Bài viết Hóa trị ung thư phổi trong kỷ nguyên cá thể hóa điều trị trình bày sự phát triển của hóa trị trong điều trị ung thư phổi; Số chu kỳ tối ưu của hóa trị; Hóa trị duy trì; Các thuốc hóa trị mới và phối hợp thuốc; Hóa trị ung thư phổi giai đoạn sớm; Dấu ấn sinh học tiềm năng.
Trang 1HÓA TRỊ UNG THƯ PHỔI TRONG KỶ NGUYÊN CÁ THỂ HÓA ĐIỀU TRỊ
Võ Thị Ngọc Điệp 1 TÓM TẮT 8
Mặc dù những tiến bộ gần đây trong liệu
pháp nhắm trúng đích và liệu pháp miễn dịch đã
tạo ra một cuộc cách mạng trong lĩnh vực điều trị
ung thư phổi, nhưng hóa trị vẫn là một thành
phần thiết yếu của điều trị ung thư phổi Nhiều
bằng chứng đã chứng minh lợi ích lâm sàng của
hóa trị đối với sống còn và chất lượng cuộc sống
của bệnh nhân ung thư phổi Hóa trị được khuyến
cáo như một tiêu chuẩn điều trị ở những bệnh
nhân đã tiến triển sau khi dùng thuốc ức chế
tyrosine kinase hoặc thuốc ức chế điểm kiểm soát
miễn dịch
SUMMARY
CHEMOTHERAPY FOR NON - SMALL
CELL LUNG CANCER IN THE ERA OF
PERSONALIZED MEDICINE
Although recent advances in molecular targeted
therapy and immuno - oncology have
revolutionized the landscape of lung cancer
therapeutics, chemotherapy remains an essential
component of lung cancer treatment Extensive
evidence has demonstrated the clinical benefit of
chemotherapy on survival and quality of life of
lung cancer patients Chemotherapy is
recommended as a standard of therapy in patients
whom the tumor have progressed after tyrosine
1 BSCKII Phó Trưởng khoa Nội phụ khoa, phổi -
Bệnh viện ung Bướu TP HCM
Chịu trách nhiệm chính: Võ Thị Ngọc Điệp
Email: vongocdiep69@gmail.com
Ngày nhận bài: 04/7/2022
Ngày phản biện: 30/9/2022
kinase inhibitors or immune checkpoint
inhibitors
I GIỚI THIỆU
Ung thư phổi là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư trên toàn thế giới Nhiều nỗ lực đã được thực hiện để giảm tỷ lệ
tử vong của căn bệnh quái ác này như liệu pháp nhắm trúng đích bao gồm thuốc ức chế thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) - tyrosine kinase (TKIs) và thuốc ức chế kinase lymphoma anaplastic (ALK), đã cải thiện sống còn cho bệnh nhân Ngoài ra, các chất ức chế điểm kiểm soát miễn dịch (ICI)
ức chế PD-1 hoặc các phối tử (ligand) của PD-1 (PD-L1) cũng đã cho thấy lợi ích sống còn trong các nhóm nghiên cứu lâm sàng Tuy nhiên, chỉ có khoảng 15% đến 40% tổng
số bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ
có đột biến EGFR hoặc tái sắp xếp ALK và chỉ khoảng 30% EGFR âm tính và bệnh nhân ALK âm tính có PD-L1 (TPS) từ 50% trở lên, có nghĩa là những bệnh nhân còn lại vẫn
là hóa trị bước một với bộ đôi platinum Hơn nữa, trong trường hợp TKIs hoặc ICIs thất bại, hóa trị được khuyến cáo như một phương pháp điều trị tiếp theo
II SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HÓA TRỊ TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI
