1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò của PET-CT trong ung thư đại trực tràng nghi ngờ tái phát

9 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của PET-CT trong ung thư đại trực tràng nghi ngờ tái phát
Tác giả Nguyễn Thành Huy, Võ Khắc Nam, Cung Thị Tuyết Anh, Vũ Hoàng Minh Châu
Người hướng dẫn ThS.BSCKII. Trưởng khoa Y học hạt nhân – Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM, PGS.TS. Bộ môn Ung thư ĐHYD TP. HCM, Bác sĩ Khoa Y học hạt nhân – Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM
Trường học Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM
Chuyên ngành Y học
Thể loại Báo cáo hội thảo
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 584,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Vai trò của PET-CT trong ung thư đại trực tràng nghi ngờ tái phát trình bày khảo sát đặc điểm của PET-CT trong ung thư đại trực tràng nghi ngờ tái phát. Xác định giá trị và độ chính xác của PET-CT trong ung thư đại trực tràng nghi ngờ tái phát.

Trang 1

VAI TRÒ CỦA PET-CT TRONG UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG

NGHI NGỜ TÁI PHÁT

Nguyễn Thành Huy 1 , Võ Khắc Nam 2 , Cung Thị Tuyết Anh 3 , Vũ Hoàng Minh Châu 4

TÓM TẮT 53

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm của PET-CT

trong ung thư đại trực tràng nghi ngờ tái phát

Xác định giá trị và độ chính xác của PET-CT

trong ung thư đại trực tràng nghi ngờ tái phát

Đối tượng nghiên cứu: 30 bệnh nhân với

chẩn đoán ung thư đại trực tràng đã được phẫu

thuật triệt để, nghi ngờ tái phát và được chụp

PET/CT tại Bệnh viện Ung Bướu TP HCM từ

tháng 01 năm 2020 đến tháng 12 năm 2021

Thiết kế nghiên cứu: Hồi cứu mô tả loạt ca

Kết quả: PET-CT ghi nhận 16 trường hợp có

tổn thương nghĩ ác tính tái phát, chiếm tỉ lệ

53,3% 14 trường hợp còn lại có tổn thương nghĩ

lành tính, tổn thương viêm, thay đổi sau điều trị

hoặc tổn thương nhỏ, không hấp thu FDG, không

rõ bản chất Vị trí nghĩ tái phát được ghi nhận

nhiều nhất trên PET-CT là phổi, với 8 trường hợp

(26,7%); kế đến là hạch ổ bụng và gan, lần lượt

là 5 và 4 trường hợp (chiếm tỉ lệ 16,7% và

13,3%) Tổn thương tái phát tại chỗ và di căn

hạch trung thất ít gặp (6,7% và 3,3%) Có 1

trường hợp âm tính giả và 2 trường hợp dương

1

BSNT Bộ môn Ung thư ĐHYD TP HCM

Bệnh viện Ung Bướu TP HCM

3

PGS.TS Bộ môn Ung thư ĐHYD TP HCM

Bướu TP HCM

Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thành Huy

Email: thanhhuy2512ktvn@gmail.com

Ngày nhận bài: 21/9/2022

Ngày phản biện: 30/9/2022

Ngày chấp nhận đăng: 25/10/2022

tính giả Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm và độ chính xác của PET-CT trong chẩn đoán ung thư đại trực tràng nghi ngờ tái phát lần lượt là: 93,3%; 86,7%; 87,5%; 92,9%; 90%, với p < 0,001

Kết luận: PET-CT có độ nhạy, độ đặc hiệu

và độ chính xác cao, có thể phối hợp với các cận lâm sàng khác như nồng độ CEA máu, CTscan, MRI,… để giúp chẩn đoán xác định khi bệnh nhân nghi ngờ bị ung thư đại trực tràng tái phát

