Bài viết Ống dẫn lưu qua hậu môn trong phẫu thuật ung thư trực tràng đánh giá lợi ích của ống dẫn lưu qua hậu môn trong việc ngăn ngừa rò miệng nối sau phẫu thuật cắt trước. Ngoài ra, bài viết còn trình bày việc xác định các yếu tố nguy cơ rò miệng nối sau phẫu thuật ung thư trực tràng.
Trang 1ỐNG DẪN LƯU QUA HẬU MÔN TRONG PHẪU THUẬT
UNG THƯ TRỰC TRÀNG
Võ Quang Hùng 1 , Phạm Hùng Cường 2 , Đặng Huy Quốc Thắng 3 , Nguyễn Tuấn Hưng 1
TÓM TẮT 25
Đặt vấn đề: Trong những thập kỷ gần đây
cùng với sự phát triển các dụng cụ khâu nối ruột,
có sự gia tăng đáng kể tỷ lệ bảo tồn cơ vòng
trong phẫu thuật ung thư trực tràng Tuy nhiên tỷ
lệ rò miệng nối (RMN) dường như không giảm
và tiếp tục là biến chứng đáng sợ nhất của phẫu
thuật trực tràng Việc sử dụng ống dẫn lưu qua
hậu môn (ODLQHM) để làm giảm áp lực ruột,
thóat lưu dịch và phân với mục đích bảo vệ
miệng nối đã được chứng minh là có hiệu quả
trong một số nghiên cứu Ở Việt Nam, việc sử
dụng ODLQHM trong phẫu thuật ung thư trực
tràng chỉ mới áp dụng tại một số trung tâm lớn và
vẫn chưa được đánh giá đầy đủ Mục tiêu của
nghiên cứu này là đánh giá lợi ích của ODLQHM
trong việc ngăn ngừa RMN sau phẫu thuật cắt
trước Ngoài ra, chúng tôi xác định các yếu tố
nguy cơ RMN sau phẫu thuật ung thư trực tràng
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả
trên 192 bệnh nhân ung thư trực tràng được phẫu
thuật cắt đoạn trực tràng nối ngay với miệng nối
1 Bác sĩ điều trị Khoa Ngoại ngực, bụng - Bệnh
viện Ung Bướu TP HCM
2 PGS.TS Nguyên Trưởng Khoa Ngoại ngực,
bụng - Bệnh viện Ung Bướu TP HCM
3 BSCKII Trưởng Khoa Ngoại ngực, bụng - Bệnh
viện Ung Bướu TP HCM
Chịu trách nhiệm chính: Võ Quang Hùng
Email: voquanghung9999@gmail.com
Ngày nhận bài: 25/9/2022
Ngày phản biện: 30/9/2022
Ngày chấp nhận đăng: 25/10/2022
thấp (dưới túi cùng Douglas) trong khoảng thời gian từ tháng 01/2017 đến thàng 05/2021
Kết quả: RMN xảy ra ở 16 bệnh nhân Dựa
trên sự phân nhóm ODLQHM, RMN xảy ra 4,7% (5/107) trong nhóm có ODLQHM, trong khi nó xảy ra ở 12,9% (11/85) nhóm không có ống (p = 0,039) Thời gian nằm viện trung bình của nhóm có ODLQHM ngắn hơn nhóm không
có ống 7,33 ngày so với 7,55 ngày (p = 0,032) Các yếu tố nguy cơ RMN xác định được trong nghiên cứu gồm: thời gian phẫu thuật trên 2 giờ (OR = 24,3; KTC 95% 3,9 - 149,7; p < 0,001), truyền máu chu phẫu (OR = 39,5; KTC 95% 3 - 520,6; p = 0,005), ODLQHM được xác định là yếu tố bảo vệ miệng nối (OR = 0,202; KTC 95% 0,048 - 0,856; p = 0,03)
Kết luận: Đặt ODLQHM là một biện pháp
hiệu quả để ngăn ngừa RMN sau phẫu thuật cắt trước đồng thời giúp rút ngắn thời gian nằm viện của bệnh nhân
SUMMARY TRANSANAL DRAINAGE TUBE IN RECTAL CANCER SURGERY
Introduction: In recent decades with the
revolution of surgical stapling devices, there has been significant increase in the rate of sphincter preservation in rectal cancer surgery However, the incidence of anastomotic leakage (AL) does not appear to be decreasing and continues to be the most dangerous complication of anterior resection The use of a transanal drainage tube relieve bowel pressure, discharge of fluids and feces for protecting the anastomosis that has been shown to be effective in a number of studies The
