Bài viết Khảo sát nguy cơ ác tính của hạt giáp nhóm Bethesda nhóm III/ IV sau phẫu thuật trình bày việc đánh giá đặc điểm siêu âm và nguy cơ ác tính của hạt giáp nhóm Bethesda III/ IV được phẫu thuật.
Trang 1KHẢO SÁT NGUY CƠ ÁC TÍNH CỦA HẠT GIÁP NHÓM BETHESDA III/ IV SAU PHẪU THUẬT
Nguyễn Thị Thu Quỳnh 1 , Diệp Bảo Tuấn 2 ,
Âu Nguyệt Diệu 3 , Võ Duy Phi Vũ 4
TÓM TẮT 3
Giới thiệu: Bethesda nhóm III/ IV được xem
là “vùng xám” trong tế bào học của hạt giáp
Nguy cơ ác tính của nhóm này dao động khá
rộng giữa các nghiên cứu trên những chủng tộc
và vùng địa lý khác nhau Tuy nhiên còn khá ít
dữ liệu về nhóm này trên dân số Việt Nam
Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm siêu âm và
nguy cơ ác tính của hạt giáp nhóm Bethesda III/
IV được phẫu thuật
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu hồi cứu trên tất cả bệnh nhân đến
khám vì hạt giáp có kết quả FNA thuộc nhóm
Bethesda III/ IV tại Bệnh viện Ung Bướu
TP.HCM trong khoảng thời gian từ tháng
01/2020 đến hết tháng 12/2021 Trong số đó, 158
bệnh nhân với 160 hạt giáp có thực hiện phẫu
thuật được thu nhận vào nghiên cứu
Kết quả: Trên siêu âm, các yếu tố bờ không
đều, giới hạn không rõ, echo kém và vi vôi hóa là
1
BSNT Bệnh viện Ung Bướu TP HCM
2 TS.BS Phó Giám đốc bệnh viện - Bệnh viện Ung
Bướu TP HCM
3 TS.BS Phó Trưởng khoa Giải phẫu bệnh - Bệnh
viện Ung Bướu TP HCM; Chủ nhiệm Bộ môn
Giải phẫu bệnh ĐHYK Phạm Ngọc Thạch
4 Trưởng khoa Ngoại đầu cổ, tai mũi họng - Bệnh
viện Ung Bướu TP HCM
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Thu Quỳnh
Email: thuquynh.nttq@gmail.com
Ngày nhận bài : 25/9/2022
Ngày phản biện: 30/9/2022
Ngày chấp nhận đăng: 25/10/2022
các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ ác tính của hạt giáp Trong số đó, bờ không đều là yếu tố tiên lượng độc lập (p = 0,01) Điểm TIRADS từ 6 điểm trở lên có giá trị gợi ý ác tính với AUC = 0,836 Nguy cơ ác tính sau mổ của nhóm Bethesda III là 26,6%, Bethesda IV là 27,5% và Bethesda III/ IV là 26,9%
Kết luận: Nguy cơ ác tính của Bethesda III
là 26,6% và Bethesda IV là 27,5%, và siêu âm đóng vai trò quan trọng trong việc gợi ý hạt giáp lành tính hay ác tính
SUMMARY EVALUATION OF RISK OF MALIGNANCY OF OPERATED THYROID NODULES CLASSIFIED AS
BETHESDA III/ IV
Introduction: The cases classified as
Bethesda III/IV are seemed to be a “gray zone”
in thyroid cytopathology Many previous studies have shown a wide variation in malignancy rates
of Bethesda III/ IV thyroid nodules in different regions and institution across the world
Objectives: To evaluate the ultrasonographic
features and risk of malignancy of thyroid FNAs categorized as Bethesda III/ IV operated at Ho Chi Minh City Oncology
Patients and methods: A retrospective
research was performed on all patients with thyroid nodules proven Bethesda category III and
IV who presented to Ho Chi Minh City Oncology Hospital from 01/2020 to 12/2021 158 patients with 160 thyroid nodules that underwent surgery were included in the study