Trước kỷ nguyên hóa trị, thời gian sống thêm trung bình (OS) của ung thư phổi giai
Trang 2đoạn tiến xa, chỉ là 2 đến 4 tháng nếu được
chăm sóc hỗ trợ tốt nhất Mặc dù các tác
nhân hóa trị thế hệ đầu, bao gồm
methotrexate và doxorubicin, đã được sử
dụng để điều trị ung thư phổi vào những năm
1970, nhưng lợi ích lâm sàng rất khiêm tốn
Lợi ích sống còn đáng kể ở bệnh nhân ung
thư phổi chỉ được thấy rõ sau khi phát triển
và đưa vào sử dụng platin và các thuốc độc tế
bào thế hệ mới, như vinorelbine,
gemcitabine, taxane trong suốt những năm
1980 và 1990 Nghiên cứu ECOG 1594 so
sánh bốn bộ đôi hóa trị có platin cho ung thư
phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa đã
cho thấy thời gian sống còn không khác nhau
giữa các phác đồ khác nhau với OS trung
bình là 7,9 tháng[1] Từ nghiên cứu này, hóa
trị kết hợp bộ đôi có platin đã được khuyến
cáo là phương pháp điều trị đầu tiên cho ung
thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa
bất kể phân nhóm mô học của bướu
Vào đầu những năm 2000, pemetrexed đã
được phổ biến như một tác nhân hóa trị thế
hệ mới khác với hiệu quả đã được chứng
minh trong bệnh ung thư màng phổi Trong
thử nghiệm JMDB pha III, pemetrexed đã
chứng minh lợi ích lâm sàng rõ rệt đối với
mô học ung thư phổi không phải tế bào vảy,
bổ sung khái niệm rằng típ mô học có vai trò
quan trọng trong điều trị ung thư phổi Thử
nghiệm JMEN pha III tiếp theo đã chứng
minh lợi ích lâm sàng của việc điều trị duy trì
bằng pemetrexed trong ung thư phổi không
tế bào nhỏ Trong thử nghiệm đó, OS trung
bình cao hơn đáng kể ở những bệnh nhân
được điều trị duy trì bằng pemetrexed sau 4
chu kỳ bộ đôi platin so với những người
không điều trị duy trì (13,4 tháng so với 10,6 tháng)̣̣̣̣[2]
Các thuốc kháng sinh mạch như bevacizumab, và các thuốc mới như nab-paclitaxel cũng đã cho thấy lợi ích lâm sàng
về hiệu quả và khả năng dung nạp vào giữa những năm 2000 và đầu những năm 2010 Các thuốc đó đã được FDA phê duyệt Trong những năm gần đây, các phương pháp kết hợp hóa trị và TKI hoặc ICI đã cho thấy lợi ích sống còn so với hóa trị đơn thuần Các tác dụng phụ của hóa trị do thuốc tấn công vào những tế bào đang phân chia nhanh chóng như độc tính trên đường tiêu hóa, thận, thần kinh, độc tai và suy tủy So với cisplatin, carboplatin ít liên quan đến các độc tính này hơn một chút nhưng lại suy tủy nhiều hơn, và hiệu quả điều trị ung thư phổi cũng có phần kém hơn Trong một phân tích tổng hợp, hóa trị dựa trên cisplatin cho thấy
tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) tốt hơn nhưng không có lợi cho OS so với hóa trị dựa trên carboplatin Tuy nhiên, phân tích dưới nhóm cho thấy rằng sự kết hợp của cisplatin và các tác nhân thế hệ mới mang lại 11% lợi ích OS so với carboplatin với cùng các tác nhân mới Phối hợp cisplatin nên là phác đồ ưu tiên, đặc biệt là kết hợp với các thuốc thế hệ mới Tuy nhiên, xem xét lợi ích
