1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu chọn tạo giống dưa chuột (cucumis sativus l ) lai f1 phục vụ ăn tươi tại vùng đồng bằng sông hồng

230 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Tác giả Nguyễn Thị Dung
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Quang Hà, TS. Mai Lan Phương
Trường học Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Kinh tế phát triển
Thể loại Luận án Tiến sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 230
Dung lượng 2,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả phân tích hiện trạng, biến động và các nhân tố ảnh hưởng đến phân bốđất nông nghiệp hộ gia đình cho thấy có thể dự báo về hai chiều hướng: thứ nhất, bứctranh phân bố đất nông ngh

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ DUNG

PHÂN BỐ ĐẤT NÔNG NGHIỆP HỘ GIA ĐÌNH

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP – 2020

Trang 2

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ DUNG

PHÂN BỐ ĐẤT NÔNG NGHIỆP HỘ GIA ĐÌNH

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG

Ng ườ h i ướ d n ng ẫ khoa h c: ọ PGS.TS Nguy n Quang ễ Hà

TS Mai Lan Ph ươ ng

HÀ NỘI – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quảnghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng được sửdụng để bảo vệ ở bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm ơn,các thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Dung

iii

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện tôi đã nhận được sự sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệttình của các thầy, cô giáo, các nhà khoa học, các cơ quan, tổ chức và bạn bè đồngnghiệp

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Quang Hà và

TS Mai Lan Phương là những trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ vàđịnh hướng giúp tôi trưởng thành và hoàn chỉnh luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, BanQuản lý đào tạo, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn và Bộ môn Phát triển nông thôn

đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ của lãnh đạo và cán bộ Sở Tài nguyên vàMôi trường Bắc Giang, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Giang, Cục Thống

kê Bắc Giang, cán bộ lãnh đạo các huyện trên đại bàn tỉnh Bắc Giang đã nhiệt tình cungcấp thông tin, hỗ trợ thu thập dữ liệu, trao đổi thông tin để tôi thực hiện luận án

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè và tới lãnhđạo Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang nơi tôi công tác đã động viên, tạo điều kiệntốt nhất giúp tôi nghiên cứu và hoàn thành luận án này

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Học viên

Nguyễn Thị Dung

Trang 5

MỤC LỤC

Lời

cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục biểu ix

Danh mục hình xi

Danh mục hộp xi

Trích yếu luận án xii

Thesis abstract xiv

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

1.4 Đóng góp mới của luận án 5

1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 6

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình 7

2.1 Cơ sở lý luận về phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình 7

2.1.1 Các quan điểm, khái niệm về phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình 7

2.1.2 Đặc điểm của phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình 9

2.1.3 Vai trò của phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình 11

2.1.4 Nội dung nghiên cứu về phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình 12

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình 25

2.2 Cơ sở thực tiễn về phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình 32

2.2.1 Phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình một số nước trên thế giới 33

2.2.2 Phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình ở Việt Nam 35

Trang 6

2.2.3 Bài học rút ra từ nghiên cứu thực tiễn 37

2.2.4 Những nghiên cứu có liên quan đến đề tài 37

Tóm tắt phần 2 41

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 42

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 42

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên tỉnh Bắc Giang 42

3.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội Bắc Giang 44

3.1.3 Đánh giá chung 50

3.2 Phương pháp nghiên cứu 50

3.2.1 Phương pháp tiếp cận 50

3.2.2 Khung phân tích 52

3.2.3 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 53

3.2.4 Phương pháp thu thập dữ liệu 53

3.2.5 Phương pháp tổng hợp và phân tích dữ liệu 57

3.2.6 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 60

Tóm tắt phần 3 64

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 65

4.1 Thực trạng phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 65

4.1.1 Hiện trạng, biến động phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình 65

4.1.2 Đánh giá phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình 83

4.2 Ảnh hưởng của các yếu tố đến phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 109

4.2.1 Nhóm các yếu tố chính sách, thể chế 109

4.2.2 Nhóm các yếu tố kinh tế, kỹ thuật 119

4.2.3 Các yếu tố tâm lý, xã hội 128

4.3 Giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy quá trình phân bố hợp lý đất nông nghiệp hộ gia

đình trên địa bàn tỉnh 129

4.3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 129

4.3.2 Các dự báo về chiều hướng phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình 132

4.3.3 Giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy phân bố hợp lý đất nông nghiệp hộ gia đình trên địa bàn tỉnh 133

Trang 7

Tóm tắt phẩn 4 146

Phần 5 Kết luận và khuyến nghị 148

5.1 Kết luận 148

5.2 Khuyến nghị 150

Danh mục công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án 151

Tài liệu tham khảo 152

Phụ lục 161

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

3.1 Đất nông nghiệp hộ gia đình theo loại hình sử dụng và theo vùng giai

đoạn 2005 - 2015 493.2 Nguồn tài liệu, tài liệu thu thập dữ liệu thứ cấp 543.3 Dung lượng mẫu khảo sát đối với hộ gia đình và cán bộ quản lý 564.1 Hiện trạng, biến động diện tích đất nông nghiệp hộ gia đình theo vùng

giai đoạn 2005- 2015 664.2 Hiện trạng diện tích đất nông nghiệp tại các hộ điều tra năm 2018 674.3 Hiện trạng, biến động quy mô đất nông nghiệp hộ gia đình theo loại hình

sử dụng đất giai đoạn 2005- 2015 714.4 Hiện trạng diện tích đất nông nghiệp tại các hộ điều tra theo loại đất sử

dụng năm 2018 724.5 Hiện trạng, biến động đất nông nghiệp của hộ nông nghiệp giai đoạn

2006- 2016 754.6 Hiện trạng quy mô diện tích đất nông nghiệp hộ gia đình theo ngành nghề

năm 2018 764.7 Nguồn gốc đất nông nghiệp hộ sử dụng 804.8 Một số mô hình trồng nấm sản xuất tập trung trên địa bàn huyện Lạng

Giang năm 2014 824.9 Một số mô hình trồng rau an toàn VietGap tập trung năm 2016 824.10 Kết quả dồn điền, đổi thửa giai đoạn 2014- 2016 834.11 Hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp hộ gia đình tính bình quân hộ

và đơn vị diện tích theo các nhóm quy mô diện tích 854.12 Hiệu quả sản xuất nông nghiệp các vùng năm 2018 884.13 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất mô hình sản xuất trồng trọt và nuôi trồng

thủy sản của các hộ điều tra năm 2018 904.14 Hiệu quả kinh tế một số mô hình tập trung đất nông nghiệp so với sản

xuất đại trà tại Bắc Giang giai đoạn 2013 -2016 904.15 Kết quả ước lượng mô hình SFA 92

Trang 10

4.16 Biến động diện tích đất nông nghiệp hộ gia đình theo tuổi của chủ hộ giai

đoạn 1994- 2018 98

4.17 Quy mô đất nông nghiệp hộ gia đình 99

4.18 Hệ số Gini của phân bố đất nông nghiệp 102

4.19 Kiểm định KMO và Barlett 104

4.20 Ma trận hệ số tải nhân tố 104

4.21 Kiểm định Chronbach’s Alpha đối với các nhóm biến 105

4.22 Các nhân tố xác định công bằng 106

4.23 Bình quân diện tích đất nông nghiệp được phân chia đồng đều công bằng theo Nghị quyết 10 110

4.24 Tình hình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2019 111

4.25 Một số điển hình về thu hồi đất nông nghiệp hộ gia đình trong phát triển khu đô thị, khu công nghiệp tại một số huyện tại tỉnh Bắc Giang 113

4.26.Quy mô cánh đồng lớn triển khai thực hiện tại Bắc Giang giai đoạn 2014-2016 114

4.27 Đất trồng cây hàng năm đã chuyển sang trồng cây ăn quả năm 2013 tại Lục Ngạn 115

4.28 Quy hoạch phát triển nông nghiệp công nghệ cao giai đoạn 2017- 2025 116

4.29 Cánh đồng lớn thực hiện liên kết sản xuất, bao tiêu sản phẩm giai đoạn 2014- 2016 117

4.30 Một số mô hình liên kết của hợp tác xã 118

4.31 Kết quả ước lượng mô hình Probit 121

4.32 Tình hình lao động tại các Khu công nghiệp Bắc Giang giai đoạn 2011- 2015 124

Trang 11

DANH MỤC BIỂU

2.1 Quy mô đất nông nghiệp Hàn Quốc 353.1 Tổng sản phẩm tại Bắc Giang theo giá so sánh 2010 phân theo khu vực kinh

tế giai đoạn 2015- 2019 443.2 Dân số tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2015- 2019 453.3 Số lao động tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2015 - 2019 453.4 Diện tích đất tự nhiên và diện tích đất nông nghiệp Bắc Giang giai đoạn

2005 - 2019 463.5 Số hộ, số trang trại, số HTX và doanh nghiệp giai đoạn 2006 - 2016 473.6 Cơ cấu số hộ nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản Bắc Giang giai đoạn 2006- 2016 484.1. Biến động diện tích đất nông nghiệp hộ gia đình theo vùng giai đoạn 2006 –

2016 684.2. Biến động diện tích đất nông nghiệp tại các hộ điều tra theo vùng giai đoạn 1994 –2018 694.3. Biến động số mảnh/ hộ tại các vùng giai đoạn 1994 – 2018 694.4. Biến động đất nông nghiệp hộ gia đình theo loại hình sử dụng đất giai đoạn 2006- 2016 734.5. Biến động diện tích đất nông nghiệp tại các hộ điều tra theo loại hình sử dụng đất giai đoạn 1994- 2018 744.6. Biến động số mảnh/hộ theo loại hình sử dụng đất giai đoạn 1994- 2018 tại

các hộ điều tra 744.7. Biến động diện tích đất nông nghiệp hộ gia đình theo ngành nghề giai đoạn 1994 -2018 774.8. Biến động số mảnh/hộ theo ngành nghề giai đoạn 1994 - 2018 774.9. Manh mún đất nông nghiệp hộ gia đình giữa các vùng 794.10.Hiệu quả kinh tế theo quy mô đất nông nghiệp hộ gia đình tính trên chí phí năm 2018 864.11.Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tính trên chi phí theo huyện tại các hộ điều tra năm 2018 87

Trang 12

4.12.Mối quan hệ giữa manh mún đất nông nghiệp và hiệu quả sử dụng đất 94

4.13.Đường cong Lorenz tính theo tổng diện tích của hộ 101

4.14.Đường cong Lorenz tính theo tổng diện tích bình quân nhân khẩu của hộ 101

4.15.Mối quan hệ giữa công bằng và hiệu quả 108

4.16.Tình hình tham gia tập huấn kỹ thuật của các hộ năm 2018 126

4.17.Tình hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật của các hộ 127

4.18.Quy mô đất nông nghiệp các hộ giai đoạn 2014- 2018 129

Trang 13

DANH MỤC HÌNH

3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Giang 42

DANH MỤC HỘP TT Tên hộp Trang 4.1 Thuê đất sản xuất để xây dựng cánh đồng mẫu lớn 81

4.2 Thuê đất sản xuất để sản xuất khoai tây 81

4.3 Các hộ chủ yếu sử dụng đất Nhà nước giao, lao động trong thôn chủ yếu là người lớn tuổi 97

4.4 Số đơn khiếu nại đất nông nghiệp rất ít 100

4.5 Sự chuyển đổi loại hình sử dụng đất đáp ứng cầu thị trường nông sản 123

4.6 Lao động có xu hướng dịch chuyển sang ngành công nghiệp 125

4.7 Công nghệ tưới nhỏ giọt giúp các hộ giảm chi phí sản xuất và số nhân công lao đồng 127

Trang 14

TRÍCH YẾU LUẬN ÁN

Tác giả luận án: Nguyễn Thị Dung

Tên luận án: Phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá thực trạng phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình tại tỉnh Bắc Giang, từ

