1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Thực trạng giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế

14 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng Giao đất, Giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả Trịnh Ngân Hà, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Thành Nam, Hồ Văn Toàn
Trường học Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
Chuyên ngành Khoa học môi trường và quản lý đất đai
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2018
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 333,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Thực trạng giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế nhằm nhằm đánh giá được thực trạng công tác giao đất, giao rừng từ đó đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả đối với công tác giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

THỰC TRẠNG GIAO ĐẤT, GIAO RỪNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HU ỆN A ƯỚI, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Trịnh Ngân Hà 1 , Nguyễn Văn Bình 1 , Nguyễn Thành Nam 1 , Hồ Văn Toàn 2

1Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế

2 y ban nhân dân xã Hồng Thủy, huyện A Lưới

Liên hệ email: trinhnganha@huaf.edu.vn

TÓM TẮT

Nghiên cứu này được thực hiện trên địa bàn huyện A Lưới, với 3 xã nghiên cứu là Hồng Trung,

Hồng Vân và Bắc Sơn nhằm đánh giá được thực trạng công tác giao đất, giao rừng từ đó đề xuất được các

giải pháp nâng cao hiệu quả đối với công tác giao đất, giao rừng cho đồng bào DTTS tại huyện A Lưới,

tỉnh Thừa Thiên Huế Nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp thu thập số liệu, chọn mẫu, điều tra có sự

tham g ia của người dân (PRA) và phân tích, xử lý thống kê Kết quả nghiên cứu cho thấy, huyện A Lưới

có 109.581,32 ha đất lâm nghiệp, chiếm 89,44% diện tích đất tự nhiên, trên địa bàn toàn huyện A Lưới là

huyện miền núi vùng cao có 5 dân tộc chính sinh sống là dân tộc Kinh và các dân tộc thiểu số: Pa Cô, Tà

Ôi, Pa Hy, Cơ Tu Tính đến năm 2018, trên địa bàn huyện đã giao 20.278,907 ha rừng tự nhiên có 191

nhóm hộ, 26 hộ gia đình, 39 cộng đồng dân cư thôn và 02 Đồn Biên phòng quản lý, trong đó, giao mới

đạt 15.072,807 ha và hoàn thiện hồ sơ đã giao rừng trước đây là 5.206,100 ha Công tác giao đất, giao

rừng tại huyện A Lưới chịu sự ảnh hưởng của các nhóm yếu tố về chính sách, tổ chức thực hiện, quy

hoạch, tự nhiên và người dân Để nâng cao hiệu quả công tác giao đất, giao rừng trên địa bàn huyện A

Lưới cần thực hiện các nhóm giải pháp về chính sách, quản lý, quy hoạch, tài chính và người dân

Từ khoá: G o đất, g o rừng, dân tộ t ểu số, uyện A Lướ

1 MỞ ĐẦU

Việt Nam là quốc gia đa thành phần dân tộc, với 54 dân tộc anh em, trong đó có tới 53 dân

tộc thiểu số gần 13,38 triệu người, chiếm 14,52% dân số cả nước Khu vực miền núi là địa bàn

cư trú chủ yếu của cộng đồng các dân tộc thiểu số và chiếm 3/4 diện tích đất tự nhiên của cả

nước Hiện nay, vấn đề chính sách cho đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những mối quan

tâm hàng đầu của Nhà nước, bởi vai trò và ý nghĩa quan trọng của cộng đồng các dân tộc thiểu

số (DTTS) Tuy nhiên, ở nhiều nơi kết quả đạt được từ các chính sách vẫn còn hạn chế, người

dân tộc thiểu số vẫn cần rất nhiều những sự hỗ trợ của Nhà nước Vì vậy, để phát triển sản xuất

nâng cao đời sống, người dân tộc thiểu số đã chuyển dần từ phương thức canh tác dựa trên

nương rẫy quy mô nhỏ, lẻ sang hình thức trồng rừng sản xuất, thu lợi trên quy mô lớn Do đó, đất

đai và tài nguyên rừng ngày càng trở thành yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp và quyết định

đến điều kiện sống của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Giao đất giao rừng cho người dân là một trong những chủ trương được Chính phủ hình

thành từ đầu những năm 1980 Năm 1983, Ban Bí thư đã có Chỉ thị 29 ban hành ngày 12 tháng

11 về việc đẩy mạnh giao đất, giao rừng, chỉ thị nhấn mạnh “làm cho mỗi khu đất, mỗi cánh

rừng, mỗi quả đồi đều có người làm chủ” Kể từ khi Chỉ thị ra đời, Chính phủ đã thực hiện các