SUMMARY

ROLE OF PET–CT IN THE ASSESSMENT OF SUSPECTED RECURRENT COLORECTAL

CARCINOMA

Objectives: To assess the characteristics of

18F-FDG PET/CT in CRC patients who have suspected recurrent disease and to define value and accuracy of 18F-FDG PET/CT in detecting recurrent colorectal carcinoma

Material and method: 30 patients with

suspected CRCR in HCMC Oncology Hospital who underwent PET-CT from January 2020 to December 2021 were evalutated Pathological results, clinical follow-up and additional imaging were reviewed for gold standard

Result: PET-CT showed 16 cases of

recurrent malignant lesions, accounting for 53.3% The remaining 14 cases were benign, inflammatory lesions, post-treatment changes, small lesions without FDG uptake, of unknown nature The most common site of recurrence on PET-CT was the lung, with 8 cases (26.7%); followed by abdominal lymph nodes and liver,

Trang 2

respectively 5 and 4 cases (accounting for 16.7%

and 13.3%) Locally recurrent lesions and

metastases to mediastinal lymph nodes were

uncommon (6.7% and 3.3%) There are 1 false

negative and 2 false positive cases Sensitivity,

specificity, positive predictive value, negative

predictive value and accuracy of PET-CT in

CRCR were, respectively, 93.3%; 86.7%; 87.5%;

92.9%; 90%, p < 0.001

Conclusion: PET-CT has high sensitivity,

specificity and accuracy, can be combined with

other laboratory tests such as blood CEA levels,

CTscan, MRI, etc, to help confirm the diagnosis

when the patient is suspected to have colorectal

cancer recurrence

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Globocan 2020, ung thư đại trực

tràng đứng thứ ba về số mới mắc và đứng thứ

2 về tỉ lệ tử vong trên thế giới Tại Việt Nam,

ung thư đại trực tràng đứng thứ năm về số

mới mắc cũng như tỉ lệ tử vong1 Mặc dù có

nhiều tiến bộ trong điều trị, tỉ lệ tái phát sau

phẫu thuật trong UT ĐTT còn cao, 35%

trường hợp sẽ tái phát trong vòng 8 năm đầu

sau phẫu thuật, chủ yếu là trong 2 năm

đầu[2,3]

Việc phát hiện sớm tái phát có thể góp

phần cải thiện sống còn cũng như chất lượng

sống của bệnh nhân Thăm khám lâm sàng,

xét nghiệm nồng độ CEA trong máu và các

phương tiện hình ảnh học có giá trị thay đổi

trong phát hiện tái phát và đánh giá mức độ

lan tràn của bệnh Nồng độ CEA trong máu

có thể giúp phát hiện tái phát với độ nhưng

không khu trú được vị trí tổn thương Chụp

cắt lớp vi tính (Computed Tomography - CT)

là phương tiện thường dùng để đánh giá tái

phát nhưng có vai trò hạn chế trong phát hiện

những tổn thương nhỏ Chụp cộng hưởng từ

(Magnetic Resonance Imaging - MRI) có thể

nhạy hơn CT trong đánh giá mô mềm hoặc gan, tuy nhiên cả MRI và CT đều khó phân biệt tổn thương tái phát tại chỗ sau phẫu thuật hoặc xạ trị do hiện tượng xơ hóa và thay đổi cấu trúc giải phẫu Chính vì vậy, 18F-FDG PET-CT, một phương tiện cận lâm sàng hình ảnh học chức năng có khả năng ghi hình toàn thân dựa vào sự tăng hấp thu và ly giải glucose của khối bướu để phát hiện bệnh, gần đây đã được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán ung thư đại trực tràng nghi ngờ tái phát

Mục tiêu nghiên cứu:

- Khảo sát đặc điểm của PET-CT trong ung thư đại trực tràng nghi ngờ tái phát

- Xác định giá trị và độ chính xác của PET-CT trong ung thư đại trực tràng nghi ngờ tái phát

