Nguyễn Trãi thay Lê Lợi soạn thảo Cáo Bình Ngô để tuyên bố với trăm họ gần xa về việc dẹp yên giặc Minh, khẳng định sự độc lập của nước Đại Việt.. “ Từng nghe:Việc nhân nghĩa cốt ở yên d
Trang 1đoán
hình Nhìn
Trang 2Đây là vị vua đầu tiên của nhà
Hậu Lê Ông là ai?
Lê Lợi
Trang 3ĐÂY LÀ AI? Nguyễn Trãi
Trang 4Đây là đâu?
Thanh Hóa
Trang 5Đây là lược đồ của trận đánh nào?
Lược đồ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Trang 6Tiết 101,102: Nước Đại Việt ta
(Trích “Bình Ngô đại cáo”)
_ Nguyễn Trãi _
Trang 7I TÌM HIỂU CHUNG
Trang 8 Quê: Chí Linh, Hải Dương
Có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh và
xây dựng đất nước
Là người VN đầu tiên được UNESCO công nhận là danh
nhân văn hoa thế giới (Năm 1980)
Trang 9Đền thờ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn
Trang 10Côn Sơn là một vùng núi đất và sỏi kết cao xấp xỉ 200m, rộng trên 1km2, thuộc xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, Hải Dương Với phong cảnh u tích, điển hình là rừng thông Đền thờ Nguyễn Trãi với rừng thông bạt ngàn, nằm trong quần thể di tích Côn Sơn.
Năm 2001 đền thờ Nguyễn Trãi được khởi công xây dựng tại Thanh
Hư động xưa Khánh thành vào ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Ngọ
(2002) nhân kỷ niệm 560 năm ngày mất của danh nhân.
Trang 11Tác phẩm nổi tiếng
Trang 122 Tác phẩm
Trang 13Hoàn
cảnh sáng tác
Mùa xuân năm 1428, kháng chiến chống giặc Minh thắng lợi Nguyễn Trãi thay Lê Lợi soạn thảo Cáo Bình Ngô để tuyên bố với trăm họ gần xa về việc dẹp yên giặc Minh, khẳng định sự độc lập của nước Đại Việt Đây được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam.
Trang 15Ngô: Tên nước Minh thời Tam Quốc (Trung Quốc)
Đại cáo: Bài cáo tuyên bố sự kiện
trọng đại
Trang 16“Bình Ngô đại cáo” bằng chữ Hán
Trang 17“ Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có.
Vậy nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại,
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong,
Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét,
Chứng cứ còn ghi.”
Trang 18Vừa rồi:
Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước lòng dân oán hận
Quân cuồng Minh thừa cơ gây loạn
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc,
Ngán thay cá mập thuồng luồng
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng,
Khốn nỗi rừng sâu nước độc
Vét sản vật, bắt dò chim sả, chốn chốn lưới chăng
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng
Thằng há miệng, đứa nhe răng,
Máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất,
Chân tay nào phục dịch cho vừa ?
Nặng nề những nỗi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!