Trang 2

cơ chế chính sách nhằm hiện thực hóa các mục tiêu, mới nhất như Quyết định số 2085/QĐ-TTg Phê duyệt Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017 - 2020 Tuy nhiên, việc thực hiện các chính sách cho người DTTS vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, công tác giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho đồng bào DTTS được thực hiện với tỷ lệ hoàn thành còn hạn chế, hộ người DTTS thiếu đất rừng sản xuất vẫn còn cao Nguyên nhân chủ yếu là do phương pháp thực hiện chưa hiệu quả, lúng túng trong giải quyết, chưa tiến hành nghiên cứu một cách đồng bộ từ

lý luận đến thực tiễn để đánh giá tổng thể chính sách giao đất, giao rừng lâm nghiệp cho đồng bào DTTS vào nội dung thực hiện Vấn đề giao đất, giao rừng cho đồng bào DTTS trong thời gian qua đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của các cơ quan và tổ chức nghiên cứu trên cả nước (Vũ Dũng, 2011; Trần Hồng Hạnh, 2015) Tuy nhiên, do địa bàn rộng lớn, đồng bào DTTS khá đông với nhiều nét bản sắc văn hóa và phong tục tập quán canh tác theo mỗi dân tộc cũng khác nhau, các nghiên cứu mới chỉ nêu ra được vấn đề tại một số địa bàn cụ thể mà chưa bao quát hết được đến các cộng đồng người DTTS

Huyện A Lưới có 20 xã và 01 thị trấn, người Kinh và người DTTS sinh sống chủ yếu là người dân tộc Pa Cô, Tà Ôi, Cơ Tu, Pa Hy phân bố rời rạc dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh từ phía Tây đến phía Bắc, cộng đồng người DTTS định cư ở đây khá lâu, chịu khó lao động và có ý thức cao trong việc nhận đất, nhận rừng để mở rộng sản xuất, nâng cao đời sống Huyện A lưới

là một huyện có diện tích đất lâm nghiệp khá lớn, độ che phủ rừng đứng trên 70% Đất lâm nghiệp được phân bố chủ yếu tại các xã miền núi, nơi có nhiều DTTS sinh sống, kinh tế chậm phát triển và đời sống còn có nhiều khó khăn Công tác giao đất, giao rừng sản xuất lâm nghiệp cho người DTTS nơi đây để ổn định đời sống là nhiệm vụ quan trọng mang tính chiến lược, bền vững cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng của địa phương Hiện nay, số lượng các nghiên cứu về chính sách đất đai nói chung và giao đất, giao rừng nói riêng cho người DTTS trên địa bàn huyện A Lưới còn ít, mức độ đóng góp còn hạn chế và chưa thể tác động mạnh mẽ đến cơ quan quản lý trong việc ưu tiên ban hành chính sách đất đai cho đồng bào DTTS trong thời gian qua Chính vì vậy, nhóm tác giả đã tiến hành nghiên cứu này nhằm đánh giá được thực trạng công tác giao đất, giao rừng từ đó đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả đối với công tác giao đất, giao rừng cho đồng bào DTTS tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Phương pháp điều tra thu thập các số liệu, tài liệu thứcấp: Thu thập các số liệu, tài liệu cơ bản của vùng nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện; các văn bản về chính sách giao đất, giao rừng cho người đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện; các số liệu thống kê, các báo cáo của một số xã trên địa bàn huyện liên quan đến việc sử dụng đất lâm nghiệp

- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Tiến hành phỏng vấn ngẫu nhiên 90 hộ tại 03 xã và

10 cán bộ trên địa bàn huyện về các nội dung liên quan đến công tác giao đất, giao rừng Các câu hỏi trên phiếu phỏng vấn đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với đối tượng được phỏng vấn nhằm mang lại số liệu cần thiết cho công tác nghiên cứu

Trang 3

2.2 Phương pháp chọn mẫu

Căn cứ vào hiện trạng và tình hình giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện A Lưới, trong giai đoạn 2015 - 2018, tại ba xã Hồng Trung, xã Hồng Vân, xã Bắc Sơn thực hiện công tác giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số nhiều nhất Vì vậy, để đánh giá được đầy đủ thông tin liên quan đến tình hình giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện A Lưới, nghiên cứu tiến hành điều tra ngẫu nhiên 90 hộ dân tại ba xã Hồng Trung, Hồng Vân và Bắc Sơn bằng bảng hỏi được soạn sẵn, mỗi xã 30 phiếu phỏng vấn

