Bài viết Đánh giá hiệu quả điều trị của phác đồ bortezomib, cyclophosphamide và dexamethasone (vcd) trên bệnh nhân đa u tủy có suy giảm chức năng thận tại Bệnh viện Chợ Rẫy nghiên cứu mô tả hồi cứu được thực hiện tại khoa Huyết học, bệnh viện Chợ Rẫy trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 5 năm 2021 ở bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên.
Trang 1ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA PHÁC ĐỒ BORTEZOMIB, CYCLOPHOSPHAMIDE VÀ DEXAMETHASONE (VCD)
TRÊN BỆNH NHÂN ĐA U TỦY CÓ SUY GIẢM CHỨC NĂNG THẬN TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY
Lê Bảo Ngọc 1 , Suzanne Monivong Cheanh Beaupha 1,2 ,
Trần Thanh Tùng 1
TÓM TẮT 55
Đặt vấn đề: Đa u tủy là một bệnh lý ác tính
huyết học thường gặp, đặc trưng bởi sự tăng sinh
ác tính dòng tương bào gây tổn thương đa cơ
quan Tổn thương thận là một trong những biến
chứng phổ biến của bệnh Nhiều khuyến cáo trên
thế giới hiện nay đã lựa chọn phác đồ VCD
(bortezomib, cyclophosphamide và
dexamethasone) là phác đồ ưu tiên cho bệnh
nhân đa u tủy có suy giảm chức năng thận Tại
Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về đa u tuỷ,
tuy nhiên nghiên cứu về hiệu quả của phác đồ
VCD còn hạn chế, đặc biệt trên đối tượng bệnh
nhân có suy giảm chức năng thận
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả
điều trị của phác đồ bortezomib,
cyclophosphamide và dexamethasone (VCD)
trên bệnh nhân đa u tủy mới chẩn đoán có suy
giảm chức năng thận
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Đây là nghiên cứu mô tả hồi cứu được thực hiện
tại khoa Huyết học, bệnh viện Chợ Rẫy trong
khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2015 đến tháng
1
Bệnh viện Chợ Rẫy
2 Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Chịu trách nhiệm chính: Lê Bảo Ngọc
SĐT: 0375.742.286
Email: lebaongoc94@gmail.com
Ngày nhận bài: 16/8/2022
Ngày phản biện khoa học: 16/8/2022
Ngày duyệt bài: 07/9/2022
5 năm 2021 ở bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, mới được chẩn đoán đa u tủy và có tăng creatinin máu
> 2 mg/dL hoặc giảm độ lọc cầu thận eGFR < 60 mL/phút/1.73m 2 , được điều trị bằng phác đồ bortezomib, cyclophosphamide và dexamethasone (VCD)
Kết quả: Chúng tôi ghi nhận được 43 bệnh
nhân có tuổi trung bình là 53,8 ± 9,3 tuổi, nam giới chiếm 76,7%, creatinin máu là 3,79 (2,09 – 5,61) mg/dL Sau hoá trị với phác đồ VCD 4 chu
kỳ có 77,5% bệnh nhân đạt đáp ứng lui bệnh một phần hoặc hơn ( PR), trong đó đạt lui bệnh một phần rất tốt (VGPR) là 27,5% Tỷ lệ đáp ứng thận nói chung đạt 85%, trong đó 57,5% đáp ứng hoàn toàn (CRrenal), 10% đáp ứng một phần (PRrenal) và 17,5% đáp ứng tối thiểu (MRrenal)
Có sự tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa đáp ứng thận và đáp ứng lui bệnh sau hoá trị với
p = 0,002 Xác suất sống còn toàn bộ (OS) thời gian 3 năm là 72,3%, xác suất sống không tiến triển bệnh thời gian 3 năm là 65,3%
Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu
quả điều trị của phác đồ VCD trong cả đáp ứng
lui bệnh và cải thiện chức năng thận trên đối tượng bệnh nhân đa u tuỷ mới chẩn đoán có suy