Lòng người đều căm giận,
Trời đất chẳng dung tha;
Ta đây:
Núi Lam Sơn dấy nghĩaChốn hoang dã nương mìnhNgẫm thù lớn há đội trời chungCăm giặc nước thề không cùng sốngĐau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trờiNếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹNhững trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồiVừa khi cờ nghĩa dấy lên,Chính lúc quân thù đang mạnh
Lại ngặt vì:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm,Nhân tài như lá mùa thu,Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,Tấm lòng cứu nước,
Vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,
Cỗ xe cầu hiền,Thường chăm chắm còn dành phía tả
Thế mà:
Trông người, người càng vắng bóng,Mịt mù như nhìn chốn bể khơi
Tự ta, ta phải dốc lòng,Vội vã hơn cứu người chết đói.Phần vì giận quân thù ngang dọc,Phần vì lo vận nước khó khăn,Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,Lúc Khôi Huyện quân không một đội.Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan.Nhân dân bốn cõi một nhà,Dựng cần trúc ngọn cờ phấp phớiTướng sĩ một lòng phụ tử,
Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều
Trang 19Trọn hay:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay
Sĩ khí đã hăng quân thanh càng mạnh
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân
Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi vạn dặm
Tụy Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm
Phúc tâm quân giặc: Trần Hiệp đã phải bêu đầu
Mọt gian kẻ thù: Lý Lượng cũng đành bỏ mạng
Vương Thông gỡ thế nguy,
Mà đám lửa cháy lại càng cháy
Mã Anh cứu trận đánh
Mà quân ta hăng lại càng hăng
Bó tay để đợi bại vong,
Giặc đã trí cùng lực kiệt,
Chẳng đánh mà người chịu khuất,
Ta đây mưu phạt tâm công
Tưởng chúng biết lẽ ăn năn
Nên đã thay lòng đổi dạ
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính
Lại còn chuốc tội gây oan
Giữ ý kiến một người,
Gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
Tham công danh một lúc,
Để cười cho tất cả thế gian
Bởi thế:
Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháyĐinh Mùi tháng chín,
Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lạiNăm ấy tháng mười,
Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang
Ta trước đã điều binh thủ hiểm,Chặt mũi tiên phong
Sau lại sai tướng chẹn đườngTuyệt nguồn lương thựcNgày mười tháng tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thếNgày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vongNgày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhauLại thêm quân bốn mặt vây thànhHẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
Sĩ tốt kén người hùng hổ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanhGươm mài đá, đá núi cũng mònVoi uống nước, nước sông phải cạn
Đánh một trận, sạch không kình ngạcĐánh hai trận tan tác chim muông
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Trang 20Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ
Bị ta chặn ở Lê Hoa,
Quân Vân Nam nghi ngờ, khiếp vía mà vỡ mật
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm,
Quân Mộc Thạnh xéo lên nhau, chạy để thoát thân
Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông,
Nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá, thây chất thành núi,
Cỏ nội đầm đìa máu đen
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù,
Như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần vũ chẳng giết hại,
Thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền,
Ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa,
Về đến nước mà vẫn tim đập chân run
Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xã tắc từ đây vững bềnGiang sơn từ đây đổi mớiCàn khôn bĩ rồi lại tháiNhật nguyệt hối rồi lại minhNgàn năm vết nhục nhã sạch làuMuôn thuở nền thái bình vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tôngLinh thiêng đã lặng thầm phù trợ;Than ôi! Một cỗ nhung y chiến thắng,Nên công oanh liệt ngàn năm
Bốn phương biển cả thanh bình,Ban chiếu duy tân khắp chốn
Xa gần bá cáo,
Ai nấy đều hay
Trang 21Thể loại
Thể cáo
Thể văn nghị luận, bắt nguồn từ Trung Quốc
Tác giả: Vua chúa hoặc thủ lĩnh
Lời văn: Phần nhiều được được viết theo lối văn biền ngẫu (không vần/ có vần; thường có đối, câu dài ngắn không gò bó, mỗi cặp 2 vế đối nhau)
Nội dung: Trình bày 1 chủ trương, công bố 1 kết quả của 1 sự nghiệp để mội người cùng biết
Trang 22Thảo luận nhóm
So sánh sự giống và khác nhau giữa 3
thể loại: Chiếu; Hịch; Cáo
Trang 23Chiếu Hịch Cáo
Giống nhau
Khác nhau
- Đều là kiểu văn bản nghị luận cổ, dùng lối văn biền ngẫu.
- Do vua chúa hoặc thủ lĩnh phong trào viết.
Ban bố mệnh lệnh
Cổ động thuyết phục, kêu gọi đấu tranh
Trình bày chủ trương, công bố thành quả của một sự nghiệp lớn.