2.3 Phương pháp điều tra nhanh có sự tham gia của người ân(PRA)

Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp PRA (Participatory Rural Appraisal), phương pháp

điều tra nhanh có sự tham gia của người dân nhằm phối hợp với người dân địa phương để tiến hành điều tra, đi khảo sát thực địa Thành lập các nhóm nhỏ để thu thập dữ liệu, đánh giá trên các loại bản đồ về địa hình, địa chính đất lâm nghiệp, sơ đồ các khu vực dân cư dân tộc thiểu số (DTTS) để có cách nhìn tổng thể, chi tiết các đối tượng phục vụ cho nội dung nghiên cứu Sự tham gia của người dân có vai trò quan trọng trong việc đánh giá sự việc một cách khách quan và chính xác

2.4 Phương pháp phân tích, xử l số liệu thống ê

Thực hiện phân loại các số liệu, tài liệu thu thập và điều tra, phỏng vấn theo từng nhóm có mối quan hệ với nhau, sau đó sử dụng phần mềm Microsoft Excel để tổng hợp, thống kê và phân tích những nguồn dữ liệu, số liệu hữu ích cho nghiên cứu

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO UẬN

3.1 Hiện trạng quản l và sử ụng đất lâm nghiệp trên địa àn huyện A ưới

A Lưới là một huyện miền núi phía Tây của tỉnh Thừa Thiên Huế, từ thành phố Huế theo quốc lộ 49 khoảng 70 km về phía tây sẽ đi tới thị trấn, có 84 km chiều dài đường biên giới quốc gia và tiếp giáp với biên giới nước bạn Lào Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 22- 250C A Lưới thuộc kiểu địa hình uốn nếp nâng trung bình, có quá trình bào mòn, xâm thực và phân cắt mạnh Độ cao trung bình của huyện là 500 - 1.000 m Do kết quả vận động kiến tạo mà hình thành nên ở đây một thung lũng sụt lún A So, đây là khu vực tập trung dân cư

sinh sống chủ yếu của các dân tộc tại huyện A Lưới

Với đặc trưng địa hình và khí hậu như đã nêu ở trên, huyện A Lưới phát triển 2 kiểu rừng chính: ở độ cao dưới 700 m là rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, từ độ cao 700 m trở lên

là kiểu rừng kín thường xanh á nhiệt đới Qua điều tra khảo sát nơi đây hội tụ nhiều loài thực vật,

ở các độ cao khác nhau có những loài thực vật đặc trưng khác nhau, như các loài thường gặp trong vùng là cây dẻ, đỗ quyên, chau me, dâu da, dương xỉ thân gỗ và các cây ưa bóng họ riềng,

họ gừng, nằm ở độ cao trên 1000 m; các cây gỗ như sến, táu, re, trường, gụ, gội, kiền kiền, dỗi, huỳnh, thì nằm ở độ cao thấp hơn Ở những nơi gần dân cư thường gặp các loài cây như: gáo, nứa, giang cùng với các loài thực vật thứ sinh khác hình thành sau nương rẫy và khai thác lâu năm Đây là loại hình diễn thế thứ ba thiên về hướng thoái hóa, nếu được bảo vệ tốt thì có thể phục hồi lại trạng thái rừng gỗ ban đầu trong khoảng thời gian tương đối ngắn

Trang 4

Huyện A Lưới có diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 110.610,02 ha, trong đó: rừng tự nhiên là 81.334,67 ha, rừng trồng là 9.461,51 ha và đất chưa có rừng quy hoạch cho Lâm nghiệp

là 19.813,84 ha Phân bố rộng trên địa bàn 21 xã, thị trấn, trải dài trên 100 km đường Hồ Chí

Minh và 30 km đường Quốc lộ 49 Độ che phủ rừng của huyện đạt 74,99%

Theo số liệu thống kê đất đai năm 2018, huyện A Lưới có 109.581,32 ha đất lâm nghiệp, chiếm 89,44% diện tích đất tự nhiên, chiếm 94,64% diện tích đất nông nghiệp (115.784,26 ha) trên địa bàn toàn huyện Phân bố ở các xã, thị trấn, trong đó, tập trung nhiều ở các xã như Hương Nguyên (30.944,36 ha), Hồng Hạ (13.142,15 ha), Hồng Thủy (9.787,24 ha) và Hương Phong (7.773,33 ha)

- Đất rừng sản xuất có diện tích là 45.846,43 ha, chiếm 37,42% diện tích đất tự nhiên, phân

bố tập trung tại các xã Hương Nguyên, Hồng Hạ, Hồng Thủy và Hồng Vân Cây trồng chủ yếu là loại cây lấy gỗ, cây nguyên liệu