giảm chức năng thận
Từ khóa: đa u tuỷ, suy giảm chức năng
thận, bortezomib, cyclophosphamide, dexamethasone
Trang 2SUMMARY
EVALUATING THE TREATMENT
EFFICACY OF BORTEZOMIB,
CYCLOPHOSPHAMIDE AND
DEXAMETHASONE (VCD) REGIMENS
IN MULTIPLE MYELOMA PATIENTS
WITH RENAL IMPAIRMENT AT
CHO RAY HOSPITAL
Background: Multiple myeloma is a
common hematologic malignancy, characterized
by malignant plasma cell proliferation causing
multiple organ damage Kidney injury is one of
the most common complications of disease
Current guidelines recommended the VCD
regimen (bortezomib, cyclophosphamide and
dexamethasone) as the preferred regimen for
patients with multiple myeloma and renal
impairment In Vietnam, there have been a large
number of studies on multiple myeloma, but
research on the effectiveness of VCD regimens is
limited, especially in patients with renal
impairment
Objective: To evaluate the treatment
efficacy of bortezomib, cyclophosphamide and
dexamethasone (VCD) regimens in newly
diagnosed multiple myeloma patients with renal
impairment
Materials and Methods: A retrospective
descriptive study had been conducted at the
Department of Hematology, Cho Ray Hospital
during the period from January 2015 to May
2021 Study population included patients who
were aged of 18 years and older, newly
diagnosed with multiple myeloma, had serum
creatinine level greater than 2 mg/dL or
decreased glomerular filtration rate eGFR < 60
mL/min/1.73 m 2 These patients were treated
with regimen of bortezomib, cyclophosphamide,
and dexamethasone (VCD)
Results: We collected 43 patients with
mean age 53.8 ± 9.3 years old, male accounted
for 76.7%, serum creatinine level was 3,79 (2,09 – 5,61) mg/dL After chemotherapy with 4 cycles
of VCD regimen, 77.5% of patients achieved partial remission response or better ( PR), of which very good partial remission (VGPR) was 27.5% The overall renal response rate was 85%,
of which 57.5% had a complete response (CRrenal), 10% had a partial response (PRrenal) and 17.5% had a minimal response (MRrenal) There was a statistically significant positive correlation between renal response and remission response after chemotherapy with p = 0.002 The probability of 3-year overall survival (OS) were 72.3%, the probability of 3-year progression-free survival were 65.3%
Conclusion: The study results showed the
treatment efficacy of the VCD regimen in both remission response and renal function improvement in newly diagnosed multiple myeloma patients with renal impairment
Keywords: multiple myeloma, renal impairment, bortezomib, cyclophosphamide, dexamethasone
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Đa u tủy là một bệnh lý ung thư huyết học thường gặp, chiếm khoảng 1% các loại ung thư và khoảng 10% các bệnh ác tính huyết học [1] Bệnh biểu hiện đặc trưng trên lâm sàng bởi nhiều ổ hủy xương dẫn đến gãy xương bệnh lý và rối loạn chức năng nhiều
cơ quan, bao gồm: suy thận, thiếu máu, tăng canxi máu, các triệu chứng thần kinh… Những biến chứng này làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đa
