Bài viết Vai trò của PET-CT trong ung thư đại trực tràng nghi ngờ tái phát trình bày khảo sát đặc điểm của PET-CT trong ung thư đại trực tràng nghi ngờ tái phát. Xác định giá trị và độ chính xác của PET-CT trong ung thư đại trực tràng nghi ngờ tái phát.
Trang 1VAI TRÒ CỦA PET-CT TRONG UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG
NGHI NGỜ TÁI PHÁT
Nguyễn Thành Huy 1 , Võ Khắc Nam 2 , Cung Thị Tuyết Anh 3 , Vũ Hoàng Minh Châu 4
TÓM TẮT 53
Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm của PET-CT
trong ung thư đại trực tràng nghi ngờ tái phát
Xác định giá trị và độ chính xác của PET-CT
trong ung thư đại trực tràng nghi ngờ tái phát
Đối tượng nghiên cứu: 30 bệnh nhân với
chẩn đoán ung thư đại trực tràng đã được phẫu
thuật triệt để, nghi ngờ tái phát và được chụp
PET/CT tại Bệnh viện Ung Bướu TP HCM từ
tháng 01 năm 2020 đến tháng 12 năm 2021
Thiết kế nghiên cứu: Hồi cứu mô tả loạt ca
Kết quả: PET-CT ghi nhận 16 trường hợp có
tổn thương nghĩ ác tính tái phát, chiếm tỉ lệ
53,3% 14 trường hợp còn lại có tổn thương nghĩ
lành tính, tổn thương viêm, thay đổi sau điều trị
hoặc tổn thương nhỏ, không hấp thu FDG, không
rõ bản chất Vị trí nghĩ tái phát được ghi nhận
nhiều nhất trên PET-CT là phổi, với 8 trường hợp
(26,7%); kế đến là hạch ổ bụng và gan, lần lượt
là 5 và 4 trường hợp (chiếm tỉ lệ 16,7% và
13,3%) Tổn thương tái phát tại chỗ và di căn
hạch trung thất ít gặp (6,7% và 3,3%) Có 1
trường hợp âm tính giả và 2 trường hợp dương
1
BSNT Bộ môn Ung thư ĐHYD TP HCM
Bệnh viện Ung Bướu TP HCM
3
PGS.TS Bộ môn Ung thư ĐHYD TP HCM
Bướu TP HCM
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thành Huy
Email: thanhhuy2512ktvn@gmail.com
Ngày nhận bài: 21/9/2022
Ngày phản biện: 30/9/2022
Ngày chấp nhận đăng: 25/10/2022
tính giả Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm và độ chính xác của PET-CT trong chẩn đoán ung thư đại trực tràng nghi ngờ tái phát lần lượt là: 93,3%; 86,7%; 87,5%; 92,9%; 90%, với p < 0,001
Kết luận: PET-CT có độ nhạy, độ đặc hiệu
và độ chính xác cao, có thể phối hợp với các cận lâm sàng khác như nồng độ CEA máu, CTscan, MRI,… để giúp chẩn đoán xác định khi bệnh nhân nghi ngờ bị ung thư đại trực tràng tái phát
SUMMARY
ROLE OF PET–CT IN THE ASSESSMENT OF SUSPECTED RECURRENT COLORECTAL
CARCINOMA
Objectives: To assess the characteristics of
18F-FDG PET/CT in CRC patients who have suspected recurrent disease and to define value and accuracy of 18F-FDG PET/CT in detecting recurrent colorectal carcinoma
Material and method: 30 patients with
suspected CRCR in HCMC Oncology Hospital who underwent PET-CT from January 2020 to December 2021 were evalutated Pathological results, clinical follow-up and additional imaging were reviewed for gold standard
Result: PET-CT showed 16 cases of
recurrent malignant lesions, accounting for 53.3% The remaining 14 cases were benign, inflammatory lesions, post-treatment changes, small lesions without FDG uptake, of unknown nature The most common site of recurrence on PET-CT was the lung, with 8 cases (26.7%); followed by abdominal lymph nodes and liver,
Trang 2respectively 5 and 4 cases (accounting for 16.7%
and 13.3%) Locally recurrent lesions and
metastases to mediastinal lymph nodes were
uncommon (6.7% and 3.3%) There are 1 false