- Đất rừng phòng hộ có diện tích là 48.398,04 ha, chiếm 39,5% diện tích đất tự nhiên, phân

bố hầu hết ở các xã, thị trấn, trong đó, tập trung nhiều ở xã Hương Nguyên (8.841,24 ha), Hồng

Hạ (7.022,73 ha), Hồng Thủy (6.211,69 ha) riêng xã Hồng Quảng không có đất rừng phòng hộ

- Đất rừng đặc dụng có diện tích là 15.336,85 ha, chiếm 12,52% diện tích đất tự nhiên phân

bố ở các xã gồm Hương Nguyên, Hồng Kim, Hồng Hạ, Phú Vinh và Sơn Thủy chủ yếu cho các khu vực bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo tồn loài, sinh quyển

y ban nhân dân huyện đã ban hành các văn bản về tăng cường công tác lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng trong phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng xâm hại tài nguyên rừng trên địa bàn.Tập trung chỉ đạo lực lượng kiểm lâm, các chủ rừng, các phòng ban chuyên môn, cấp ủy và chính quyền địa phương các xã, thị trấn tiến hành đồng bộ các giải pháp tổng hợp trong công tác quản

lý bảo vệ rừng nhằm hạn chế thiệt hại do cháy rừng, kịp thời phát hiện và xử lý các vi phạm về pháp luật lâm nghiệp, hạn chế các vụ phá rừng trái phép, xóa bỏ và không để phát sinh các điểm

về khai thác, mua bán, vận chuyển gỗ và săn bẫy động vật hoang dã trái phép, góp phần bảo vệ tốt tài nguyên rừng trên địa bàn Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số tồn tại như: Tình trạng chặt phá rừng, chiếm đất, khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật vẫn còn diễn ra tinh vi dưới nhiều hình thức, đòi hỏi cần có những giải pháp quyết liệt mang tính đồng bộ, hiệu quả của lực lượng Kiểm lâm lẫn cấp ủy, chính quyền địa phương, các ban ngành, đoàn thể, lực lượng vũ

trang cùng với sự tham gia tích cực của cán bộ, nhân dân trên toàn huyện

3.2 Thực trạng giao đất, giao rừng cho đồng ào ân tộc thiểu số tại huyện A ưới, tỉnh Thừa Thiên Huế

3.2.1 Tổng quan về người dân tộc thiểu số trên địa bàn Hu ện A lưới

“Dân tộc thiểu số” là thuật ngữ phổ biến trong nghiên cứu về dân tộc học ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít Việt Nam là quốc gia có đa thành phần dân tộc, trong 54 dân tộc có tới 53 dân tộc thiểu số

Trang 5

A Lưới là huyện miền núi vùng cao có tổng diện tích tự nhiên là 122.521,20 ha Gồm 5 dân tộc chính sinh sống là dân tộc Kinh và các dân tộc thiểu số: Pa Cô, Tà Ôi, Pa Hy, Cơ Tu Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội huyện A Lưới năm 2019, toàn huyện có 13.719 hộ với 52.180 khẩu, trong đó người dân tộc thiểu số có 10.093 hộ, 38.170 nhân khẩu, mức thu nhập khá thấp, khoảng 01 triệu đồng/tháng/01 nhân khẩu; nguồn thu chủ yếu từ nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng khoảng 53% Số hộ nghèo giảm 476 hộ so với năm 2018 còn lại 2.585 hộ, chiếm 18,50%, hộ cận nghèo 1.802 hộ, chiếm 14,16% Đây là số hộ không chỉ có mức thu nhập thấp mà còn thiếu hụt nhiều chỉ số về tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, như: giáo dục, nhà ở, y tế, nước sạch sinh hoạt, nhà vệ sinh,… số xã chiếm tỷ lệ hộ nghèo trên 25% với 17 xã Hiện nay, mức sống của người dân A Lưới đã tăng lên đáng kể nhưng vẫn còn thấp so với mặt bằng chung toàn tỉnh

3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất Lâm nghiệp tại các xã nghiên cứu

Đất lâm nghiệp là nhóm đất chính trong cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn huyện A Lưới nói chung và ba xã Hồng Trung, Hồng Vân, Bắc Sơn nói riêng Với tổng diện tích 10.689,0749 ha, chiếm 87,86% diện tích tự nhiên của ba xã, trong đó: Diện tích đất rừng phòng hộ là 4.068,9219

ha chiếm 33,44% diện tích đất tự nhiên và 61,94% đất lâm nghiệp; diện tích rừng sản xuất 6.621,153ha, chiếm 54,42% diện tích đất tự nhiên và chiếm 61,94% đất lâm nghiệp