u tủy và làm giảm tuổi thọ Tổn thương thận
là biến chứng thường gặp và cũng là biến chứng nặng của bệnh đa u tủy Tỷ lệ tổn thương thận khoảng 20-50% ở những bệnh nhân mới được chẩn đoán và có hơn 50% bệnh nhân tiến triển đến suy thận trong suốt
Trang 3thời gian bệnh [2] Sự xuất hiện của bệnh
thận trong đa u tủy liên quan đến dự hậu
kém, với việc thường xuyên phải giảm liều
thuốc hoặc gián đoạn việc điều trị Hiện nay,
nhiều khuyến cáo trên thế giới đã lựa chọn
cyclophosphamide và dexamethasone) là
phác đồ ưu tiên cho bệnh nhân đa u tủy có
suy giảm chức năng thận ở cả bệnh nhân có
và không có chỉ định ghép tế bào gốc Những
năm gần đây, tại Việt Nam nói chung và
bệnh viện Chợ Rẫy nói riêng đã áp dụng
rộng rãi phác đồ VCD trong điều trị bệnh đa
u tủy Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào
đánh giá đáp ứng điều trị cũng như tỷ lệ cải
thiện chức năng thận trên nhóm bệnh nhân
đa u tủy mới chẩn đoán được điều trị với
phác đồ này Vì vậy, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu này với mục tiêu “Đánh giá hiệu
quả điều trị của phác đồ bortezomib,
cyclophosphamide và dexamethasone (VCD)
trên bệnh nhân đa u tủy mới chẩn đoán có
suy giảm chức năng thận”
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu:
Đây là nghiên cứu mô tả hồi cứu được
thực hiện tại khoa Huyết học bệnh viện Chợ
Rẫy trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm
2015 đến tháng 5 năm 2021 Nghiên cứu
được tiến hành với sự chấp thuận của Hội
đồng Đạo Đức trong nghiên cứu Y Sinh Học
tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
và bệnh viện Chợ Rẫy
Tiêu chuẩn nhận vào: Những bệnh nhân
từ đủ 18 tuổi trở lên, mới được chẩn đoán
xác định đa u tủy theo tiêu chuẩn của Hiệp
hội nghiên cứu Đa u tủy quốc tế (IMWG)
2014 [1], có tăng creatinin máu > 2 mg/dL
hoặc giảm độ lọc cầu thận eGFR < 60
mL/phút/1.73m2, được điều trị bằng phác đồ
bortezomib, cyclophosphamide và dexamethasone (VCD), hồ sơ bệnh án đầy đủ thông tin nghiên cứu theo mẫu thu thập số liệu
Tiêu chuẩn loại trừ: Không có
Biến số nghiên cứu: Trong nghiên cứu này, đáp ứng điều trị sau 4 chu kỳ được đánh giá theo tiêu chuẩn của Hiệp hội nghiên cứu
Đa u tủy quốc tế (IMWG) 2014 [1] thành 5
mức: đáp ứng một phần rất tốt (VGPR), đáp ứng một phần (PR), đáp ứng tối thiểu (MR), bệnh ổn định (SD) và bệnh tiến triển (PD) Đồng thời, đánh giá đáp ứng thận sau điều trị được phân nhóm dựa theo tiêu chuẩn của Hiệp hội nghiên cứu Đa u tủy quốc tế (IMWG) 2016 [3] gồm: đáp ứng hoàn toàn (CRrenal), đáp ứng một phần (PRrenal) và đáp ứng tối tiểu (MRrenal) Ngoài ra chúng tôi cũng thu thập các số liệu về dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng trong quá trình điều trị của bệnh nhân từ hồ sơ bệnh án
Xử lý thống kê: Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm Stata 14.1 for Mac Các biến định tính được trình bày dưới dạng tần số và
tỷ lệ % Các biến liên tục phân phối chuẩn được mô tả bằng trung bình ± độ lệch chuẩn, nếu phân phối không chuẩn được mô tả bằng trung vị (tứ phân vị 25th-75th) Để so sánh tỷ
lệ giữa 2 nhóm sử dụng phép kiểm chi bình phương Các phép kiểm có ý nghĩa thống kê khi giá trị p < 0,05