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu: 30 bệnh

nhân với chẩn đoán ung thư đại trực tràng đã được phẫu thuật triệt để, giải phẫu bệnh là carcinôm, giai đoạn 0 – III, nghi ngờ tái phát (tăng CEA máu và/ hoặc hình ảnh học ghi nhận tổn thương nghi ngờ tái phát), và được chụp PET/CT tại Bệnh viện Ung Bướu TP HCM từ tháng 01 năm 2020 đến tháng 12 năm 2021

2.2 Phương pháp nghiên cứu: Cắt

ngang mô tả

- Quy trình chụp PET/CT tại Bệnh viện Ung Bướu TP HCM: Tất cả bệnh nhận được chụp PET-CT (thuộc dòng Discovery MI DR của hãng GE) với thuốc phóng xạ 18F-FDG liều tiêm 0,1mCi/kg cân nặng (tương đương 3,7MBq/kg)

Chuẩn bị bệnh nhân:

+ Nhịn ăn 4 - 6 giờ

Trang 3

+ Được thăm khám lâm sàng, hỏi tiền sử

bệnh, đo nhiệt độ, huyết áp, chiều cao, cân

nặng, đường huyết mao mạch

+ Sau tiêm người bệnh vào phòng cách ly

nằm nghỉ, hạn chế nói chuyện và vận động

trước khi chụp PET-CT, uống nhiều nước

(tối thiểu 0,5 lít)

Tiến hành chụp PET-CT sau tiêm thuốc

45 - 60 phút (người bệnh đi tiểu hết trước khi

lên máy chụp hình)

- Tiêu chuẩn chẩn đoán: Tất cả bệnh

nhân được chẩn đoán xác định có tái phát

hay không tái phát dựa vào kết quả giải phẫu

bệnh (sinh thiết hoặc phẫu thuật) Trong

trường hợp không có giải phẫu bệnh sẽ dựa

vào lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân

trong vòng 6 tháng sau chụp PET-CT Bệnh

nhân được chẩn đoán xác định là tái phát khi

giải phẫu bệnh tổn thương là ác tính tái phát;

hoặc nếu không có giải phẫu bệnh thì sau khi

có kết quả PET-CT kết hợp với thăm khám

lâm sàng, CEA và các xét nghiệm hình ảnh

học, bệnh nhân được chẩn đoán và chỉ định điều trị theo phác đồ tái phát

- Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để tính độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương (PPV), giá trị tiên đoán âm (NPV) và độ chính xác của PET-CT Dùng kiểm định 2 để so sánh các giá trị của

PET-CT, CT và CEA, có ý nghĩa khi p < 0,05

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm dân số nghiên cứu được thể hiện qua Bảng 1 Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân được khảo sát là 56,4 ± 11,7, trong đó có 14 bệnh nhân nam và 16 bệnh nhân nữ 18 trường hợp bướu nguyên phát ở đại tràng, 12 trường hợp còn lại ở trực tràng

Đa số bệnh nhân ở giai đoạn II, III với giải phẫu bệnh chủ yếu là carcinôm tuyến, grad 2

Có 2 bệnh nhân ở giai đoạn I và 2 bệnh nhân

ở giai đoạn 0 (gồm 1 trường hợp pTisN0M0

và 1 trường hợp ypT0N0M0)

Bảng 1 Đặc điểm dân số nghiên cứu

Tuổi trung bình (khoảng)

Nam

Nữ

56,4 ± 11,7 (25 – 75) 59,5 ± 9,0 (49 – 75) 53,7 ± 13,3 (25 – 74)

