1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn THẠC sỹ tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong luật hình sự việt nam

30 27 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận Văn Thạc Sĩ Tội Sử Dụng Mạng Máy Tính, Mạng Viễn Thông, Mạng Internet Hoặc Thiết Bị Số Thực Hiện Hành Vi Chiếm Đoạt Tài Sản Trong Luật Hình Sự Việt Nam
Tác giả Vũ Thu Trang
Người hướng dẫn TS. Phạm Mạnh Hùng
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Khoa Luật
Chuyên ngành Luật Hình sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 195,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI SỬDỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, MẠNG INTERNET HOẶC THIẾT BỊ SỐ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VŨ THU TRANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI -

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Thu Trang

Trang 4

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI SỬ

DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, MẠNG INTERNET HOẶC THIẾT BỊ SỐ THỰC HIỆN HÀNH VI

CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

10

tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong Luật hình sự Việt Nam 10

1.1.1 Khái niệm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng

Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản 101.1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn

thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm

đoạt tài sản 121.1.3 Hình phạt của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông,

mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài

sản trong Luật hình sự Việt Nam Error! Bookmark not defined.

1.2 Lịch sử lập pháp hình sự về tội sử dụng mạng máy tính,

mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện

hành vi chiếm đoạt tài sản trong Luật Hình sự Việt Nam từ

năm 1985 đến nay Error! Bookmark not defined.

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1999 Error! Bookmark not defined.

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2009 Error! Bookmark not defined.

Trang 5

1.2.3 Giai đoạn từ năm 2009 đến nay Error! Bookmark not defined 1.3 Khái quát pháp luật hình sự một số nước quy định về tội

phạm liên quan đến việc sử dụng mạng máy tính, mạng viễn

thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi

chiếm đoạt tài sản Error! Bookmark not defined 1.3.1 Pháp luật hình sự Trung Quốc Error! Bookmark not defined 1.3.2 Pháp luật hình sự Canada Error! Bookmark not defined 1.3.3 Pháp luật hình sự một số nước ở Châu ÂuError! Bookmark not defined 1.4 So sánh tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng

Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản với các tội khác Error! Bookmark not defined.

1.4.1 So sánh tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng

Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản với

tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Error! Bookmark not defined.

1.4.2 So sánh tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng

Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản với

tội trộm cắp tài sản Error! Bookmark not defined.

1.4.3 So sánh tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng

Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản với

tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sảnError! Bookmark not defined KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Error! Bookmark not defined Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TỘI SỬ DỤNG

MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, MẠNG INTERNET HOẶC THIẾT BỊ SỐ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT

TÀI SẢN TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂYError! Bookmark not defined 2.1 Tình hình tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn

thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi

chiếm đoạt tài sản Error! Bookmark not defined.

Trang 6

2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về tội phạm sử dụng mạng máy

tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện

hành vi chiếm đoạt tài sản trong Luật hình sự Việt Nam từ

năm 2012 đến năm 2016 Error! Bookmark not defined.

2.2.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật, nguyên nhân, tồn tại, hạn chế trong

việc áp dụng pháp luật và bảo đảm áp dụng pháp luật về tội

phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet

hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sảnError! Bookmark not defin 2.2.2 Một số vụ án trong thực tiễn Error! Bookmark not defined.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Error! Bookmark not defined.

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ BẢO ĐẢM

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH,

MẠNG VIỄN THÔNG, MẠNG INTERNET HOẶC THIẾT BỊ

SỐ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢNError! Bookmark not d 3.1 Nguyên nhân dẫn đến tồn tại, hạn chế trong việc áp dụng pháp

luật và bảo đảm áp dụng pháp luật về tội phạm sử dụng mạng

máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực

hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Error! Bookmark not defined.

3.1.1 Nguyên nhân về mặt pháp luật Error! Bookmark not defined.

3.1.2 Nguyên nhân về điều kiện bảo đảm áp dụng pháp luậtError! Bookmark not def 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm áp dụng pháp

luật về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng

Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sảnError! Bookma 3.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật Error! Bookmark not defined.