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian tiến hành nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận được 43 trường hợp bệnh nhân được chẩn đoán đa u tuỷ có suy giảm chức năng thận thoả tiêu chuẩn nhận vào nghiên cứu, trong đó có 33 nam (76.7%) và
10 nữ (23.3%), tỷ lệ nam/nữ = 3,3/1 Tuổi trung bình là 53 ± 9,3 tuổi, tuổi lớn nhất là
Trang 470 tuổi và tuổi nhỏ nhất là 32 tuổi Đặc điểm
lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân
trong nghiên cứu được mô tả ở Bảng 1 Các
đặc điểm nhân trắc học và đặc điểm triệu
chứng lâm sàng không có sự khác biệt giữa 2
nhóm phân theo chức năng thận Các chỉ số
công thức máu (Hb, WBC, PLT) và tỷ lệ
tương bào trong tuỷ tương tự nhau giữa các phân nhóm thận Có sự khác biệt rõ rệt về chỉ
số 2 microglobulin trong máu ở 2 phân nhóm thận, chỉ số này cao hơn đáng kể ở nhóm bệnh nhân suy giảm chức năng thận nặng (eGFR < 15 mL/phút/1.73m2) có ý nghĩa với p = 0,0000
Bảng 1 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng dựa theo phân nhóm chức năng thận
Tổng (n = 43)
eGFR < 15 mL/phút/1.73m 2
(n = 20)
eGFR 15 mL/phút/1.73m 2
(n = 23)
p value Đặc điểm chung
Lâm sàng
Cận lâm sàng
BUN (mg/dL) 41 (25,5 - 61,0) 60 (42,5 - 78,0) 27 (22,1 - 41,4) 0,0001 Creatinin (mg/dL) 3,79 (2,09 - 5,61) 5,74 (5,20 - 8,99) 3,04 (1,54 - 3,56) 0,0000 eGFR
(mL/phút/1.73m2) 15,1 (10,7 - 33,4) 10,0 (6,1 - 12,0) 24,5 (17,1 - 47,6) 0,0000
Ca TP (mmol/L) 2,6 (2,2 - 3,0) 2,7 (2,4 - 3,2) 2,4 (2,2 - 2,9) 0,227 LDH (U/L) 248 (182 - 396) 276 (186 - 381) 217 (178 - 385) 0,543
2 microglobulin
(g/L)
13800 (8830 - 24810)
23075 (15519 - 41230)
9340 (6910 - 12615) 0,0000
Tỷ lệ tương bào tuỷ
(%) 30 (18,0 - 55,0) 26 (16,0 - 51,5) 32 (20,3 - 56,3) 0,355
Loại Immunoglobulin
0,662*
Trang 5Tổng (n = 43)
eGFR < 15 mL/phút/1.73m 2
(n = 20)
eGFR 15 mL/phút/1.73m 2
(n = 23)
p value
Loại chuỗi nhẹ
0,819
Giai đoạn R-ISS
NA
*: Phép kiểm chính xác Fisher
Theo kết quả chúng tôi ghi nhận được, có
40/43 bệnh nhân trong nghiên cứu hoàn tất 4
chu kỳ hoá trị với phác đồ VCD Đánh giá
đáp ứng sau hoá trị với 4 chu kỳ phác đồ
VCD, đa số bệnh nhân đạt đáp ứng lui bệnh
một phần hoặc hơn ( PR) chiếm 77,5%,
trong đó đạt lui bệnh một phần rất tốt
(VGPR) là 27,5% (Hình 1A) Tỷ lệ đáp ứng
thận nói chung đạt 85%, trong đó 57,5% đáp
ứng hoàn toàn (CRrenal), 10% đáp ứng một
phần (PRrenal) và 17,5% đáp ứng tối thiểu
(MRrenal) Khi phân tích đáp ứng thận theo
2 nhóm đáp ứng lui bệnh gồm đáp ứng một
phần hoặc hơn ( PR) và thấp hơn đáp ứng
một phần (< PR), chúng tôi nhận thấy khi
bệnh nhân đáp ứng với điều trị thì chức năng thận cũng cải thiện theo, sự cải thiện này là
có ý nghĩa thống kê với p = 0,002 qua phép
kiểm chính xác Fisher (Hình 1B) Trong
nhóm đáp ứng lui bệnh PR với 31 bệnh nhân, có 80,7% bệnh nhân đáp ứng thận PRrenal Ngược lại đối với nhóm đáp ứng lui bệnh < PR, tỷ lệ cải thiện chức năng thận PRrenal chỉ đạt 22,2%
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận được xác suất sống còn toàn bộ (OS) thời gian 3 năm là 72,3% với KTC 95% là 52,1% – 85,0% Đối với thời gian sống không tiến triển bệnh, chúng tôi ghi nhận xác suất sống không tiến triển bệnh (PFS) thời gian 3 năm
