Bài viết trình bày Mối liên quan giữa chỉ số bạch cầu đoạn trung tính trên bạch cầu lympho và chỉ số tiểu cầu trên bạch cầu lympho máu ngoại vi với một số đặc điểm bệnh nhân bệnh thận mạn tính giai đoạn cuối
Trang 1MỐI LIÊN QUAN GIỮA CHỈ SỐ BẠCH CẦU ĐOẠN TRUNG TÍNH
TRÊN BẠCH CẦU LYMPHO VÀ CHỈ SỐ TIỂU CẦU TRÊN BẠCH CẦU LYMPHO MÁU NGOẠI VI VỚI MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN
BỆNH THẬN MẠN TÍNH GIAI ĐOẠN CUỐI
Tạ Việt Hưng 1 , Nguyễn Trung Kiên 1 , Lê Việt Thắng 1
TÓM TẮT 69
Mục tiêu: Khảo sát mối liên quan giữa chỉ số
bạch cầu đoạn trung tính trên bạch cầu lympho
(NLR) và chỉ số tiểu cầu trên bạch cầu lympho
(PLR) với một số đặc điểm bệnh nhân bệnh thận
mạn tính giai đoạn cuối Đối tượng và phương
pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 101 bệnh
nhân bệnh thận mạn tính giai đoạn cuối điều trị
tại khoa Thận - Lọc máu, Bệnh viện quân y 103
từ tháng 03/2020 đến tháng 06/2021 Kết quả:
Nhóm bệnh nhân trên 40 tuổi có giá trị trung vị
chỉ số NLR cao hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh
nhân dưới 40 tuổi Trong khi đó, giá trị trung vị
chỉ số PLR ở nhóm bệnh nhân có tăng
Procalcitonin (PCT) cao hơn có ý nghĩa thống kê
so với nhóm bệnh nhân không tăng PCT Giá trị
trung vị chỉ số NLR và PLR ở nhóm bệnh nhân
có tăng CRP cao hơn có ý nghĩa thống kê so với
nhóm bệnh nhân không có tăng protein phản ứng
C (CRP) Nhóm bệnh nhân có tăng CRP có tỷ lệ
tăng NLR cao gấp 4,593 lần nhóm bệnh nhân
không tăng CRP (p < 0,01) Kết luận: Giá trị
trung vị của chỉ số NLR và PLR ở nhóm bệnh
nhân bệnh thận mạn tính có liên quan với tuổi
cao, tình trạng tăng CRP và PCT huyết tương
1
Bệnh viện Quân y 103
Chịu trách nhiệm chính: Tạ Việt Hưng
SĐT: 0988.363.888
Email: hungtv103@gmail.com
Ngày nhận bài: 08/8/2022
Từ khóa: NLR, PLR, bệnh thận mạn tính, mối
liên quan
SUMMARY
Objectives: Evaluation the relationship between neutrophil to lymphocyte ratio (NLR) and platelet to lymphocyte ratio (PLR) with some characteristics of patients with end-stage chronic
kidney disease Subjects and methods: A
cross-sectional study was conducted on 101 end-stage chronic kidney disease patients who treated at Nephrology and Hemodialysis Department, Military Hospital 103 from March 2020 to June
2021 Results: The group of patients older than
40 years old had a significantly higher median value of NLR than the group of patients under 40 years old Meanwhile, the median value of PLR
in the group of patients with increased Procalcitonin (PCT) was significantly higher than in the group of patients without increased PCT The median values of NLR and PLR in the group of patients with increased C-Reactive protein (CRP) were statistically significantly higher than in the group of patients without increased CRP The group of patients with elevated CRP had a 4.593 times higher of increase NLR rate than the group of patients
without elevated CRP (p < 0.01) Conclusion:
Median values of NLR and PLR indices in the group of chronic kidney disease patients are associated with age, elevated CRP and PCT
Trang 2Keywords: NLR, PLR, chronic kidney
disease, relationship
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Tình trạng viêm toàn thân kéo dài đóng
vai trò quan trọng trong sự phát triển và tiến
triển của nhiều bệnh mạn tính khác nhau như
béo phì, tiểu đường, bệnh tim mạch, xơ vữa
động mạch, ung thư, bệnh phổi tắc nghẽn
mãn tính và bệnh thận mạn tính [1] Tình
trạng viêm ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính
giai đoạn cuối được cho là do nhiều yếu tố
khác nhau bao gồm môi trường tăng urê
