1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiệu quả ban đầu của phác đồ hóa trị CAPEOX kết hợp Bevacizumab trong điều trị bước 1 ung thư đại trực tràng di căn

6 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Hiệu Quả Ban Đầu Của Phác Đồ Hóa Trị CAPEOX Kết Hợp Bevacizumab Trong Điều Trị Bước 1 Ung Thư Đại Trực Tràng Di Căn
Tác giả Nguyễn Thị Lan Hương, Đoàn Anh Tuấn, Lê Thị Huyền Trang
Trường học Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng
Chuyên ngành Y học
Thể loại Nghiên cứu y học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 395,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Đánh giá hiệu quả ban đầu của phác đồ hóa trị CAPEOX kết hợp Bevacizumab trong điều trị bước 1 ung thư đại trực tràng di căn trình bày xác định kết quả đáp ứng và tác dụng không mong muốn của phác đồ hóa trị CAPEOX kết hợp Bevacizumab trong điều trị bước 1 ung thư đại trực tràng di căn không phẫu thuật được.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ BAN ĐẦU CỦA PHÁC ĐỒ HÓA TRỊ CAPEOX

KẾT HỢP BEVACIZUMAB TRONG ĐIỀU TRỊ BƯỚC 1

UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG DI CĂN Nguyễn Thị Lan Hương 1 , Đoàn Anh Tuấn 1 , Lê Thị Huyền Trang 1

TÓM TẮT 24

Ung thư đại trực tràng là nhóm bệnh phổ

biến, xếp thứ 5 về tỉ lệ mắc mới ở cả 2 giới Có

khoảng 25% bệnh nhân phát hiện bệnh ở giai

đoạn tiến xa, và 80% trong tổng số bệnh nhân sẽ

tiến triển đến giai đoạn di căn không thể phẫu

thuật được Tại Việt Nam, phác đồ hóa trị

CAPEOX kết hợp Bevacizumab đã được đưa vào

điều trị từ những năm 2010, tuy nhiên hiện tại có

rất ít báo cáo về hiệu quả điều trị cũng như tính

an toàn của phác đồ điều trị này

Mục tiêu: Xác định kết quả đáp ứng và tác

dụng không mong muốn của phác đồ hóa trị

CAPEOX kết hợp Bevacizumab trong điều trị

bước 1 ung thư đại trực tràng di căn không phẫu

thuật được

Đối tượng – phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu hồi cứu trên 49 bệnh nhân ung thư

đại trực tràng giai đoạn di căn không phẫu thuật

được, điều trị bước 1 với phác đồ CAPEOX kết

hợp Bevacizumab tại Bệnh viện Ung Bướu Đà

Nẵng từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2021

Kết quả: Giới nam chiếm 61,2% (30), nữ

38,8% (19) Tình trạng hoạt động PS 0 chiếm

38,8% (19), PS 1 chiếm 49,0% (24), PS 2 chiếm

12,2% (6) Kết quả sau 4 chu kì (theo tiêu chuẩn

RECIST 1.1): đáp ứng hoàn toàn 2,1% (1) , đáp

1

Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng

Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Lan Hương

Email: lanhuongyc87@gmail.com

Ngày nhận bài: 23/9/2022

Ngày phản biện: 30/9/2022

ứng một phần 61,2% (30), bệnh ổn định 12,2% (6), bệnh tiến triển 24,5% (12) Kết quả sau 8 chu kì: đáp ứng hoàn toàn 12,2% (6), đáp ứng một phần 24,5% (12), bệnh ổn định 16,3% (8), bệnh tiến triển 22,5% (11) Tổng số chu kì hóa chất là

344 Tác dụng không mong muốn chủ yếu nhẹ nhàng ở độ 1 - 2, tỉ lệ chu kì phải trì hoãn do gặp tác dụng phụ nặng (độ 3 - 4) là 10,2% (35)

Kết luận: Phác đồ CAPEOX kết hợp

Bevacizumab điều trị bước 1 ung thư đại trực tràng di căn cho tỉ lệ đáp ứng toàn bộ sau 4 chu

kì là 63,3% và sau 8 chu kì là 36,7%, tính an toàn cao với tỉ lệ tác dụng phụ giới hạn liều là 10,2%

Từ khóa: Bevacizumab và CAPEOX; Ung

thư đại trực tràng di căn

SUMMARY EARLY RESPONSE OF FIRST-LINE CAPEOX PLUS BEVACIZUMAB FOR INOPERABLE METASTATIC COLORECTAL CANCER

Colorectal cancer is one of the most 5 common cancers in both 2 sexual 80% patient will experience inoperable advanced stage In Vietnam, bevacizumab in combination with CAPEOX regimen has been indicated for metastatic colorectal cancer since 2010s, though

we still lake adequate research on the efficacy and toxicity of the regimen

Objectives: Determine response rate and

adverse events of first line CAPEOX - Bevacizumab for inoperable metastatic colorectal cancer