Bảng 1 Hiện trạng sử ụng đất lâm nghiệp tại các xã nghiên cứu năm 2 18

Đơn vị t n : ha

STT oại đất Hồng Trung Hồng Vân Bắc Sơn Tổng

1 Tổng iện tích tự nhiên 6.740,04 4.392,27 1.033,59 12.165,96

2 Đất lâm nghiệp 6.061,60 3.753,32 875,15 10.689,07

Nguồn: Tổng ợp số l ệu từ 3 năm 2018

Qua Bảng 1 cho thấy, đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ rất lớn trong cơ cấu sử dụng đất của các

xã nghiên cứu, chiếm trung bình trên 87,86% tổng diện tích tự nhiên của ba xã và chiếm 9,75% diện tích đất lâm nghiệp trên toàn huyện Phân bố giữa các loại đất rừng sản xuất và rừng phòng

hộ theo từng xã cũng không đồng đều, do tính chất xung yếu khác nhau của thảm thực vật rừng trên mỗi xã Điều đó thể hiện rõ ở các xã Hồng Trung, Hồng Vân, Bắc Sơn diện tích đất rừng phòng hộ rất lớn, trung bình trên 38,06% tổng diện tích đất lâm nghiệp, xã Hồng Trung có diện tích rừng phòng hộ 50,55%, xã Hồng Vân 19,87%, xã Bắc Sơn 29,55%

Tuy nhiên, về cơ cấu chủ sử dụng đất lâm nghiệp ở đây còn rất nhiều bất cập Đất được giao cho các tổ chức, doanh nghiệp kinh tế Nhà nước quản lý, sử dụng chiếm diện tích khá lớn

so với diện tích đất lâm nghiệp giao cho hộ gia đình, cá nhân sản xuất, canh tác Cơ cấu sử dụng đất lâm nghiệp theo chủ sử dụng được thể hiện rõ ở Bảng 2

Trang 6

Bảng 2 Thống ê đất lâm nghiệp theo chủ sử ụng và quản l

tại các xã nghiên cứu năm 2 18

Diện tích đất theo đối tượng sử dụng (ha)

Diện tích đất giao để UBND

xã quản lý (ha)

Xã nghiên

c ứu

T ổng diện tích giao s ử

d ụng

H ộ gia

đ nh, cá nhân

T ổ chức kinh t

T ổ chức sự nghi ệp công

l ập

C ộng đ ng dân cư và Tổ

ch ức khác

Hồng Trung 1.260,64 980,42 269,22 1,21 4.562,51 916,88

Hồng Vân 1.316,74 1.187,74 111,76 4,48 1.676,7 1.399,28

Bắc Sơn 324,139 315,285 0,018 0,728 430,854 278,596

Tổng 2.900,519 2.483,445 380,998 6,418 6.670,064 2.594,756

Nguồn: Tổng ợp số l ệu từ 3 năm 2018

Qua số liệu Bảng 2 cho thấy phần lớn diện tích đất lâm nghiệp thuộc quyền sử dụng của

các tổ chức kinh tế và đơn vị sự nghiệp nhà nước, với 387,416ha chiếm 13,35% tổng diện tích

đất lâm nghiệp được giao sử dụng và chiếm 3,62% tổng diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn

Tại xã Hồng Trung đất các tổ chức sự nghiệp công lập, tổ chức kinh tế chiếm 9,32% tổng diện

tích đất lâm nghiệp được giao sử dụng và chiếm 4,46% diện tích đất lâm nghiệp Đất lâm nghiệp

được giao cho hộ gia đình, cá nhân tại các xã Hồng Trung, Hồng Vân và Bắc Sơn chỉ chiếm

trung bình 2,41% diện tích đất lâm nghiệp Trong đó, quỹ đất lâm nghiệp do các UBND xã quản

lý rất hạn chế, với 2.594,756ha chỉ chiếm 2,42% diện tích đất lâm nghiệp, điều này đã ảnh hưởng

rất lớn đến diện tích quỹ đất lâm nghiệp phục vụ giao cho đồng bào DTTS trên địa bàn

Hình 1 Cơ cấu iện tích đất lâm nghiệp theo đối tượng quản l , sử ụng tại 3 xã năm 2 18

3.2.3 K t quả giao đất, giao rừng tính đ n năm 2018

Để thực hiện chính sách giao đất, giao rừng hiệu quả, giải quyết nhu cầu sử dụng đất cho