Trang 2use of transanal drainage tube (TDT) in rectal
cancer surgery has only been applied in a few
large medical centers and has not been fully
evaluated in Vietnam The objective of this study
was to evaluate the usefulness of a transanal
drainage tube for the prevention of anastomotic
leakage after an anterior resection for rectal
cancer In addition, we identified risk factors for
anastomotic leakage after anterior resection
Methods: A case-control review of 192
rectal cancer patients undergoing anterior
resection with low anastomosis (under Douglas'
sac) from January 2017 to May 2021
Results: Anastomotic leakage occurred in 16
patients Based on the transanal drainage tube
grouping, AL occurred in 4.7% (5/107) of the
TDT group, whereas it occurred in 12.9%
(11/85) of the non-TDT group (p = 0.039) The
mean hospital stay of the group with TDT was
shorter than the group without the tube (7.33/
7.55 days) (p = 0.032) The risk factors for AL in
the study included: prolonged surgery (>2 hours)
(OR = 24.3; 95% CI 3.9 - 149.7, p < 0.001),
perioperative blood transfusion (OR = 39.5; 95%
CI 3 - 520.6, p = 0.005), TDT was determined as
a protective factor for the junction (OR = 0.202;
95% CI 0.048 - 0.856; p = 0.03)
Conclusion: TDT could be efficient to
prevent AL after anterior resection and shortens
the patient's hospital stay
anastomotic leakage; rectal cancer
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Globocan năm 2018, ung thư
đại-trực tràng là ung thư thường gặp hàng thứ
năm tại Việt Nam với 14.733 ca mới[15]
Theo kết quả ghi nhận ung thư quần thể tại
thành phố Hồ Chí Minh năm 2014, ung thư
đại - trực tràng là ung thư thường gặp đứng
hàng thứ hai (tính chung cả hai giới) với xuất
độ chuẩn theo tuổi là 21,3/100.000 dân; chỉ sau ung thư phổi[1]
Trong thập kỉ gần đây, phẫu thuật cắt trước thấp ngày càng trở nên phổ biến trong điều trị ung thư trực tràng giữa và dưới Những nghiên cứu chuyên sâu về giải phẫu học, đặc điểm bệnh lý và cơ chế di căn hạch bạch huyết của ung thư trực tràng; phổ biến phương pháp cắt bỏ toàn bộ mạc treo trực tràng (TME); sự cải tiến các dụng cụ phẫu thuật và việc áp dụng hóa xạ trị tiền phẫu… đều đã góp phần vào kết quả điều trị ung thư: giảm tỷ lệ tái phát tại chỗ, tăng tỷ lệ sống còn Tuy nhiên, tương phản với sự gia tăng
tỷ lệ bảo tồn cơ vòng[25] tỷ lệ RMN trực tràng dường như không giảm bớt và thậm chí tăng ở một số báo cáo lâm sàng RMN tiếp tục là biến chứng nguy hiểm và đáng sợ nhất của phẫu thuật trực tràng, dẫn đến nhiều hậu quả: tăng tỷ lệ tái phát tại chỗ, chảy máu miệng nối, viêm phúc mạc và nhiễm trùng huyết phải phẫu thuật lại, tăng tỷ lệ tử vong, kéo dài thời gian nằm viện và tăng chi phí điều trị đáng kể[14],[25]
Do nhu cầu lâm sàng về một quy trình thay thế với hiệu quả tương đương và ít biến chứng hơn, chiến lược dẫn lưu qua đường hậu môn để bảo vệ miệng nối sau phẫu thuật trực tràng được đề xuất và áp dụng trong một