OS khiêm tốn của cisplatin so với carboplatin, và mục đích của hóa trị trong bệnh tiến triển, nơi mục tiêu không phải là chữa bệnh mà là kiểm soát triệu chứng, carboplatin vẫn là một lựa chọn thích hợp Việc lựa chọn platin trong thực tế được cá thể hóa không chỉ dựa trên tuổi của bệnh nhân mà còn dựa trên các bệnh đi kèm có thể
Trang 3liên quan đến nguy cơ tác dụng phụ liên quan
đến thuốc như thế nào[3]
III SỐ CHU KỲ TỐI ƯU CỦA HÓA TRỊ
Số chu kỳ hóa trị lý tưởng ở bệnh nhân
ung thư phổi không tế bào nhỏ tiến xa từ lâu
đã là một vấn đề lâm sàng[4] Các hướng dẫn
khuyến cáo rằng bệnh nhân có bệnh đáp ứng
hoặc ổn định có thể được tiếp tục điều trị
tổng cộng 4 đến 6 chu kỳ hóa trị bước một,
và không nên vượt quá 6 chu kỳ hóa trị PFS
ở nhóm điều trị 6 chu kỳ cao hơn nhóm điều
trị 3 - 4 chu kỳ nhưng OS của hai nhóm thì
không khác biệt Điều thú vị là OS trung
bình kéo dài hơn ở những bệnh nhân được
điều trị với cisplatin so với những người
được điều trị với carboplatin (tương ứng là
10,9 tháng và 7,0 tháng, ở những bệnh nhân
điều trị 3 hoặc 4 chu kỳ)(5) Các quan sát cho
thấy sự gia tăng PFS ở những bệnh nhân
được điều trị kéo dài, mặc dù các tác dụng
ngoại ý nhiều hơn, đã cung cấp các cơ sở cơ
bản của khái niệm “điều trị duy trì” với các
tác nhân ít độc hơn, sau 4 hoặc 6 chu kỳ hóa
trị chính thức
IV HÓA TRỊ DUY TRÌ
Mục đích chính của điều trị duy trì là cải
thiện sống còn bằng cách kéo dài thời gian
đáp ứng của bướu, sử dụng một loại thuốc
dung nạp tốt ở những bệnh nhân không có
tiến triển trong các đợt điều trị đầu tiên Tiên
phong trong chiến lược điều trị mới này là
pemetrexed Lợi ích lâm sàng của điều trị
duy trì bằng pemetrexed được chứng minh
trong nghiên cứu JMEN pha 3 Nghiên cứu
PARAMOUNT pha 3 đánh giá vai trò của
pemetrexed như một phương pháp điều trị duy trì tiếp tục ở những bệnh nhân không có tiến triển sau 4 chu kỳ pemetrexed/ cisplatin
Cả PFS (4,1 tháng so với 2,8 tháng) và OS (13,9 tháng so với 11,0 tháng) đều kéo dài trong nhóm duy trì pemetrexed so với nhóm giả dược FDA phê duyệt điều trị duy trì vào năm 2009
Trong các nghiên cứu về điều trị duy trì nói trên, các đối tượng nghiên cứu không có xét nghiệm đột biến gen EGFR Sau này có xét nghiệm đột biến gen nên những trường hợp không có đột biến EGFR mới được hóa trị và điều trị duy trì Một nghiên cứu hồi cứu gần đây đã báo cáo OS trung bình dài hơn đáng kể trong nhóm duy trì pemetrexed (23,3 tháng so với 11,0 tháng) Các hướng dẫn hiện tại đề nghị duy trì liên tục với bevacizumab, pemetrexed, bevacizumab cộng với pemetrexed (đối với carcinôm tuyến) và gemcitabine (đối với carcinôm tế bào vảy)
V CÁC THUỐC HÓA TRỊ MỚI VÀ PHỐI HỢP THUỐC 5.1 Nab-paclitaxel Nab-paclitaxel là
một công thức hạt nano liên kết với albumin của paclitaxel được thiết kế để khắc phục tính không hòa tan của paclitaxel trong dung môi thông thường Nab-paclitaxel có ưu điểm là thời gian truyền ngắn hơn (30 phút