đó làm căn cứ đề xuất một số giải pháp phân bố đất nông nghiệp hợp lý

Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tiếp cận: Tiếp cận thể chế, tiếp cận thị trường, tiếp cận vùng, tiếp

cận có sự tham gia

- Phương pháp nghiên cứu: Tài liệu thứ cấp như: tạp chí, luận án, luận văn, báo

cáo khoa học, báo cáo tổng kết của các đơn vị, đã sử dụng nhằm thu thập các thôngtin Bên cạnh đó, trên cơ sở khảo sát 438 mẫu, trong đó, có 399 hộ gia đình thuộc bahuyện Lục Ngạn, Lạng Giang, Việt Yên đại diện cho các vùng của tỉnh và 39 cán bộ vềlĩnh vực đất đai Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả về phân bố đất nôngnghiệp hộ gia đình; Mô hình đường giới hạn ngẫu nhiên sử dụng nhằm xác định mốiquan hệ giữa hiệu quả và quy mô đất đai; Mô hình probit trong phân tích các nhân tốảnh hưởng đến quyết định tham gia thị trường đất đai; Tìm ra các nhân tố xác định côngbằng qua mô hình phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Kết quả chính và kết luận

Luận án hệ thống hóa và làm rõ lý luận về phân bố nông nghiệp hộ gia đình Đặcbiệt, luận án bổ sung thêm lý luận về xác định tính hợp lý trong phân bố đất đai gồm:tính công bằng, tính hiệu quả và mối quan hệ giữa công bằng và hiệu quả

Nghiên cứu thực trạng cho thấy hiện trạng, biến động phân bố đất nông nghiệp

hộ gia đình giữa các vùng, giữa các loại hình đất sử dụng và giữa các hộ theo theongành nghề Sự phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình Bắc Giang tiếp tục là quy mô nhỏ,phân tán, manh mún ở mức độ cao hơn so với mặt bằng chung của cả nước và của vùngTrung du và miền núi Bắc Bộ Mặc dù nơi đây đã có sự xuất hiện các hình thức tích tụ,tập trung đất nông nghiệp nhưng quá trình này diễn ra chậm chạp Tính hợp lý trongphân bố xét trên phương diện hiệu quả chỉ ra rằng tuy có quy mô đất đai nhỏ, nhưnghiệu quả sử dụng đất của hộ gia đình nông dân của Bắc Giang theo các chỉ tiêu đo lườngphổ biến, trước hết là giá trị thu được bình quân hộ nông dân và trên một đơn vị diệntích cao hơn mặt bằng chung của cả nước và của vùng Hiệu quả sử dụng đất phụ thuộcvào rất nhiều yếu tố, nhưng xét trên bình diện chung, ít nhất là trong mối tương quanvới các tỉnh có điều kiện sản xuất tương tự của vùng, thì so sánh nói trên cho thấy, quy

mô đất nông nghiệp nhỏ chưa phải là một hạn chế rõ ràng đối với cải thiện hiệu quả sử

Trang 15

dụng đất nông nghiệp ở cấp độ hộ gia đình Tập trung đất nông nghiệp là yếu tố đem lạihiệu quả kinh tế sử dụng đất cao hơn Thêm vào đó, công bằng trong phân bố dưới cácgóc độ có sự khác nhau Giữa các vùng, giữa các hộ và giữa các thế hệ trong hộ có sựbất công bằng trong phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình Ngược lại, về thủ tục pháp lý

về quyền sử dụng đất và thu nhập của hộ thì phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình tỉnhBắc Giang là công bằng Tùy vào quy mô đất nông nghiệp các vùng mà sự công bằng có

sự thay đổi Quy mô diện tích nhỏ đảm bảo công bằng hơn so với quy mô nông nghiệplớn với cùng nguồn gốc đất đai Trong phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình tính côngbằng cần được ưu tiên trong chính sách là: (1) Các giao dịch đất nông nghiệp được thựchiện minh bạch, công khai, hợp pháp; (2) Đất nông nghiệp được phân bố ngang bằng,đồng đều; (3) Công bằng về cơ hội cho những người tham gia giao dịch đất nôngnghiệp Mối quan hệ giữa công bằng và hiệu quả là khác ở các khía cạnh Xét trên góc

độ vùng, công bằng và hiệu quả mâu thuẫn hay không tùy vào loại hình đất trồng.Nhưng xét trên góc độ quy mô đất nông nghiệp hộ gia đình công bằng và hiệu quả có sựmâu thuẫn (quy mô manh mún là công bằng, thì phi hiệu quả kinh tế)

Các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến hiện trạng phân bố đất nông nghiệp nói trêngồm: Nhóm các yếu tố chính sách, thể chế; Nhóm các yếu tố kinh tế, kỹ thuật; Các yếu

tố tâm lý, xã hội Trong đó, chính sách giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, chính sách

hỗ trợ sản xuất trong chương trình xóa đói giảm nghèo, chính sách phát triển khu đô thị

và khu công nghiệp trong công nghiệp hóa, đô thị hóa trong nhóm yếu tố chính sách, thểchế và nhóm tâm lý, xã hội là rào cản tích tụ, tập trung dẫn tới quy mô manh mún đấtnông nghiệp Ngược lại, các chính sách khuyến khích tích tụ, tập trung đất nông nghiệp,chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp (chính sách chuyển đổi ngành nông nghiệp),chính sách liên kết, hợp tác nông nghiệp trong nhóm chính sách, thể chế và nhóm yếu tốkinh tế, kỹ thuật bao gồm: Sự phát triển của thị trường đất đai, gắn với kinh tế/phi kinh

tế theo quy mô trong nông nghiệp; Thị trường nông sản; Gia tăng thu nhập ngoài nôngnghiệp và dịch chuyển lao động ra khỏi khu vực nông nghiệp

Kết quả phân tích hiện trạng, biến động và các nhân tố ảnh hưởng đến phân bốđất nông nghiệp hộ gia đình cho thấy có thể dự báo về hai chiều hướng: thứ nhất, bứctranh phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình sẽ tiếp tục là phân bố đồng đều với quy môsản xuất nhỏ, coi trọng mục tiêu công bằng, kể cả khi có sự đánh đổi giữa công bằng vàhiệu quả trong phân bố đất nông nghiệp, xu hướng này không nằm ngoài xu thế chungcủa các nước châu Á Thứ hai, tích tụ, tập trung đất đai sẽ diễn ra trong tương lai

Các giải pháp hỗ trợ, thúc đất phân bố hợp lý đất nông nghiệp hộ gia đình, đảmbảo phân bố đất nông nghiệp công bằng và nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng gồm:Thúc đẩy phát triển thị trường đất nông nghiệp đảm bảo các thông tin giao dịch được thực hiện minh bạch, công khai và hợp pháp; Lựa chọn, hỗ trợ ứng dụng khoa học công nghệ phủ hợp; Liên kết, hợp tác phát triển hàng hóa lớn; khuyến khích tích, tập trung đất nông nghiệp ở một số vùng.

Trang 16

THESIS ABSTRACT

PhD candidate: Nguyen Thi Dung

Thesis title: Household agricultural land distribution on Bac Giang province

Educational organization: Viet Nam National University of Agriculture

Research Objectives

Assessing the status of households’ agricultural land distribution in Bac Giangprovince, based on which, proposing solutions to ditrubute reasonable agricultural land

Materials and Methods

- Method of approach: Institutional approach, market approach, regional

approach, participatory approach

- Method of research: Secondary documents such as: Thesises, scientific reports,

summary reports of organization, etc are used to collect information Besides, there are

438 survey samples which include 399 households in three districts are Luc Ngan, LangGiang and Viet Yen representing the regions of the province, and 39 officials work inthe field of land management The author uses descriptive statistical methods to analyze

da ta of household agricultural land distribution; The stochastic frontier analysis (SFA)

is used to determine the relationship between efficiency and land size, Probit model isused to analyze the factors affecting decisions to participate in the land market; and theauthor finds out the factors of fairness through the discovery factor analysis (EFA)model

Main findings and conclusions

The thesis systematizes and clarifies the theory of households’ agricultural landdistribution In particular, which adds the theory of determining the validity of thedistribution such as: equity, efficiency and the relationship between equity andefficiency

The study shows that the agricultural land distribution of households betweemregions, between use land types and between households The agricultural landdistribution of Bac Giang households will continue to be small, scattered andfragmented scale at a higher level than the whole country and the Northern Midlandsand Mountains Although there have been the appearance of agricultural landaccumulation and concentration, but this process has been slow The rationality of thedistribution in terms of efficiency shows that the households have a small land size butaccording to popular measurement criteria, it relies on the average obtainable value byfarmers' households and per unit area, the land use efficiency of Bac Giang's farmerhouseholds is larger than the common ground of the whole country and the region Theefficiency of land use depends on many factors In general, it bases on correlationbetween provinces, where has similar production conditions in the region, thecomparison result shows that small and fragmented land size is not yet a clear constraint

to improve the efficiency of agricultural land use at the household level Agricultural

Trang 17

land concentration brings higher land use economic efficiency In addition, the equity inagricultural land distribution is different between regions, between households andbetween households There is inequality in the distribution of household agriculturalland In contrast, when agricultural land distribution is evaluated by the legal procedures

of land use rights and household income, the distribution of household agricultural land

in Bac Giang province is fair Depending on the size of the land area by regions, equityvaries Small agricultural land scale ensures fairer than large agricultural land scale Inthe household agricultural land distribution, equity should be the priority in the policiesis: (1) Agricultural land transactions are conducted transparently, publicly and legally;(2) Agricultural land is distributed equal and evenly; (3) Equity of opportunity for thepeople who involved in agricultural land transactions From a regional perspective,equity and efficiency are contradictory or non-contradictory, depending on the soil type.But it is based on the size of farmland, equality and efficiency are contradictory(fragmentation is fair but economic efficiency is poor)

The groups of factors, which affect the current state of agricultural landdistribution includes: policy and institutional elements; economic and technical factors;psychosocial and social factors In which, the agricultural land allocation policy tohouseholds, production support policies in poverty reduction programs, policies ofindustrialization and urbanization which belong to the policy and institutional elements,psychological and social factors that interfere cumulative and concentrated land, makefragmented agricultural land scale In contrast, policies which encourage accumulationand concentration of agricultural land are agricultural restructure policies (agriculturalsector transformation policies); agricultural linkage and cooperation policies which is ineconomic and technical policies, policy and institutional elements, which includes: theland market development, which associate with economic /non-economic scale;Agricultural market; Increasing non-farm incomes and moving labor out of theagricultural sector

The analysis results show that household agricultural land distribution will playout two trends Firstly, this distribution will continue to be uniformly distributed withsmall scale production and fair goals are respected, in the context of agricultural landdistribution and efficiency, this trend is not out of the common trend of Asian countries.Secondly, agricultural land accumulation and concentration will take place in the future

The reasonable distribution support and promotion solutions, which ensure fairagricultural land distribution and improve economic efficiency of land use are: Ensuringequity in household agricultural land distribution (regardless of size accumulation ofagricultural land, concentrated or fragmented under the influence of market or non-market factors), Selecting and supporting of suitable scientific and technologicalapplication; Linking and cooperating in production and consumption of agriculturalproducts to develop large commodity production; Encouraging accumulation in someareas

Trang 18

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Phân bố đất nông nghiệp là sự phân chia diện tích đất nông nghiệp giữa cácvùng, giữa các loại hình sử dụng đất và giữa các chủ thể sử dụng đất dẫn đến sựthay đổi về cơ cấu đất nông nghiệp theo thời gian Dưới tác động của các yếu tốnhư: chính sách, thể chế, kinh tế, kỹ thuật và tâm lý xã hội đất nông nghiệp đượcđiều chỉnh, phân chia lại, hình thành nên hiện trạng diện tích đất nông nghiệp tích

tụ, tập trung hay manh mún, phân tán

Thực tế cho thấy, phân chia đất nông nghiệp theo chủ thể sử dụng, đặc biệt

là chủ thể hộ gia đình luôn có ý nghĩa quan trọng về phát triển kinh tế, xã hội và