Trang 2Results: Ultrasonographic features as
irregular margin, irregular contour, hypoechoic
and microcalcification are associated with
malignant rate of thyroid nodules Irregular
margin is an independent prognostic factor
(p = 0,01) TIRADS score at least 6 points
could be suspicious of malignancy with AUC =
0,836 Risk of malignacy of Bethesda III thyroid
nodules is 26,6%, of Bethesda IV is 27,5% and
Bethesda III/IV is 26,9%
Conclusion: Risk of malignancy of Bethesda
III is 26,6%, of Bethesda IV is 27,5%, and
ultrasound plays a vital role to differentiate
benign and malignant thyroid nodule
Keywords: risk of malignancy, thyroid
nodules, Bethesda III, Bethesda IV
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA) là
tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán các tổn thương
tuyến giáp, với độ nhạy 78%, độ đặc hiệu
100%, giá trị tiên đoán dương 100% và giá
trị tiên đoán âm 92%[7] Kết quả FNA tuyến
giáp phân loại theo hệ thống Bethesda 2017,
trong đó có một nhóm đáng chú ý gọi chung
là nhóm tế bào học không xác định, bao gồm
Bethesda nhóm III (tế bào không điển hình
chưa xác định ý nghĩa hoặc tổn thương dạng
nang chưa xác định ý nghĩa) và Bethesda
nhóm IV (tân sinh dạng nang hoặc nghi ngờ
tân sinh dạng nang) Theo nhiều nghiên cứu
khác nhau trên thế giới, tỉ lệ ác tính sau mổ
của nhóm này phân bố khá rộng, dao động từ
10 – 40%[1],[3],[8],[9] Khuyến cáo điều trị
hiện chưa thống nhất giữa các tổ chức trên
thế giới, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc
điểm lâm sàng, đặc điểm hạt giáp trên siêu
âm,…[4],[6] Vì vậy chúng tôi thực hiện
nghiên cứu này để khảo sát nguy cơ ác tính
và các đặc điểm siêu âm ở hạt giáp nhóm
Bethesda III/ IV, nhằm gợi ý phương hướng
quản lý điều trị cho nhóm hạt giáp tế bào học không xác định
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân có kết quả FNA hạt giáp là Bethesda nhóm III/ IV, được siêu âm và phẫu thuật tại BVUB TP HCM được lựa chọn vào nghiên cứu Loại trừ những bệnh nhân có tiền căn phẫu thuật tuyến giáp, tiền căn can thiệp tuyến giáp không phẫu thuật,
hồ sơ thất lạc hoặc ghi nhận không đầy đủ,
và thất lạc lame FNA
Chúng tôi ghi nhận được có 651 bệnh nhân có kết quả FNA là Bethesda III/ IV, trong đó có 411 trường hợp không phẫu thuật
do các lí do chính: kích thước hạt giáp nhỏ, hình ảnh siêu âm không nghi ngờ ác tính, và bệnh nhân từ chối phẫu thuật Sau khi khảo sát 240 bệnh nhân có phẫu thuật dựa trên tiêu chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn loại trừ, và tiến hành đọc lại lame FNA lần 2, chúng tôi thu nhận được vào nghiên cứu 158 bệnh nhân với 160 hạt giáp
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu cắt ngang mô tả trên những bệnh nhân có hạt giáp nhóm Bethesda III/ IV đến khám, nhập viện và phẫu thuật tại BVUB TP HCM từ tháng 01/2020 đến hết tháng 12/2021 Việc thu thập số liệu dựa trên hồ sơ bệnh án và tiêu bản tế bào học tuyến giáp được nhuộm theo phương pháp Papanicolaou Tiến hành đọc lại lame FNA lần 2 bởi bác sĩ chuyên khoa Giải phẫu bệnh
Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 25.0 Khảo sát mối tương quan giữa các biến bằng phép kiểm Chi bình phương Tương quan được xem là có ý nghĩa khi phép kiểm có giá trị p < 0,05 với độ tin cậy 95%
Trang 3III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm lâm sàng của nhóm bệnh nhân được khảo sát
Đặc điểm lâm sàng của dân số nghiên cứu của chúng tôi trình bày ở Bảng 1
Bảng 1 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân
Tình cờ phát hiện qua khám sức khỏe (42,41%)
3.2 Đặc điểm siêu âm
Trong số 160 hạt giáp được khảo sát, kích thước hạt giáp trung bình là 2,4 ± 0,1189cm, kích thước nhỏ nhất là 0,4cm, lớn nhất là 8cm, và 1 trường hợp bướu chiếm hoàn toàn 2 thùy tuyến giáp, không được đánh giá kích thước trên siêu âm Trong số đó, có 29 trường hợp hạt giáp kích thước ≤ 1cm, chiếm 18,1% Các đặc điểm siêu âm đối chiếu với giải phẫu bệnh sau
mổ được trình bày tại Bảng 2
Bảng 2 Đối chiếu đặc điểm siêu âm với giải phẫu bệnh sau mổ
Kết quả GPB sau mổ
p đơn biến
p
đa biến
Lành tính Ác tính
Số ca (Tỉ lệ
%)
Số ca (Tỉ lệ
%)
Bờ
p = 0,000 p = 0,01 Không đều/ đa
Giới hạn Không rõ 6 (46,2%) 7 (53,8%) p = 0,02 p =
0,935
Echo
p = 0,003 p =
0,330
Đồng âm 31 (93,9%) 2 (6,1%)
p = 0,081
Hỗn hợp 10 (90,9%) 1 (9,1%)
0,268
Tăng sinh mạch
ACR – TIRADS
TIRADS 1 8 (88,9%) 1 (11,1%)
p = 0,000
TIRADS 2 7 (100,0%) 0 (0,0%)
TIRADS 3 28 (96,6%) 1 (3,4%)
TIRADS 4 69 (76,7%) 21 (23,3%)
TIRADS 5 5 (20,0%) 20 (80,0%)
Trang 4Khi phân tích đơn biến, xác định được
các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ ác tính
sau mổ bao gồm: Bờ không đều, giới hạn
không rõ, echo kém và vi vôi hóa Sau khi
phân tích đa biến, xác định được yếu tố bờ
không đều là yếu tố tiên lượng độc lập ảnh
hưởng đến nguy cơ ác tính sau mổ (p =
0,01)
Giá trị tiên đoán hạt giáp ác tính của
thang điểm TIRADS được thể hiện qua AUC
là 0,836 (0,761 - 0,911), với p < 0,001 Điểm TIRADS từ 6 điểm trở lên có giá trị tiên đoán ác tính sau mổ của hạt giáp nhóm Bethesda III/IV với độ nhạy 65,1% và độ đặc hiệu 89,7% (Biểu đồ 1) Vì vậy, trong nhóm hạt giáp tế bào học không xác định, mặc dù cùng kết luận là TIRADS 4, nhưng trong trường hợp 4 - 5 điểm thì nguy cơ ác tính sẽ thấp hơn hẳn so với 6 điểm
Biểu đồ 1 Đường cong ROC của điểm TIRADS tiên đoán hạt giáp ác tính
Trong số 109 trường hợp Bethesda III, có 27 trường hợp TIRADS đạt từ 6 điểm trở lên, trong đó 21 trường hợp có GPB sau mổ là ác tính Trong số 51 trường hợp Bethesda IV, có 13 trường hợp TIRADS từ 6 điểm trở lên, và 7/13 trường hợp thật sự là ác tính
3.3 Đặc điểm phẫu thuật ở dân số nghiên cứu
Bảng 3 Phương pháp phẫu thuật
Bethesda III (n = 109) Bethesda IV (n = 51)
Trang 5Trong số 98 trường hợp cắt gần toàn bộ
và toàn bộ tuyến giáp, có 18 trường hợp kích
thước hạt giáp dưới 1cm, chiếm 18,4% Đối
với hạt giáp được đánh giá TIRADS từ 1 đến
3, phương pháp phẫu thuật thường được lựa