negative and 2 false positive cases Sensitivity,
specificity, positive predictive value, negative
predictive value and accuracy of PET-CT in
CRCR were, respectively, 93.3%; 86.7%; 87.5%;
92.9%; 90%, p < 0.001
Conclusion: PET-CT has high sensitivity,
specificity and accuracy, can be combined with
other laboratory tests such as blood CEA levels,
CTscan, MRI, etc, to help confirm the diagnosis
when the patient is suspected to have colorectal
cancer recurrence
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Globocan 2020, ung thư đại trực
tràng đứng thứ ba về số mới mắc và đứng thứ
2 về tỉ lệ tử vong trên thế giới Tại Việt Nam,
ung thư đại trực tràng đứng thứ năm về số
mới mắc cũng như tỉ lệ tử vong1 Mặc dù có
nhiều tiến bộ trong điều trị, tỉ lệ tái phát sau
phẫu thuật trong UT ĐTT còn cao, 35%
trường hợp sẽ tái phát trong vòng 8 năm đầu
sau phẫu thuật, chủ yếu là trong 2 năm
đầu[2,3]
Việc phát hiện sớm tái phát có thể góp
phần cải thiện sống còn cũng như chất lượng
sống của bệnh nhân Thăm khám lâm sàng,
xét nghiệm nồng độ CEA trong máu và các
phương tiện hình ảnh học có giá trị thay đổi
trong phát hiện tái phát và đánh giá mức độ
lan tràn của bệnh Nồng độ CEA trong máu
có thể giúp phát hiện tái phát với độ nhưng
không khu trú được vị trí tổn thương Chụp
cắt lớp vi tính (Computed Tomography - CT)
là phương tiện thường dùng để đánh giá tái
phát nhưng có vai trò hạn chế trong phát hiện
những tổn thương nhỏ Chụp cộng hưởng từ
(Magnetic Resonance Imaging - MRI) có thể
nhạy hơn CT trong đánh giá mô mềm hoặc gan, tuy nhiên cả MRI và CT đều khó phân biệt tổn thương tái phát tại chỗ sau phẫu thuật hoặc xạ trị do hiện tượng xơ hóa và thay đổi cấu trúc giải phẫu Chính vì vậy, 18F-FDG PET-CT, một phương tiện cận lâm sàng hình ảnh học chức năng có khả năng ghi hình toàn thân dựa vào sự tăng hấp thu và ly giải glucose của khối bướu để phát hiện bệnh, gần đây đã được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán ung thư đại trực tràng nghi ngờ tái phát
Mục tiêu nghiên cứu:
- Khảo sát đặc điểm của PET-CT trong ung thư đại trực tràng nghi ngờ tái phát
- Xác định giá trị và độ chính xác của PET-CT trong ung thư đại trực tràng nghi ngờ tái phát
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu: 30 bệnh
nhân với chẩn đoán ung thư đại trực tràng đã được phẫu thuật triệt để, giải phẫu bệnh là carcinôm, giai đoạn 0 – III, nghi ngờ tái phát (tăng CEA máu và/ hoặc hình ảnh học ghi nhận tổn thương nghi ngờ tái phát), và được chụp PET/CT tại Bệnh viện Ung Bướu TP HCM từ tháng 01 năm 2020 đến tháng 12 năm 2021
2.2 Phương pháp nghiên cứu: Cắt
ngang mô tả
- Quy trình chụp PET/CT tại Bệnh viện Ung Bướu TP HCM: Tất cả bệnh nhận được chụp PET-CT (thuộc dòng Discovery MI DR của hãng GE) với thuốc phóng xạ 18F-FDG liều tiêm 0,1mCi/kg cân nặng (tương đương 3,7MBq/kg)
Chuẩn bị bệnh nhân:
+ Nhịn ăn 4 - 6 giờ
Trang 3+ Được thăm khám lâm sàng, hỏi tiền sử
bệnh, đo nhiệt độ, huyết áp, chiều cao, cân
nặng, đường huyết mao mạch
+ Sau tiêm người bệnh vào phòng cách ly
nằm nghỉ, hạn chế nói chuyện và vận động
trước khi chụp PET-CT, uống nhiều nước
(tối thiểu 0,5 lít)
Tiến hành chụp PET-CT sau tiêm thuốc
45 - 60 phút (người bệnh đi tiểu hết trước khi
lên máy chụp hình)