3.2.2 Nâng cao các điều kiện bảo đảm áp dụng pháp luậtError! Bookmark not defined KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO . 22

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn bốn mươi năm đổi mới, xây dựng và phát triển, Việt Nam đã

có nhiều thay đổi tiến bộ, đặc biệt là sự chuyển đổi từ nền kinh tế quan liêubao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với đó

là sự phát triển của khoa học công nghệ, của Internet, viễn thông, các phươngtiện điện tử, một phần không thể thiếu trong đời sống kinh tế - văn hoá - xãhội, góp phần thay đổi căn bản hầu hết các ngành, lĩnh vực Với những tácđộng to lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, công nghệ thông tin đã phát huyhiệu quả tích cực, là nguồn lực quan trọng phục vụ công cuộc đổi mới, xâydựng, phát triển và hội nhập quốc tế của đất nước Công nghệ thông tin đượcứng dụng trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quản lý nhà nước, thanhtoán ngân hàng, thương mại điện tử, thanh toán điện tử, các ứng dụng trongcải cách hành chính, đào tạo, giáo dục, du lịch,…

Tuy nhiên, đi kèm với sự phát triển và những lợi ích thiết thực mà côngnghệ thông tin mang lại cho công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ đấtnước thì tình hình tội phạm sử dụng công nghệ thông tin cũng ngày càngphức tạp; mức độ, tính chất manh động, nguy hiểm ngày càng cao hơn vớinhiều loại tội phạm mới xuất hiện, thủ đoạn thực hiện tội phạm ngày càng tinh

vi và xảo quyệt

Mạng máy tính, mạng viễn thông và mạng Internet đã trở thành môitrường hoạt động của các loại tội phạm, đặc biệt là tội phạm sử dụng côngnghệ cao Đây là một loại tội phạm mới xuất hiện và đang có xu hướng pháttriển ngày càng mạnh mẽ với nhiều diễn biến phức tạp, khó lường trong bốicảnh nền kinh tế thị trường hiện nay Lợi dụng sự phát triển rộng rãi của côngnghệ thông tin, xu hướng tội phạm sử dụng công nghệ cao để thực hiện hành

Trang 8

vi phạm tội giữa các quốc gia ngày càng tăng, để lại nhiều hậu quả xấu đối với

xã hội Thời gian qua các tội phạm sử dụng công nghệ cao đã gây thiệt hạinghiêm trọng cho tài sản nhà nước, tài sản của công dân, ảnh hưởng đến trật tựchung của xã hội Trong đó, tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạngInternet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là một trong nhữngtội sử dụng thiết bị công nghệ cao đang diễn biến theo chiều hướng gia tăng.Loại tội phạm này thường xảy ra với nhiều thủ đoạn tinh vi xảo quyệt, từ chủ thểthực hiện tội phạm đến các đối tượng bị xâm hại đều rất đa dạng

Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết

bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 226b của

Bộ luật Hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) Tuy nhiên, tại điềuluật cụ thể này, các nhà làm luật chỉ có thể quy định các dấu hiệu đặc trưng cơbản nhất của một cấu thành tội phạm mà trong thực tế tội phạm này xảy ra vớinhiều thủ đoạn, phương pháp vô cùng đa dạng và phức tạp Thực tế xét xửloại tội này cũng có nhiều sai sót, sai lầm trong việc định tội danh và quyếtđịnh hình phạt

Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài: “Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong Luật Hình sự Việt Nam” để nâng cao hiệu

quả hoạt động phòng chống tội phạm này là cần thiết và cấp bách trong giaiđoạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị

số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản đã và đang được các nhà khoa học quantâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Một số công trình tiêu biểu là:

- Luận án tiến sĩ “Phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực thương mại điện

tử của lực lượng Cảnh sát nhân dân”, Tác giả Lại Kiên Cường, Hà Nội – 2014.

Trang 9

- Luận văn thạc sĩ luật học “Các tội phạm trong lĩnh vực tin học theo Luật Hình sự Việt Nam”, Tác giả Trần Thị Hồng Lê, Khoa Luật – Đại học

Quốc gia Hà Nội, Hà Nội – 2009

-Luận văn thạc sĩ luật học “Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông,

mạng internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 226B)”,

Tác giả Hoàng Thị Kim Anh, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội - 2013

- Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật “Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin”, Tác giả Phan Văn Cần, Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ,

Cần Thơ - 2012

- Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật “Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định của BLHS Việt Nam”, Tác giả Đặng Thị Quỳnh Trang,

Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội – 2016

Trong số đó, có thể kể đến một số công trình, bài viết đăng tải trên các

tạp chí chuyên ngành như: “Bàn về tội sử dụng công nghệ cao thực hiện hành

vi chiếm đoạt tài sản”, Thạc sỹ Lê Tường Vy, Tạp chí Kiểm sát số 5/2015; Kỷ yếu hội thảo “Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao - Những vấn đề đặt

ra trong công tác đào tạo” - Học viện Cảnh sát nhân dân, tháng 11/2014;… Nhìn

chung, các công trình nêu trên đã đề cập tới một số khía cạnh của tội sử dụng

mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị sốthực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng chưa có công trình nào nghiêncứu một cách toàn diện về tội phạm này Vì vậy, luận văn này nghiên cứu mộtcách cơ bản, toàn diện và có hệ thống về tội sử dụng mạng máy tính, mạngviễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sảntrong giai đoạn hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận vàthực tiễn về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc

Trang 10

thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trên cơ sở nghiên cứu số liệu trên địa bàn toàn quốc.

