chữ: kết hợp mắt nhìn, tai nghe, tay luyện tập Ngoài ra giáo viên còn đưa ra phương pháp đàm thoại, gợi mở để dẫn dắt học sinh tiếp xúc với các chữ cái sẽ học bằng một hệ thống câu hỏi, từ việc hỏi về các nét cấu tạo của chữ, độ cao kích thước chữ cái đến việc so sánh nét giống nhau và nét khác biệt giữa các chữ cái đã học với chữ cái đang phân tích

Ví dụ 1: Khi dạy chữ “a”, giáo viên có thể đặt câu hỏi: Chữ “a” được cấu tạo bằng những nét nào (nét cong kín và nét móc dưới) Chữ cao mấy dòng li, độ rộng của chữ là bao nhiêu? nét nào viết trước, nét nào viết sau? Chữ “a” giống chữ “o” ở điểm nào? Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích để chuẩn bị cho giai đoạn luyện tập Việc hướng dẫn cho học sinh luyện tập thực hành phải tiến hành từ thấp đến cao để học sinh dễ tiếp thu Lúc đầu là việc việc đúng hình dáng, cấu tạo kích thước các cỡ chữ, sau đó là việc viết đúng dòng và đúng tốc độ quy định.

Ví dụ 2: Dạy học sinh viết chữ n, trước tiên cho học sinh phân tích chữ cái n có mấy nét, nét nào kết hợp với nét nào

để tạo được chữ n (nét móc xuôi kết hợp với nét móc hai đầu), độ cao chữ cái n là một đơn vị chữ, độ rộng chữ cái n là 1,5 đơn vị Sau đó hướng dẫn học sinh nắm được các đường kẻ nào đưa bút ra sao và dừng bút ở đường

kẻ nào

Giáo viên vừa viết vừa hưỡng dẫn quy trình viết, học sinh chú ý theo dõi.

Khi học sinh luyện tập viết chữ, giáo viên cần phải luôn luôn chú ý uốn nắn để các em cầm bút đúng tư thế, cụ thể: Cầm bút bằng ba ngón tay đó là ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa Khi viết dùng ba ngón tay di chuyển bút từ trái sang phải, nếu là bút mực thì ngòi bút úp xuống không quay nghiêng

Khi dạy sang phần vần tuy không cần hướng dẫn quy trình viết từng chữ song giáo viên vẫn cần thường xuyên cho học sinh nhắc lại độ cao các chữ cái, những chữ cái nào có độ cao bằng nhau, nét nối giữa các chữ cái trong một chữ ghi tiếng, khi viết các con chữ cần viết liền nét, khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng ( bằng một con chữ o)

Trang 9

Khi hướng dẫn học sinh viết chữ nét thanh, nét đậm, giáo viên vừa viết mẫu vừa nói rõ quy trình viết (viết như quy trình), chỉ khác bằng một mẹo nhỏ để học sinh dễ làm theo

Chú ý, viết các nét rê lên đưa nhẹ tay hơn một chút tạo nét thanh bé, nét kéo xuống theo chiều đầu ngòi bút tạo nét đậm hơn nét thanh một chút Đối với bút mực học sinh cần viết úp ngòi xuống, cổ tay, cánh tay để vuông góc

Với học sinh trung chưa hoàn thành kĩ năng viết chỉ yêu cầu các em viết đúng cỡ chữ, thẳng hàng, ngay ngắn, đều nét, liền mạch Đối với học sinh viết tốt, yêu cầu ở mức độ cao hơn các em viết được chữ nét thanh, nét đậm

Nét chữ có độ đều, không cong vẹo, nghiêng ngả Chữ viết thẳng đứng, các nét chữ song song với nhau, đều nét, liền mạch, ngay ngắn và sạch đẹp

“Khi dạy học sinh cỡ chữ nhỏ cũng thường xuyên luyện theo cách đó giúp các em nhớ lâu và viết đều nét, liền mạch, đúng độ cao, độ rộng các chữ cái”

e) Rèn học sinh phát âm đúng để viết đúng:

Lỗi này là do ảnh hưởng của địa phương hay phát âm sai Vì muốn học sinh viết đúng thì trước tiên phải yêu cầu

học sinh phát âm thật đúng bằng cách tôi đặt hai tiếng có chứa âm /tr / và /ch/ song song nhau rồi yêu cầu học sinh

phát âm nhiều lần cho thật chuẩn

Ví dụ1: Cho học sinh đọc phân biệt tro/ cho, trỏ/chỏ sau đó yêu cầu học sinh viết bảng con và đọc lại.

Ví dụ 2: Cho học sinh phát âm các tiếng có âm đầu l/n như: la/na, lá/ná yêu cầu các em viết bảng con.

Những học sinh viết nhanh, viết ẩu tôi đến tận nơi quan sát kèm các em từng chữ bao giờ em đó viết đúng tốc độ viết đẹp thì mới thôi

Giải pháp 2: Duy trì phong trào “vở sạch chữ đẹp”; Tuyên dương nêu điển hình kịp thời nhằm động viên khuyến khích những em thực hiện tốt đồng thời làm gương để các em học sinh khác noi theo.

Ngoài các giải pháp đã nêu trên ta có thể tổ chức phong trào học tập "Rèn chữ viết đẹp" trong lớp bằng cuộc thi đua

"Đôi bạn cùng tiến" xếp những em viết xấu ngồi bên cạnh những học sinh viết đẹp dể các em học tập lẫn nhau.