so với 3 giờ), và có thể tránh phản ứng quá mẫn, vì không chứa Cremophor EL Mặc dù
có thể kém thuận tiện hơn khi dùng nab-paclitaxel mỗi tuần thay vì 3 tuần một lần, nhưng nó có thể có lợi khi tránh được các tác
dụng phụ nghiêm trọng
Trang 4Một nghiên cứu pha 3 đã chứng minh
ORR, PFS và OS của nab-paclitaxel/
carboplatin cao hơn đáng kể so với kết hợp
paclitaxel Điều thú vị là sự khác biệt về
ORR nổi bật hơn ở những bệnh nhân có mô
học tế bào vảy Nhóm nab-paclitaxel có liên
quan đến tỷ lệ giảm bạch cầu độ 3, bệnh thần
kinh ngoại biên, đau khớp và đau cơ thấp
hơn, mặc dù có liên quan đến thiếu máu cấp
độ 3 và giảm tiểu cầu Trong một nghiên cứu
tiếp theo, kết hợp nab-paclitaxel/ carboplatin
đã cho thấy lợi ích về OS ở bệnh nhân tuổi
cao trên 70 Lợi ích này được thấy ở bệnh
nhân cao tuổi có thể liên quan đến ít độc tính
hơn và hoàn thành điều trị theo kế hoạch
nhiều hơn Ngoài ra, lịch dùng thuốc
nab-paclitaxel hàng tuần có thể góp phần vào
hiệu quả điều trị tốt hơn[6] Các hướng dẫn
hiện tại khuyến cáo kết hợp nab-paclitaxel/
carboplatin như một phác đồ đầu tay ở cả mô
học vảy và không vảy Theo hướng dẫn
NCCN nab-paclitaxel có thể thay thế cho
paclitaxel hoặc docetaxel ở những bệnh nhân
quá mẫn sau khi dùng paclitaxel hoặc
docetaxel
5.1 Kết hợp với thuốc kháng sinh
mạch Trong nghiên cứu ECOG 4599 pha 3,
bevacizumab (với liều 15mg/kg) kết hợp với
paclitaxel/ carboplatin đã chứng minh lợi ích
lâm sàng đáng kể về RR (35% so với 15%, p
< 0,001), PFS (6,2 tháng so với 4,5 tháng, p
< 0,001), và OS (12,3 tháng so với 10,3
tháng, p = 0,003), so với paclitaxel/
carboplatin đơn thuần Ở châu Âu, nghiên
cứu AVAiL pha 3 cũng xác nhận lợi ích của
bevacizumab kết hợp với cisplatin/
gemcitabine ở hai liều khác nhau (7,5mg/kg
và 15mg/kg)[7]
Ramucirumab, một kháng thể đơn dòng đối với thụ thể VEGF 2, và nintedanib, một chất ức chế nhiều kinase, là những chất kháng sinh mạch khác với lợi ích sống còn
đã được chứng minh ở điều trị bước hai Nghiên cứu REVEL pha 3 so sánh sự kết hợp ramucirumab cộng với docetaxel và docetaxel đơn lẻ Đáng chú ý là trong nghiên cứu này, những bệnh nhân đã dùng bevacizumab trước đây và những bệnh nhân
có mô học tế bào vảy bị loại trừ OS và PFS cải thiện ít NCCN đề nghị sử dụng kết hợp ramucirumab với docetaxel, nhưng việc sử dụng phác đồ này dường như chưa được áp dụng rộng rãi, có thể do lo ngại về độc tính
và chi phí cao Hiện nay, phác đồ kết hợp bevacizumab và bộ đôi platin được chấp thuận nhiều hơn
5.3 Kết hợp với liệu pháp nhắm trúng đích Mặc dù liệu pháp nhắm trúng đích đã
cải thiện đáng kể tỷ lệ sống còn của bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ có đột biến EGFR hoặc tái sắp xếp ALK nhưng không thể phủ nhận rằng lợi ích về OS một phần là
do việc sử dụng hóa trị tiếp theo sau khi TKI thất bại Theo quan điểm này, kết hợp TKI