Trang 2

Method: A retrospective study in 49

inoperable metastatic colorectal patients who was

indicated first-line CAPEOX plus Bevacizumab

at Da Nang Oncology Hospital from Jan 2019 to

Dec 2021

Results: There were 61,2% males, 38,8%

females Perfomance status (PS) level 0 is 38,8%,

level 1 is 49,0%, level 2 is 12,2% Respone rate

(RECIST 1.1) after 3 cycles (n = 49): Complete

respone 2,1%, partial respone 61,2%, stable

disease 12,2%, progession 24,5% Respone rate

(RECIST 1.1) after 8 cycles: Complete respone

12,2%, partial respone 24,5%, stable disease

16,3%, progession 22,5% Total cycle is 344, the

rate of cycles having to be delayed was 10,2%

Conclusions: The regimen of CAPEOX +

Bevacizumab for the first-line treatment of

inoperable colorectal cancer gave the disease

control rate after 4 cycles of 63,3% and after 8

cycles of 36,7%, with relatively high safety The

rate of dose-limiting side effects was 10,2%

Keywords: CAPEOX plus Bevacizumab,

inoperable colorectal cancer

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư đại trực tràng là một trong số

những ung thư thường gặp nhất ở Việt Nam

và cả thế giới Theo số liệu của Globocan

2020[4], ung thư đại trực tràng đứng thứ 5 về

số ca mắc mới ở cả 2 giới Có khoảng 25%

bệnh nhân ung thư đại trực tràng có di căn xa

ở thời điểm chẩn đoán ban đầu và 50% bệnh

nhân sẽ tái phát di căn sau đó Ở bệnh nhân

ung thư đại trực tràng di căn, hóa trị toàn

thân vẫn là phương pháp điều trị chủ yếu, với

mục đích kéo dài thời gian sống, nâng cao

chất lượng cuộc sống và giảm nhẹ triệu

chứng Phương pháp điều trị bằng hóa chất

xuất hiện từ những năm 1990 với đầu tiên là

5-FU giúp kéo dài thời gian sống được 12,6

tháng, sau đó ra đời những hóa chất khác như

Oxaliplatin, Irinotecan đã giúp kéo dài trung

vị thời gian sống lên 18 - 20 tháng

Bevacizumab (anti VEGF - vascular endothelial growth factor) – thuốc kháng tăng trưởng yếu tố nội mô mô mạch máu được chỉ định ngày càng nhiều vì thuốc gây được 1 sự đáp ứng nhất định, không phụ thuộc vào vị trí khối bướu cũng như kết quả đột biến gen và độc tính không quá nghiêm trọng Tại Việt Nam, phác đồ hóa trị CAPEOX kết hợp Bevacizumab đã được đưa vào điều trị từ những năm 2010, tuy nhiên hiện tại có rất ít báo cáo về hiệu quả điều trị cũng như tính an toàn của phác đồ điều trị này

Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá hiệu quả ban đầu của phác đồ Bevacizumab kết hợp CapeOx bước 1 ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng di căn” với các mục tiêu sau:

1 Đánh giá đáp ứng sau 4 và 8 chu kì của phác đồ Bevacizumab kết hợp CAPEOX bước 1 ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng giai đoạn tiến xa không phẫu thuật được

2 Đánh giá tác dụng không mong muốn

và độc tính của phác đồ này

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu: 49 bệnh

nhân ung thư đại trực tràng giai đoạn di căn không phẫu thuật được, điều trị bước 1 với phác đồ CAPEOX kết hợp Bevacizumab tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2021

Tiêu chuẩn chọn bệnh

- Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư đại trực tràng giai đoạn IV không có khả năng phẫu thuật triệt căn được, có mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến

Trang 3

- Đã được hóa trị bước 1 Oxaliplatin -

Bevacizumab đủ 8 chu kì hoặc đổi phác đồ

chỉ với lý do bệnh tiến triển

- Có đầy đủ các thông tin hình chính,

khám xét lâm sàng, tiền sử và cận lâm sàng,

kết quả CEA, CT, MRI

Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân không được đánh giá bằng

CEA, CT, MRI sau 4 và 8 chu kỳ

- Bệnh nhân bỏ dở điều trị hoặc mất dấu

2.2 Phương pháp nghiên cứu:

- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu

- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện

- Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu đặc điểm chung của đối tượng với các biến số: tuổi, giới, tình trạng hoạt động, vị trí u nguyên phát, tiền sử liên quan đến tác dụng phụ của hóa trị Đánh giá đáp ứng theo tiêu chuẩn RECIST 1.1 và phân độ tác dụng phụ theo thang CTCAE v5.0