ổn định chính trị Vì vậy, việc lựa chọn nhằm hướng đến một sự phân bố đấtnông nghiệp hộ gia đình “hợp lý”, trong đó, đảm bảo công bằng và đem lại hiệuquả kinh tế sử dụng đất với mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia,mỗi vùng và địa phương luôn là một vấn đề lớn và hết sức quan trọng Để đảmbảo mục tiêu trên trong vòng một thế kỷ qua, Chính phủ Việt Nam đã thực hiệncác cuộc “cách mạng, hay “đổi mới” trong chính sách đất đai Từ việc ruộng đấttập trung vào tay một số địa chủ thời kỳ phong kiến, đến việc phân chia ruộngcho nông dân thông qua cải cách ruộng đất (1953 – 1956) ở miền Bắc, tiếp đó làruộng đất được tập trung với quy mô lớn vào các Hợp tác xã nông nghiệp bắt đầu

từ những năm 60 ở miền Bắc và sau giải phóng miền Nam Cuối cùng là thời kỳ

“Đổi mới” bắt đầu vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX vớicác chính sách đấtđai như: luật đất đai 1987, Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ chính trị, Nghị định

số 64/CP của Chính phủ, luật đất đai năm1993 Quyền sử dụng đất được giao chocác hộ gia đình với nguyên tắc đất đai được phân chia “công bằng” trong đó đấtnông nghiệp HTX được phân chia bằng nhau theo hướng bình quân một laođộng, một nhân khẩu cả về diện tích và vị trí đất nông nghiệp đối với từng địaphương ở miền Bắc Quyền sở hữu được tôn trọng trước khi thành lập tổ hợp tác

và có điều chỉnh để đảm bảo lượng đất nông nghiệp tối thiểu cần thiết cho dânkhông có đất ở miền Nam Nhìn chung, sản xuất nông nghiệp Việt Nam sau đổimới dựa trên nền tảng chủ yếu là kinh tế hộ gia đình với quy mô sản xuất nhỏ,manh mún và phân tán Diện tích đất nông nghiệp bình quân hộ gia đình năm

2016 (bao gồm cả ba loại: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất nuôi trồng thủysản) xấp xỉ 0,8 ha/ hộ gia đình (Tổng cục Thống kê, 2016), thấp hơn so với khuvực có quy mô diện tích bình quân hộ thấp nhất thế giới là Nam Á - 1,0 ha, vàdiện tích này chưa bằng 1/2 so với mức bình quân diện tích đất nông nghiệp hộgia đình khu vực Đông Nam Á – 1,8 ha (Eastwood & cs., 2006) Mặc dù diện

18

Trang 19

tích hộ gia đình với quy mô sản xuất nhỏ, manh mún và phân tán nhưng lại gópphần nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp, xóa đói giảm nghèo vàphát triển văn hóa nông thôn nói chung trong suốt giai đoạn đổi mới của đấtnước Chính vì vậy, phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình với quy mô nhỏ, manhmún, phân tán được thừa nhận một cách rộng rãi, khách quan về tính hợp lý, tối

ưu của nó trong vòng 30 năm đổi mới

Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, phân bố đất nông nghiệp hộ gia đìnhvới quy mô nhỏ, manh mún, phân tán bộc lộ nhiều hạn chế, thậm chí được coi làrào cản chính đối với phát triển nông nghiệp hàng hóa, và nâng cao hiệu quả sửdụng đất Tình trạng giữ đất nông nghiệp của các hộ không sản xuất nông nghiệpnhư một tài sản đảm bảo xuất hiện ngày càng nhiều Nhóm hộ này có xu hướng

bỏ hoang, cho mượn đất nông nghiệp hoặc sản xuất với mục đích giữ đất nôngnghiệp mà không tính tới hiệu quả sử dụng, trong khi các hộ nông nghiệp là các

hộ cần đất lại thiếu đất để sản xuất Để giải quyết tình trạng này, các quan điểm,chính sách theo hướng nới lỏng kiểm soát đối với tích tụ đất nông nghiệp,khuyến khích tập trung ở các hình thức khác nhau đối với các điều kiện, vùngnông nghiệp khác nhau xuất hiện Những quan điểm, chính sách này dường nhưphù hợp với xu thế phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa thời hiện đại nhưnglại có mâu thuẫn trong việc duy trì các chính sách hỗ trợ xã hội với yêu cầu hàngđầu là mọi nông dân cần có đất để sản xuất

Tuy cùng hướng đến một mục tiêu chung là tối đa hóa lợi ích xã hội, nhưngcác quan điểm, chính sách cụ thể về đất đai khác nhau sẽ dẫn đến các kết quảphân bố đất nông nghiệp hộ gia đình khác nhau thậm chí là mâu thuẫn nhau Dovậy, việc phân tích đánh giá một cách có hệ thống, toàn diện các khía cạnh củaquá trình phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình, dự báo xu thế của phân bố đấtnông nghiệp hộ gia đình trong tương lai dưới ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế,

xã hội để cung cấp thông tin và làm căn cứ cho việc đề xuất các giải pháp hỗ trợ,thúc đẩy phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình hợp lý, là vấn đề cấp thiết và có ýnghĩa nhằm cung cấp những luận chứng khoa học và thực tiễn để đề xuất các giảipháp hỗ trợ và thúc đẩy phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình, nghiên cứu đã lựachọn tỉnh Bắc Giang để tiến hành kiểm định các giả thiết về các kịch bản có thểxảy ra đối với xu hướng phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình:

Thứ nhất nếu ưu tiên về tính bình quân, đồng đều trong phân bố đất nôngnghiệp hộ gia đình để đảm bảo ổn định, an sinh xã hội, các rào cản đối với tích tụtập trung đất đai là đủ lớn thì dẫn đến duy trì phân bố đất nông nghiệp hộ giađình là quy mô nhỏ, phân tán, manh mún

Thứ hai, nếu quy mô nhỏ, phân tán trong sản xuất nông nghiệp thực sự làrào cản đối với hiệu quả kinh tế, thì trong điều kiện sức ép về gia tăng thu nhập

Trang 20

từ nông nghiệp cả cho tiêu dùng và xuất khẩu nông sản hàng hóa, dẫn đến tậptrung, tích tụ đất nông nghiệp là chủ đạo, thì phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình

là tập trung, với quy mô lớn và không đồng đều

Thứ ba, không có xu hướng nào nói trên là vượt trội, sự phân bố nói trênkhá cân bằng

Bắc Giang là một tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc có ngànhnông nghiệp đứng thứ 23 toàn quốc và đứng đầu khu vực Trung du và miền núiphía Bắc, với 81,25% trong tổng diện tích đất nông nghiêp do các hộ gia đình sửdụng (Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Giang, 2018) Chính vì vậy nghiên cứu:

“Phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Bắc Giang” được lựa

chọn nhằm kiểm định các giả thuyết về các kịch bản nêu trên từ đó cung cấpnhững luận chứng khoa học và thực tiễn góp phần đề xuất các giải pháp hỗ trợ vàthúc đẩy phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình hợp lý trên địa bàn tỉnh Bắc Giangnói riêng và ở Việt Nam nói chung

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng và xu thế phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình tại tỉnhBắc Giang, từ đó làm căn cứ đề xuất một số giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy phân bốđất nông nghiệp hợp lý hướng đến tối đa hóa lợi ích xã hội của phân bố nguồnlực đất nông nghiệp, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

- Nhận diện và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phân bố đất nông nghiệp hộ giađình trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và dự báo về xu thế phân bố đất nông nghiệp hộgia đình

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hỗ trợ, thúc đẩy quá trình phân bố đất nôngnghiệp hộ gia đình Bắc Giang hợp lý theo hướng công bằng và hiệu quả nhằmphát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

1.3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiện trạng, biến động phân bố đất nông

Trang 21

nghiệp hộ gia đình theo quy mô đất nông nghiệp, các nhân tố ảnh hưởng đếnphân bố đất nông nghiệp hộ gia đình tại tỉnh Bắc Giang.

Đối tượng khảo sát: Chủ thể sử dụng đất nông nghiệp là các hộ gia đình sửdụng đất nông nghiệp sản xuất; Cán bộ cơ sở cấp thôn, xã, cán bộ quản lý đấtnông nghiệp cấp huyện, cấp tỉnh (phòng Nông nghiệp, phòng Tài nguyên và Môitrường) Các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội có ảnh hưởng đến phân bố đấtnông nghiệp

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

1.3.2.1 Về nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu giới hạn chính vào phân bố đất nông nghiệp theo chủ thể sửdụng đất là hộ gia đình theo quy mô sử dụng đất Tuy phân bố đất nông nghiệp

hộ gia đình dựa trên các khía cạnh khác: theo vùng, loại hình sử dụng đất, haycác chủ thể sử dụng đất khác (như: doanh nghiệp, tổ chức khác…) được đề cậpđến ở một số nội dung, nhưng chỉ trên giác độ các yếu tố liên quan, không thuộcđối tượng nghiên cứu chính

Đất sản xuất nông nghiệp (trồng cây hàng năm và lâu năm) và đất nuôitrồng thủy sản (mặt nước) trong ba loại đất (đất sản xuất nông nghiệp, đất nuôitrồng thủy sản, đất lâm nghiệp) được lựa chọn để tiến hành nghiên cứu Lý do lựachọn đó là đất sản xuất nông nghiệp là loại đất chủ yếu các hộ sử dụng, mặc dùđất nuôi trồng thủy sản có tỷ lệ nhỏ nhưng hiện nay các hộ có xu hướng chuyểnđổi sang đất này Đất lâm nghiệp không được tính đến vì lý do chính là: việc baohàm đất lâm nghiệp vào nghiên cứu sẽ dẫn đến sự kém tương thích trong tổnghợp, phân tích, so sánh quy mô, hiệu quả sử dụng đất của hộ gia đình (do tính đặcthù về sử dụng đất lâm nghiệp là diện tích đất thường được các hộ gia đình sửdụng với quy mô diện tích lớn nhưng thu nhập mang lại trên một đơn vị diện tíchthấp đáng kể) Thêm vào đó, đất lâm nghiệp mặc dù có diện tích lớn nhưng chủyếu do các doanh nghiệp quản lý và sử dụng, tỷ lệ hộ gia đình có đất lâm nghiệptrong tỉnh không lớn, nên tỷ lệ này trong mẫu điều tra cũng rất nhỏ, tạo ra sựkhác biệt lớn với những quan sát này nếu như gộp các loại đất vào trong phântích Với hai lý do trên, nếu nghiên cứu bao gồm đất lâm nghiệp trong phân tíchthống kê mẫu điều tra, thì ở hầu hết các nội dung, cần phải tách riêng loại đấtnày, hoặc chọn phương thức nào đó để quy đổi thích hợp, là việc làm khá phứctạp nhưng không mang lại nhiều ý nghĩa Tuy nhiên, việc loại trừ đất lâm nghiệp

ở mức độ nào đó, dù không lớn, cũng là một hạn chế của nghiên cứu

Các giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình đượcchú trọng chủ yếu các giải pháp chính sách của địa phương và kiến nghị cácchính sách vĩ mô

Trang 22

1.4 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Về cơ sở lý luận, nghiên cứu hệ thống hóa các khái niệm, đặc điểm, vai

trò, nội dung, các nhân tố ảnh hưởng đến phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình,đồng thời làm rõ lý luận về tính công bằng, tính hiệu quả kinh tế, mối quan hệgiữa công bằng và hiệu quả làm cơ sở để xác định tính hợp lý trong phân bố đấtnông nghiệp hộ gia đình