Giới

Nam

Nữ

14

16

46,7 53,3

Vị trí bướu nguyên phát

Đại tràng Trực tràng

18

12

60

40

Giai đoạn bệnh

0

I

II III

2

2

13

13

6,7 6,7 43,3 43,3

(y)pT

Trang 4

Is

1

2

3

4

1

1

3

11

13

3,3 3,3

10 36,7 43,4

(y)pN

0

1

2

17

11

2

56,6 36,7 6,7

(y)pM

0

1

30

0

100

0

Loại mô học

Carcinôm tuyến

Carcinôm tuyến tiết nhầy

Carcinôm dạng tế bào nhẫn

25

4

1

83,4 13,3 3,3

Grad mô học

1

2

3

3

24

3

10

80

10

Có 15 bệnh nhân được chẩn đoán xác

định cuối cùng là có tái phát; 15 bệnh nhân

còn lại được chẩn đoán xác định là không tái

phát Các trường hợp bệnh nhân không tái

phát được xuất viện theo dõi và được thăm

khám lâm sàng kèm các cận lâm sàng phù

hợp tùy trường hợp cụ thể Có 6 bệnh nhân

bị tái phát từ 2 vị trí trở lên, chiếm 40% Vị

trí tái phát thường gặp nhất là phổi (7 trường

hợp, chiếm 23,3%), hạch ổ bụng (5 trường hợp, chiếm 16,7%) và gan (4 trường hợp, chiếm 13,3%) Ngoài ra có 3 trường hợp tái phát gieo rắc phúc mạc/mạc treo, 2 trường hợp tái phát tại chỗ, 2 trường hợp tái phát tại hạch trung thất và 1 trường hợp tái phát tại phần mềm Giải phẫu bệnh có kết quả ở 5 bệnh nhân, trong đó có 2 trường hợp là lành tính và 3 trường hợp ác tính

Bảng 2 Đặc điểm tổn thương nghĩ tái phát trên PET-CT

Kích thước trung bình (mm)

SUL trung bình

SUV trung

Phúc mạc/

Hạch trung

Trang 5

Các trường hợp ghi nhận có tổn thương

nghĩ tái phát trong ổ bụng đều có mức độ

tăng hoạt động chuyển hóa mạnh hơn so với

các tổn thương ngoài ổ bụng như phổi, hạch

trung thất hay phần mềm Giá trị SUV trung

bình của tổn thương nghĩ tái phát tại chỗ,

phúc mạc/ mạc treo, gan, hạch ổ bụng, phần

mềm, hạch trung thất và phổi lần lượt là 14,7; 12,72; 9,0; 7,52; 8,32; 6,58; 4,60 Giá trị hấp thu FDG chuẩn theo khối lượng nạc

cơ thể (SUL) đều thấp hơn so với giá trị hấp thu FDG chuẩn theo khối lượng cơ thể (SUV)

Bảng 3 Kết quả PET-CT theo chẩn đoán xác định

n (%)

Không tái phát

n (%)

Tổng

n (%)

Trong số 15 trường hợp được chẩn đoán

xác định tái phát, PET-CT ghi nhận tái phát

trong 14 trường hợp, chiếm 93,3% Có 1

trường hợp được chẩn đoán xác định có tái

phát nhưng kết quả PET-CT là âm tính (âm

tính giả) Trong số 15 trường hợp được chẩn

đoán xác định không tái phát, kết quả

PET-CT âm tính trong 13 trường hợp, chiếm

86,7% Có 2 trường hợp được chẩn đoán xác

định không tái phát nhưng kết quả PET-CT

là dương tính (dương tính giả) Như vậy, trong tổng số 30 trường hợp được chụp

PET-CT, 27 trường hợp có kết quả PET-CT phù hợp với chẩn đoán, gồm 14 trường hợp dương tính thật và 13 trường hợp âm tính thật PET-CT có độ nhạy 93,3%, độ đặc hiệu 86,7%, giá trị tiên đoán dương 87,5%, giá trị tiên đoán âm 92,9% và độ chính xác 90%, với p < 0,001