số trung tâm[2],[5],[11],[19],[23] Nhiều dụng cụ khác nhau đã được phát triển nhằm mục đích bảo vệ miệng nối trực tràng chống lại sự rò rỉ mà không cần mở hậu môn nhân tạo So với những loại này, ODLQHM dễ sử dụng, rẻ và sẵn có trong thực hành lâm sàng Việc sử dụng ODLQHM có thể làm giảm áp lực ruột, thóat lưu dịch và phân, bảo vệ miệng nối và thúc đẩy nhu động đường tiêu hóa Vị trí đặt ODLQHM đơn giản, an toàn
và không xâm lấn[19],[23] Một nghiên cứu của Yang và cộng sự[21] cho thấy tỷ lệ RMN
Trang 3và tỷ lệ mổ lại thấp hơn đáng kể ở nhóm đặt
ODLQHM so với nhóm không đặt ống sau
khi phẫu thuật cắt trước thấp trong ung thư
trực tràng Do đó, họ kết luận rằng
ODLQHM có thể là một biện pháp can thiệp
hiệu quả và kinh tế trong việc ngăn ngừa
RMN sau phẫu thuật cắt trực tràng
Ở Việt Nam, việc sử dụng ODLQHM
trong phẫu thuật ung thư trực tràng chỉ mới
áp dụng tại một số trung tâm lớn và vẫn chưa
được đánh giá đầy đủ Trên cơ sở đó chúng
tôi thực hiện nghiên cứu “Ống dẫn lưu qua
hậu môn trong phẫu thuật ung thư trực tràng”
tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí
Minh từ năm 2017 - 2021 để trả lời câu hỏi:
Đặt ODLQHM có làm giảm tỷ lệ RMN trong
phẫu thuật ung thư trực tràng?
Mục tiêu nghiên cứu
1 Xác định và so sánh tỉ lệ RMN trực
tràng của nhóm có ODLQHM và nhóm
không có ống trong phẫu thuật ung thư trực
tràng
2 Xác định các yếu tố nguy cơ RMN
trực tràng trước, trong và sau phẫu thuật ung
thư trực tràng
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đây là nghiên cứu hồi cứu mô tả tất cả
bệnh nhân ung thư trực tràng được phẫu
thuật cắt đoạn trực tràng nối ngay tận - tận
bằng dụng cụ khâu nối ruột vòng 2 hàng
ghim với miệng nối thấp (dưới túi cùng
Douglas) trong khoảng thời gian từ tháng
01/2017 đến tháng 05/2021 tại Khoa Ngoại
ngực, bụng - Bệnh viện Ung Bướu Thành
phố Hồ Chí Minh và được thông qua bởi Hội
đồng đạo đức của bệnh viện
Tiêu chẩn chọn bệnh: Bệnh nhân ung thư
trực tràng được chẩn đoán bằng nội soi và
giải phẫu bệnh; được phẫu thuật cắt đoạn
trực tràng nối ngay thực hiện miệng nối thấp
dưới túi cùng Douglas, có sử dụng dụng cụ khâu nối ruột vòng 2 hàng ghim; được theo dõi, khám lại có đầy đủ các thông số cần nghiên cứu từ khi vào viện đến 30 ngày hậu phẫu
Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật vùng chậu, tầng sinh môn; hoặc được phẫu thuật trong tình trạng cấp cứu (tắc ruột, thủng bướu…); hoặc không có đầy đủ
dữ liệu nghiên cứu, theo dõi và đánh giá; hoặc bị tuột ODLQHM trong hậu phẫu không do quyết định của bác sĩ điều trị; hoặc
có ghi nhận tình trạng RMN trong phẫu thuật hoặc được làm hậu môn nhân tạo
Các dữ liệu thu thập từ hồ sơ bệnh án đã được tổng hợp gồm các biến: giới tính, tuổi, điểm ASA, BMI, thói quen và bệnh lý kèm theo, Albumin máu, khoảng cách miệng nối đến bờ hậu môn, phẫu thuật nội soi, hóa xạ tiền phẫu, thời gian phẫu thuật, vị trí bướu, kích thước bướu, giai đoạn bướu, giai đoạn bệnh, truyền máu chu phẫu, biến chứng miệng nối (RMN, xuất huyết miệng nối), biến chứng y khoa khác, đặt ODLQHM, thời gian phục hồi trung - đại tiện, thời gian nằm viện
Với mục đích của nghiên cứu này, 192 bệnh nhân được chia thành 2 nhóm: Nhóm
có ODLQHM và nhóm không đặt ODLQHM
2.1 Kỹ thuật đặt ống dẫn lưu qua hậu môn