huyết, nhiễm trùng, giảm thanh thải các
cytokine tiền viêm, quá tải thể tích, nội độc
tố trong máu, stress oxy hóa, stress carbonyl
và các yếu tố liên quan đến lọc máu [2]
Tình trạng tăng tỷ số bạch cầu đoạn trung
tính trên bạch cầu lympho (NLR) và tỷ số
tiểu cầu trên bạch cầu lympho (PLR) được
xác định có liên quan đến tình trạng viêm và
tiên lượng xấu ở những bệnh nhân mắc các
tình trạng bệnh khác nhau bao gồm bệnh tim
mạch, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, xơ gan
và bệnh thận mạn tính (BTMT) [3], [4], [5],
[6] Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này
nhằm khảo sát mối liên quan giữa chỉ số tỷ
số bạch cầu đoạn trung tính trên bạch cầu
lympho và tỷ số tiểu cầu trên bạch cầu
lympho với một số đặc điểm bệnh nhân bệnh
thận mạn tính giai đoạn cuối
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
101 bệnh nhân bệnh thận mạn tính giai
đoạn cuối điều trị tại khoa Thận - Lọc máu
Bệnh viện quân y 103
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu
mô tả cắt ngang
2.2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu:
- Thời gian : từ tháng 03/2020 đến tháng 06/2021
- Địa điểm nghiên cứu: Khoa Thận – Lọc máu, Bệnh viện Quân y 103
2.2.3 Nội dung nghiên cứu
* Hỏi và khám lâm sàng: Khai thác tiền sử bệnh, các triệu chứng cơ năng và triệu chứng thực thể của bệnh
* Xét nghiệm cận lâm sàng:
+ Xét nghiệm sinh hóa máu (ure, creatinin, glucose, protein, albumin, các chỉ
số lipid máu, điện giải, CRP…): Thực hiện trên hệ thống xét nghiệm Sinh hóa tự động AU640, Beckman Coulter, Mỹ Các xét nghiệm đã được công nhận tiêu chuẩn chất
lượng theo ISO 15189:2012
+ Xét nghiệm huyết học (Hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, công thức bạch cầu, huyết sắc
tố, hemoglobin Tính toán chỉ số NLR và PLR): Thực hiện trên hệ thống máy xét nghiệm huyết học tự động Unicel DxH 600 của hãng Beckman Coulter, Mỹ sử dụng nguyên lý trở kháng, xung điện cộng hưởng
đa chiều và tia laser Máy xét nghiệm đã được công nhận tiêu chuẩn chất lượng theo ISO 15189:2012
* Công thức tính các chỉ số NLR, PLR:
- Chỉ số NLR= số lượng bạch cầu đoạn trung tính (G/L) / số lượng của bạch cầu lympho (G/L)
- Chỉ số PLR = số lượng tiểu cầu (G/L) /
số lượng của bạch cầu lympho (G/L)
2.3 Xử lý số liệu: Số liệu được xử lý
bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 của IBM
Trang 3III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1 Liên quan chỉ số NLR và PLR với tuổi
Đặc điểm
≥ 40 tuổi (n=35) < 40 tuổi (n=66)
p
Trung vị (Tứ phân vị)
Trung vị (Tứ phân vị)
(122,9 – 171,75)
129,36 (108,21 – 158,97) > 0,05
- Nhóm bệnh nhân trên 40 tuổi có giá trị trung vị chỉ số NLR cao hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh nhân dưới 40 tuổi (p < 0,05)
- Giá trị trung vị chỉ số PLR ở nhóm bệnh nhân trên 40 tuổi cũng cao hơn nhóm bệnh nhân dưới 40 tuổi Tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Bảng 2 Liên quan chỉ số NLR và PLR với thời gian thận nhân tạo
Thời gian thận
nhân tạo
Số BN có tăng
Tỷ lệ
Trung vị
Chỉ số NLR
≥ 5 năm
OR = 2,24
2,89 (2,26 – 3,3)
> 0,05
< 5 năm
2,59 (2,01 – 3,04) Chỉ số PLR
≥ 5 năm
OR = 1,271
134,87 (112,06 – 169,67)
> 0,05
(106,39 – 158,95) Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về giá trị trung vị cũng như tỷ lệ tăng các chỉ
số NLR và PLR giữa nhóm bệnh nhân điều trị thận nhân tạo kéo dài trên 5 năm và dưới 5 năm
Bảng 3 Mối liên quan chỉ số NLR và PLR với tình trạng rối loạn lipid máu
Đặc điểm
Số BN có tăng
Tỷ lệ
Trung vị (Tứ phân vị) p
Chỉ số NLR Rối loạn lipid
OR = 0,957
2,65 (2,08 – 3,13)
> 0,05 Không rối loạn
2,65 (1,95 – 3,1) Chỉ số PLR
Rối loạn lipid
OR = 0,918