và hóa trị như một phương pháp điều trị cho ung thư phổi không tế bào nhỏ tiến xa đang được xem xét về tính khả thi Nghiên cứu INTACT-1 kết hợp gefitinib và gemcitabine/ cisplatin Mặc dù không có tác dụng phụ nhiều nhưng cũng không có lợi ích lâm sàng nào ở nhóm phối hợp Một nghiên cứu pha 3 khác, erlotinib cộng với gemcitabine/ cisplatin cũng không chứng minh được lợi
Trang 5ích lâm sàng so với nhóm đối chứng Nghiên
cứu này ghi nhận một phân nhóm nhỏ không
bao giờ hút thuốc có OS và PFS tăng lên
trong nhóm kết hợp thuốc
Nghiên cứu FASTACT-2 lần đầu tiên đã
chứng minh lợi ích tiềm năng của kết hợp
hóa trị cộng với EGFR-TKI Trong nghiên
cứu này, sự kết hợp xen kẽ giữa hóa trị và
erlotinib (150mg/ ngày vào các ngày 15 –
28) có liên quan đến PFS tốt hơn (16,8 tháng
so với 6,9 tháng) và OS tốt hơn (31,4 tháng
so với 20,6 tháng) khi chỉ hóa trị ở bệnh nhân
đột biến gen EGFR Mặc dù có những phát
hiện tích cực này, kết hợp erlotinib với hóa
trị vẫn chưa được khuyến cáo trong các
hướng dẫn, có thể do các vấn đề về lịch trình
dùng thuốc, cách xen kẽ chưa tối ưu
5.4 Kết hợp với liệu pháp miễn dịch
Hóa trị có thể giúp bướu nhạy hơn với
ICI bằng cách giải phóng các kháng nguyên
đặc hiệu bướu, tăng tế bào lymphô gây độc tế
bào thành tế bào T điều hòa và ức chế các tế
bào có nguồn gốc từ dòng tủy Các nghiên
cứu tiền lâm sàng cũng cho thấy tác dụng
hiệp đồng của kết hợp hóa trị và ICI Nghiên
cứu KEYNOTE-021G pha 2 là một nghiên
cứu chứng minh tính ưu việt của việc kết hợp
hóa trị và liệu pháp miễn dịch trong ung thư
phổi tế bào nhỏ tiến xa Trong nghiên cứu
này, pemetrexed/ carboplatin kết hợp với
pembrolizumab cho thấy RR tốt hơn đáng kể
và PFS dài hơn so với hóa trị đơn thuần ở
những bệnh nhân chưa được điều trị trước
đó, không có đột biến EGFR hoặc tái sắp xếp
ALK Dựa trên những dữ liệu đó, sự kết hợp
này đã được FDA Hoa Kỳ cấp tốc phê duyệt
vào tháng 5 năm 2017
Lợi ích lâm sàng của kết hợp hóa trị và ICI đã được nghiên cứu trong
KEYNOTE-189 pha 3, trong đó điều trị duy trì bằng pemetrexed được cho phép ở nhánh đối chứng Pembrolizumab kết hợp với pemetrexed/carboplatin cho thấy sự cải thiện đáng kể trong cả PFS và OS ở 12 tháng (69,2% so với 49,4%) Ngoài ra, lợi ích lâm sàng được tìm thấy ở tất cả các phân nhóm được kiểm tra, bao gồm cả những người có PD-L1 TPS dưới 1% Các tác dụng ngoại ý
từ độ 3 trở lên xảy ra tương tự ở cả hai nhóm (67,2% ở nhóm kết hợp pembrolizumab và 65,8% ở nhóm kết hợp giả dược Việc bổ sung pembrolizumab dường như không làm tăng tác dụng ngoại ý thường liên quan đến pemetrexed/ carboplatin Nghiên cứu KEYNOTE-407 pha 3 (NCT02775435) cũng cho thấy đáp ứng tốt hơn và PFS và OS kéo dài hơn trong pembrolizumab kết hợp với carboplatin/ paclitaxel (hoặc nab-paclitaxel)
so với hóa trị đơn thuần ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào vảy di căn[8]