Biểu đồ 1 Giá trị của PET-CT đơn thuần và kết hợp với nồng độ CEA máu

Trang 6

Khi PET-CT có tổn thương nghĩ tái phát

kèm tăng nồng độ CEA máu (> 5ng/ml hay >

10ng/ml) thì độ đặc hiệu và giá trị tiên đoán

dương ung thư đại trực tràng tái phát lên đến

100%, cao hơn so với dùng PET-CT đơn

thuần, mặc dù không có ý nghĩa thống kê với

p = 0,464 Tuy nhiên độ nhạy và giá trị tiên

đoán âm trong chẩn đoán ung thư đại trực

tràng tái phát khi phối hợp PET-CT và tăng

CEA máu thấp hơn so với dùng PET-CT đơn

lẻ Sự khác biệt độ nhạy khi phối hợp

PET-CT và CEA > 5ng/ml so với PET-PET-CT là

không có ý nghĩa thống kê, với p = 0,171

Tuy nhiên độ nhạy khi PET-CT phối hợp

PET-CT và CEA > 10ng/ml thấp hơn đáng

kể, có ý nghĩa thống kê so với PET-CT đơn

thuần, với p = 0,039 Độ chính xác của việc

kết hợp với CEA > 5ng/ml và CEA >

10ng/ml cũng thấp hơn so với chỉ dùng

PET-CT lần lượt là 83,3%, 76,7% và 90%, nhưng

không có ý nghĩa thống kê với chỉ số p lần

lượt là 0,704 và 0,299 (Biểu đồ 1)

Khi so với CT, PET-CT và CT không

khác biệt đáng kể về độ nhạy trong chẩn

đoán ung thư đại trực tràng tái phát, lần lượt

là 93,3% và 84,6%, p = 0,896 Tuy nhiên độ

đặc hiệu và độ chính xác của PET-CT cao

hơn hẳn CT, 86,7% so với 21,4% đối với độ

đặc hiệu và 90% so với 51,9% đối với độ

chính xác Sự khác biệt về độ đặc hiệu và độ

chính xác giữa PET-CT và CT là có ý nghĩa

thống kê với p lần lượt là 0,002 và 0,004

Mức độ đồng thuận giữa kết quả CT và

PET-CT là yếu, với chỉ số Kappa = 0,124 (p =

0,438) Trong các trường hợp ung thư đại

trực tràng nghi ngờ tái phát được khảo sát,

PET-CT giúp giảm 9 trường hợp dương tính

giả và 2 trường hợp âm tính giả ghi nhận trên

CT

IV BÀN LUẬN

Phát hiện sớm tái phát trong ung thư đại trực tràng có vai trò quan trọng, giúp cho bệnh nhân được điều trị sớm, thậm chí có thể phẫu thuật triệt để và góp phần cải thiện sống còn Tuy nhiên, không phải trường hợp nghi ngờ tái phát nào cũng được chẩn đoán một cách dễ dàng mà đa số đều bị ảnh hưởng bởi các phương thức điều trị trước đây, loại phương tiện được sử dụng để theo dõi và chẩn đoán tái phát, Do đó, trong các trường hợp khó chẩn đoán bản chất tổn thương trên

CT hay MRI hoặc không phát hiện được tổn thương, PET-CT với khả năng khảo sát hình thái lẫn chức năng thông qua mức độ hấp thu FDG có vai trò quan trọng trong việc xác định và gợi ý bản chất của tổn thương nghi ngờ

Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh vai trò của PET-CT trong ung thư đại trực tràng nghi ngờ tái phát Nghiên cứu của tác giả Kim và cộng sự4 cho thấy PET-CT có giá trị cao trong đánh giá ung thư đại trực tràng tái phát với độ nhạy 88%, độ đặc hiệu 98%, giá trị tiên đoán dương 94%, giá trị tiên đoán âm 96% và độ chính xác 96% Giá trị của

PET-CT trong ung thư đại trực tràng tái phát cũng được thể hiện thông qua nghiên cứu của chúng tôi, với độ nhạy 93,3%, độ đặc hiệu 86,7%, giá trị tiên đoán dương 87,5%, giá trị tiên đoán âm 92,9% và độ chính xác 90%, với p < 0,001 Âm tính giả được ghi nhận trong 1 trường hợp (Hình 1) và dương tính giả được ghi nhận trong 2 trường hợp (Hình