136,4 (110,16 – 165,4)
> 0,05
Trang 4Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về giá trị trung vị cũng như tỷ lệ tăng các chỉ
số NLR và PLR giữa nhóm bệnh nhân có rối loạn lipid máu và nhóm bệnh nhân không có rối loạn
Bảng 4 Mối liên quan chỉ số NLR và PLR với tình trạng tăng CRP
Đặc điểm Số BN có
tăng
Tỷ lệ
Trung vị (Tứ phân vị) p
Chỉ số NLR Tăng CRP
OR = 4,593
3,01 (2,66 – 3,44)
< 0,05 Không tăng
2,55 (2,01 – 3,04) Chỉ số PLR
Tăng CRP
OR = 3,102
151,59 (131,11 – 177,47)
< 0,05 Không tăng
128,5 (102,64 – 159,04)
- Giá trị trung vị chỉ số NLR và PLR ở nhóm bệnh nhân có tăng CRP cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm bệnh nhân không có tăng CRP
- Nhóm bệnh nhân có tăng CRP có tỷ lệ tăng NLR cao gấp 4,593 lần nhóm bệnh nhân không tăng CRP (p < 0,01)
Bảng 5 Mối liên quan chỉ số NLR và PLR với tình trạng tăng PCT
Đặc điểm Số BN có
tăng
Tỷ lệ
Trung vị
Chỉ số NLR Tăng PCT
OR = 1,714
2,84 (2,34 – 3,23)
> 0,05 Không tăng
Chỉ số PLR Tăng PCT
OR = 4,0
138,03 (120,46 – 173,3)
< 0,05 Không tăng
- Giá trị trung vị chỉ số PLR ở nhóm bệnh nhân có tăng PCT cao hơn có ý nghĩa thống kê
so với nhóm bệnh nhân không tăng PCT
- Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về giá trị trung vị cũng như tỷ lệ tăng chỉ số NLR, tỷ lệ tăng chỉ số PLR giữa nhóm bệnh nhân có tăng PCT và không tăng PCT
Trang 5IV BÀN LUẬN
Khi so sánh các chỉ số NLR và PLR theo
nhóm tuổi, chúng tôi nhận thấy nhóm bệnh
nhân trên 40 tuổi có giá trị trung vị chỉ số
NLR cao hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh
nhân dưới 40 tuổi (p < 0,05) Trong khi đó,
giá trị trung vị chỉ số PLR ở nhóm bệnh nhân
trên 40 tuổi cũng cao hơn nhóm bệnh nhân
dưới 40 tuổi Tuy nhiên sự khác biệt không
có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu của Nguyễn
Văn Chí và cộng sự cũng cho kết quả tương
đồng như của chúng tôi khi so sánh 2 nhóm
bệnh nhân ≥ 60 và < 60 tuổi [7] Như chúng
ta đã biết, ở bệnh nhân tuổi càng cao, hiện
tượng vữa xơ mạch máu càng phổ biến, trong
khi đó, chỉ số NLR và PLR lại có mối liên
quan mật thiết đến hội chứng suy dinh
dưỡng-viêm-xơ vữa và vôi hóa động mạch
(hội chứng MIAC) Chính vì vậy, những
bệnh nhân tuổi cao thường sẽ có chỉ số NLR
và PLR cao hơn những người trẻ tuổi Điều
này một lần nữa lý giải vì sao giá trị trung vị
chỉ số NLR và PLR trong nghiên cứu của
chúng tôi lại thấp hơn các nghiên cứu khác
trong và ngoài nước (do độ tuổi trung bình
của chúng tôi trẻ hơn)
Một số nghiên cứu của các tác giả trên
thế giới cho rằng, quá trình vữa xơ và canxi
hoá động mạch tăng dần theo thời gian lọc
máu [8] Kết quả nghiên cứu của chúng tôi
chỉ ra rằng không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê về giá trị trung vị cũng như tỷ lệ
tăng các chỉ số NLR và PLR giữa nhóm bệnh
nhân có thời gian thận nhân tạo kéo dài trên 5
năm và dưới 5 năm Kết quả của chúng tôi là
tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Văn
Chí và cộng sự [7] Tuy nhiên, do tỷ lệ bệnh
trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ chiếm ¼ tổng số bệnh nhân, vì vậy, có thể mối liên quan giữa NLR và PLR với thời gian thận nhân tạo là chưa được rõ ràng
Phản ứng viêm là quá trình đáp ứng sinh
lý đề kháng của cơ thể chống lại sự xâm nhập dẫn đến sự thay đổi tổ chức Các marker đánh giá tình trạng viêm như CRP và PCT thường tăng ở các bệnh nhân bệnh thận mạn tính có và chưa có lọc máu Vì vậy, việc đánh giá mối liên quan giữa NLR và PLR với tình trạng tăng CRP và PCT là cần thiết Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy giá trị trung vị chỉ số NLR và PLR ở nhóm bệnh nhân có tăng CRP cao hơn có ý nghĩa thống