VI HÓA TRỊ UNG THƯ PHỔI GIAI ĐOẠN SỚM
Lợi ích sống còn của hóa trị hỗ trợ đối với ung thư phổi giai đoạn sớm đã được phẫu thuật cắt bỏ được chứng minh trong nhiều nghiên cứu trước đây Một phân tích tổng hợp gần đây đã chỉ ra rõ ràng lợi ích của hóa trị sau phẫu thuật cắt bỏ (HR, 0,86;
p < 0,0001) với sự gia tăng tuyệt đối thời gian sống thêm 4% sau 5 năm Lợi ích là nhất quán bất kể phác đồ hóa trị hoặc phân nhóm bệnh nhân Ở những bệnh nhân có bướu T2ab-N0, hóa trị hỗ trợ có thể được xem xét ở những bệnh nhân có các đặc điểm
Trang 6nguy cơ cao bao gồm bướu biệt hóa kém,
kích thước bướu 4cm hoặc lớn hơn, dính
màng phổi nội tạng, xâm lấn mạch máu, cắt
bỏ kiểu hình chêm và tình trạng hạch không
rõ
Ở những bệnh nhân N2 được cắt bỏ hoàn
toàn, hóa xạ trị sau phẫu thuật mang lại lợi
ích sống còn khi so sánh với hóa trị đơn
thuần Hóa xạ trị sau phẫu thuật có thể đồng
thời hoặc tuần tự tùy thuộc vào loại cắt bỏ và
tình trạng hạch Hóa - xạ trị đồng thời cũng
đã chứng minh lợi ích sống còn đối với ung
thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn III không thể
cắt bỏ được so với xạ trị đơn thuần Các phác
đồ được khuyến nghị để hóa trị là etoposide/
cisplatin, vinblastine/ cisplatin, paclitaxel/
carboplatin (cho cả mô học tế bào vảy và
không vảy), và pemetrexed/ cisplatin hoặc
pemetrexed/ carboplatin (cho mô học không
vảy) Nghiên cứu PROCLAIM pha 3 so sánh
hiệu quả và độ an toàn của pemetrexed/
cisplatin và etoposide/ cisplatin, sau đó là
hóa trị củng cố ở những bệnh nhân giai đoạn
III không thể cắt bỏ được Cả hai phác đồ
đều tương tự nhau về tỷ lệ sống còn nhưng
phác đồ pemetrexed/ cisplatin giảm bạch cầu
ít hơn (24,4% so với 44,5%) và ít tác dụng
phụ hơn (64,0% so với 76,8%)(8)
VII DẤU ẤN SINH HỌC TIỀM NĂNG
Việc phát hiện và ứng dụng lâm sàng các
dấu ấn sinh học là rất quan trọng không chỉ
để phát hiện sớm bệnh mà còn để xác định
những bệnh nhân được mong đợi để có đáp
ứng tốt nhất với liệu pháp Mặc dù có nhiều
nghiên cứu, cho đến nay không có dấu ấn
sinh học nào được tìm thấy có ý nghĩa lâm
sàng đối với việc dự đoán kết quả sau hóa trị Đột biến KRAS đã được chứng minh là có liên quan đến khả năng sống còn kém của bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ trong một số nghiên cứu nhưng nó cũng không dự đoán về hiệu quả hóa trị
Thymidylate synthase (TS) là nhắm đích chính của pemetrexed và sự biểu hiện của nó
có liên quan đến đáp ứng với điều trị antifolate trong các bệnh ung thư khác nhau, bao gồm ung thư dạ dày, thực quản và đại trực tràng Trong ung thư phổi không tế bào nhỏ, biểu hiện protein TS cao có liên quan đến tiên lượng xấu sau khi cắt bỏ phổi và mức mRNA TS cao có liên quan đến đáp ứng kém với điều trị pemetrexed/ gemcitabine hỗ trợ Trong thử nghiệm JMDB pha 3, sự kết hợp pemetrexed/ cisplatin cho thấy tỷ lệ sống sót tốt hơn ở những bệnh nhân có mô bệnh học không vảy, trong khi gemcitabine/ cisplatin có tỷ lệ sống sót tốt hơn ở những bệnh nhân có mô học vảy Đáp ứng kém của ung thư biểu mô tế bào vảy với pemetrexed được cho là có liên quan đến mức TS cao trong mô học này Do đó, TS có thể là một dấu hiệu tiên đoán trong hóa trị liệu dựa trên pemetrexed[9]