Từ năm 2020, tại Bệnh viện Ung Bướu triển khai đồng bộ đặt ODLQHM cho tất cả bệnh nhân ung thư trực tràng được phẫu thuật cắt đoạn trực tràng nối máy với miệng nối thấp Từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2021, chúng tôi đã ghi nhận được 107 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu, nhóm bệnh nhân này toàn bộ được đặt ODLQHM một cách đồng bộ, không chọn lọc, không
Trang 4phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của phẫu
thuật viên Chúng tôi tiến hành so sánh với
nhóm chứng gồm 85 hồ sơ ung thư trực tràng
được phẫu thuật cắt đoạn trực tràng nối máy
với miệng nối thấp trong 2 năm 2017 và
2018, bệnh nhân không được đặt ODLQHM
do thời điểm này chưa triển khai kỹ thuật
trên
Vùng hậu môn và tầng sinh môn được sát
khuẩn bằng dung dịch betadine Lỗ hậu môn
được bôi trơn bằng Xylocain gel hoặc
Vaselin và được nong bằng 2 ngón tay của
phẫu thuật viên ODLQHM được chọn là ống
Pezzer 26 Fr, đầu ống được bôi trơn bằng
Xylocain gel ODLQHM được đặt qua hậu
môn dưới hướng dẫn tay bên ngoài của phẫu
thuật viên, vào trực tràng và được đưa qua cơ
thắt Khi đã xác định vào vị trí, ống được
may cố định vào da cạnh hậu môn băng silk
3.0 Đuôi ống được nối với túi chứa Phân,
hơi, chất nhầy, máu thóat ra qua ống được
ghi nhận Ống được rút bỏ sau 5 ngày
2.2 Biến chứng rò miệng nối
Khái niệm RMN trực tràng được đề xuất
bởi Nhóm Nghiên cứu Quốc tế về Ung thư
Trực tràng (ISREC)[61] ISREC định nghĩa
RMN trực tràng là một sự thông thương giữa
khoang trong và khoang ngoài trực tràng do
một khiếm khuyết về tính toàn vẹn của thành
ruột ở chỗ miệng nối giữa đại tràng và ống
hậu môn
Định nghĩa về RMN trong nghiên cứu
này là rò lâm sàng, có một trong các tiêu chí
sau:
• Mủ hoặc phân chảy ra từ ống dẫn lưu
hoặc từ âm đạo; hoặc viêm phúc mạc phân
(khu trú hoặc toàn thể)
• Không khí tự do hay chất cản quang
xung quanh miệng nối hoặc áp xe vùng chậu
phát hiện trên phim chụp cắt lớp vi tính với
chất cản quang tan trong nước được đưa vào qua hậu môn
Bệnh nhân có viêm phúc mạc được chẩn đoán dựa trên tập hợp các triệu chứng: Đau bụng, bụng đề kháng, sốt trên 39oC, chướng bụng, buồn nôn - nôn, tiêu chảy hoặc bí trung
- đại tiện, nặng hơn có thể có các triệu chứng của sốc nhiễm trùng (mạch nhanh, huyết áp tụt - kẹp, vã mồ hôi, lạnh chi,…), xét nghiệm máu có tình trạng bạch cầu tăng và CRP tăng…
Tất cả các trường hợp nghi ngờ viêm phúc mạc do RMN được kiểm tra bằng chẩn đoán hình ảnh (chụp cắt lớp vi tính với chất cản quang tan trong nước được đưa vào qua hậu môn) Nghiên cứu này đã không thực hiện chẩn đoán hình ảnh thường quy sau khi phẫu thuật cắt trước để phát hiện một cách hệ thống các RMN ở những bệnh nhân ổn định
về mặt lâm sàng
Mức độ nghiêm trọng của rò miệng nối trực tràng trong nghiên cứu của chúng tôi được đánh giá theo phân loại các biến chứng phẫn thuật của Daniel Dindo[6]:
• Độ I: Không cần can thiệp điều trị tích cực
• Độ II: Yêu cầu can thiệp điều trị tích cực, nhưng có thể kiểm soát được không phẫu thuật mở ổ bụng
• Độ III: Yêu cầu phẫu thuật mở ổ bụng
o IIIa: Can thiệp không gây mê
o IIIb: Can thiệp dưới gây mê toàn thân
• Độ IV: Biến chứng đe dọa tính mạng, cần hồi sức tích cực ICU
2.3 Phân tích và xử lý số liệu
Thống kê phân tích được thực hiện với SPSS 20.0 dành cho Windows So sánh đơn biến và phân tích hồi quy đa biến phương pháp ngược được áp dụng Giá trị p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê
Trang 5III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 192
bệnh nhân (112 nam/ 80 nữ) với độ tuổi
trung bình là 58,9 ± 0,8 tuổi được phân tích
về sự phục hồi sau phẫu thuật và tỷ lệ biến
chứng trong tháng đầu hậu phẫu với thời
gian nằm viện trung bình là 7 ngày
Dữ liệu so sánh về đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm bướu và đặc điểm phẫu thuật giữa nhóm có ODLQHM và nhóm không có ODLQHM được minh họa trong bảng 1 cho thấy không có sự khác biệt về đặc điểm lâm sàng giữa 2 nhóm
Bảng 1 Các thông số nhân khẩu học nhóm không đặt ODLQHM và nhóm có ống
Ống dẫn lưu qua hậu môn
Giá trị p
Tuổi trung bình (tuổi) 60,14 (ĐLC 11,789) 57,95 (ĐLC 11,841) 0,204
BMI trung bình (Kg/m2 da) 21,516 (ĐLC 2,9238) 22,109 (ĐLC 3,1567) 0.260 Albumin trung bình (g/L) 41,631 (ĐLC 3,2454) 41,939 (ĐLC 2,7086) 0,474 Bướu cách bờ hậu môn trung
Kích thước bướu trung bình
Miệng nối cách bờ hậu môn
Thời gian phẫu thuật trung bình
3.1 Tỷ lệ rò miệng nối
Trong 192 đối tượng nghiên cứu, RMN trực tràng xảy ra ở 16 trường hợp (8,3%) Ngày hậu phẫu trung bình xuất hiện RMN là 6,88 ± 0,944 ngày, sớm nhất là 3 ngày và trễ nhất là
20 ngày Không có sự khác biệt có ý nghĩa về ngày hậu phẫu trung bình xuất hiện RMN giữa
2 nhóm có/ không ODLQHM (p = 0,678) 9/16 trường hợp (56,25%) rò xảy ra ở ngày hậu phẫu 5 - 7
Trang 6Bảng 2 So sánh tỷ lệ biến chứng và thời gian nằm viện trung bình nhóm đặt ODLQHM và nhóm không đặt ống
Ống dẫn lưu qua hậu môn
Giá trị p
Thời gian nằm viện trung bình 7,58 (ĐLC 2,168) 7,33 (ĐLC 2,623) 0,032*
Nhận xét: Tỷ lệ RMN ở nhóm có
ODLQHM (4,7%) thấp hơn đáng kể so với
nhóm không có ODLQHM (12,9%) (p =
0,039) Thời gian nằm viện trung bình của
nhóm có ODLQHM ngắn hơn nhóm không
có ống (p = 0,032)
3.2 Mức độ rò miệng nối
Có 4 trường hợp rò mức độ II và đáp ứng
tốt với điều trị nội khoa tích cực, 12 trường
hợp (75%) rò mức độ IIIb và cần can thiệp
mổ lại dưới gây mê, dẫn lưu ổ mủ và mở hậu môn nhân tạo hồi tràng RMN độ IIIb ở nhóm không đặt ODLQHM là 10/11 trường hợp (90,9%), trong khi ở nhóm có đặt ống chỉ 2/5 trường hợp (40%) Tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p = 0,063)
Bảng 3 Mối tương quan giữa các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn đối với rò miệng nối
Tất cả BN Rò miệng nối
Giá trị p
Thời gian phẫu thuật >120
Miệng nối cách bờ hậu môn
Đặt ống dẫn lưu qua hậu
Trang 7Nhận xét: Phân tích đơn biến cho thấy 5 yếu tố có mối tương quan với RMN là: thời gian
phẫu thuật kéo dài trên 2 giờ, kích thước bướu > 6cm, giai đoạn bướu xâm lấn T4b, truyền máu chu phẫu và đặt ống dẫn lưu qua hậu môn (p < 0,05)
Bảng 4 Phân tích hồi quy đa biến các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn đối với rò miệng nối
Thời gian phẫu thuật >120 phút 24,322 3,950 149,766 0,001*
Nhận xét: Phân tích đa biến cho thấy chỉ còn lại 3 yếu tố: Đặt ODLQHM, truyền máu chu
phẫu và thời gian phẫu thuật trên 2 giờ là các yếu tố độc lập liên quan đến RMN (p < 0,05) Trong đó: đặt ODLQHM là yếu tố bảo vệ làm giảm tỷ lệ RMN (OR < 1); truyền máu chu phẫu và thời gian phẫu thuật trên 2 giờ là các yếu tố nguy cơ làm tăng tỷ lệ RMN (OR > 1)