- Tiêu chuẩn chẩn đoán: Tất cả bệnh
nhân được chẩn đoán xác định có tái phát
hay không tái phát dựa vào kết quả giải phẫu
bệnh (sinh thiết hoặc phẫu thuật) Trong
trường hợp không có giải phẫu bệnh sẽ dựa
vào lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân
trong vòng 6 tháng sau chụp PET-CT Bệnh
nhân được chẩn đoán xác định là tái phát khi
giải phẫu bệnh tổn thương là ác tính tái phát;
hoặc nếu không có giải phẫu bệnh thì sau khi
có kết quả PET-CT kết hợp với thăm khám
lâm sàng, CEA và các xét nghiệm hình ảnh
học, bệnh nhân được chẩn đoán và chỉ định điều trị theo phác đồ tái phát
- Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để tính độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương (PPV), giá trị tiên đoán âm (NPV) và độ chính xác của PET-CT Dùng kiểm định 2 để so sánh các giá trị của
PET-CT, CT và CEA, có ý nghĩa khi p < 0,05
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm dân số nghiên cứu được thể hiện qua Bảng 1 Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân được khảo sát là 56,4 ± 11,7, trong đó có 14 bệnh nhân nam và 16 bệnh nhân nữ 18 trường hợp bướu nguyên phát ở đại tràng, 12 trường hợp còn lại ở trực tràng
Đa số bệnh nhân ở giai đoạn II, III với giải phẫu bệnh chủ yếu là carcinôm tuyến, grad 2
Có 2 bệnh nhân ở giai đoạn I và 2 bệnh nhân
ở giai đoạn 0 (gồm 1 trường hợp pTisN0M0
và 1 trường hợp ypT0N0M0)
Bảng 1 Đặc điểm dân số nghiên cứu
Tuổi trung bình (khoảng)
Nam
Nữ
56,4 ± 11,7 (25 – 75) 59,5 ± 9,0 (49 – 75) 53,7 ± 13,3 (25 – 74)
Giới
Nam
Nữ
14
16
46,7 53,3
Vị trí bướu nguyên phát
Đại tràng Trực tràng
18
12
60
40
Giai đoạn bệnh
0
I
II III
2
2
13
13
6,7 6,7 43,3 43,3
(y)pT
Trang 4Is
1
2
3
4
1
1
3
11
13
3,3 3,3
10 36,7 43,4
(y)pN
0
1
2
17
11
2
56,6 36,7 6,7
(y)pM
0
1
30
0
100
0
Loại mô học
Carcinôm tuyến
Carcinôm tuyến tiết nhầy
Carcinôm dạng tế bào nhẫn
25
4
1
83,4 13,3 3,3
Grad mô học
1
2
3
3
24
3
10
80
10
Có 15 bệnh nhân được chẩn đoán xác
định cuối cùng là có tái phát; 15 bệnh nhân
còn lại được chẩn đoán xác định là không tái
phát Các trường hợp bệnh nhân không tái
phát được xuất viện theo dõi và được thăm
khám lâm sàng kèm các cận lâm sàng phù
hợp tùy trường hợp cụ thể Có 6 bệnh nhân
bị tái phát từ 2 vị trí trở lên, chiếm 40% Vị
trí tái phát thường gặp nhất là phổi (7 trường
hợp, chiếm 23,3%), hạch ổ bụng (5 trường hợp, chiếm 16,7%) và gan (4 trường hợp, chiếm 13,3%) Ngoài ra có 3 trường hợp tái phát gieo rắc phúc mạc/mạc treo, 2 trường hợp tái phát tại chỗ, 2 trường hợp tái phát tại hạch trung thất và 1 trường hợp tái phát tại phần mềm Giải phẫu bệnh có kết quả ở 5 bệnh nhân, trong đó có 2 trường hợp là lành tính và 3 trường hợp ác tính
Bảng 2 Đặc điểm tổn thương nghĩ tái phát trên PET-CT
Kích thước trung bình (mm)
SUL trung bình
SUV trung
Phúc mạc/
Hạch trung
Trang 5Các trường hợp ghi nhận có tổn thương
nghĩ tái phát trong ổ bụng đều có mức độ
tăng hoạt động chuyển hóa mạnh hơn so với
các tổn thương ngoài ổ bụng như phổi, hạch
trung thất hay phần mềm Giá trị SUV trung
bình của tổn thương nghĩ tái phát tại chỗ,
phúc mạc/ mạc treo, gan, hạch ổ bụng, phần
mềm, hạch trung thất và phổi lần lượt là 14,7; 12,72; 9,0; 7,52; 8,32; 6,58; 4,60 Giá trị hấp thu FDG chuẩn theo khối lượng nạc
cơ thể (SUL) đều thấp hơn so với giá trị hấp thu FDG chuẩn theo khối lượng cơ thể (SUV)