Trang 24Quá trình chinh phạt gian khổ và tất thắng của
cuộc khởi nghĩa
Tuyên bố chiến quả, khẳng định sự nghiệp
Trang 25Sức mạnh của nhân nghĩa, sức mạnh của độc lập dân tộc
Bố cục đoạn trích:
3 phần
Trang 26II TÌM HIỂU VĂN BẢN
Trang 271 Nguyên lí nhân nghĩa
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi thể hiện ở những phương diện nào? Nhận xét tư tưởng đó
Trang 28Nhân nghĩa
Quan điểm nhân nghĩa mới mẻ: Lấy
dân làm gốc
- Từ ngữ chuẩn xác, trang trọng
- Cách đặt vấn đề khéo léo, thuyết phục
Trang 292 Chân lí về sự tồn tại độc lập, chủ quyền của dân tộc
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có.
Trang 30Khẳng định độc lập, chủ quyền của dân tộc
Trang 31Văn Miếu Quốc tử giám Chùa Một Cột
Tháp Phổ Minh
Cố đô Hoa Lư
Văn hiến lâu đời
Trang 32Lãnh thổ riêng
Cột mốc nước Đại Việt
Bản đồ Đại Việt
Trang 33Phong tục ngày Tết
Trang 34Quốc kì triều Lí Rồng đá thời Hậu Lê
Tiền thời Đinh Tiền thời Trần Tiền thời Tiền Lê Tiền thời Hậu Lê
Trang 35Báu vật thời Ly
Ấn tín thời Nguyễn
Họa tiết người
Việt cổ
Trang 36Long
sàng
triều
Đinh
Trang 37Từ ngữ có tính chất khẳng định: từ trước, vốn, đã lâu, đã chia, bao đời,
Nghệ thuật
So sánh: Đại Việt = Trung Quốc
(Triệu – Đinh – Lý - Trần = Hán - Đường - Tống - Nguyên)
Câu văn biền ngẫu cân xứng, nhịp nhàng
Niềm tự hào dân tộc
Trang 38THẢO LUẬN
NHÓM
Có ý kến cho rằng, ý thức dân tộc ở đoạn trích Nước Đại Việt
ta là sự tiếp nối và phát triển ý thức dân tộc ở bài Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt Em hãy nêu ý kiến của mình.
THỜI GIAN 3 : 00 2 : 10 1 : 10 0 : 10 2 : 11 1 : 11 0 : 11
HẾT GIỜ
Trang 39Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Nam quốc sơn hà
- Lý Thường Kiệt ?-
Trang 40SO SÁNH
Yếu tố địa lí (đất đai) Nam Đế Các đế nhất phương
Lịch sử, văn hóa, con người Sông núi nước Nam Đất đai bờ cõi đã chia
Phong tục khác biệt, nhiều triều đại độc
lập, nhiều hào kiệt trứ danh
Cơ sở Thiên thư Lịch sử, văn hóa, con người, thực tiễn
Trang 41Phong tục tập quán Lịch sử riêng
吳 Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất 吳 Tuyên ngôn độc lập lần thứ hai
Trang 423 Sức mạnh của nguyên lí nhân nghĩa
Vậy nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại,
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong,
Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét,
Chứng cứ còn ghi.
Trang 43Nghệ thuật: Liệt kê, dẫn chứng
xác thực theo trình tự lịch sử
Nội dung: Sự thảm hại của kẻ
thù và những chiến công của dân
tộc ta
3 Sức mạnh của nguyên lí nhân nghĩa
Trang 44Lưu Cung – vua Nam Hán Hoằng Tháo (sai con là Hoằng Thao đem quân xâm lược nước ta và bị thảm hại trên trận Bạch Đằng
năm 938
Trang 45Triệu Tiết – tướng của nhà Tống đem quân xâm lược nước ta thời Lý và bị Lý Thường Kiệt
đánh đuổi
Trang 46Toa Đô – tướng giỏi của nhà Nguyên, từng được cử đi đánh Chiêm Thành và cho hội quân với Ô Mã Nhi, Thoát Hoan trong cuộc xâm lược Đại Việt Tướng của ta đã bao vây và có kế sách đúng đắn khiến cho quân
của chúng không gặp được nhau, thất bại thảm hại Toa Đô bị giết chết ngay tại trận.