IV BÀN LUẬN
4.1 Ống dẫn lưu qua hậu môn và tỷ lệ
rò miệng nối
RMN sau phẫu thuật ung thư trực tràng là
một trong những biến chứng nghiêm trọng
dẫn đến tỷ lệ tử vong đáng kể Tỷ lệ RMN
khác nhau từ 6% đến 17% và thường cao hơn
10%, nguyên nhân là đa yếu tố
Tỷ lệ RMN được báo cáo trong nghiên
cứu này là 8,3%, tương đồng với các nghiên
cứu đã xuất bản trước đây[2],[7],[14],[23]
Trong giai đoạn đầu sau phẫu thuật, cơ
vòng hậu môn có thể bị co thắt chặt do đau,
sợ hãi, viêm nhiễm và chấn thương và do đó
áp lực trong lòng ruột ở miệng nối có thể
tăng lên với nguy cơ rò rỉ nhiều hơn Một
nghiên cứu trước đây cho thấy áp lực nghỉ
ngơi trực tràng trong giai đoạn đầu hậu phẫu
ở nhóm đặt ống qua hậu môn thấp hơn so với
nhóm chứng[19] ODLQHM có thể làm giảm
áp lực lòng trực tràng và do đó hỗ trợ cung cấp máu tốt hơn cho thành ruột
Từ thập niên 70, các nhà khoa học đã bắt đầu quan tâm đến dẫn lưu giải áp trực tràng trong phẫu thuật cắt trước thấp Hàng loạt sản phẩm ống xuyên hậu môn được sáng chế
và nghiên cứu: Indwelling rectal tube (Stewart WR 1968), transanal rubber drain, transanal stent, coloshield, Valtrac intracolonic bypass[22], C seal (Kolkert JL 2007)[8]… tuy nhiên các sản phẩm này đều chưa chứng minh được hiệu quả, và thậm chí một số còn được báo cáo gây ra biến chứng nghiêm trọng Trước tình hình đó một số nhà nghiên cứu đã tìm đến một loại ống cao su đơn giản, dễ dàng đưa vào trực tràng và lấy
ra an toàn mà không gây ảnh hưởng nhiều đến bệnh nhân gọi là ODLQHM Được báo cáo lần đầu bởi Klein (1997), nghiên cứu đã đưa ra nhận định ODLQHM có khả năng làm
Trang 8giảm biến chứng nặng và giảm tử vong ở
bệnh nhân bị RMN
Trong nghiên cứu của chúng tôi, không
ghi nhận trường hợp nào có biến chứng do
ống dẫn lưu gây ra, việc đặt ODLQHM thực
sự nhẹ nhàng, tất cả bệnh nhân đều tuân thủ
mang ống dẫn lưu trong 5 ngày hậu phẫu
So sánh nhân khẩu học 2 nhóm có đặt
ODLQHM và nhóm không đặt ống cho thấy
không có sự khác biệt giữa 2 nhóm này Khi
so sánh về biến chứng hậu phẫu giữa 2
nhóm, tỷ lệ RMN ở nhóm có ODLQHM
(4,7%) thấp hơn đáng kể so với nhóm không
có ODLQHM (12,9%) (p = 0,039)
ODLQHM được xác định là yếu tố bảo vệ
miệng nối (OR = 0,202; KTC 95% 0,048 -
0,856; p = 0,03) Kết quả này tương đồng với
một số nghiên cứu khác[9],[11],[17],[20]
Phân và máu cũ có thể thóat qua
ODLQHM, làm giảm tải lượng vi khuẩn và
giảm tổn thương vật lý trực tiếp đến miệng
nối Trong trường hợp bị RMN, yếu tố này
có thể hạn chế mức độ nhiễm khuẩn Vì vậy,
một ODLQHM có thể tạo điều kiện thuận lợi
cho việc lành miệng nối, hoặc khi RMN xảy
ra ống này sẽ làm giảm mức độ nghiêm trọng
của hiện tượng rò Tuy nhiên, ODLQHM
không thể tránh được các yếu tố nguy cơ đã
biết chẳng hạn như căng mạc treo, cung
mạch nuôi kém,…
Về mức độ rò miệng nối trong nghiên
cứu của chúng tôi: Tỷ lệ RMN độ nặng IIIb ở
nhóm có đặt ODLQHM có vẻ thấp hơn so
với nhóm không đặt ống (40% so với
90,9%) Tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p = 0,063)
4.2 Các yếu tố nguy cơ rò miệng nối