kê so với nhóm bệnh nhân không có tăng CRP Nhóm bệnh nhân có tăng CRP có tỷ lệ tăng NLR cao gấp 4,593 lần nhóm bệnh nhân không tăng CRP (p < 0,01) Tương tự như vậy, giá trị trung vị chỉ số PLR ở nhóm bệnh nhân có tăng PCT cao hơn có ý nghĩa thống
kê so với nhóm bệnh nhân không tăng PCT Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
về giá trị trung vị cũng như tỷ lệ tăng chỉ số NLR, tỷ lệ tăng chỉ số PLR giữa nhóm bệnh nhân có tăng PCT và không tăng PCT Kết quả nghiên cứu của chúng tôi là tương đồng với một số nghiên cứu trên thế giới như của Chávez Valencia V và cộng sự [2], Li P và cộng sự [9] và Brito G.M.C và cộng sự [10] Những nghiên cứu này đều chỉ ra NLR và PLR đều cao hơn ở nhóm bệnh nhân có tình trạng viêm (tăng CRP và PCT) so với nhóm bệnh nhân không có tình trạng viêm
V KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu mối liên quan giữa chỉ số
Trang 6rút ra một số kết luận sau: Nhóm bệnh nhân
trên 40 tuổi có giá trị trung vị chỉ số NLR cao
hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh nhân dưới
40 tuổi Trong khi đó, giá trị trung vị chỉ số
PLR ở nhóm bệnh nhân có tăng PCT cao hơn
có ý nghĩa thống kê so với nhóm bệnh nhân
không tăng PCT Giá trị trung vị chỉ số NLR
và PLR ở nhóm bệnh nhân có tăng CRP cao
hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm bệnh
nhân không có tăng CRP Nhóm bệnh nhân
có tăng CRP có tỷ lệ tăng NLR cao gấp 4,593
lần nhóm bệnh nhân không tăng CRP (p <
0,01)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Manabe I (2011) Chronic inflammation
links cardiovascular, metabolic and renal
diseases Circ J, 75(12): 2739-48
2 Chávez Valencia V, Orizaga de la Cruz C,
Mejía Rodríguez O, et al (2017)
Inflammation in hemodialysis and their
correlation with neutrophil-lymphocyte ratio
and platelet-lymphocyte ratio Nefrologia,
37(5): 554–556
3 Abe T., Kato S., Tsuruta Y., et al (2015)
Neutrophil/lymphocyte ratio as a predictor of
cardiovascular events in incident dialysis
patients: a Japanese prospective cohort study
Clin Exp Nephrol, 19(4): 718-24
4 Templeton A J., Ace O., McNamara M
G., et al (2014) Prognostic role of platelet
to lymphocyte ratio in solid tumors: a
systematic review and meta-analysis Cancer
Epidemiol Biomarkers Prev, 23(7): 1204-12
5 Turkmen K., Guney I., Yerlikaya F H., et
al (2012) The relationship between neutrophil-to-lymphocyte ratio and inflammation in end-stage renal disease patients Ren Fail, 34(2): 155-9
6 Yaprak Mustafa, Turan Mehmet Nuri, Dayanan Ramazan, et al (2016)
Platelet-to-lymphocyte ratio predicts mortality better than neutrophil-to-lymphocyte ratio in hemodialysis patients International Urology and Nephrology, 48(8): 1343-1348
7 Nguyễn Văn Chí (2020), Nghiên cứu tỷ số
bạch cầu trung tính/lympho máu ngoại vi và nồng độ CRP huyết tương ở bệnh nhân thận nhân tạo chu kỳ, Luận văn Thạc sỹ y học, Học viện Quân Y
8 Pencak P., Czerwieńska B., Ficek R., et al
(2013) Calcification of coronary arteries and abdominal aorta in relation to traditional and novel risk factors of atherosclerosis in hemodialysis patients BMC Nephrol, 14: 10
9 Li Peiyuan, Xia Chenqi, Liu Peng, et al
(2020) Neutrophil-to-lymphocyte ratio and platelet-to-lymphocyte ratio in evaluation of inflammation in non-dialysis patients with end-stage renal disease (ESRD) BMC nephrology, 21(1): 511-511
10 Brito Gysllene M C., Fontenele Andrea
M M., Carneiro Erika Cristina R L., et
al (2021) Neutrophil-to-Lymphocyte and
Platelet-to-Lymphocyte Ratios in Nondialysis Chronic Kidney Patients International journal of inflammation, 2021:
6678960-6678960