Về phương pháp nghiên cứu, phương pháp thống kê mô tả được sử dụng

trong đánh giá hiện trạng, biến động phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình Môhình đường giới hạn ngẫu nhiên (SFA) sử dụng nhằm phân tích mối quan hệ giữahiệu quả và quy mô diện tích đất nông nghiệp, các nhân tố đánh giá công bằngđược xác định bởi mô hình phân tích nhân tố khám phá (EFA) Ngoài ra, nghiêncứu sử dụng hệ số Gini và đường cong Lorenz để có cái nhìn đầy đủ, toàn diệnhơn về tính công bằng trong phân bố đất nông nghiệp tại Bắc Giang Đồng thời,nghiên cứu sử dụng mô hình Probit trong đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đếncác giao dịch trên thị trường đất nông nghiệp, một trong các con đường phân bốlại đất nông nghiệp

Về kết quả nghiên cứu, nghiên cứu hiện trạng, biến động phân bố đất nông

nghiệp hộ gia đình tại các vùng, theo loại hình đất nông nghiệp, giữa các hộ giađình phân theo ngành nghề với kết quả phân bố chỉ ra rằng manh mún đất nôngnghiệp là hiện tượng phổ biến ở Bắc Giang cũng như trong cả nước, hiện nayxuất hiện các hình thức tích tụ, tập trung nhưng diễn ra chậm chạp Đánh giá tínhhợp lý trong phân bố, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp chỉ ra rằng quy mô nhỏ

tỷ lệ nghịch hiệu quả kinh tế nhưng nếu ứng dụng các biện pháp kỹ thuật, tiếtkiệm đầu vào trong sản sản thì quy mô nhỏ chưa hẳn là hạn chế Tính công bằngđược nhìn nhận có sự khác nhau: trong quá khứ công bằng dựa trên kết quả phân

Trang 23

bố là sự phân chia đất đai ngang bằng, đồng đều, công bằng hiện tại dựa trênphương thức phân bố đất đai cần được sử dụng bởi người cần đất nhất điều nàydường như là một hạn chế Tùy thuộc vào điều kiện từng vùng mà các hộ sửdụng loại hình sử dụng đất khác nhau dẫn đến mối quan hệ công bằng và hiệuquả mâu thuẫn hoặc không mâu thuẫn, theo quy mô đất đai công bằng và hiệuquả có sự mâu thuẫn nghĩa là quy mô nhỏ đảm bảo công bằng nhưng hiệu quảthấp và ngược lại Các tác động bổ sung hay ngược chiều nhau và sự diễn rađồng thời của các yếu tố được tập trung chú ý trong đánh giá các yếu tố ảnhhưởng đến phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình, từ đó đưa ra các giải pháp hỗtrợ, thúc đẩy phân bố hợp lý đất nông nghiệp hộ gia đình Bắc Giang góp phầnphát triển KT – XH của tỉnh dựa trên tính hợp lý trong phân bố trong đó đảm bảocông bằng trong phân bố và nâng cao hiệu quả sử dụng đất.

1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Phân bố nguồn lực luôn là vấn đề trung tâm của phát triển KT - XH, củakinh tế học Đối với đất đai, nó không chỉ thuần túy là tư liệu sản xuất quyết địnhtrong sản xuất nông nghiệp, là nguồn sinh kế của nông dân, mà còn là tài sản cấttrữ được ưu tiên hàng đầu bởi các lý do về kinh tế và ngoài kinh tế, vì vậy việcthay đổi về quyền sử dụng đất, dẫn đến thay đổi phân bố đất đai, là vấn đề hếtsức phức tạp, đòi hỏi thời gian dài nhưng ảnh hưởng của nó đến KT-XH chính làvượt ra ngoài ý nghĩa thuần túy về phân bố tư liệu sản xuất

Dưới áp lực của những thay đổi về bối cảnh và điều kiện của sản xuấtnông nghiệp, cũng như tái cơ cấu ngành nông nghiệp, sẽ tác động trực tiếp hoặcgián tiếp, đến cơ cấu đất đai theo chủ thể sử dụng đất, mà tuyệt đại đa số họ làcác hộ gia đình nông dân Một cách khái quát, thì nghiên cứu này làm rõ, tiếp tụchoàn thiện lý luận về phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình Nghiên cứu hiệntrạng phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình Khảo sát các luận cứ để đánh giá cácgiả thuyết về chiều hướng phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình dưới hình thứcmanh mún hay tích tụ, tập trung đất nông nghiệp, xác định tính hợp lý trong phân

bố trên các khía cạnh: hiệu quả, công bằng, mối quan hệ công bằng và hiệu quả,nhận diện, xác định chiều ảnh hưởng của các yếu tố đến phân bố đất nông nghiệp

hộ gia đình, đưa ra các giải pháp phân bố hợp lý đất nông nghiệp hộ gia đình.Các phát hiện này có ý nghĩa, cả trên phương diện cung cấp thông tin, tài liệu chonghiên cứu, giảng dạy và tài liệu tham khảo cho hoạch định chính sách ở cấp địaphương và cấp quốc gia

Trang 24

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÂN BỐ ĐẤT

NÔNG NGHIỆP HỘ GIA ĐÌNH

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN BỐ ĐẤT NÔNG NGHIỆP HỘ GIA ĐÌNH 2.1.1. Các quan điểm, khái niệm về phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình

2.1.1.1 Khái niệm về phân bố

Phân bố (distribution) theo từ điển Oxford được hiểu là nguồn tài nguyên đượcphân chia dưới hình thức cụ thể trong một khu vực (vùng) hay giữa một nhómngười

Phân bố (allocation) theo từ điểm Cambridge là một phần trong tổng số nguồntài nguyên được chia cho các chủ thể dưới hình thức cụ thể

Cho đến nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau của các học giả về phân bố:

- Trong lĩnh vực tài nguyên, phân bố phản ánh lượng tài nguyên các chủ thể nắm giữ(hay sử dụng) Đó là kết quả của quá trình vận động và phát triển dưới tác động củacác yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội Một sự phân bố tốt là sự phân bố vừa đủ, hiệuquả và công bằng, trong đó có mức độ bất bình đẳng ở mức giới hạn có thể chấpnhận được (Daly, 1992)

- Trong lĩnh vực sản xuất, phân bố được hiểu là cách thức phân chia lượng đầu ra, củacải, thu nhập cho các cá nhân hay các yếu tố sản xuất (như lao động, đất đai, vốn),

từ đó hình thành kết quả của sự phân bố (Samuelson & William, 2010)

Trong nghiên cứu này, phân bố (distribution) được hiểu là cách thức, là con đường phân chia lượng tài nguyên cho các cá nhân hay tổ theo thời gian, từ đó hình thành nên kết quả hay hiện trạng phân bố Một sự phân bố tốt là một sự phân

bố đem lại tổng lợi ích lớn nhất (hiệu quả) và phân chia tổng lợi ích đó mà mà các

cá nhân hay tổ chức trong xã hội cảm thấy hài lòng, chấp nhận (công bằng).

2.1.1.2 Phân bố đất nông nghiệp

Đất nông nghiệp là những diện tích đất phù hợp cho sản xuất nông nghiệp, baogồm cả cây trồng và vật nuôi (FAO, 2013 và OECD, 2007) Đây là nguồn lực chínhtrong sản xuất nông nghiệp Theo Luật đất đai năm 2013, đất nông nghiệp phân theoloại hình sử dụng bao gồm: Đất trồng cây hàng năm (gồm: đất trồng lúa và đất trồngcây hàng năm khác), đất trồng cây lâu năm, đất rừng (gồm: đất rừng sản xuất, đấtrừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng), đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nôngnghiệp khác (Quốc hội, 2013)

Có nhiều khái niệm khác nhau về phân bố đất nông nghiệp:

Theo Harriet (2015) và Huaizhou (2014) phân bố đất nông nghiệp là sự thayđổi cơ cấu đất nông nghiệp theo thời gian trong một hệ thống bao gồm: Sự phân

Trang 25

chia và phân chia lại đất nông nghiệp, chủ sở hữu quyền sử dụng đất, khả năng sửdụng đất, quy mô đất nông nghiệp, quản lý đất nông nghiệp, phạm vi phân bổ đấtnông nghiệp trong từng vùng hay địa phương

Theo Ulle Endriss (2006) phân bố đất nông nghiệp là kết quả của một chuỗicác bước được thực hiện như: Phân chia, phân chia lại, điều chỉnh… nhằm hìnhthành nên cơ cấu đất nông nghiệp đối với từng vùng kinh tế

Như vậy, phân bố đất nông nghiệp được hiểu là sự phân chia diện tích đất nông nghiệp giữa các vùng, giữa các loại hình sử dụng đất và giữa các chủ thể sử dụng đất theo thời gian và không gian Một sự phân bố hợp lý là sự phân bố trong

đó đảm bảo công bằng đối với chủ thể sử dụng đất và đem lại hiệu quả kinh tế sử dụng đất.

Phân bố đất nông nghiệp được hiểu trên hai khía cạnh như sau:

Thứ nhất, phân bố đất nông nghiệp như một quá trình, dưới tác động của các

nhóm yếu tố chính sách, thể chế; kinh tế, kỹ thuật và tâm lý, xã hội diễn ra sự điềuchỉnh, phân chia lại đất nông nghiệp, làm thay đổi hiện trạng cơ cấu đất nôngnghiệp giữa các vùng, các chủ thể và loại hình sử dụng đất Trong đó, phân chia đấtnông nghiệp theo chủ thể sử dụng luôn có ý nghĩa quan trọng nhất về kinh tế, chínhtrị, xã hội

Thứ hai, phân bố đất nông nghiệp là một trạng thái, hay hiện trạng đất nông

nghiệp manh mún, phân tán hay tích tụ, tập trung

2.1.1.3 Phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình

Theo Quốc hội (2013), chủ thể sử dụng đất hộ gia đình là các hộ gia đình

trực tiếp sản xuất nông nghiệp, họ được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền

sử dụng đất nông nghiệp, nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp và có nguồnthu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó

Phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình được hiểu là sự phân chia diện tích đất nông nghiệp giữa các chủ thể sử dụng đất là các hộ gia đình Phân bố này được đo bởi diện tích và tỷ trọng diện tích của hộ, nhóm hộ giữa các vùng, các loại hình sử dụng đất và ngành nghề trong tổng diện tích đất nông nghiệp của vùng, của địa phương và quốc gia.

Trải qua thời gian đối với mỗi vùng, mỗi quốc gia, mỗi địa phương dưới tácđộng nhóm các yếu tố: chính sách, thể chế; kinh tế, kỹ thuật và tâm lý, xã hội hìnhthành nên hiện trạng phân bố đất nông nghiệp dưới hình thức là quy mô đất nôngnghiệp nhỏ, manh mún hay tích tụ, tập trung đất nông nghiệp Ở Việt Nam năm

1988, Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (khóa VI) với mục tiêu phân chia đất nôngnghiệp cho các hộ đồng đều trên các loại đất khác nhau, đảm bảo tính công bằnggiúp cho các hộ gia đình có đất để sản xuất Theo đó, đất nông nghiệp được phânchia đồng đều theo hướng bình quân theo nhân khẩu và theo từng loại đất trong mỗi

Trang 26

vùng sẽ dẫn tới hiện tượng manh mún đất nông nghiệp Đất nông nghiệp quy mônhỏ, manh mún có thể lại là hạn chế trong việc đem lại hiệu quả kinh tế sử dụng đất.Chính vì vậy, một sự lựa chọn “hợp lý” nhằm kết hợp hài hòa giữa công bằng vàhiệu quả trong phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình luôn là mục tiêu được quan tâmbởi các quốc gia, cũng như Việt Nam.