Một số yếu tố như giới tính nam[13], truyền máu chu phẫu[13],[18], đái tháo đường[5], hút thuốc lá[3], BMI > 25[16], ASA 4 điểm[4],[10], thời gian phẫu thuật kéo dài[4], hóa xạ tiền phẫu[12],[13], kích thước bướu lớn > 5cm[10], giai đoạn bướu xâm lấn[12], miệng nối thấp[12] miệng nối
sử dụng ≥ 3 stapler[24] được coi là các yếu
tố nguy cơ độc lập của RMN trực tràng Các bệnh lý đi kèm và các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn đã được ghi nhận và phân tích trong nghiên cứu của chúng tôi Kết quả thời gian phẫu thuật trên 2 giờ (p < 0,001) và truyền máu chu phẫu (p = 0,005) là yếu tố nguy cơ độc lập đối với RMN, tương đồng với các nghiên cứu trước đây[3],[4],[12]
V KẾT LUẬN
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sử dụng ODLQHM làm giảm đáng kể tỷ lệ RMN và giảm thời gian nằm viện trên bệnh nhân phẫu thuật cắt trước thấp trong ung thư trực tràng Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra thời gian phẫu thuật trên 2 giờ và truyền máu chu phẫu là yếu tố nguy cơ độc lập đối với RMN Mặc dù chứng minh được lợi ích của đặt ống dẫn lưu trong việc bảo vệ miệng nối, thiết nghĩ nên có nghiên cứu tiến cứu can thiệp tiềm năng hơn nữa để bổ sung cho những nhận định trên
Trang 9TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lê Hoàng Minh, Phạm Xuân Dũng, Đặng
Huy Quốc Thịnh, et al (2016) "Kết quả ghi
nhận ung thư quần thể thành phố Hồ Chí
Minh năm 2014" Tạp chí Ung thư học Việt
Nam, số 3, 13-21
2 Adamova Z (2014) "Transanal Tube as a
Means of Prevention of Anastomotic
Leakage after Rectal Cancer Surgery"
Viszeralmedizin, 30 (6), pp 422-6
3 Bisgård A S., Noack M W., Klein M., et
al (2013) "Perioperative statin therapy is
not associated with reduced risk of
anastomotic leakage after colorectal
resection" Dis Colon Rectum, 56 (8), pp
980-6
4 Buchs N C., Gervaz P., Secic M., et al
(2008) "Incidence, consequences, and risk
factors for anastomotic dehiscence after
colorectal surgery: a prospective monocentric
study" Int J Colorectal Dis, 23 (3), pp
265-70
5 Cong Z J., Fu C G., Wang H T., et al
(2009) "Influencing factors of symptomatic
anastomotic leakage after anterior resection
of the rectum for cancer" World J Surg, 33
(6), pp 1292-7
6 Dindo D., Demartines N., Clavien P A
(2004) "Classification of surgical
complications: a new proposal with
evaluation in a cohort of 6336 patients and
results of a survey" Ann Surg, 240 (2), pp
205-13
7 Ito T., Obama K., Sato T., et al (2017)
"Usefulness of transanal tube placement for
prevention of anastomotic leakage following
laparoscopic low anterior resection" Asian J
Endosc Surg, 10 (1), pp 17-22
8 Kolkert J L., Havenga K., ten Cate Hoedemaker H O., et al (2011)
"Protection of stapled colorectal anastomoses with a biodegradable device: the C-Seal feasibility study" Am J Surg, 201 (6), pp 754-8
9 Lee S Y., Kim C H., Kim Y J., et al
(2015) "Impact of anal decompression on anastomotic leakage after low anterior resection for rectal cancer: a propensity score matching analysis" Langenbecks Arch Surg,
400 (7), pp 791-6
10 Nisar P J., Lavery I C., Kiran R P
(2012) "Influence of neoadjuvant radiotherapy on anastomotic leak after restorative resection for rectal cancer" J Gastrointest Surg, 16 (9), pp 1750-7