chọn là cắt 1 thùy tuyến giáp (chiếm 51,1%),
trong khi đó, ở nhóm TIRADS 4 - 5 thường
được cắt gần toàn bộ hay toàn bộ tuyến giáp
(chiếm 66,1%)
3.4 Nguy cơ ác tính của hạt giáp nhóm
Bethesda III/ IV
Trong số 109 trường hợp Bethesda III, có
29 trường hợp sau mổ có GPB là ác tính Do
đó, nguy cơ ác tính của nhóm Bethesda III là
26,6% Có 51 trường hợp thuộc nhóm
Bethesda IV, trong đó có 14 trường hợp sau
mổ là ác tính Nguy cơ ác tính của nhóm
Bethesda IV là 27,5% Nguy cơ ác tính
chung của nhóm tế bào học không điển hình
là 26,9%
IV BÀN LUẬN
Nhóm Bethesda III được xem là “vùng
xám” trong hệ thống phân loại Bethesda
Một số nghiên cứu đáng tin cậy được sử
dụng trong cập nhật của hệ thống Bethesda
2017 như phân tích gộp của tác giả Sheffield
năm 2014, hay phân tích gộp của tác giả
Straccia năm 2015 cho thấy tỉ lệ ác tính của
nhóm Bethesda III lần lượt là 19 - 38% và
27%[9],[10] Kết quả này gần tương đồng
với nghiên cứu của chúng tôi là 26,6%
Ngược lại, nghiên cứu của tác giả Godoi
Cavalheiro năm 2017 có tỉ lệ ác tính thấp
hơn hẳn, chỉ đạt 15,7%[3] Sự khác biệt rõ
rệt này là do sai số khi chọn mẫu Nghiên
cứu của chúng tôi cũng như các tác giả
Sheffield hay Straccia thực hiện trên bệnh
nhân có hạt giáp Bethesda III đã qua chọn
lọc dựa trên một số yếu tố như tuổi tác, tâm
lý bệnh nhân, kích thước hạt giáp, đặc điểm
siêu âm,… sau đó mới được phẫu thuật Trong khi đó, ở nghiên cứu của tác giả Godoi Cavalheiro, toàn bộ bệnh nhân có hạt giáp Bethesda III đều được phẫu thuật Chính vì vậy, cập nhật của hệ thống Bethesda 2017 đưa ra độ rộng nguy cơ ác tính của nhóm Bethesda III là từ 10% đến 30% - một khoảng dao động khá rộng
Trái lại với nhóm Bethesda III, nguy cơ
ác tính của nhóm Bethesda IV dường như đạt được sự tương đồng nhiều hơn giữa các nghiên cứu trên thế giới Theo nghiên cứu của tác giả Bongiovanni, Sheffield và Straccia, tỉ lệ ác tính của nhóm Bethesda IV lần lượt là 26,1%, 27 - 40% và 31%, tương đồng với nghiên cứu của chúng tôi là 27,5%[1],[8],[9] Thuật ngữ “tân sinh” (“neoplasm”) đã tác động không hề nhỏ lên quyết định điều trị, do đó, trong các nghiên cứu trên, hơn 70% số bệnh nhân có kết quả FNA hạt giáp là Bethesda IV đã được phẫu thuật
Siêu âm là công cụ hữu ích để dự đoán hạt giáp ác tính và giúp lựa chọn hạt giáp nào cần được FNA Một số yếu tố siêu âm gợi ý nghi ngờ ác tính, như echo kém, bờ không đều, vi vôi hóa, trục dọc, xâm lấn ngoài tuyến giáp Mặc dù không yếu tố riêng lẻ nào
đủ độ tin cậy để nghi ngờ ác tính, tuy nhiên, việc kết hợp giữa các yếu tố này làm tăng độ chính xác của chẩn đoán Trong nghiên cứu của chúng tôi, bờ không đều là một yếu tố tiên lượng độc lập, với p = 0,01 Điều này tương tự với các nghiên cứu của tác giả Chng
và tác giả Maia, khi họ chứng minh rằng bờ không đều là yếu tố tiên lượng mạnh nhất, với giá trị tiên đoán dương lên đến 100%[2],[5] Ngoài ra các yếu tố vi vôi hóa, echo kém trong nghiên cứu của chúng tôi là những yếu tố có ảnh hưởng đến nguy cơ ác tính sau mổ
Trang 6Đối với nhóm tổn thương dạng nang nói
chung, kết quả TIRADS có mối tương quan
chặt chẽ với nguy cơ ác tính sau mổ Điểm
TIRADS càng cao thì nguy cơ ác tính càng
cao, và lên đến 100% khi có đủ 5 yếu tố nghi
ngờ ác tính, theo tác giả Chng[2] Một
nghiên cứu khác của tác giả Maia cho thấy
rằng TIRADS 3/4A đạt giá trị tiên đoán âm
cao trong nhóm Bethesda III, và nên cân
nhắc phẫu thuật ở nhóm bệnh nhân có
TIRADS 4B/5 kết hợp với kết quả FNA hạt
giáp là Bethesda III/ IV[5] So sánh với các
nghiên cứu trên, nghiên cứu của chúng tôi sử
dụng thang điểm ACR-TIRADS 2017, phiên
bản mới hơn với cập nhật trong việc loại bỏ
đi vai trò của tăng sinh mạch máu Dù có sự
khác biệt như vậy, nhưng nghiên cứu của
chúng tôi cũng đưa đến kết luận tương tự
như các nghiên cứu trên, điểm TIRADS càng
cao thì nguy cơ ác tính sau mổ càng cao Giá
trị cut-off theo nghiên cứu của chúng tôi là 6
điểm, với AUC = 0,836
Việc quản lý điều trị cho nhóm này cũng
cần chú ý Theo khuyến cáo của NCCN 2021
hay ATA 2015[4],[6], đối với hạt nhóm
Bethesda III/ IV, nếu không có yếu tố nguy
cơ cao thì có thể cân nhắc giữa theo dõi sát
mỗi 3 – 6 tháng, lặp lại FNA lần 2, thực hiện
xét nghiệm sinh học phân tử, hoặc phẫu
thuật Nếu lựa chọn phẫu thuật thì nên cắt 1
thùy tuyến giáp, mục đích vừa để chẩn đoán
vừa để điều trị Bên cạnh đó, theo khuyến
cáo của NCCN 2021, riêng trường hợp
Bethesda IV nhóm tân sinh dạng tế bào
Hurthle, cân nhắc ưu tiên lựa chọn cắt toàn
bộ tuyến giáp[6] Tuy nhiên, theo nghiên cứu
của chúng tôi, có đến trên 60% số bệnh nhân
được phẫu thuật cắt gần toàn bộ tuyến giáp
và cắt toàn bộ tuyến giáp Kết luận TIRADS
có ảnh hưởng đến quyết định phẫu thuật, khi
có đến 66,1% bệnh nhân nhóm TIRADS 4 -
5 được cắt gần toàn bộ hoặc toàn bộ tuyến giáp Không những vậy, một số bệnh nhân có viêm giáp kèm theo, hoặc có phình giáp đa hạt ở thùy còn lại, dẫn đến việc không đảm bảo được vai trò tuyến giáp Vì vậy, việc quyết định độ rộng phẫu thuật không chỉ phụ thuộc vào đặc điểm của hạt giáp được khảo sát, mà còn liên quan đến phần tuyến giáp còn lại, cũng như nguyện vọng của bệnh nhân
Dựa trên kết quả nghiên cứu của chúng tôi, một số đề xuất về quản lý điều trị có thể đưa ra như sau: Những trường hợp siêu âm kết luận hạt giáp TIRADS 1 - 3 hay TIRADS
4 (4 - 5 điểm), FNA là Bethesda III/ IV, có thể lựa chọn theo dõi sát hoặc FNA lần 2 do nguy cơ ác tính thấp Nếu hạt giáp kích thước lớn ảnh hưởng chất lượng cuộc sống hay ảnh hưởng thẩm mỹ hoặc bệnh nhân nguyện vọng muốn phẫu thuật, phẫu thuật được ưu tiên là cắt 1 thùy tuyến giáp[2] Khi siêu âm kết luận hạt giáp TIRADS 4 (6 điểm) hay TIRADS 5, FNA là Bethesda III/ IV, cân nhắc phẫu thuật cắt gần toàn bộ tuyến giáp hay cắt toàn bộ tuyến giáp nếu bướu kích thước > 4cm (tương tự như chỉ định ở hạt giáp được xác định là ác tính[6]) hoặc khi có
đa nhân giáp 2 thùy Nếu hạt giáp đơn độc kích thước nhỏ, ưu tiên lựa chọn cắt 1 thùy tuyến giáp
Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất trong nghiên cứu của chúng tôi là đây là nghiên cứu hồi cứu, dẫn đến tồn tại sai số lựa chọn, vì nguy
cơ ác tính chỉ được tính trên những bệnh nhân có được phẫu thuật, làm cho việc đánh giá có thể quá mức Do đó kết quả nghiên cứu chỉ làm tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo, mà chưa đủ đặc hiệu để đưa ra hướng dẫn điều trị chung cho dân số Việt Nam Cần có nghiên cứu chuyên sâu trên dân
số rộng hơn để có thể xây dựng một khuyến cáo chung
Trang 7V KẾT LUẬN
Nguy cơ ác tính của Bethesda III là
26,6% và Bethesda IV là 27,5% Siêu âm
đóng vai trò quan trọng trong việc gợi ý hạt
giáp lành tính hay ác tính Việc quản lý điều
trị ở nhóm bệnh nhân có tế bào học không
xác định cần được cân nhắc kĩ dựa trên lâm
sàng, kết quả FNA và siêu âm để tránh việc
can thiệp quá mức
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bongiovanni M., Spitale A., Faquin W C.,
et al (2012) “The Bethesda System for
Reporting Thyroid Cytopathology: a
meta-analysis” Acta cytologica, 56(4), pp333–
339
2 Chng, C L., Kurzawinski, T R., & Beale,
T (2015) Value of sonographic features in
predicting malignancy in thyroid nodules
diagnosed as follicular neoplasm on
cytology Clinical endocrinology, 83(5),
pp711–716
3 Godoi Cavalheiro B., Kober Nogueira
Leite A., Luongo de Matos L., et al (2017)
“Malignancy Rates in Thyroid Nodules
Classified as Bethesda Categories III and IV:
Retrospective Data from a Tertiary Center”
International journal of endocrinology and
metabolism, 16(1), e12871
4 Haugen B R., Alexander E K., Bible K
C., et al (2016) “2015 American Thyroid
Association Management Guidelines for
Adult Patients with Thyroid Nodules and
Differentiated Thyroid Cancer: The
American Thyroid Association Guidelines
Task Force on Thyroid Nodules and Differentiated Thyroid Cancer” Thyroid : official journal of the American Thyroid Association, 26(1), pp1–133
5 Maia, F F., Matos, P S., Pavin, E J., et al
(2015) Thyroid imaging reporting and data system score combined with Bethesda system for malignancy risk stratification in thyroid nodules with indeterminate results on cytology Clinical endocrinology, 82(3), 439–444
6 National Comprehensive Cancer Network
(2021) Thyroid carcinoma (version 1.2021)
https://www.nccn.org/professionals/physicia n_gls/pdf/thyroid.pdf
7 Nguyễn Trúc Dung, Trần Quang Nam
(2019) “Đặc điểm tế bào học và giải phẫu bệnh bướu giáp nhân đã phẫu thuật” Tạp chí
Y học TPHCM, Phụ bản tập 23 (1), tr.209–
2014
8 Sheffield, B S., Masoudi, H., Walker, B.,
et al (2014) Preoperative diagnosis of
thyroid nodules using the Bethesda System for Reporting Thyroid Cytopathology: a comprehensive review and meta-analysis Expert review of endocrinology & metabolism, 9(2), 97–110
9 Straccia, P., Rossi, E D., Bizzarro, T., et
al (2015) A meta-analytic review of the
Bethesda System for Reporting Thyroid Cytopathology: Has the rate of malignancy
in indeterminate lesions been underestimated? Cancer cytopathology, 123(12), 713–722