VIII KẾT LUẬN
Trong những thập kỷ qua, chúng ta đã nhận thấy sự tiến bộ vượt bậc trong phương pháp điều trị ung thư phổi Mặc dù sự phát triển của hóa trị không quá ấn tượng so với liệu pháp nhắm trúng đích và thuốc miễn dịch, nhưng bằng chứng cho thấy rõ ràng rằng hóa trị vẫn là một phần thiết yếu của điều trị ung thư phổi, bất kể giai đoạn, mô
Trang 7học, loại đột biến và tình trạng miễn dịch
Việc đưa ra các chiến lược điều trị mới, bao
gồm điều trị duy trì, thuốc mới và kết hợp
với các nhóm thuốc chống ung thư khác, đã
cho thấy sự cải thiện rõ ràng về tỷ lệ sống và
độc tính, so với phương pháp điều trị thông
thường Nhìn chung, hóa trị vẫn hoạt động
ngay cả trong thời đại y học chính xác này
Các nghiên cứu trong tương lai phải tập
trung vào việc phát triển các phương pháp
hóa trị mới với hiệu quả cao và ít độc tính
hơn, đồng thời xác định các dấu ấn sinh học
dự đoán hoặc tiên lượng tiềm năng để giảm
thiểu độc tính và tối ưu hóa hiệu quả của hóa
trị, bằng cách chọn một chế độ tối ưu cho
từng bệnh nhân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Schiller JH, Krook J, et al Comparison of
four chemotherapy regimens for advanced
non-small-cell lung cancer N Engl J Med 2002
2 Ciuleanu T, Laack E, et al Maintenance
pemetrexed plus best supportive care versus
placebo plus best supportive care for
non-small-cell lung cancer: a randomised,
double-blind, phase 3 study Lancet 2009
3 Rossi A, Di Maio M Platinum-based
chemotherapy in advanced non-small-cell
lung cancer: optimal number of treatment cycles Expert Rev Anticancer Ther 2016
chemotherapy for advanced non-small-cell lung cancer: a systematic review and meta-analysis of randomized trials J Clin Oncol
2009
5 Rossi A, Barata F, et al Six versus fewer
planned cycles of first-line platinum-based chemotherapy for non-small-cell lung cancer:
a systematic review and meta-analysis of individual patient data Lancet Oncol 2014
6 Blair HA, Deeks ED Albumin-bound
paclitaxel: a review in non-small cell lung cancer Drugs 2015
7 Reck M, Hirsh V, et al Phase III trial of
cisplatin plus gemcitabine with either placebo or bevacizumab as first-line therapy for nonsquamous non-small-cell lung cancer: AVAil J Clin Oncol 2009
8 Ramakrishnan R, Gabrilovich DI Novel
mechanism of synergistic effects of conventional chemotherapy and immune therapy of cancer Cancer Immunol Immunother 2013
9 Monica V, Scagliotti GV, Ceppi P, Righi
L, Cambieri A, Lo Iacono M, et al
Differential thymidylate synthase expression
in different variants of large-cell carcinoma
of the lung Clin Cancer Res 2009