đồng bào dân tộc thiểu số Thời gian qua, Uỷ ban nhân dân huyện đã thường xuyên đôn đốc, chỉ

Diện tích đất giao

để các UBND xã quản lý 2,42%

Cộng đồng dân

cư 62,40%

H ộ gia đình, cá nhân 2,41%

T ổ chức sự nghiệp công

l ập 13,17%

Tổ chức kinh

tế 13,13%

Trang 7

đạo đẩy mạnh thực hiện các công tác chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang rừng sản xuất; đo đạc địa

chính đất lâm nghiệp phục vụ giao đất và tập trung rà soát thu hồi đất lâm nghiệp từ các tổ chức,

nông lâm trường giao về địa phương quản lý, với mục đích tạo thêm quỹ đất, giao đất lâm

nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số sản xuất y ban nhân dân huyện A Lưới đã thành lập Ban

chỉ đạo giao rừng, cho thuê rừng cấp huyện nhằm triển khai xây dựng Đề án giao rừng, cho thuê

rừng và tổ chức thực hiện Giao Hạt Kiểm lâm huyện chủ trì phối hợp chặt chẽ với các ban,

ngành liên quan, UBND các xã, thị trấn có rừng để thực hiện việc giữ rừng

Kết quả tính đến năm 2018 trên địa bàn huyện đã giao 20.278,907 ha rừng tự nhiên có

191 nhóm hộ, 26 hộ gia đình, 39 cộng đồng dân cư thôn và 02 Đồn Biên phòng quản lý, cụ thể

như sau:

* Giao mới: 15.072,807 ha, trong đó:

- 191 nhóm hộ gia đình với diện tích: 11.383,953 ha

- 11 hộ gia đình với diện tích: 149,354 ha

- 20 cộng đồng dân cư thôn với diện tích: 2.182,500 ha

- 02 tổ chức với diện tích: 1.357,00 ha

* Hoàn thiện hồ sơ đã giao rừng trước đây: 5.206,100 ha, trong đó:

- 15 hộ gia đình với diện tích: 144,300 ha

- 19 cộng đồng dân cư thôn với diện tích: 5.061,800 ha

Nhìn chung, đa số các xã đã quan tâm, thường xuyên kiểm tra, nhắc nhở, hướng dẫn các

chủ rừng thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong việc bảo vệ rừng được giao Qua đó,

các chủ rừng đã có ý thức tổ chức quản lý, bảo vệ rừng được giao

Trong những năm trở lại đây, trên địa bàn nghiên cứu thường xảy ra nhiều vấn đề liên quan

đến rừng Ban quản lý rừng phòng hộ huyện A Lưới luôn để xã hội quan tâm Vì vậy, từ năm

2014, chính quyền đã thực hiện đẩy mạnh các công tác thu hồi đất, tạo quỹ đất lâm nghiệp để

tiến hành giao đất cho đồng bào DTTS Kết quả trong thời gian từ năm 2014 đến năm 2018,

công tác giao đất giao rừng được thực hiện tập trung tại 03 xã Hồng Trung, Hồng Vân và Bắc

Sơn và đã giao được 6.405,0 ha diện tích GĐGR cho đối tượng người DTTS, chiếm 31,58% tổng

diện tích rừng được giao cho đồng bào DTTS từ trước đến nay trên địa bàn nghiên cứu

Bảng 3 Kết quả giao đất giao rừng cho đồng ào DTTS tại 3 xã nghiên

cứu từ trước đến năm 2 18

STT Tên xã

Diện tích giao đất giao rừng hộ gia đình, cá nhân đang

sử dụng (ha)

Diện tích giao đất giao rừng cho đồng

bào DTTS (ha) Chiếm tỷ lệ

(%)

Tổng 6.405,0 6.405,0 31,58

Nguồn: P òng TN & MT 2018 uyện A Lướ

Trang 8

Trong tổng số diện tích 6.405,0 ha đất rừng được giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng, có 6.405,0 ha của người dân tộc thiểu số có nguồn gốc được nhà nước giao sử dụng, chiếm 100% Tại 3 xã Hồng Trung, Hồng Vân, Bắc Sơn công tác giao đất sản xuất lâm nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số đã có nhiều bước chuyển biến tích cực, tuy nhiên, kết quả giao đất giao rừng cho đồng bào DTTS vẫn còn nhiều hạn chế, diện tích giao đất, giao rừng chưa gắn với lực lượng sản xuất ở vùng đồng bào DTTS