Trang 6là 65,3% với KTC 95% là 45,5% – 79,1% (Hình 2)
Hình 2 Đường biểu diễn sống còn toàn bộ và sống không tiến triển bệnh 3 năm
IV BÀN LUẬN
Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện trên
43 bệnh nhân đa u tuỷ mới chẩn đoán có suy
giảm chức năng thận, đây là nhóm đối tượng
có tiên lượng xấu, tăng nguy cơ tử vong sớm
ở bệnh nhân đa u tuỷ
Tuổi trung bình trong nghiên cứu của
chúng tôi là 53,8 tuổi, thấp hơn so với nghiên
cứu của một số tác giả khác trên thế giới với
tuổi trung bình từ 60 đến 76 tuổi, cụ thể theo
nghiên cứu của Morabito và cộng sự có độ
tuổi trung vị là 65 tuổi [4], nghiên cứu của
Costa và cộng sự ghi nhận độ tuổi trung bình
là 63 tuổi [5], trong nghiên cứu Courant và
cộng sự có độ tuổi trung vị của 2 nhóm cải
thiện chức năng thận và không cải thiện lần
lượt là 72 tuổi và 76 tuổi [6]
Tổn thương thận là một trong những biến
chứng phổ biến nhất của bệnh đa u tủy Triệu
chứng thường gặp là suy thận và đạm niệu
Tổn thương thận ở bệnh nhân đa u tủy chủ
yếu là do tác dụng độc hại của chuỗi nhẹ đơn
dòng trên màng đáy của cầu thận và/hoặc ống thận Tổn thương thận trong đa u tủy có nhiều dạng khác nhau, nhưng phổ biến nhất
là bệnh thận trụ (cast nephropathy), thường dẫn đến tổn thương thận cấp Kết quả nghiên cứu của chúng tôi hi nhận được giá trị trung
vị của creatinin là 3,79 mg/dL và eGFR là 15,1 mL/phút/1,73m2 Gần phân nửa số bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi có suy thận nặng (giai đoạn 5) lúc chẩn đoán với eGFR < 15 mL/phút/1,73m2 chiếm 46,5% Việc sử dụng các thuốc điều trị mới dẫn đến sự gia tăng đáng kể thời gian sống sót của bệnh nhân đa u tủy với suy giảm chức năng thận, mặc dù suy thận nặng có liên quan đến tăng nguy cơ tử vong sớm Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 40/43 bệnh nhân hoàn tất 4 chu kỳ hoá trị phác đồ VCD, đánh giá đáp ứng điều trị sau 4 chu kỳ cho thấy tỷ lệ đáp ứng chung ( PR) đạt 77,5%, trong đó đáp ứng một phần rất tốt (VGPR) chiếm 27,5% Kết quả này gần tương đồng
Trang 7với các tác giả khác với tỷ lệ đáp ứng chung
là 100% trong nghiên cứu của Costa [5],
79,5% trong nghiên cứu của Mai EK [7]
Theo y văn, bortezomib là chất ức chế
proteasome dipeptide dựa trên boronate chủ
yếu nhắm vào các hoạt động giống
chymotrypsin của phức hợp enzyme
proteasome nội bào Bortezomib đã được
chứng minh vai trò qua nhiều nghiên cứu
trong điều trị đa u tuỷ mang lại hiệu quả cao
và đã nhận được sự chấp thuận nhanh chóng
của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm
Hoa Kỳ (FDA) vào năm 2003 Ngoài hoạt
động chống đa u tủy, bortezomib giúp ổn
định NF-kappaB và điều chỉnh các yếu tố
chống chết tế bào theo chương trình
(apoptosis) trong các tế bào ống thận [10]
Bortezomib không lọc qua thận, cho phép
điều trị nhanh chóng mà không cần điều
chỉnh liều Bên cạnh đó, tác nhân alkyl hoá
cũng đặc biệt hiệu quả trong đa u tuỷ Không
giống như melphalan, cyclophosphamide
không gây tổn thương tế bào gốc tích lũy, do
đó duy trì khả năng thu thập tế bào gốc Như