Trang 10

Hàng tháng chấm vở sạch chữ đẹp trong lớp nhằm kích thích các em thi đua viết đẹp hơn, có ý thức trong việc rèn chữ giữ vở

Trong quá trình dạy môn Tiếng Việt sau khi học sinh viết xong ở các việc 2 và việc 4 GV nhận xét khen ngợi những

em viết đẹp trước nhằm kích thích các em khác noi theo đồng thời khuyến khích các em trong giờ ra chơi mượn vở của bạn xem để học tập Tổng kết mỗi đợt thi đua có khen ngợi tuyên dương cụ thể Trưng bày bài viết đẹp ở cuối lớp, nhận xét đánh giá xếp loại từng tháng vào sổ chủ nhiệm

Giải pháp3: Bố trí sắp xếp chỗ ngồi.

Việc sắp xếp chỗ ngồi cho học sinh cũng rất quan trọng trong việc rèn chữ cho học sinh vì thế tôi bố trí chỗ ngồi cho những em viết chưa đẹp, chưa đúng quy trình ngồi hai bên dãy đi liền nhau để thuận tiện cho việc theo dõi uốn nắn của giáo viên

Trong khi học sinh viết tôi đi đến từng em kiểm tra uốn nắn sửa sai ngay cho học sinh, các em viết sai chỗ nào đặt bút, độ rộng chưa đúng tôi vừa bắt tay vừa nói cách viết để em tiếp thu kịp thời

Chữ mẫu và động tác viết mẫu của giáo viên viết trên bảng giúp học sinh nắm vững quy trình viết các nét chữ của từng chữ cái, cách nối các chữ cái trong một chữ nhằm đảm bảo yêu cầu viết liền mạch, viết nhanh

Kết luận: Chữ của giáo viên khi chữa bài, chấm bài cũng được học sinh quan sát như một loại chữ mẫu, vì thế khi

chấm bài, ghi nhận xét trong vở học sinh, giáo viên cũng cần phải viết chữ đẹp, đúng mẫu, rõ ràng.Để đạt hiệu quả

cao trong việc rèn chữ viết cho học sinh thì người giáo viên cần nghiên cứu kỹ các mẫu chữ viết trong trường tiểu học, nắm được tên gọi các nét quy trình hướng dẫn viết, nghiên cứu kỹ nội dung bài dạy, nắm vững mục đích yêu cầu của từng bài.

Giáo viên lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy sao cho phù hợp với đối tượng học sinh đảm bảo yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng của môn học Đồng thời cần tạo điều kiện cho mỗi cá nhân học sinh bộc lộ và phát triển khả năng, năng khiếu của mình.

Các biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 1

Các biện rèn chữ viết cho học sinh không thể tiến hành riêng lẽ và cũng không phải chỉ ở một số chi tiết, một số giai đoạn Nó phải có tính hệ thống, kết hợp và liên tục đòi hỏi người giáo viên phải vận dụng một cách linh hoạt, sáng

1 Giáo viên phải nắm chắc kiến thức, viết đúng, viết đẹp mẫu chữ quy định để dạy học sinh, bởi học sinh Tiểu học rất hay bắt chước Khi hướng dẫn phải cụ thể, tỉ mỉ, ngôn ngữ phải rõ ràng, dễ hiểu Mặt khác GV phải tìm hiểu kỹ đặc điểm của từng HS để nắm được trình độ chữ viết cũng như sở thích, tâm lí… của các em để có biện pháp cụ

2 Giúp học sinh có được những hiểu biết về đường kẻ, dòng kẻ, độ cao, cỡ chữ, hình dáng, tên gọi các nét chữ, cấu tạo chữ cái, khoảng cách giữa các chữ, chữ ghi tiếng, cách viết các chữ viết thường, dấu thanh, thao tác đưa

Để thực hành luyện viết đạt kết quả tốt, học sinh cần có ý thức chuẩn bị và sử dụng có hiệu quả một số đồ dùng học

Bảng con màu đen, bề mặt có độ nhám vừa phải, dòng kẻ ô rõ ràng, đều đặn (thể hiện được 4 dòng) tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh viết phấn Phấn trắng có chất liệu tốt làm nổi rõ hình chữ trên bảng Bút dạ viết trên bảng phoóc trắng có dòng kẻ, cầm vừa tay, đầu viết nhỏ, ra mực đều mới viết được dễ dàng Khăn lau sạch sẽ, có độ ẩm vừa phải, giúp cho việc xoá bảng vừa đảm bảo vệ sinh, vừa không ảnh hưởng đến chữ viết Thông qua việc thực hành luyện viết của học sinh trên bảng con, giáo viên nhanh chóng nắm được những thông tin phản hồi trong quá trình dạy học để kịp thời xử lí, tác động nhằm đạt được mục đích dạy học đề ra

Để việc sử dụng các đồ dùng học tập nói trên trong giờ Tập viết đạt hiệu quả tốt, giáo viên cần hướng dẫn học sinh

+ Bảng con có dòng kẻ đồng dạng với dòng kẻ li trong vở tập viết

+ Viết xong cần kiểm tra lại Tự nhận xét và bổ sung chỗ còn thiếu, giơ bảng ngay ngắn để giáo viên kiểm tra nhận xét

Ngày đăng: 02/01/2023, 22:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w