2.1.2 Đặc điểm của phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình

Đất nông nghiệp là tài nguyên không thể thiếu trong hoạt động sản xuất nôngnghiệp phục vụ đời sống con người Nó luôn gắn liền với sự phát triển kinh tế, xãhội cùng với đặc trưng về văn hóa và những quy định về thể chế ở mỗi vùng, mỗiquốc gia và mỗi địa phương theo thời gian Chính vì vậy, phân bố đất nông nghiệpnói chung và phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình nói riêng mang tính lịch sử, tínhkinh tế, tính văn hóa và tính thể chế

2.1.2.1 Tính lịch sử

Trong từng giai đoạn, đất nông nghiệp hộ gia đình ở các vùng, các quốc gia,các địa phương có sự điều chỉnh và phân chia lại đất nông nghiệp giữa các loại hìnhđất nông nghiệp, giữa các hộ sao cho phù hợp nhu cầu sử dụng Do đó, hiện trạngphân bố đất nông nghiệp hộ gia đình trong mỗi thời kỳ mang tính lịch sử phát triểncủa xã hội Đối với Việt Nam trong vòng một thế kỷ qua, lịch sử phân bố đất nôngnghiệp đã trải qua nhiều biến động lớn, với các cuộc “cách mạng, hay “đổi mới”trong chính sách đất đai Từ việc ruộng đất tập trung vào tay một số địa chủ thời kỳphong kiến, đến việc phân chia ruộng cho nông dân thông qua cải cách ruộng đất(1953-1956) ở miền Bắc, tiếp đó là ruộng đất được tập trung với quy mô lớn vàocác Hợp tác xã nông nghiệp, bắt đầu từ những năm 60 ở miền Bắc và sau giải phóng

ở miền Nam, và cuối cùng là thời kỳ “đổi mới” bắt đầu từ cuối những năm 80 củathế kỷ XX cho đến nay là sự giao quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình với nguyêntắc đất đai được phân chia “công bằng” (trong đó đất nông nghiệp HTX được phânchia dưới hình thức bằng nhau theo hướng bình quân một lao động, một nhân khẩu

cả về diện tích và vị trí đất nông nghiệp đối với từng địa phương) ở miền Bắc,quyền sử dụng được tôn trọng trước khi thành lập tổ hợp tác và có điều chỉnh đểđảm bảo lượng đất nông nghiệp tối thiểu cần thiết cho nông dân không có đất, ởmiền Nam (Nguyễn Văn Khánh, 2013)

2.1.2.2 Tính kinh tế

Khi các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp thay đổi, cùng với sự thay đổicủa các phương thức sản xuất nông nghiệp nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tếthì chế độ quyền sử dụng đất nông nghiệp hộ gia đình có sự thay đổi phù hợp vớicác hình thức tổ chức và phương thức sản xuất nói trên Ở Việt Nam, Luật đất đainăm 2013 quy định các quyền đối với hộ gia đình quyền sử dụng đất như: quyềnchuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp

Trang 27

vốn quyền sử dụng đất đã tạo điều kiện cho sự phát triển của thị trường đất đai.Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quang Hà (2017) cho thấy giai đoạn 2004-

2014, một trong các nguyên nhân tăng giảm đất đai do các nguyên nhân thị trường(mua, bán), hoặc bán thị trường (đấu thầu, đổi đất)

Ngoài việc thay đổi chế độ quyền sử dụng đất, loại hình nông sản sản xuất có

sự thay đổi, từ đó thay đổi loại hình sử dụng đất nhằm mục đích sản xuất ra nôngsản phù hợp với cầu của thị trường đem lại hiệu quả sử dụng đất Quy luật giá trịcủa K Mark cho thấy việc tính toán chi phí sản xuất và lưu thông bằng giá trị là cầnthiết do yêu cầu của thị trường Nguồn lực đất nông nghiệp có hạn nhưng cần phảisản xuất được nhiều của cải vật chất cho xã hội ở mức cao nhất, hay chi phí cho mộtđơn vị sản phẩm là ít nhất với chất lượng sản phẩm cao Sự thay đổi loại hình đấtnông nghiệp hộ gia đình Việt Nam trong 10 năm (2004- 2014) như sau: Diện tíchđất sản xuất nông nghiệp tăng 3% (bình quân mỗi năm tăng 0,33%), diện tích đấtlâm nghiệp và đất nuôi trồng thủy sản tăng với quy mô và tốc độ cao hơn (9% và12%) (Nguyễn Quang Hà, 2017)

Tóm lại, tính kinh tế trong phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình thể hiện rằngđất đai là tư liệu sản xuất trong sản xuất nông nghiệp, do đó hiệu quả kinh tế luôn làđộng lực quan trọng trong phân bố đất đai theo loại hình sử dụng và quy mô sửdụng đất

2.1.2.3 Tính xã hội

Theo Marx lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là cách thức mà con người

có quan hệ xã hội với nhau Chúng ta thấy rằng, đất nông nghiệp là tư liệu sản xuấtchính trong nông nghiệp Trong phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình luôn nảy sinhmối quan hệ giữa con người với đất nông nghiệp, mối quan hệ giữa người có quyền

sử dụng và người sử dụng đất nông nghiệp, giữa những người sử dụng đất nôngnghiệp Do đó, phân bố đất nông nghiệp mang đặc trưng riêng của xã hội theo thờigian Năm 1986 đã đánh dấu bước ngoặt phát triển đời sống xã hội ở Việt Nam.Khởi đầu là công cuộc chuyển đổi các chính sách, pháp luật đất đai Đặc biệt, Nghịquyết 10 đã tạo ra sự đột phá hết sức quan trọng khi lần đầu tiên các hộ gia đìnhđược thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ Luật đất đai năm 1993 khẳng định đất đaithuộc sở hữu toàn dân và nguyên tắc giao đất sử dụng ổn định lâu dài cho tổ chức,

hộ gia đình cá nhân Các quyền sử dụng đất (quyền chuyển đổi, quyền thừa kế,quyền thế chấp, quyền cho thuê, quyền chuyển nhượng) đi kèm với việc giao quyền

sử dụng đã tăng cường tính tự chủ và lợi ích kinh tế được bảo vệ Kinh tế thị trườngphát triển làm cho quan hệ xã hội ngày càng trở lên phức tạp hơn, nhu cầu sử dụngđất và mua bán quyền sử dụng đất phát sinh nhiều vấn đề Vì thế, luật đất đai sửađổi, bổ sung được ban hành nhằm điều chỉnh các mối quan hệ giữa con người với

Trang 28

đất đai Sự biến đổi về quan hệ ruộng đất đã tạo cơ sở và động lực cho người nôngdân tự chủ hơn (Nguyễn Tấn Phát, 2006).

2.1.2.4 Tính văn hóa

Đất đai là yếu tố gắn liền với đời sống của con người Trong khi, mỗi vùng,mỗi quốc gia, mỗi địa phương có phong tục, tập quán, lối sống, truyền thống tâm lýđặc trưng Vì vậy, phân bố đất nông nghiệp mang tính đặc trưng văn hóa vùng như:truyền thống sản xuất, tâm lý giữ đất như tài sản đảm bảo, thừa kế đất cho đời sau

Ở Việt Nam, tính văn hóa trong phân bố thể hiện rõ rệt qua truyền thống sản xuất tựcấp tự túc, quy mô nhỏ với trình độ thâm canh nhất định, dựa trên kinh nghiệmđược tích lũy nhiều đời, dựa vào lao động thủ công và truyền nghề theo kiểu chatruyền con nối, từ đó hình thành hiện trạng phân bố đất nông nghiệp quy mô nhỏ,phù hợp với lao động gia đình Bên cạnh đó, tính văn hóa trong phân bố thể hiện bởitâm lý phân chia đất đai trong hộ với mục đích thừa kế cho con, cháu đời sau Điềunày làm cho đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng bị chia nhỏ trong nội bộcác hộ gia đình Ngoài ra, tâm lý gắn bó với đồng ruộng thể hiện tính văn hóa trongphân bố Đối với các chủ hộ gia đình đã tương đối lớn tuổi ở Việt Nam thì họ lạicàng “giữ chặt” lấy ruộng đất, không bán mà chỉ muốn mua thêm nếu có điều kiện,hoặc là cho thuê (Hoàng Thị Thu Huyền, 2016)

2.1.2.5 Tính thể chế

Phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình thể hiện rõ tính thể chế Các thể chế,chính sách: chính sách đất đai, chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chính sáchkhuyến khích liên kết sản xuất,… qua các thời kỳ làm thay đổi cơ cấu diện tích đấtnông nghiệp nói chung và đất nông nghiệp hộ gia đình nói riêng Đối với Việt Nam,

sự thay đổi chính sách từ giữa những năm 1980 từ khuôn khổ kế hoạch hóa tậptrung sang cơ chế định hướng thị trường Từ đó, một chuỗi dài các thay đổi như: tái

cơ cấu nông nghiệp, phát triển thị trường, quyền sử dụng đất của cá nhân, cải cáchruộng đất, quy hoạch sử dụng đất… đã hình thành nên quy mô diện tích khác nhaugiữa các vùng, các chủ thể, loại hình sử dụng (Alain de Janvry & cs., 1997) Việcxem xét đất nông nghiệp như một mặt hàng là cơ sở cho sự phát triển thị trường đấtnông nghiệp của Việt Nam (Do Quy Toan & Iyer, 2003) tạo điều kiện cho tích tụ,tập trung đất nông nghiệp

2.1.3 Vai trò của phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình

Phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình có vai trò hết sức quan trọng trong pháttriển nông nghiệp nói riêng và phát triển xã hội nói chung

Đối với hộ gia đình, phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình là yếu tố ảnh

hưởng đến hiệu quả kinh tế sử dụng đất, ảnh hưởng đến an ninh sinh kế của hộ Giaiđoạn 2006- 2011, diện tích đất giao cho các hộ gia đình tăng 88,8% lên 89,4%, cơcấu diện tích đất nông nghiệp theo loại hình đất sử dụng có sự thay đổi phù hợp với

Trang 29

cơ cấu từng loại cây trồng Sự chuyển dịch trên góp phần tích cực nâng cao hiệu quảkinh tế sử dụng đất, ổn định đời sống người dân (Nguyễn Thị Ngọc Anh, 2019).

Đối với cộng đồng, phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình góp phần phát triển

cộng đồng Có thể nói, phân bố đất nông nghiệp hợp lý sẽ góp phần ổn định sinh kếđối với người sử dụng, đảm bảo an ninh lương thực, tăng sản lượng cây trồng và cảithiện dinh dưỡng cho người nghèo ở nông thôn Bên cạnh đó, phân bố đất nôngnghiệp hộ gia đình góp phần thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng, nhà ở và bảo vệ tàinguyên thiên nhiên (Rodney, 2007 và Lê Sỹ Hải, 2017)

Đối với xã hội, phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình đảm bảo công bằng xã

hội Đất đai không chỉ đơn thuần là tư liệu sản xuất đối với nông dân, mà nó còn làtài sản có ý nghĩa về mặt tâm lý, xã hội Chính vì vậy, phân bố đất nông nghiệpcông bằng sẽ giúp các hộ yên tâm trong quá trình sản xuất (Lamont & Favor, 2017)

Phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình hợp lý sẽ tăng nguồn cung nông sản,

đảm bảo nguồn nguyên liệu đầu vào trong thực hiện mục tiêu phát triển ngành kinh

tế khác (Nguyễn Hữu Tuấn, 2019).

Ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước, việc sử dụng đất nông nghiệphợp lý, có hiệu quả cao và đảm bảo tính công bằng, bền vững vì lợi ích chung củacộng đồng là mục tiêu xuyên suốt Chính vì vậy, phân chia đồng đều, ngang bằngvới nền tảng quy mô nhỏ theo Nghị quyết 10 đảm bảo người dân có đất sản xuất làmột trong những cách lựa chọn của Chính phủ Tuy nhiên, theo FAO (2003) phân

bố đất nông nghiệp trong nhiều trường hợp tạo nên sự tích tụ, tập trung đất nôngnghiệp, trong đó giải quyết vấn đề tổ chức sản xuất và lao động, thu nhập đối vớicác hộ gia đình sản xuất nông nghiệp

2.1.4 Nội dung nghiên cứu về phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình

Phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình được thể hiện qua hiện trạng quy mô đấtnông nghiệp, cơ cấu đất nông nghiệp hộ gia đình giữa các vùng, các loại hình đất sửdụng và giữa các hộ gia đình với quy mô đất nông nghiệp nhỏ, manh mún hay quy

mô đất nông nghiệp lớn theo hướng tích tụ, tập trung Tính hợp lý trong phân bốdựa trên nền tảng của sự công bằng các hộ có đất để sản xuất và nâng cao hiệu quảkinh tế sử dụng đất Trong đó, việc xác định mối quan hệ giữa công bằng và hiệuquả nhằm phân bố hợp lý đất nông nghiệp hộ gia đình là điều cần được quan tâm

2.1.4.1 Hiện trạng, biến động phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình

a Hiện trạng, biến động phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình theo vùng

Phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình theo vùng thể hiện cơ cấu đất nôngnghiệp hộ gia đình giữa các vùng (vùng cao, vùng trung bình và vùng thấp)

Quy mô đất nông nghiệp thay đổi theo thời gian và nó mang tính đặc trưngvùng Điều này có thể được giải thích như sau: Phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình

Trang 30

mang tính lịch sử, trải qua thời gian dưới sự tác động của các yếu tố thị trường vàphi thị trường, đất nông nghiệp hộ gia đình có sự biến động theo thời gian, từ đóhình thành lên hiện trạng quy mô diện tích đất nông nghiệp theo không gian (theovùng) tại từng thời điểm.

Đất đai có tính cố định về vị trí, nó không thể di chuyển được Tính cố địnhnày là yếu tố quyết định quy mô đất nông nghiệp từng vùng Bên cạnh đó, đất đaicòn chịu sự chi phối của các yếu tố môi trường, nơi có đất Mặt khác, đất đai nóichung và đất nông nghiệp nói riêng là có hạn Vì vậy, giá trị đất đai khác nhau cả về

vị trí và chất đất, do đó nó có tính đa dạng và phong phú Tính đa dạng và phongphú của đất đai tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng đất từng vùng Trong sản xuất nôngnghiệp, nó thể hiện qua khả năng thích nghi của các loại cây trồng, đây là yếu tố cơbản hình thành các vùng chuyên canh cây trồng phù hợp với đặc điểm của địaphương

Việc tìm hiểu hiện trạng, biến động phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình theovùng thông qua các chỉ số đo lường quy mô diện tích đất nông nghiệp giữa các vùngtheo thời gian có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng Trước hết, việc xem xét quy

mô và cơ cấu đất nông nghiệp hộ gia đình đối với từng vùng theo thời gian để thấyđược hiện trạng, biến động phân bố diện tích đất nông nghiệp nhằm so sánh quy môdiện tích đất nông nghiệp hộ gia đình giữa các vùng, với cả nước và các quốc giatrong khu vực

b Hiện trạng, biến động phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình theo loại hình

mô diện tích đất từng loại Nghiên cứu dựa trên cơ sở luật đất đai 2013 của Chínhphủ để phân chia các loại đất như sau:

- Thứ nhất, đất sản xuất nông nghiệp bao gồm đất trồng cây hàng năm

và cây lâu năm gồm: (i) Đất trồng cây hàng năm là đất chuyên trồng các loại cây

Trang 31

thời gian sinh trưởng từ khi gieo trồng tới khi thu hoach không quá một năm, gồm:đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác (ii)

Đất trồng cây lâu năm là đất trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng trên một

năm từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch bao gồm đất trồng cây công nghiệp lâu năm,đất trồng cây ăn quả lâu năm và đất trồng cây lâu năm khác

- Thứ hai, đất lâm nghiệp gồm: (i) Đất rừng sản xuất là đất sử dụng vào mục

đích sản xuất lâm nghiệp, bao gồm đất rừng tự nhiên sản xuất, đất có rừng trồng sản

xuất, đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất, đất trồng rừng sản xuất (ii) Đất rừng

phòng hộ là đất được sử dụng vào mục đích phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ đất, bảo vệ

nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thai, chắn gió, chắn cát, chắn sóng ven biển,bao gồm đất rừng tự nhiên phòng hộ, đất có rừng phòng hộ, đất khoanh nuôi phục

hồi rừng phòng hộ, đất trồng rừng phòng hộ (iii) Đất rừng đặc dụng là đất để sử

dụng vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm khoa học, bảo tồn thiên nhiên và đa dạngsinh học, vườn rừng quốc gia, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh,bảo vệ môi trường sinh, bao gồm: Đất có rừng tự nhiên đặc dụng, đất có rừng trồngđặc dụng, đất khoanh nuôi phục hồi rừng đặc dụng, đất trồng rừng đặc dụng

- Thứ ba, đất nuôi trồng thuỷ sản là đất được sử dụng chuyên vào mục đích nuôi,

trồng thuỷ sản, bao gồm đất nuôi trồng nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi trồng nướcngọt

- Thứ tư, đất làm muối là đất các ruộng để sử dụng vào mục đích sản xuất

muối

- Thứ năm, đất nông nghiệp khác là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng

nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồngtrọt không trực tiếp trên đất; xây dụng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và cácloại động vật khác được pháp luật cho phép (Quốc hội, 2013)

Trong phạm vi nghiên cứu phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình, nghiên cứutập trung phân tích, đánh giá về cơ cấu và sự thay đổi quy mô đất nông nghiệp hộgia đình theo loại hình đất nông nghiệp (bao gồm: Đất trồng cây hàng năm, đấttrồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thủy sản) trong các giai đoạn, từ đó xác định lợithế của vùng, xác định mức độ thay đổi diện tích đất nông nghiệp theo loại hình sửdụng đất

c Hiện trạng, biến động phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình theo ngành nghề

Phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình theo ngành nghề là cơ cấu đất nôngnghiệp chia theo ngành nghề Trong nghiên cứu, tiêu chí phân chia hộ này căn cứvào cơ cấu thu nhập lớn nhất (nguồn thu chính) trong hộ gồm: Thu từ NN, thu từngành CN-XD, thu từ TMDV và thu từ lương, các hộ gồm: Hộ NN, hộ CN- XD, hộTMDV và hộ có nguồn thu từ lương

Trang 32

Trước đây, nước ta chủ yếu là các hộ thuần nông, sinh kế của hộ dựa vào sảnxuất nông nghiệp là chính, trải qua thời gian với sự thay đổi của chính sách đất đai,

sự phát triển của đô thị hóa và công nghiệp hóa, cùng với nhu cầu phát triển của xãhội, các hộ này có xu hướng dịch chuyển sang các ngành nghề khác Điều này là docác hộ tiến hành thực hiện chuyên môn hóa theo lợi thế của mình theo xu hướng:

“Hộ nào giỏi nghề nào làm nghề đấy” để nâng cao thu nhập của mình Do sự pháttriển của các khu công nghiệp và khu đô thị nên hiện nay, các hộ thuần nông có xuhướng mở rộng quy mô đất đai thông qua việc tập trung và tích tụ đất nông nghiệp,trong khi các hộ ngành nghề nông nghiệp chuyển nhượng hay cho thuê đất đề pháttriển ngành nghề phi nông nghiệp (các hộ có năng suất đất đai thấp hơn sẽ cho thuêhay bán đất) Vì vậy, cơ cấu hộ theo ngành nghề có sự thay đổi theo thời gian nhằmphù hợp với sự phát triển của xã hội Do đó, việc xác định hiện trạng và biến độngquy mô đất nông nghiệp giữa các hộ phân theo ngành nghề theo tiêu chí đo lường

về quy mô đất nông nghiệp giữa các hộ, nhân khẩu và lao động của hộ theo thờigian, thể hiện xu hướng tập trung đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp của các hộ trongngành nghề khác nhau Từ đó, thấy được cơ cấu đất nông nghiệp và sự biến độngđất nông nghiệp giữa các hộ phân theo ngành nghề đối với từng thời kỳ, nhằm xácđịnh xu hướng phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình trong tương lai

d Kết quả phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình

Phân bố đất nông nghiệp dưới các góc nhìn trên phương diện vùng, loại hình

sử dụng đất hay ngành nghề đều hình thành kết quả phân bố dưới hai hình thức: quy

mô diện tích đất nông nghiệp nhỏ, manh mún đất nông nghiệp hay quy mô lớn, tích

tụ, tập trung đất nông nghiệp (Sundqvist & Andersson, 2006)

- Manh mún đất nông nghiệp

Manh mún đất nông nghiệp là thể hiện tính vụn vặt, phân tán của các thửa đấtcũng như trong thửa đất Các thửa đất không nằm liền kề mà nằm rải rác trên diệnrộng, các loại sản phẩm nông nghiệp sản xuất trên các thửa đất nhỏ, không nằm tậptrung và đan xen với nhau giữa chủ thể sử dụng đất khác nhau

Nguyên nhân manh mún đất nông nghiệp do đặc điểm của địa hình, chủ sởhữu quyền sử dụng đất khác nhau với các phương thức sử dụng đất không giốngnhau Hay nói cách khác, manh mún đất nông nghiệp chính là: Quy mô diện tíchcủa một thửa đất cũng như quy mô diện tích của các chủ thể sử dụng nhỏ; Số thửađất của một chủ thể sử dụng nhiều, đan xen về diện tích giữa các chủ thể sử dụngkhác nhau, các loại cây trồng và các thửa đất Đây là hiện tượng quan sát được ởnhiều quốc gia trên thế giới và thường được coi là một trở ngại cho năng suất nôngnghiệp và hiện đại (Sundqvist & Andersson, 2006)

Có bốn hình thức manh mún đất nông nghiệp: Thứ nhất, sự manh mún doquyền sử dụng đất là số lượng chủ sở hữu quyền sử dụng đất sử dụng một mảnh đất

Trang 33

nhất định Thứ hai, sự manh mún do sử dụng đất phản ánh số người sử dụng đất.Thứ ba, sự manh mún diện tích của chủ thể sử dụng đất sản xuất nông nghiệp (hoặcphân mảnh nội bộ) nhấn mạnh số lượng mảnh đất được khai thác bởi mỗi người sửdụng Thứ tư, sự manh mún do chia tách quyền sử dụng và sử dụng đất (Van Dijk,

- Tích tụ, tập trung đất nông nghiệp

+ Tích tụ đất đai trong nông nghiệp (agricultural land accumulation) là mộtdạng tích tụ tư bản dưới hình thức hiện vật trong nông nghiệp Trong đó, tích tụ tưbản là tập trung vốn đủ lớn của chủ thể sử dụng đất dưới nhiều hình thức khác nhau,

để có thể đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, ứng dụng côngnghệ cao trong sản xuất và quản lý, để tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô, nhằmtăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường (Vũ Trọng Khải, 2008) hay tích tụđất nông nghiệp là một hành vi trong đó chủ thể sở hữu quyền sử dụng đất mua,chuyển nhượng và sử dụng các biện pháp nhằm tăng quy mô đất nông nghiệp củamình Chủ thể sở hữu quyền sử dụng đất hay sử dụng đất này thường có kinhnghiệm sản xuất, sử dụng đất hiệu quả, có thu nhập và nguồn vốn (Nguyễn ĐìnhBồng & Nguyễn Thị Thu Hồng, 2017)

Các phương thức tích tụ đất đai là do yếu tố thị trường, được thừa kế và cho

tặng bằng cách nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất Nhận chuyển

nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp là hình thức tích tụ đất nông nghiệp thông

qua thị trường, được thừa kế hay được cho tặng (Bộ Tài nguyên & Môi trường,2018)

+ Tập trung đất nông nghiệp (agricultural land concentration) là quá trình làmtăng quy mô đất nông nghiệp cho sản xuất kinh doanh hay mục đích nào đó nhưngkhông thay đổi chủ thể sở hữu quyền sử dụng đất và sử dụng đất Trong nền kinh tếthị trường, việc tích tụ và tập trung đất đai được xem là tiền đề phát triển kinh tế hộtrong quá độ chuyển từ sản xuất nhỏ, tự cung, tự cấp lên sản xuất hàng hóa quy môlớn (Nguyễn Đình Bồng & Nguyễn Thị Thu Hồng, 2017) Các phương thức chủ yếu

tập trung đất đai gồm: Dồn điền đổi thửa là một trong những hình thức tập trung đất