Công tác giao đất giao rừng vẫn còn gặp một số khó khăn, vướng mắc nhất định như từ năm 2016 đến nay cả 3 xã chưa thực hiện giao đất, giao rừng thuộc rừng 661 của Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) A Lưới cho các hộ gia đình đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhận khoản bảo vệ là 378,7 ha Lý do chưa thực hiện là vì các lô, khoảnh khi kiểm tra không xác định tọa độ, vị trí, một thẻ quyền sử dụng đất có ba, bốn hộ sử dụng, số diện tích đã giao cho xã

đa số bị người dân lấn chiếm Vì vậy, công tác giao đất, giao rừng 611 của BQLRPH A Lưới đã giao cho các xã gặp khó khăn Qua kết quả điều tra phỏng vấn, ông Hồ Văn Rao, Chủ tịch UBND xã Hồng Vân cho biết: “Đất ở là một trong những điều kiện cần thiết cho đồng bào DTTS tại địa phương Tuy nhiên, do chỉ thực hiện được việc giao đất ở, còn chưa bố trí được quỹ đất sản xuất thuộc rừng 661 của BQLRPH A Lưới đã giao cho xã do khó khăn về chính sách, một số hộ lấn chiếm, công tác thu đất rất khó khăn Hiện nay UBND xã đang tiến hành xây dựng Đề án giao đất, giao rừng cho các hộ thiếu đất sản xuất”

3.3 Hiệu quả của công tác giao đất, giao rừng đối với người ân

Qua trao đổi với một số hộ gia đình và chính quyền địa phương, phần lớn các ý kiến đều cho rằng, giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn, nhóm hộ, hộ gia đình thì công tác quản

lý, bảo vệ rừng tốt hơn trước khi rừng chưa giao Ý thức bảo vệ rừng của các thành viên trong cộng đồng dân cư, hộ gia đình cao hơn, người dân không chỉ cung cấp thông tin cho thôn, Trạm kiểm lâm mà tự họ trực tiếp đấu tranh với kẻ xấu để bảo vệ rừng Rừng được phát triển từ nguồn

hỗ trợ của các dự án, tổ chức phi chính phủ, một số cộng đồng ở huyện A lưới đã nhận được hỗ trợ tài chính, nâng cao năng lực nhằm thực hiện tốt công tác công tác quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng Đến nay, 73% diện tích rừng tự nhiên đã giao cho cộng đồng, nhóm

hộ, hộ gia đình được chi trả dịch vụ môi trường rừng

Bảng 4 Độ tuổi chủ yếu được giao đất, giao rừng

Độ tuổi Số phiếu phỏng vấn được Tỷ lệ (%)

Nguồn: Đ ều tr p ỏng vấn ộ g đìn

Trang 9

Qua kết quả điều tra tại 03 xã Hồng Trung, Hồng Vân, Bắc Sơn cho thấy, tỷ lệ giao đất cho

đồng bào DTTS tập trung chủ yếu vào độ tuổi trung bình từ 16 đến 40 tuổi và từ 41 đến 60 tuổi

(Bảng 4), bởi đây là lực lượng lao động chủ yếu của các hộ gia đình Bên cạnh đó, trong độ tuổi

này đa số là các hộ gia đình vừa lập gia đình (từ 16 đến 40 tuổi) chiếm 44,5% tổng số phiếu

phỏng vấn cho thấy nhu cầu cần đất để an cư lạc nghiệp rất cao; độ tuổi từ 41 đến 60 tuổi là độ

tuổi chiếm 42,2% tổng số phiếu phỏng vấn cho thấy nhu cầu về đất sản xuất cao vì trong nhóm

độ tuổi này nhân khẩu trung bình của gia đình từ 3-5 nhân khẩu

Đánh giá của người dân về hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường sau khi thực hiện giao

đất giao rừng được thể hiện như Bảng 5

Bảng 5 Hiệu quả của chính sách giao đất, giao rừng

Hiệu quả Số phiếu Tỷ lệ (%)

Nguồn: Đ ều tr p ỏng vấn ộ g đìn

Giao đất, giao rừng đã góp phần giải quyết vấn đề thiếu đất sản xuất của đồng bào DTTS,

bên cạnh đó 56,7% kết quả phỏng vấn các hộ gia đình cho thấy rõ hiệu quả của chính sách giao

đất giao rừng đem lại về cả hai mặt kinh tế - xã hội và môi trường Với sự hỗ trợ kịp thời của

chính quyền địa phương nhiều mô hình sản xuất, chăn nuôi, chuyển nghề bước đầu có kết quả và