Bảng 3 Kết quả PET-CT theo chẩn đoán xác định
n (%)
Không tái phát
n (%)
Tổng
n (%)
Trong số 15 trường hợp được chẩn đoán
xác định tái phát, PET-CT ghi nhận tái phát
trong 14 trường hợp, chiếm 93,3% Có 1
trường hợp được chẩn đoán xác định có tái
phát nhưng kết quả PET-CT là âm tính (âm
tính giả) Trong số 15 trường hợp được chẩn
đoán xác định không tái phát, kết quả
PET-CT âm tính trong 13 trường hợp, chiếm
86,7% Có 2 trường hợp được chẩn đoán xác
định không tái phát nhưng kết quả PET-CT
là dương tính (dương tính giả) Như vậy, trong tổng số 30 trường hợp được chụp
PET-CT, 27 trường hợp có kết quả PET-CT phù hợp với chẩn đoán, gồm 14 trường hợp dương tính thật và 13 trường hợp âm tính thật PET-CT có độ nhạy 93,3%, độ đặc hiệu 86,7%, giá trị tiên đoán dương 87,5%, giá trị tiên đoán âm 92,9% và độ chính xác 90%, với p < 0,001
Biểu đồ 1 Giá trị của PET-CT đơn thuần và kết hợp với nồng độ CEA máu
Trang 6Khi PET-CT có tổn thương nghĩ tái phát
kèm tăng nồng độ CEA máu (> 5ng/ml hay >
10ng/ml) thì độ đặc hiệu và giá trị tiên đoán
dương ung thư đại trực tràng tái phát lên đến
100%, cao hơn so với dùng PET-CT đơn
thuần, mặc dù không có ý nghĩa thống kê với
p = 0,464 Tuy nhiên độ nhạy và giá trị tiên
đoán âm trong chẩn đoán ung thư đại trực
tràng tái phát khi phối hợp PET-CT và tăng
CEA máu thấp hơn so với dùng PET-CT đơn
lẻ Sự khác biệt độ nhạy khi phối hợp
PET-CT và CEA > 5ng/ml so với PET-PET-CT là
không có ý nghĩa thống kê, với p = 0,171
Tuy nhiên độ nhạy khi PET-CT phối hợp
PET-CT và CEA > 10ng/ml thấp hơn đáng
kể, có ý nghĩa thống kê so với PET-CT đơn
thuần, với p = 0,039 Độ chính xác của việc
kết hợp với CEA > 5ng/ml và CEA >
10ng/ml cũng thấp hơn so với chỉ dùng
PET-CT lần lượt là 83,3%, 76,7% và 90%, nhưng
không có ý nghĩa thống kê với chỉ số p lần
lượt là 0,704 và 0,299 (Biểu đồ 1)
Khi so với CT, PET-CT và CT không
khác biệt đáng kể về độ nhạy trong chẩn
đoán ung thư đại trực tràng tái phát, lần lượt
là 93,3% và 84,6%, p = 0,896 Tuy nhiên độ
đặc hiệu và độ chính xác của PET-CT cao
hơn hẳn CT, 86,7% so với 21,4% đối với độ
đặc hiệu và 90% so với 51,9% đối với độ
chính xác Sự khác biệt về độ đặc hiệu và độ
chính xác giữa PET-CT và CT là có ý nghĩa
thống kê với p lần lượt là 0,002 và 0,004
Mức độ đồng thuận giữa kết quả CT và
PET-CT là yếu, với chỉ số Kappa = 0,124 (p =
0,438) Trong các trường hợp ung thư đại
trực tràng nghi ngờ tái phát được khảo sát,
PET-CT giúp giảm 9 trường hợp dương tính
giả và 2 trường hợp âm tính giả ghi nhận trên
CT
IV BÀN LUẬN
Phát hiện sớm tái phát trong ung thư đại trực tràng có vai trò quan trọng, giúp cho bệnh nhân được điều trị sớm, thậm chí có thể phẫu thuật triệt để và góp phần cải thiện sống còn Tuy nhiên, không phải trường hợp nghi ngờ tái phát nào cũng được chẩn đoán một cách dễ dàng mà đa số đều bị ảnh hưởng bởi các phương thức điều trị trước đây, loại phương tiện được sử dụng để theo dõi và chẩn đoán tái phát, Do đó, trong các trường hợp khó chẩn đoán bản chất tổn thương trên
CT hay MRI hoặc không phát hiện được tổn thương, PET-CT với khả năng khảo sát hình thái lẫn chức năng thông qua mức độ hấp thu FDG có vai trò quan trọng trong việc xác định và gợi ý bản chất của tổn thương nghi ngờ
Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh vai trò của PET-CT trong ung thư đại trực tràng nghi ngờ tái phát Nghiên cứu của tác giả Kim và cộng sự4 cho thấy PET-CT có giá trị cao trong đánh giá ung thư đại trực tràng tái phát với độ nhạy 88%, độ đặc hiệu 98%, giá trị tiên đoán dương 94%, giá trị tiên đoán âm 96% và độ chính xác 96% Giá trị của
PET-CT trong ung thư đại trực tràng tái phát cũng được thể hiện thông qua nghiên cứu của chúng tôi, với độ nhạy 93,3%, độ đặc hiệu 86,7%, giá trị tiên đoán dương 87,5%, giá trị tiên đoán âm 92,9% và độ chính xác 90%, với p < 0,001 Âm tính giả được ghi nhận trong 1 trường hợp (Hình 1) và dương tính giả được ghi nhận trong 2 trường hợp (Hình
2 và Hình 3)
Trong nghiên cứu của chúng tôi, phối hợp PET-CT và nồng độ CEA máu tăng giúp tăng khả năng tiên đoán dương có tái phát so với chụp PET-CT đơn thuần và độ đặc hiệu cũng được cải thiện, đều đạt 100%, mặc dù không có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, độ
Trang 7nhạy, giá trị tiên đoán âm của PET-CT khi
kết hợp với nồng độ CEA thấp hơn so với
khi dùng PET-CT đơn thuần Kết quả nghiên
cứu của chúng tôi có phần khác (độ nhạy của
PET-CT ở những bệnh nhân tăng CEA máu
thấp hơn và độ đặc hiệu cao hơn) so với
nghiên cứu của tác giả Ozkan[5] và Lu[6]
Sự khác biệt này là do ngưỡng cắt CEA càng
cao thì sẽ làm giảm độ nhạy của xét nghiệm
nhưng làm tăng độ đặc hiệu Kết quả này
cũng gợi ý PET-CT đơn thuần có thể giúp
phát hiện chính xác tái phát ở cả những bệnh
nhân tái phát có nồng độ CEA máu bình
thường
Trong đánh giá ung thư đại trực tràng tái
phát, PET-CT cũng có độ đặc hiệu và độ
chính xác cao hơn so với CT, lần lượt là
86,7% so với 21,4% và 90% so với 51,9%
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng
tương đồng với các kết quả của tác giả
khác[7,8] Có 2 trường hợp âm tính giả trên
CT được phát hiện tái phát thông qua
PET-CT và cả 2 trường hợp vị trí tái phát đều ở
hạch ổ bụng Điều này là do việc xác định
bản chất hạch trên các phương tiện hình ảnh học hình thái như CT và MRI dựa vào đo lường kích thước hạch, hình dạng, cũng như dựa vào kích thước trục ngắn nên độ nhạy khá thấp Còn PET-CT kết hợp phân tích cả cấu trúc lẫn chức năng dựa trên mức độ tăng chuyển hóa glucose của tế bào ung thư bất kể kích thước nên có thể phát hiện các tổn thương hạch kích thước nhỏ khó phát hiện trên CT Trong nghiên cứu của chúng tôi cũng có 9 trường hợp bệnh nhân nghi ngờ tái phát trên CT nhưng được khẳng định không tái phát trên PET-CT (gồm 2 trường hợp nghi ngờ tại phổi, 1 trường hợp tại phổi kèm xương, 1 trường hợp tại tuyến thượng thận, 1 trường hợp tại mạc treo, 2 tại gan, 1 trường hợp tại hạch trung thất và 2 trường hợp tại hạch ổ bụng) Tất cả các trường hợp này đều nhờ khả năng đánh giá về mặt chức năng của tổn thương dựa trên PET-CT, khi 8 trường hợp tổn thương không có sự tăng hoạt động chuyển hóa và 1 trường hợp chỉ có tăng hoạt động chuyển hóa nhẹ nghĩ viêm
Hình 1 BN N.T.L, nữ, 1951
Trang 8MRI ghi nhận nốt tổn thương vách chậu
trái, 20 x 18mm, không thay đổi kt so với
MRI 6 tháng trước, nghĩ hạch di căn
PET-CT lần 1 (2 hình trên) ghi nhận hạch chậu
(T) 18 x 23mm không tăng hoạt động chuyển
hóa BN được hội chẩn khoa và chẩn đoán