2 và Hình 3)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, phối hợp PET-CT và nồng độ CEA máu tăng giúp tăng khả năng tiên đoán dương có tái phát so với chụp PET-CT đơn thuần và độ đặc hiệu cũng được cải thiện, đều đạt 100%, mặc dù không có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, độ

Trang 7

nhạy, giá trị tiên đoán âm của PET-CT khi

kết hợp với nồng độ CEA thấp hơn so với

khi dùng PET-CT đơn thuần Kết quả nghiên

cứu của chúng tôi có phần khác (độ nhạy của

PET-CT ở những bệnh nhân tăng CEA máu

thấp hơn và độ đặc hiệu cao hơn) so với

nghiên cứu của tác giả Ozkan[5] và Lu[6]

Sự khác biệt này là do ngưỡng cắt CEA càng

cao thì sẽ làm giảm độ nhạy của xét nghiệm

nhưng làm tăng độ đặc hiệu Kết quả này

cũng gợi ý PET-CT đơn thuần có thể giúp

phát hiện chính xác tái phát ở cả những bệnh

nhân tái phát có nồng độ CEA máu bình

thường

Trong đánh giá ung thư đại trực tràng tái

phát, PET-CT cũng có độ đặc hiệu và độ

chính xác cao hơn so với CT, lần lượt là

86,7% so với 21,4% và 90% so với 51,9%

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng

tương đồng với các kết quả của tác giả

khác[7,8] Có 2 trường hợp âm tính giả trên

CT được phát hiện tái phát thông qua

PET-CT và cả 2 trường hợp vị trí tái phát đều ở

hạch ổ bụng Điều này là do việc xác định

bản chất hạch trên các phương tiện hình ảnh học hình thái như CT và MRI dựa vào đo lường kích thước hạch, hình dạng, cũng như dựa vào kích thước trục ngắn nên độ nhạy khá thấp Còn PET-CT kết hợp phân tích cả cấu trúc lẫn chức năng dựa trên mức độ tăng chuyển hóa glucose của tế bào ung thư bất kể kích thước nên có thể phát hiện các tổn thương hạch kích thước nhỏ khó phát hiện trên CT Trong nghiên cứu của chúng tôi cũng có 9 trường hợp bệnh nhân nghi ngờ tái phát trên CT nhưng được khẳng định không tái phát trên PET-CT (gồm 2 trường hợp nghi ngờ tại phổi, 1 trường hợp tại phổi kèm xương, 1 trường hợp tại tuyến thượng thận, 1 trường hợp tại mạc treo, 2 tại gan, 1 trường hợp tại hạch trung thất và 2 trường hợp tại hạch ổ bụng) Tất cả các trường hợp này đều nhờ khả năng đánh giá về mặt chức năng của tổn thương dựa trên PET-CT, khi 8 trường hợp tổn thương không có sự tăng hoạt động chuyển hóa và 1 trường hợp chỉ có tăng hoạt động chuyển hóa nhẹ nghĩ viêm

Hình 1 BN N.T.L, nữ, 1951

Trang 8

MRI ghi nhận nốt tổn thương vách chậu

trái, 20 x 18mm, không thay đổi kt so với

MRI 6 tháng trước, nghĩ hạch di căn

PET-CT lần 1 (2 hình trên) ghi nhận hạch chậu

(T) 18 x 23mm không tăng hoạt động chuyển

hóa BN được hội chẩn khoa và chẩn đoán

không tái phát, theo dõi Sau 1 năm, PET-CT lần 2 ghi nhận hạch chậu (T) không thay đổi kích thước nhưng tăng hấp thu FDG, SULmax = 2,45 BN được chẩn đoán tái phát

và điều trị toàn thân

Hình 2 BN H.T.T.H, nữ, 1987

Theo dõi nốt phổi tái phát trên CT ngực, PET-CT ghi nhận nốt mờ thùy dưới phổi (T) hạ phân thùy S6, 10mm, tăng hấp thu FDG, SULmax = 2.94 nghĩ ác tính BN được PTNS cắt phân thùy 6 + nạo hạch sau chụp PET-CT 2 tuần Giải phẫu bệnh sau mổ là mô viêm hạt hoại