Trang 47Ô Mã Nhi – tướng giỏi của nhà Nguyên, từng chinh chiến nhiều năm trên đất Đại Việt Là 1 tướng giỏi, tài năng nhưng tàn bạo Khi Ô Mã Nhi và nhiều tướng khác bị tướng nhà Trần bắt sống trong trận Bạch Đằng và để tránh nạn binh đao thì nhà Trần đồng ý lời cầu hòa và cho các binh tướng về nước Tuy nhiên, vua Trần rất căm giận Ô Mã Nhi đã tàn sát nhiều người và phá hoại lăng tẩm của tổ tiên nhà Trần nên đã bàn với Trần Hưng Đạo giết Ô Mã Nhi
để trả thù và phòng hậu quả về sau Trên đường đi thuyền trở về, THĐ đã cho
Yết Kiêu đâm thủng thuyền 吳 Ô Mã Nhi chết đuối
Trang 48Nghệ thuật: Liệt kê, dẫn chứng
xác thực theo trình tự lịch sử
Nội dung: Sự thảm hại của kẻ
thù và những chiến công của dân
tộc ta
3 Sức mạnh của nguyên lí nhân nghĩa
Việc xưa xem xét
Chứng cớ còn ghi
Lời khẳng định đanh thép về sức mạnh của chân lí, chính
nghĩa là lẽ phải không chối cãi được
Trang 49Nguyên lí nhân nghĩa
Chân lí về sự tồn tại độc lập chủ quyền của dân tộc Đại Việt
Văn hiến lâu
đời
Lãnh thổ riêng
Phong tục riêng
Chế độ chủ quyền riêng Lịch sử riêng
Sức mạnh của nhân nghĩa Sức mạnh của độc lập dân tộc
Trang 50III Tổng kết:
1 Nghệ thuật:
- Thể văn biền ngẫu.
- Lập luận chặt chẽ, chứng cứ hùng hồn, lời văn trang trọng, tự hào.
- Biện pháp so sánh, liệt kê.
2 Nội dung:
- Quan niệm, tư tưởng tiến bộ của Nguyễn Trãi về đất nước và có ý nghĩa như bản tuyên ngôn độc lập Ghi nhớ sgk/ 69
Trang 52Miếng ghép số 1
Nơi đây là quê hương của tác giả “Bình Ngô đại cáo”
Đáp án: Hải Dương
Trang 53Miếng ghép số 2
Đây là năm mà Nguyễn Trãi viết “Bình Ngô đại cáo”
Đáp án: Năm 1428
Trang 55Miếng ghép số 4
Nguyễn Trãi đã viết bao nhiêu bức thư gửi quân Minh?
Đáp án: 76 bức thư
Trang 56Miếng ghép số 5
Tác phẩm nào của Nguyễn Trãi được coi là “có sức mạnh của 10 vạn quân”?
Đáp án: Tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập”
Trang 57Miếng ghép số 6
Em hãy tìm và đọc lại câu văn biền ngẫu trong văn bản “Nước Đại Việt ta”?
Đáp án: “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”
Trang 58Miếng ghép số 7
Nguyễn Trãi viết bài cáo này nhằm mục đích gì?
Đáp án: Tác giả viết bài cáo nhằm tổng kết quá trình kháng chiến và tuyên cáo thành lập triều đại mới
Trang 59Miếng ghép số 8
Câu “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân để thay cường bạo”
Có điểm nào chung với câu:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Đáp án: Hai câu văn đều đề cao nguyên lí nhân nghĩa của dân tộc ta
Trang 60Miếng ghép số 9
Đây là tên hiệu của Nguyễn Trãi? Gọi tên 1 tác phẩm của ông lấy tên hiệu này.
Đáp án: Hiệu: Ức Trai Tên tác phẩm: “Ức trai thi tập”
Trang 62Hướng dẫn tự học
1/ Tìm đọc toàn bộ văn bản
2/ So sánh và đánh giá cách sử dụng dẫn chứng trong
“Hịch tướng sĩ” và “Bình Ngô đại cáo”
3/ Soạn bài “Viết đoạn văn trình bày luận điểm.