không tái phát, theo dõi Sau 1 năm, PET-CT lần 2 ghi nhận hạch chậu (T) không thay đổi kích thước nhưng tăng hấp thu FDG, SULmax = 2,45 BN được chẩn đoán tái phát
và điều trị toàn thân
Hình 2 BN H.T.T.H, nữ, 1987
Theo dõi nốt phổi tái phát trên CT ngực, PET-CT ghi nhận nốt mờ thùy dưới phổi (T) hạ phân thùy S6, 10mm, tăng hấp thu FDG, SULmax = 2.94 nghĩ ác tính BN được PTNS cắt phân thùy 6 + nạo hạch sau chụp PET-CT 2 tuần Giải phẫu bệnh sau mổ là mô viêm hạt hoại
tử, có thể do lao, hạch viêm 1/1 hạch
Hình 3 BN L.T.M.T, nữ, 1966
Theo dõi tái phát phúc mạc vùng hông
(T) PET-CT ghi nhận nốt phúc mạc thành
bụng vùng hông (T) #19 x 25mm, tăng hấp
thu FDG mạnh, SULmax = 9.62 nghĩ tái
phát BN được mở bụng thăm dò, cắt sang thương sau đó 1 tuần Giải phẫu bệnh sau mổ
là mô xơ viêm kinh niên BN được xuất viện theo dõi, không tái phát
Trang 9V KẾT LUẬN
PET-CT có vai trò nhất định trong đánh
giá bệnh nhân ung thư đại trực tràng nghi
ngờ tái phát nhờ khả năng đánh giá hình thái
cấu trúc lẫn chức năng của tổn thương, phát
hiện ra những tổn thương không thấy được
hoặc không rõ ràng thông qua các phương
tiện hình ảnh học thông thường khác như CT,
MRI,… Nghiên cứu của chúng tôi đã khẳng
định điều này PET-CT là phương tiện tốt
hơn để đánh giá bệnh nhân ung thư đại trực
tràng nghi ngờ tái phát so với CT, đặc biệt là
độ đặc hiệu Đồng thời, PET-CT cũng có giá
trị cao trong chẩn đoán ung thư đại trực tràng
tái phát, bất kể nồng độ CEA máu Do đó,
18F-FDG PET-CT cung cấp những thông tin
hữu ích, ảnh hưởng đến chẩn đoán và quyết
định điều trị của phần lớn bệnh nhân, giúp
phát hiện những trường hợp tái phát sớm để
can thiệp kịp thời, đồng thời cũng hạn chế
những can thiệp quá mức cần thiết
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 H Sung, J Ferlay, R L Siegel et al
(2021) "Global cancer statistics 2020:
GLOBOCAN estimates of incidence and
mortality worldwide for 36 cancers in 185
countries" CA Cancer J Clin
2 D Sargent, A Sobrero, A Grothey et al
(2009) "Evidence for cure by adjuvant
therapy in colon cancer: observations based
on individual patient data from 20,898
patients on 18 randomized trials" J Clin
Oncol 27(6), 872-7
3 S Y Guraya (2019) "Pattern, Stage, and
Time of Recurrent Colorectal Cancer After Curative Surgery" Clin Colorectal Cancer 18(2), e223-e228
4 J H Kim, J Czernin, M S Allen-Auerbach et al (2005) "Comparison
between 18F-FDG PET, in-line PET/CT, and software fusion for restaging of recurrent colorectal cancer" J Nucl Med 46(4),
587-95
5 E Ozkan, C Soydal, M Araz et al (2012)
"The role of 18F-FDG PET/CT in detecting colorectal cancer recurrence in patients with elevated CEA levels" Nucl Med Commun 33(4), 395-402
6 Y Y Lu, J H Chen, C R Chien et al
(2013) "Use of FDG-PET or PET/CT to detect recurrent colorectal cancer in patients with elevated CEA: a systematic review and meta-analysis" Int J Colorectal Dis 28(8), 1039-47
7 M Caglar, C Yener, E Karabulut (2015)
"Value of CT, FDG PET-CT and serum tumor markers in staging recurrent colorectal cancer" Int J Comput Assist Radiol Surg 10(7), 993-1002
8 Ahmed Mohamed Hussein, Mohamed Amin Nassef (2016) "Assessment of
postoperative local and distant recurrence in colorectal cancer patients: Comparison between PET/CT and CECT" The Egyptian Journal of Radiology and Nuclear Medicine