tử, có thể do lao, hạch viêm 1/1 hạch

Hình 3 BN L.T.M.T, nữ, 1966

Theo dõi tái phát phúc mạc vùng hông

(T) PET-CT ghi nhận nốt phúc mạc thành

bụng vùng hông (T) #19 x 25mm, tăng hấp

thu FDG mạnh, SULmax = 9.62 nghĩ tái

phát BN được mở bụng thăm dò, cắt sang thương sau đó 1 tuần Giải phẫu bệnh sau mổ

là mô xơ viêm kinh niên BN được xuất viện theo dõi, không tái phát

Trang 9

V KẾT LUẬN

PET-CT có vai trò nhất định trong đánh

giá bệnh nhân ung thư đại trực tràng nghi

ngờ tái phát nhờ khả năng đánh giá hình thái

cấu trúc lẫn chức năng của tổn thương, phát

hiện ra những tổn thương không thấy được

hoặc không rõ ràng thông qua các phương

tiện hình ảnh học thông thường khác như CT,

MRI,… Nghiên cứu của chúng tôi đã khẳng

định điều này PET-CT là phương tiện tốt

hơn để đánh giá bệnh nhân ung thư đại trực

tràng nghi ngờ tái phát so với CT, đặc biệt là

độ đặc hiệu Đồng thời, PET-CT cũng có giá

trị cao trong chẩn đoán ung thư đại trực tràng

tái phát, bất kể nồng độ CEA máu Do đó,

18F-FDG PET-CT cung cấp những thông tin

hữu ích, ảnh hưởng đến chẩn đoán và quyết

định điều trị của phần lớn bệnh nhân, giúp

phát hiện những trường hợp tái phát sớm để

can thiệp kịp thời, đồng thời cũng hạn chế

những can thiệp quá mức cần thiết

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 H Sung, J Ferlay, R L Siegel et al

(2021) "Global cancer statistics 2020:

GLOBOCAN estimates of incidence and

mortality worldwide for 36 cancers in 185

countries" CA Cancer J Clin

2 D Sargent, A Sobrero, A Grothey et al

(2009) "Evidence for cure by adjuvant

therapy in colon cancer: observations based

on individual patient data from 20,898

patients on 18 randomized trials" J Clin

Oncol 27(6), 872-7

3 S Y Guraya (2019) "Pattern, Stage, and

Time of Recurrent Colorectal Cancer After Curative Surgery" Clin Colorectal Cancer 18(2), e223-e228

4 J H Kim, J Czernin, M S Allen-Auerbach et al (2005) "Comparison

between 18F-FDG PET, in-line PET/CT, and software fusion for restaging of recurrent colorectal cancer" J Nucl Med 46(4),

587-95

5 E Ozkan, C Soydal, M Araz et al (2012)

"The role of 18F-FDG PET/CT in detecting colorectal cancer recurrence in patients with elevated CEA levels" Nucl Med Commun 33(4), 395-402

6 Y Y Lu, J H Chen, C R Chien et al

(2013) "Use of FDG-PET or PET/CT to detect recurrent colorectal cancer in patients with elevated CEA: a systematic review and meta-analysis" Int J Colorectal Dis 28(8), 1039-47

7 M Caglar, C Yener, E Karabulut (2015)

"Value of CT, FDG PET-CT and serum tumor markers in staging recurrent colorectal cancer" Int J Comput Assist Radiol Surg 10(7), 993-1002

8 Ahmed Mohamed Hussein, Mohamed Amin Nassef (2016) "Assessment of

postoperative local and distant recurrence in colorectal cancer patients: Comparison between PET/CT and CECT" The Egyptian Journal of Radiology and Nuclear Medicine

Ngày đăng: 02/01/2023, 18:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w