cyclophosphamide và bortezomib là một sự
lựa chọn phù hợp và đã trở thành phác đồ
chứa bortezomib được lựa chọn điều trị cho
bệnh nhân đa u tuỷ mới chẩn đoán, đặc biệt ở
bệnh nhân có suy giảm chức năng thận
Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy kết
quả tương tự, đánh giá sau 4 chu kỳ hoá trị
phác đồ VCD, tỷ lệ đáp ứng thận nói chung
đạt 85%, trong đó 57,5% đáp ứng hoàn toàn
(CRrenal) Kết quả này tương đồng với các tác giả khác với tỷ lệ đáp ứng thận chung từ 65-71% và đáp ứng hoàn toàn về chức năng thận (CRrenal) từ 35-68% [5], [8], [9] Nghiên cứu của chúng tôi cũng phân tích được rằng có sự tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa đáp ứng thận và đáp ứng lui bệnh sau hoá trị với p = 0,002 (Hình 1B)
V KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả
điều trị cao của phác đồ VCD trong cả đáp
ứng lui bệnh chung ở khoảng 3/4 số bệnh nhân và cải thiện chức năng thận khoảng 4/5
số bệnh nhân đa u tuỷ mới chẩn đoán có suy giảm chức năng thận
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Rajkumar S.V., et al, "International
Myeloma Working Group updated criteria for the diagnosis of multiple myeloma",
Lancet Oncol, 2014, 15 (12), pp e538-548
2 Mohyuddin G.R., et al, "Renal insufficiency
in multiple myeloma: a systematic review and meta-analysis of all randomized trials from 2005–2019", Leukemia & Lymphoma,
2021, 62 (6), pp 1386-1395
3 Dimopoulos M.A et al., "International
Myeloma Working Group Recommendations for the Diagnosis and Management of Myeloma-Related Renal Impairment",
Journal of Clinical Oncology, 2016, 34 (13),
pp 1544-1557
4 Morabito F., et al, "Safety and efficacy of
bortezomib-based regimens for multiple
Trang 8myeloma patients with renal impairment: a
retrospective study of Italian Myeloma
Network GIMEMA", European Journal of
Haematology, 2010, 84 (3), pp 223-228
5 Costa L.J., et al, "Outcomes of patients with
multiple myeloma and renal impairment
treated with bortezomib, cyclophosphamide,
and dexamethasone without plasma
exchange", Eur J Haematol, 2012, 89 (5), pp
432-434
6 Courant M., et al, "Incidence, prognostic
impact and clinical outcomes of renal
impairment in patients with multiple
myeloma: a population-based registry",
Nephrol Dial Transplant, 2021, 36 (3), pp
482-490
7 Areethamsirikul N., et al, "CyBorD
induction therapy in clinical practice", Bone
Marrow Transplantation, 2015, 50 (3), pp
375-379
8 Bachmann F., et al, "Kinetics of Renal
Function during Induction in Newly Diagnosed Multiple Myeloma: Results of Two Prospective Studies by the German Myeloma Study Group DSMM", Cancers (Basel), 2021, 13 (6), pp 1322-1334
9 Dimopoulos M.A., et al, "Bortezomib-based
triplets are associated with a high probability
of dialysis independence and rapid renal recovery in newly diagnosed myeloma patients with severe renal failure or those requiring dialysis", Am J Hematol, 2016, 91 (5), pp 499-502
10 Sarközi R et al., "Bortezomib-Induced
Survival Signals and Genes in Human Proximal Tubular Cells", Journal of Pharmacology and Experimental
Therapeutics, 2008, 327 (3), pp 645