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 1 Đặc điểm chung các đối tượng nghiên cứu

Số lượng (n = 49) Tỉ lệ Tuổi: Trung bình 57 (31;76)

Giới tính

Tình trạng hoạt động (PS)

Vị trí u nguyên phát

Tiền sử

Nhận xét: Tuổi trung bình là 57, trẻ nhất là 31 tuổi, lớn nhất là 76 tuổi, nhóm tuổi chiếm

nhiều nhất trong nghiên cứu là từ 50 - 70 Giới nam nhiều hơn giới nữ (nam chiếm 61,2%) Tình trạng hoạt động đa số tốt, PS 0-1 chiếm 87,8% U nghiên phát đa số ở đại tràng trái và trực tràng chiếm 83,7% Số bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp nhiều nhất với 7 bệnh nhân, chiếm 14,3%

Trang 4

Bảng 2 Đáp ứng sau 4 và 8 chu kì (RECIST 1.1)

Đáp ứng

Sau 4 chu kì Sau 8 chu kì

Số lượng (n = 49) Tỉ lệ (%)

Số lượng (n = 37) Tỉ lệ (%)

Nhận xét: Tỉ lệ đáp ứng toàn bộ sau 4 chu kì là 63,3% và sau 8 chu kì là 36,7% Tỉ lệ

kiểm soát bệnh sau 4 và 8 chu kì lần lượt là 76,5% và 53,3%

Bảng 3 Tác dụng không mong muốn

Độc tính

Tính trên chu kì Tính trên bệnh nhân

Số lượng (n = 344) Tỉ lệ (%)

Số lượng (n = 49) Tỉ lệ (%) Tác dụng không mong muốn

Hội chứng bàn tay chân độ 1 - 2 22 6,4 9 18,4

Giảm bạch cầu

Giảm tiểu cầu

Thiếu máu

Tăng men gan

Nhận xét: Tác dụng phụ chủ yếu nhẹ ở độ 1 - 2 Trong đó, có 35 chu kì, chiếm 10,2% gặp

tác dụng phụ nặng (độ 3 - 4)

Trang 5

Bảng 4 Tác dụng không mong muốn liên quan đến Bevacizumab

Tăng huyết áp

Chảy máu

IV BÀN LUẬN

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng

nghiên cứu

Tuổi trung bình là 57, trẻ nhất là 31 tuổi,

lớn nhất là 76 tuổi, nhóm tuổi chiếm đa số

trong nghiên cứu là từ 50 - 70 Đây cũng là

độ tuổi thường gặp nhất của ung thư đại trực

tràng Độ tuổi bệnh nhân trong nghiên cứu

của chúng tôi gần tương đương tuổi trung

bình trong nghiên cứu của Đỗ Huyền Nga[3]

là 55,96 Giới nam nhiều hơn giới nữ, chiếm

61,3%, cũng tương đồng với các nghiên cứu

về ung thư đại trực tràng di căn khác, như

của tác giả Nguyễn Hồng Hà[6] tỉ lệ giới

nam là 63,3% Tình trạng hoạt động đa số

tốt, PS 0-1 chiếm 87,8% Tỉ lệ này cao hơn

so với nghiên cứu của Đỗ Huyền Nga[3], có

thể lý giải là nghiên cứu của chúng tôi chỉ

đánh giá bệnh nhân điều trị bước 1, tức là

mới phát hiện bệnh hoặc bệnh mới tiến triển

di căn U nguyên phát đa số ở đại tràng trái

và trực tràng chiếm 83,7% Số bệnh nhân có

tiền sử tăng huyết áp nhiều nhất với 7 bệnh

nhân, chiếm 14,3% Khai thác tiền sử bệnh

có tăng huyết áp hay viêm gan mạn giúp

đánh giá tác độc tính trên bệnh nhân có do

hóa trị hay có từ trước

4.2 Tỉ lệ đáp ứng theo RECIST 1.1

Trong nghiên cứu của chúng tôi, đánh giá đáp ứng chúng tôi chủ yếu dựa vào hình ảnh học và tiêu chuẩn được áp dụng là RECIST 1.1 Sau 4 chu kì, đáp ứng hoàn toàn 2,1% (1), đáp ứng một phần 61,2% (30), bệnh ổn định 12,2% (6), bệnh tiến triển 24,5% (12) Kết quả sau 8 chu kì: đáp ứng hoàn toàn 12,2% (6), đáp ứng một phần 24,5% (12), bệnh ổn định 16,3% (8), bệnh tiến triển 22,5% (11) Như vậy sau khi kết thúc điều trị, tỉ lệ đáp ứng toàn bộ là 36,7%, tỉ lệ kiểm soát bệnh là 53,0% Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Antonnuzo L (77,1%)[1]

và nghiên cứu TREE-2 (46%)[5]