Trang 34

đai Trong đó, các thửa đất nhỏ được ghép với nhau thành những thửa lớn hơn nhằmtạo điều kiện thuận lợi cho cơ giới hóa và sản xuất tập trung Với việc thực hiệnchính sách dồn điền thổi thửa diện tích đất nông nghiệp được tập trung lại hình

thành quy mô diện tích đất nông nghiệp lớn Thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp là

việc người có nhu cầu thuê quyền sử dụng đất (doanh nghiệp, cá nhân,…) sẽ trả mộtlượng tiền hay nông sản theo giá thỏa thuận cho người sở hữu quyền sử dụng đất để

sử dụng đất trong một khoảng thời gian nhất định (một vụ, một năm hay một vài

năm) dưới hình thức tập trung đất đai Hợp tác, liên kết sản xuất để có cánh đồng

quy mô lớn là hình thức tập trung đất đai trong đó các hộ nông dân tự nguyện góp

đất hình thành cánh đồng mẫu lớn để tiến hành tổ chức sản xuất liên kết với doanh

nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm Góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào tổ chức

kinh tế là hình thức tập trung đất đai trong đó người sở hữu quyền sử dụng đất góp

đất vào doanh nghiệp (HTX, nhóm sở thích), đất đai được định giá để xác định vốn

góp Đổi ruộng là hình thức các chủ sở hữu quyền sử dụng đất tập trung đất đai

bằng cách thương lượng với nhau trên cơ sở giá thu được trên các thửa ruộng khácnhau để đổi cho nhau với mục đích hình thành các mảnh ruộng lớn hơn (Bộ Tàinguyên & Môi trường, 2018)

Kết quả phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình xác định bức tranh hiện trạngphân bố dưới hai hình thức manh mún, phân tán hay tích tụ, tập trung đất nôngnghiệp, từ đó dự đoán xu hướng trong tương lai với ba kịch bản đã đặt ra

2.1.4.2 Đánh giá tính hợp lý của phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình

Mục tiêu đảm bảo công bằng và tăng trưởng kinh tế là mục tiêu được cácquốc gia, cũng như Việt Nam quan tâm hàng đầu Ở Việt Nam, trong các văn kiệncủa Đại hội XI, XII và Nghị quyết của Trung ương chỉ ra rằng công bằng là độnglực cho phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao hiệu quả kinh tế vớiđiều kiện đảm bảo công bằng là yếu tố giúp phát triển bền vững (Phạm Văn Linh,2020) Đối với phân bố đất nông nghiêp hộ gia đình, trong đó, chuyển dịch cơ cấuđất nông nghiệp, cơ cấu cây trồng có tầm ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế xãhội, ổn định chính trị và an ninh sinh kế, một sự phân bố hợp lý sẽ góp phần tăngtrưởng và phát triển kinh tế (Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2019)

Nghiên cứu xác định tính hợp lý trong phân bố đất nông nghiệp hộ gia đìnhdựa trên tính công bằng trong phân bố, hiệu quả kinh tế sử dụng đất và mối quan hệgiữa chúng Trong đó, tác giả đánh giá hiệu quả sử dụng đất dựa trên quy mô đấtnông nghiệp của hộ, giữa các vùng, theo loại hình đất nông nghiệp và một số môhình tập trung đất nông nghiệp, xác định ảnh hưởng của quy mô đất nông nghiệpđến hiệu quả kỹ thuật Công bằng được đánh giá dựa trên quan điểm phân chia đấtngang bằng đồng đều tại quá khứ và quan điểm đất nông nghiệp phải nằm trong tayngười cần đất tại thời điểm hiện tại Xem xét mối quan hệ giữa công bằng và hiệu

Trang 35

quả dựa vào sự phân chia diện tích đất nông nghiệp công bằng với hiệu quả sử dụngđất, từ đó, làm căn cứ đưa ra các giải pháp phân bố hợp lý góp phần phát triển kinh

tế - xã hội của địa phương

a Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp hộ gia đình

- Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp hộ gia đình

Các tác giả Farrell (1957), Schultz (1964), Rizzo (1979) và Ellis (1993),Mussa (2011) khi nghiên cứu đều đi đến thống nhất cần phân biệt: Hiệu quả kinh tế(economic efficiency), hiệu quả kỹ thuật (technical efficiency) và hiệu quả phân bổ(allocative efficiency) Theo Coelli & cs (1998) hiệu quả trong việc sản xuất đạtđược khi nông dân sử dụng các nguồn lực sẵn có để đạt được mục tiêu lợi nhuậnhay tối đa hoá sản lượng với chức năng sản xuất tốt nhất, với các yếu tố đầu vào cốđịnh, sản lượng đầu ra cao nhất Khái niệm về hiệu quả kinh tế trong lý thuyết sảnxuất có thể được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng đất của các hộ sản xuất quy

mô nhỏ đó là: hiệu quả sử dụng nguồn lực, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, hiệuquả kinh tế, hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ

Hiệu quả sử dụng nguồn lực trong nông nghiệp là khả năng đạt được sảnlượng đầu ra tối đa trên mỗi đơn vị nguồn lực sử dụng Nó là chìa khóa để giảiquyết có hiệu quả những thách thức để đạt an ninh lương thực, tăng năng suất nôngnghiệp sẽ làm tăng khối lượng và giảm giá lương thực (Shabu, 2013)

Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là tối đa hóa đầu ra mong muốn với một sốlượng đầu vào trên diện tích đất đai nhất định hay giảm thiểu các yếu tố đầu vào vớimột số lượng đầu ra nhất định (Community Service Center, 2015)

Hiệu quả kinh tế (EE) là năng lực sản xuất của chủ thể sản xuất nông nghiệp

để sản xuất ra số lượng sản phẩm tối đa với chi phí tối thiểu với quy trình kỹ thuậtnhất định được áp dụng Trong đó, sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quảphân bổ Điều đó nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xétviệc sử dụng các nguồn lực đất đai trong nông nghiệp (Coelli & cs., 2005)

Hiệu quả kỹ thuật (TE) là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị

chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể về

kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp (Coelli & cs., 2005) Hiệu quả kỹthuật được áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô trong việc xem xét tình hình sửdụng nguồn lực cụ thể Hiệu quả này phản ánh mối quan hệ về các hàm sản xuất, nóliên quan đến phương diện vật chất của sản xuất Trong nghiên cứu, hiệu quả kỹthuật của việc sử dụng nguồn lực đất nông nghiệp được thể hiện thông qua mốiquan hệ giữa đầu vào và đầu ra, giữa các đầu vào với nhau và giữa các sản phẩm khinông dân ra các quyết định sản xuất Hiệu quả này phụ thuộc nhiều vào bản chất kỹthuật và công nghệ áp dụng trong sản xuất nông nghiệp, kỹ năng của người sản xuấtcũng như môi trường kinh tế - xã hội khác

Trang 36

C C

Hiệu quả phân bổ (AE) là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố giá sản phẩm và

giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phíchi thêm về đầu vào hay nguồn lực đất nông nghiệp (Coelli & cs., 2005) Hiệu quảphân bổ đạt được khi nông dân điều chỉnh đầu ra, mức đầu vào để phản ánh giá cảtương đối và công nghệ sản xuất Thực chất hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật

có tính đến yếu tố đầu vào và giá của đầu ra Vì thế, nó còn được gọi là hiệu quảgiá Hiệu quả này xác định giống như các điều kiện về lý thuyết biên để tối đa hóalợi nhuận Điều đó có nghĩa là giá trị biên của sản phẩm phải bằng giá trị biên củanguồn lực đất nông nghiệp sử dụng (Mussa, 2011)

Các khái niệm này được minh họa trên được đồ họa bằng một ví dụ đơn giản

về quá trình sản xuất hai đầu vào (X1, X2) và hai đầu ra (Y1, Y2) (Hình 2.1)

Y2*

X

Hình 2.1 Đo lường hiệu quả đầu vào (a) và đầu ra (b)

Nguồn: Coelli & cs (2005)Trong Hình 2.1 (a), đường đẳng lượng Isoc gọi là đường giới hạn mô tả lượngđầu vào nhỏ nhất để hộ sản xuất ra một mức sản lượng nhất định (Y 1*, Y 2*) Nếumức sử dụng kết hợp đầu vào thực tế của hộ được xác định bởi điểm A thì hộ khôngđạt hiệu quả kỹ thuật Khi đó, chi phí thấp nhất để sản xuất mức sản lượng (Y1*, Y2*)được biểu diễn bằng đường đồng phí phí Isop Tỷ lệ tối ưu giữa các đầu vào đạt được

là điểm C Bất cứ các kết hợp khác C giữa các đầu vào trên đường Isoc đều khôngđạt hiệu quả kỹ thuật (mặc dù đạt hiệu quả phân bổ) Chỉ tiêu đo lường theo đầu vàocủa hiệu quả kinh tế (EE1), hiệu quả kỹ thuật (TE1), hiệu quả phân bổ (AE1) nhưsau: EE1 = TE1 x AE1 (với EE1 = OD/OA, TE1 = OB/OA, AE1 = OD/OB)

Trong Hình 2.1(b) là đo lường hiệu quả theo đầu ra Hộ sử dụng một đầu vàonào đó để sản xuất ra hai đầu ra Y1 và Y2 Hiệu quả kỹ thuật của hộ được đo bằngđường giới hạn năng lực sản xuất Nếu một điểm cho mức sản lượng thực tế của hộ

X

Trang 37

sản xuất nằm trên đường biên đó thì sản xuất hoàn toàn hiệu quả (điểm B và C).Ngược lại, nếu sản lượng sản xuất nằm dưới đường biên thì hộ sẽ không đạt hiệuquả về mặt kỹ thuật (điểm A) Để tối đa hóa lợi nhuận đòi hỏi hộ phải sản xuất rasản lượng tối đa với mức đầu vào sử dụng (là hiệu quả kỹ thuật), sử dụng các yếu tốđầu vào phù hợp với giá của chúng (là hiệu quả phân bổ đầu vào) và tạo ra các kếthợp các đầu ra với giá tương ứng (là hiệu quả phân bổ tại điểm C) Tuy nhiên, thuậtngữ hiệu quả kỹ thuật được sử dụng để phân biệt các khía cạnh công nghệ của quátrình sản xuất từ các khía cạnh khác như hiệu quả kinh tế mà các nhà kinh tế quantâm Bởi vì, hiệu quả kinh tế đòi hỏi phải sử dụng thông tin về giá cả, chi phí hoặccác cân nhắc giá trị khác (Cooper & cs., 2007).

- Mối quan hệ giữa quy mô đất nông nghiệp và hiệu quả sử dụng đất nông

nghiệp hộ gia đình

Mối quan hệ giữa quy mô diện tích đất nông nghiệp và hiệu quả kinh tế sửdụng đất nông nghiệp hộ gia đình là vấn đề có ý nghĩa quan trọng Khi các hộ giađình sản xuất với quy mô diện tích đất nông nghiệp như hiện trạng thì họ có thểthuê/mua đất để sở hữu thêm diện tích đất và sử dụng một số lượng lao động haycác yếu tố khác phù hợp trên quy mô diện tích đó Việc đánh giá các yếu tố ảnhhưởng đến hiệu quả kỹ thuật gồm: điều kiện tự nhiên, thể chế và chính sách, đặcđiểm của chủ hộ sản xuất nông nghiệp, đặc điểm của hộ đến hiệu quả kinh tế sửdụng đất theo quy mô đất nông nghiệp của hộ nhằm xác định mối quan hệ giữa quy

mô đất nông nghiệp và hiệu quả sử dụng đất

+ Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên

Các yếu tố điều kiện tự nhiên đặc biệt là yếu tố môi trường như thay đổi khíhậu, điều kiện thời tiết, sự cạn kiệt tài nguyên, và áp lực dân số có thể ảnh hưởngđến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất Theo Nossal & Gooday(2009) sự khác biệt về hiệu quả sử dụng đất giữa các hộ sản xuất nông nghiệp là docác đặc điểm môi trường như: Chất lượng đất, độ phủ thực vật, độ cao, khí hậu,lượng mưa và nhiệt độ Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Dudu (2006) cho thấy cómột tương tác tiêu cực giữa sản xuất nông nghiệp với môi trường Khi các hộ sửdụng quá nhiều thuốc trừ sâu và phân bón có thể ảnh hưởng đến môi trường và năngsuất của các yếu tố cơ bản trong sản xuất Bên cạnh đó, theo Ajibefun (2002) khi áplực về dân số gia tăng, nông dân buộc phải sản xuất nhiều lương thực hơn, thì kếtquả là họ sẽ bị đẩy lên các vùng đất nông nghiệp mới

+ Nhóm các yếu tố thể chế, chính sách

Các yếu tố chính sách và thể chế như quy hoạch sử dụng đất, hệ thống sử dụngđất, hệ thống kinh tế và cơ sở hạ tầng, thị trường, tín dụng và đầu vào có thể có ảnhhưởng đến hiệu quả sử dụng đất đai trong sản xuất nông nghiệp, cũng như phân bố

Trang 38

đất nông nghiệp hộ gia đình Nhóm các yếu tố này được trình bày cụ thể trong mục

2.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình

+ Đặc điểm của chủ hộ sản xuất nông nghiệp

Trình độ học vấn của chủ hộ và số năm kinh nghiệm ảnh hưởng đến khả năngquản lý sản xuất Quisumbing (1995) đã đề cập rằng những người nông dân có trình

độ học vấn, đất đai và tư liệu sản xuất nông nghiệp có nhiều khả năng áp dụng cáccông nghệ mới hơn Hơn nữa, Wang & cs (1996) đã giải thích rằng nguồn tàinguyên và trình độ học vấn của nông dân ảnh hưởng đến hiệu quả phân bổ.Ajibefun (2002) chỉ ra rằng trình độ học vấn của chủ hộ và kinh nghiệm sản xuất lànhững yếu tố quyết định hiệu quả có thể được đưa vào chính sách nông nghiệp

+ Các đặc điểm của hộ

Hiệu quả giữa các hộ sản xuất nông nghiệp cũng có thể được giải thích theo vịtrí đất, quy mô đất sản xuất của hộ và đặc điểm môi trường Địa điểm hộ rất quantrọng vì các hộ có thể hoạt động dưới các điều kiện khí hậu hoặc độ cao khác nhau

và chất lượng đất khác nhau với lượng nước sẵn có Hơn nữa, vị trí địa lý đất sảnxuất của hộ liên quan đến các đặc điểm môi trường có thể là một trong những yếu tốgiải thích sự khác biệt về hiệu quả (Mussa, 2011)

b Đánh giá công bằng trong phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình

- Công bằng trong phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình

Công bằng là khái niệm được sử dụng gắn liền với phân phối (phân chia, phânbố) lợi ích, phúc lợi và phân phối nguồn lực Thuật ngữ “công bằng” trong các tàiliệu nghiên cứu trên thế giới được sử dụng không giống nhau, cả về tên gọi và kháiniệm (Trong tiếng Anh, các thuật ngữ: equity, fairness, justice đều được sử dụng đểchỉ công bằng) Hiện nay, có hai quan điểm nghiên cứu về công bằng:

Thứ nhất, kinh tế học phúc lợi tân cổ điển (Neoclasical Welfare Economics),với các đại diện: Bergson (1938), Samelson (1947), Arrow (1963) dựa trên lý thuyếtlợi ích và hàm phúc lợi xã hội, để đưa ra các tiêu chí phân phối tối ưu như: Tối đahóa tổng lợi ích xã hội và cực đại hóa lợi ích của cá nhân có mức lợi ích thấp nhất…Thứ hai, lý thuyết lựa chọn công (Public Choice Theory) với các học giả:

Tullock (1987), Buchanan (1990), Mueller (1976, 2008) gắn khái niệm công bằngvới các giá trị chuẩn tắc của cộng đồng và xã hội (như: dân chủ, minh bạch, bìnhđẳng…) Lý thuyết này nhấn mạnh về quy tắc, cách thức, quá trình, thể chế, thôngqua đó quá trình phân bố được thực hiện để đạt được công bằng (Kelsey, 1986).Các học giả đưa ra một số khái niệm công bằng như sau:

Theo Stecher & Rosse (2007) công bằng là việc so sánh tỷ lệ giữa kết quả vàđầu vào với sự nhận thức, cơ chế hành vi nhận thức là như nhau

Trang 39

Theo Mathis (2009) công bằng trong phân bố là sự phân chia lợi ích cho các

cá nhân có cùng địa vị xã hội Với nguyên tắc này, quyền lợi được phân chia chomỗi người sao cho phù hợp với địa vị của họ và với cộng đồng Công bằng trongcộng đồng được biết đến là công bằng trong trao đổi hay gọi là công bằng đúng.Theo Huaizhou (2014) công bằng là mục tiêu định lượng, chất lượng bìnhđẳng giữa các các nhân như nhau trong một hệ thống

Từ các lý thuyết về công bằng, về khái niệm có thể hiểu công bằng trong phân

bố là một khái niệm mang tính chuẩn tắc, để chỉ một quá trình, và một kết quả mà theo đó, lợi ích hoặc tài nguyên được phân chia cho các cá nhân một cách hợp lý, bình đẳng, minh bạch, làm tối đa hóa lợi ích xã hội theo một chuẩn mực giá trị được xã hội thừa nhận.

Công bằng có thể được đánh giá trên hai khía cạnh: quy tắc hay cách thức vàkết quả phân bố hợp lý, bình đẳng, minh bạch, làm tối đa hóa lợi ích xã hội theomột chuẩn mực giá trị được xã hội thừa nhận Một sự phân bố được coi là lý tưởngnếu sự phân bố đó đạt được cả hai điều kiện trên Tuy nhiên, trên thực tế, hai điềukiện đó có thể là mâu thuẫn, thậm chí là loại trừ lẫn nhau Lý thuyết công bằng tậptrung xác định có hay không phân bố nguồn tài nguyên nói chung cho các thànhviên trong xã hội, những người có mối quan hệ với nhau Nó được đo bằng việc sosánh tỷ lệ đóng góp và lợi ích của mỗi người trong mối quan hệ với nhau Cácthành viên không chỉ nhận được lợi ích công bằng hay bằng sự đóng góp cũng như

tỷ lệ giữa lợi ích và sự đóng góp (Adams, 1963)

Trong nghiên cứu này, công bằng trong phân bố đất nông nghiệp hộ gia đìnhđược xác định bởi quy mô đất nông nghiệp theo hộ, nhân khẩu và lao động tại haithời điểm: phân chia đất và hiện tại, thông qua hệ số Gini Quan điểm công bằngđược đưa ra như sau: Thứ nhất, công bằng là sự phân chia đất nông nghiệp đồngđều, ngang bằng giữa các hộ Ở Việt Nam, năm 1988, đất nông nghiệp được phânchia đều theo nhân khẩu trên các mảnh đất khác nhau theo loại đất để đảm bảo côngbằng, người dân có đất để sản xuất Thứ hai, công bằng nghĩa là đất nông nghiệp sẽphải nằm trong tay các hộ cần đất để sản xuất nghĩa là bằng cách nào đó đất nôngnghiệp sẽ dịch chuyển từ tay các hộ không có nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp sangcác hộ có nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp đảm bảo nâng cao hiệu quả sử dụng đất

- Các yếu tố xác định tính công bằng trong phân bố đất nông nghiệp hộ gia

đình

Căn cứ vào các tiêu chí phổ biến về công bằng (công bằng về quy tắc, cáchthức phân bố và công bằng về kết quả phân bố), các yếu tố xác định công bằngtrong phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình bao gồm:

+ Sự trao đổi công bằng trong các giao dịch về quyền sử dụng đất giữa các hộ gia đình là công bằng nếu các phương thức, quy tắc trao đổi (đối với đất nông

Trang 40

nghiệp, đó là các giao dịch về đất như: mua bán, chuyển đổi, cho thuê, đấu thầu, đổiđất, đền bù…) được thiết lập một cách bình đẳng giữa các bên tham gia, công khai,minh bạch Hạn chế của thước đo này là quy tắc, cách phân bố đất nông nghiệp của

hộ hợp lý đúng chưa hẳn đã cho kết quả đúng Chẳng hạn, các giao dịch trên thịtrường cạnh tranh có thể được coi là công bằng, những có thể dẫn đến phân bốkhông đồng đều về đât nông nghiệp

+ Sự bình đẳng về cơ hội nhận được lợi ích của các hộ sử dụng đất là công

bằng nếu cơ hội và hạn chế nhận lợi ích, nguồn lực trong quá trình phân bố đất nôngnghiệp là ngang nhau đối với tất cả các hộ, không có sự phân biệt đối xử (theo giớitính, dân tộc, tôn giáo…) giữa các hộ Tương tự như thước đo trao đổi công bằngnói trên, tiêu chí này chỉ đề cập đến quy tắc, cách thức phân bố đất nông nghiệp hộgia đình mà không quan tâm đến kết quả phân bố đất nông nghiệp Với sự khácnhau của các hộ về khả năng, điều kiện ban đầu, bình đẳng về cơ hội hoàn toàn cóthể dẫn đến sự chênh lệch lớn giữa họ về kết quả thu được

+ Kết quả phân bố đất nông nghiệp xứng đáng với đóng góp của hộ là công

bằng nếu phân bố đất nông nghiệp kết quả xứng đáng với đóng góp của hộ về laođộng, đầu tư đầu vào,… trong việc tạo ra kết quả đó Quan điểm này thuộc nhómcông bằng về kết quả Hạn chế cơ bản của quan điểm công bằng này là việc xácđịnh đóng góp của hộ vào các quá trình dài để tạo ra sản phẩm là hết sức khó khăn,thậm chí là không thể xác định được sự đóng góp này Chẳng hạn, may mắn là yếu

tố quan trọng không kém so với nỗ lực hộ Một hộ nào đó may mắn sở hữu các đầuvào khan hiếm, hoặc những thuận lợi nào đó để có thể tạo ra lượng đầu ra lớn hơnnhững người rất nỗ lực nhưng kém may mắn

+ Phân bố đất nông nghiệp đáp ứng nhu cầu cấp thiết của hộ là công bằng

nếu lợi ích, đất nông nghiệp được phân chia cho các hộ cần đến nó nhất Nhữngngười nghèo cần nhận được đất nông nghiệp, mặc dù có thể họ không có đóng góp

gì nhiều vào quá trình tạo ra của cải trong xã hội nhưng ít nhất họ có thể đảm bảosinh kế và không là gánh nặng của xã hội Tiêu chí đáp ứng nhu cầu cơ bản, tốithiểu cần thiết của các thành viên trong xã hội nhận được sự đồng tình cao Tuynhiên, sử dụng tiêu chí này cũng có những bất cập đáng kể, bởi việc xác định mức

độ cần thiết, cấp bách về nhu cầu đất nông nghiệp của các hộ là rất khó chính xác,

dễ bị thiên lệch do các yếu tố khác nhau

+ Đất nông nghiệp đồng đều (ngang bằng) giữa các hộ là công bằng nếu

nguồn đất nông nghiệp được phân chia một cách ngang bằng trong xã hội Nếu chỉgiới hạn vào phân chia đất nông nghiệp thì tính ngang bằng trong phân chia là tiêuchí có thước đo rõ ràng, khách quan, có nhiều lợi thế trong việc sử dụng để đánh giácông bằng nhất trong năm tiêu chí được đề cập Do có thể định lượng, khách quan,tiêu chí ngang bằng không yêu cầu những đánh giá chủ quan về tính khác biệt về lợi

Ngày đăng: 02/01/2023, 20:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w