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu vấn đề liênquan đến tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặcthiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trên cơ sở nghiên cứu số liệutrên địa bàn toàn quốc Thời gian nghiên cứu, khảo sát trong vòng 5 năm từ năm 2012 đến 2016

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: Thông qua việc nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lýluận, pháp lý và thực tiễn về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông,mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong Luậthình sự Việt Nam Từ đó đánh giá, kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng caohiệu quả đấu tranh phòng và chống tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễnthông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sảntrong thời gian tới

+ Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả đấutranh phòng và chống tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạngInternet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Cơ sở lý luận: Luận văn được hoàn thành dựa trên cơ sở phương phápluận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp

Trang 11

luật, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về các lĩnh vực trong đó có lĩnhvực đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội sử dụng mạng máytính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếmđoạt tài sản trong Luật hình sự Việt Nam nói riêng.

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp kết hợpgiữa lý luận và thực tiễn, phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể Đồng thời,luận văn còn sử dụng một số phương pháp của một số bộ môn khoa học khácnhư thống kê, so sánh, đối chiếu, đánh giá, khảo sát thực tiễn…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ một số vấn

đề lý luận và thực tiễn về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạngInternet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và nâng cao nângcao hiệu quả đấu tranh phòng và chống tội phạm này trong thời gian tới Đồngthời luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiêncứu, giảng dạy và học tập tại các cơ sở đào tạo ngành luật

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luậnvăn được kết cấu làm 3 chương như sau:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận và pháp luật về tội sử dụng mạng máy

tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếmđoạt tài sản trong Luật Hình sự Việt Nam

Chương 2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về tội sử dụng mạng máy tính,

mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạttài sản trong những năm gần đây

Chương 3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm áp dụng pháp

luật tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị

số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

Trang 12

Chương 1 Một Số Vấn Đề Lý Luận Và Pháp Luật Về Tội Sử Dụng Mạng Máy Tính, Mạng Viễn Thông, Mạng Internet Hoặc Thiết Bị Số Thực Hiện Hành Vi

Chiếm Đoạt Tài Sản Trong Luật Hình Sự Việt Nam

1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong Luật hình sự Việt Nam

1.1.1 Khái niệm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luậthình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thươngmại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thốngnhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế,nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợppháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp củacông dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủnghĩa mà theo quy định của Bộ luật hình sự phải bị xử lý hình sự [26, Điều 8]

Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết

bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm tronglĩnh vực công nghệ thông tin, hay còn gọi là tội phạm công nghệ cao

Dựa vào khái niệm tội phạm được quy định trong Luật hình sự ViệtNam có thể đưa ra khái niệm về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông,mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản như sau:

Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do

Trang 13

người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi thực hiện với lỗi cố ý bằng việc sử dụng phương tiện phạm tội là mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số nhằm xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cơ quan,

tổ chức, doanh nghiệp và công dân được pháp luật hình sự bảo vệ.

Trên cơ sở khái niệm có thể thấy tội phạm này có một số đặc điểm như sau:Thứ nhất là đặc điểm về phương tiện phạm tội: Người phạm tội sử dụng các

thiết bị công nghệ thông tin hiện đại như mạng máy tính, mạng viễnthông, mạng Internet và thiết bị số để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.Đặc điểm về phương tiện phạm tội này là điểm căn bản, tạo ra sự khác biệtgiữa tội phạm này với tội phạm truyền thống

Thứ hai là về mục đích phạm tội: Tất cả những hành vi của người phạmtội, việc sử dụng công cụ phạm tội đều nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản Hành

vi người phạm tội sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin nhằm nhiều mục đíchkhác nhau nhưng đối với tội phạm mà luận văn đề cập tới thì hành vi được thựchiện nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản mới là hành vi thuộc tội này

Thứ ba là đặc điểm về chủ thể thực hiện tội phạm: Người phạm tộithường là người am hiểu về công nghệ thông tin, dùng những kiến thức vềcông nghệ thông tin để phục vụ cho việc phạm tội của mình