đáp ứng cơ bản nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của đồng bào Góp phần chấm dứt tình trạng du canh,

du cư, đốt rừng làm nương rẫy, quỹ đất được khai thác để canh tác hợp lý, bảo vệ tốt rừng phòng

hộ các đầu nguồn Mức sống của người dân ngày càng được nâng cao về thu nhập, sản phẩm

nông nghiệp, lâm nghiệp

Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách vẫn còn chưa thể hiện rõ rệt, do đó có đến 18,9% người

được phỏng vấn cho rằng, sau khi được giao đất, giao rừng thì họ vẫn còn gặp nhiều khó khăn

trong công tác sử dụng đất hợp lý, canh tác loại nông lâm sản phù hợp, chưa có kỹ thuật phù hợp

dẫn đến việc sâu bệnh, hư hỏng giống gây ra việc mất thu nhập, không hiệu quả khi sử dụng đất

được giao

Bảng 6 Ảnh hưởng của chính sách giao đất, giao rừng đến mức sống thu nhập

của đồng ào DTTS ở huyện A ưới

Hiệu quả Số phiếu Tỷ lệ (%)

Trang 10

Chất lượng cuộc sống tăng 50 55,6

Nguồn: Đ ều tr p ỏng vấn ộ g đìn

Chính sách giao đất, giao rừng đã mang đến hiệu quả rõ rệt với nguồn thu từ các sản phẩm

nông nghiệp, không những giúp đồng bào DTTS nâng cao chất lượng từ bữa ăn, đến việc trao

đổi mua bán nâng cao thu nhập từ các sản phẩm sạch và có nguồn gốc Hơn 55,6% số hộ được

phỏng vấn khẳng định chất lượng cuộc sống của họ đã tăng lên rất nhiều sau khi chính sách được

thực hiện, ngoài ra cơ sở hạ tầng được đảm bảo là niềm vui đối với các bản làng nơi đây khi sức

khỏe người dân được chăm sóc, điện sáng đến từng nhà

Bảng 7 Thu nhập của đồng ào DTTS trước và sau hi chính sách giao đất,

giao rừng được thực hiện

N ội dung Trước hi giao đất Sau hi giao đất

Thu nhập Từ 300 - 500 nghìn đồng/tháng Từ 1500 - 2000 triệu đồng/tháng

Sản phẩm lâm nghiệp 20 kg/tháng 50 kg/tháng

Sản phẩm nông nghiệp 30 kg/tháng 1000 kg/tháng

Nguồn: Đ ều tr p ỏng vấn ộ g đìn

Thu nhập của đồng bào DTTS có cải thiện và thay đổi đáng kể sau khi chính sách giao đất,

giao rừng của Nhà nước được thực hiện Phần lớn thu nhập của các hộ tăng lên gấp 3 đến 4 lần

trước khi chưa có đất, nhờ vào việc đường xá được đầu tư xây dựng thuận lợi cho việc trao đổi

mua bán hàng hóa, các sản phẩm quý từ lâm nghiệp, lâm sản Ngoài ra, đồng bào DTTS còn

được hướng dẫn, thay thế phương thức sản xuất để tiếp cận với những giống cây trồng mới, có

năng suất cao phù hợp với địa phương do đó kết quả đem lại là rõ rệt

Từ kết quả phỏng vấn 10 cán bộ tham gia vào công tác giao đất giao rừng trên địa bàn, có

80% cán bộ thực hiện cho rằng, việc giao đất, giao rừng cho DTTS là cực kì cần thiết, 20% còn

lại cho rằng cần thiết khi thực hiện giao đất, giao rừng cho đồng bào DTTS để đồng bào phấn

khởi, yên tâm lao động sản xuất, không du canh, di cư tự do, ổn định cuộc sống, nỗ lực vươn lên

thoát nghèo Để đạt được hiệu quả cao của chính sách giao đất giao rừng, các cán bộ thực hiện

dự án đề xuất việc phối hợp chặt chẽ giữa địa phương với nhân dân, với lãnh đạo và chính quyền

cấp trên để có những giải pháp kịp thời hoàn thành dự án theo kế hoạch, đề án của các xã Ông

Hồ Văn Khuých - Phó Chủ tịch UBND xã Hồng Trung cho biết: “UBND xã đang xây dựng Đề

án và kiến nghị đề xuất kinh phí với cấp trên để hỗ trợ cho công tác đo đạc Khi có Quyết định

phê duyệt chính sách hỗ trợ trong công tác đo đạc mới thực hiện cấp đất sản xuất cho các hộ

thiếu đất”

Ngày đăng: 02/01/2023, 20:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w