11 Nishigori H., Ito M., Nishizawa Y., et al
(2014) "Effectiveness of a transanal tube for the prevention of anastomotic leakage after rectal cancer surgery" World J Surg, 38 (7),
pp 1843-51
12 Park J S., Choi G S., Kim S H., et al
(2013) "Multicenter analysis of risk factors for anastomotic leakage after laparoscopic rectal cancer excision: the Korean laparoscopic colorectal surgery study group" Ann Surg, 257 (4), pp 665-71
13 Park J S., Huh J W., Park Y A., et al
(2016) "Risk Factors of Anastomotic Leakage and Long-Term Survival After Colorectal Surgery" Medicine (Baltimore),
95 (8), pp e2890
14 Peeters K C., Tollenaar R A., Marijnen
C A., et al (2005) "Risk factors for
anastomotic failure after total mesorectal excision of rectal cancer" Br J Surg, 92 (2),
pp 211-6
Trang 1015 Pham T., Bui L., Kim G., et al (2019)
"Cancers in Vietnam-Burden and Control
Efforts: A Narrative Scoping Review"
Cancer Control, 26 (1), pp
1073274819863802
16 Rullier E., Laurent C., Garrelon J L., et
al (1998) "Risk factors for anastomotic
leakage after resection of rectal cancer" Br J
Surg, 85 (3), pp 355-8
17 Tanaka K., Okuda J., Yamamoto S., et al
(2017) "Risk factors for anastomotic leakage
after laparoscopic surgery with the double
stapling technique for stage 0/I rectal
carcinoma: a subgroup analysis of a
multicenter, single-arm phase II trial" Surg
Today, 47 (10), pp 1215-1222
18 Tortorelli A P., Alfieri S., Sanchez A M.,
et al (2015) "Anastomotic leakage after
anterior resection for rectal cancer with
mesorectal excision: incidence, risk factors,
and management" Am Surg, 81 (1), pp
41-7
19 Xiao L., Zhang W B., Jiang P C., et al
(2011) "Can transanal tube placement after
anterior resection for rectal carcinoma reduce
anastomotic leakage rate? A
single-institution prospective randomized study"
World J Surg, 35 (6), pp 1367-77
20 Yang C S., Choi G S., Park J S., et al
(2016) "Rectal tube drainage reduces major
anastomotic leakage after minimally invasive
rectal cancer surgery" Colorectal Dis, 18 (12), pp O445-o452
21 Yang Y., Shu Y., Su F., et al (2017)
"Prophylactic transanal decompression tube versus non-prophylactic transanal decompression tube for anastomotic leakage prevention in low anterior resection for rectal cancer: a meta-analysis" 31 (4), pp
1513-1523
22 Ye F., Wang D., Xu X., et al (2008) "Use
of intracolonic bypass secured by a biodegradable anastomotic ring to protect the low rectal anastomosis" Dis Colon Rectum,
51 (1), pp 109-15
23 Zhao W T., Hu F L., Li Y Y., et al
(2013) "Use of a transanal drainage tube for prevention of anastomotic leakage and bleeding after anterior resection for rectal cancer" World J Surg, 37 (1), pp 227-32
24 Zhou S., Zhou H., Zheng Z., et al (2019)
"Predictive risk factors for anastomotic leakage after anterior resection of rectal cancer in elderly patients over 80 years old:
an analysis of 288 consecutive patients" World J Surg Oncol, 17 (1), pp 112
25 Zhou Z G., Hu M., Li Y., et al (2004)
"Laparoscopic versus open total mesorectal excision with anal sphincter preservation for low rectal cancer" Surg Endosc, 18 (8), pp 1211-5