Thứ tư là về tài sản chiếm đoạt trong tội này có thể là tài sản thôngthường (vật, tiền, giấy tờ có giá trị) và tài sản ảo (tài sản có giá trị như tài sảnthông thường khi được đem ra thanh toán, giao dịch, mua bán, quy đổi sanggiá trị thực tế)

Thứ năm là về tính chất của hành vi phạm tội: Các hành vi phạm tộitrong lĩnh vực công nghệ thông tin thường rất tinh vi và xảo quyệt Ngườiphạm tội có thể thực hiện hành vi trong thời gian rất ngắn, ở bất cứ khi nào, ởbất cứ đâu [15, tr.45]

Ngoài những đặc điểm trên, tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn

Trang 14

thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản cònmột số đặc điểm khác như tính không biên giới của loại tội này, tính chất tộiphạm ngày càng tăng về số lượng và hậu quả,…

1.1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

1.1.2.1 Khách thể của tội phạm

Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết

bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản được quy định tại Chương XIX Các tội phạm xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng Như vậy, cóthể thấy việc sắp xếp tội trên trong Bộ luật hình sự Việt Nam phản ánh kháchthể của tội phạm này nằm trong khách thể loại của nhóm tội là an toàn côngcộng, trật tự công cộng Khách thể trực tiếp của tội phạm là an toàn trong lĩnhvực công nghệ thông tin, hoạt động bình thường của mạng máy tính, mạngviễn thông, mạng Internet, môi trường giao dịch điện tử, hoạt động thươngmại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán

-cổ phiếu qua mạng,…

Trong thực tế, các cơ quan, tổ chức và cá nhân sử dụng hệ thống mạng vàcác thiết bị số đều đã có chương trình làm việc cùng với hệ thống bảo mật riêngtheo nhiều phương thức khác nhau Việc tội phạm thực hiện các hoạt động nhằmtác động vào hệ thống bằng các công cụ, phương tiện hiện đại trên chính môitrường của hệ thống mạng đó để đạt được mục đích phạm tội (trong tội quy địnhtại Điều 226b Bộ luật hình sự năm 1999 là nhằm chiếm đoạt tài sản) cũng đồngnghĩa với việc xâm phạm và phá vỡ hoạt động cùng với sự an toàn của hệ thốngcông nghệ thông tin Đó chính là trực tiếp xâm hại đến sự an toàn trong hoạtđộng của hệ thống máy tính, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc thiết bị số.Điều đặc biệt ở hệ thống công nghệ thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông

và thiết bị số là sự kết nối mang tính chất công

Trang 15

cộng, rộng hơn có thể là mang tính chất toàn cầu Do đó, tội sử dụng mạngmáy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vichiếm đoạt tài sản được quy định tại Chương XIX - Các tội xâm phạm trật tự

an toàn công cộng, trật tự công cộng

Khi xem xét khách thể của tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễnthông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sảntrong pháp luật hình sự Việt Nam cũng cần phải đề cập đến đối tượng tácđộng của tội phạm này Đối tượng tác động của tội phạm này là hoạt độngbình thường của hệ thống công nghệ thông tin Bởi tội phạm có thể xâm nhậpvào hệ thống an toàn, bẻ khóa bảo mật và thực hiện hành vi phạm tội thìchứng tỏ rằng hệ thống đó không còn được an toàn nữa

Không chỉ vậy, tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạngInternet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản còn trực tiếp xâmphạm đến quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân của cả Việt Namlẫn nước ngoài, gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về lợi ích vật chất choNhà nước, tổ chức, cá nhân đó, đồng thời làm ảnh hưởng đến an toàn côngcộng, trật tự công cộng Như vậy, đối tượng tác động của tội quy định tạiĐiều 226b Bộ luật Hình sự năm 1999 còn là tài sản, xâm phạm trực tiếp đếnlợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Theo quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Tài sản mà tội sử dụng

mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiệnhành vi chiếm đoạt là vật hoặc tiền, riêng các quyền tài sản không phải là đốitượng của các tội xâm phạm sở hữu Vật có thể là bất kỳ loại đồ vật nào cógiá trị mà kẻ phạm tội muốn chiếm đoạt Tiền có thể là tiền Việt Nam, ngoại

tệ (tiền mặt hoặc tiền nằm trong tài khoản ngân hàng, tổ chức tín dụng) hoặccác loại “tiền ảo” có thể quy đổi thành tiền thật như các loại tiền điện tử hayđiểm, tiền vàng, ngân lượng (trong game online)

Ngày đăng: 02/01/2023, 21:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w