4.3 Tác dụng phụ và độc tính của phác

đồ

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 87,5% bệnh nhân gặp ít nhất 1 tác dụng không mong muốn, chủ yếu là độ 1 - 2 có thể kiểm soát được, chỉ có 10,2% gặp tác dụng phụ độ 3 - 4 và phải tạm hoãn hóa trị Tác dụng phụ hay gặp nhất là độc tính thần kinh

và hội chứng bàn tay bàn chân Có 3 bệnh nhân gặp hội chứng bàn tay chân độ 3 - 4, trong đó có 1 bệnh nhân bị 2 lần, có chỉ định giảm liều Capecitabin

Ngoài ra, độc tính trên gan cũng gặp với

tỉ lệ 6,4%, độc tính hệ tạo huyết bao gồm giảm bạch cầu hạt, giảm tiểu cầu và giảm

Trang 6

hồng cầu cũng gặp với tỉ lệ tương ứng là

9,6%, 7,9% và 5,6% Giảm bạch cầu độ 3 - 4

là nguyên nhân chủ yếu của trì hoãn hóa trị ở

2,6% số chu kì, gần tương đương nghiên cứu

của Bùi Văn Quyền[2] là 3,4%

Độc tính liên quan đến Bevacizumab chủ

yếu gặp là tăng huyết áp Có 22,4% bệnh

nhân có tăng huyết áp, nhưng tỉ lệ tăng liên

quan đến điều trị (không có tiền sử) chỉ là

8,2% Tác dụng phụ gây chảy máu cũng gặp

ở 8,2% bệnh nhân Không ghi nhận trường

hợp bị thủng tạng hay huyết khối Trong

nghiên cứu của chúng tôi không nghiên cứu

biến số tác dụng phụ là protein niệu do xét

nghiệm này chưa được đưa vào protocol

thường quy của điều trị, chỉ làm khi có triệu

chứng gợi ý

V KẾT LUẬN

Phác đồ CAPEOX kết hợp Bevacizumab

điều trị bước 1 ung thư đại trực tràng di căn

cho tỉ lệ đáp ứng tương đối cao với toàn bộ

sau 4 chu kì là 63,3% và sau 8 chu kì là

36,7%, tỉ lệ kiểm soát bệnh sau 4 chu kì là

77,5% và sau 8 chu kì là 53,0%

Độc tính của phác đồ là thấp với tổng tỉ

lệ tác dụng phụ giới hạn liều là 10,2%, trong

đó tác dụng phụ phổ biến là nôn, độc tính

thần kinh và hội chứng bàn tay chân, vì vậy

cần có dự phòng, quan sát và chỉnh liều phụ

hợp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Antonuzzo L Bevacizumab plus XELOX as

first-line treatment of metastatic colorectal cancer: The OBELIX study World J Gastroenterol 2015 Jun 21

2 Bùi Văn Quyền (2022) Đánh giá kết quả

hóa chất bổ trợ ung thư đại tràng giai đoạn II-III bằng phác đồ XELOX tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp Tạp chí Ung thư học Việt Nam số 1.2022 3:136-142

3 Đỗ Huyền Nga (2018) Đánh giá kết quả hóa

trị phác đồ FOLFOX4 kết hợp Bevacizumab trong điều trị ung thư đại trực tràng di căn Luận án Tiến sĩ Y học Trường Đại học Y Hà Nội

4 Global cancer statistic (2020) GLOBOCAN estimates of incidence and mortality worldwide for 36 cancers in 185 countries

5 Howard S Hochster (2008) Safety and

Efficacy of Oxaliplatin and Fluoropyrimidine Regimens With or Without Bevacizumab As First-Line Treatment of Metastatic Colorectal Cancer: Results of the TREE Study JOURNAL OF CLINICAL ONCOLOGY volume 26

6 Nguyễn Hồng Hà (2022) Đánh giá kết quả

bước đầu của phác đồ FOLFOIRI – Bevacizumab trong điều trị ung thư đại trực tràng di căn tại Bệnh viện Việt Tiệp Tạp chí

Y học Việt Nam số 1 2022 3:120-136

Ngày đăng: 02/01/2023, 18:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm