Bài viết Đánh giá hiệu quả phẫu thuật cắt thanh quản bảo tồn tái tạo dây thanh bằng băng thanh thất tại Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng trình bày đánh giá kết quả sau phẫu thuật cắt thanh quản bảo tồn tái tạo dây thanh bằng băng thanh thất.
Trang 1ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHẪU THUẬT CẮT THANH QUẢN
BẢO TỒN TÁI TẠO DÂY THANH BẰNG BĂNG THANH THẤT
TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU ĐÀ NẴNG
Nguyễn Văn Liên 1 , Huỳnh Kim Hồng Văn 2 TÓM TẮT 6
Mục tiêu: Đánh giá kết quả sau phẫu thuật
cắt thanh quản bảo tồn tái tạo dây thanh bằng
băng thanh thất
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Cắt ngang mô tả 18 bệnh nhân ung thư thanh
quản được phẫu thuật cắt thanh quản bảo tồn tái
tạo dây thanh bằng băng thanh thất tại Bệnh viện
Ung Bướu Đà Nẵng từ 01/2015 đến 09/2022
Kết quả: Phẫu thuật cắt ung thư thanh quản
bảo tồn tái tạo dây thanh bằng băng thanh thất
phục hồi được khuyết hổng thanh môn, cải thiện
chức năng phát âm, bệnh nhân ăn uống được
ngay sau mổ, thời gian rút được canuyn ngắn,
chất lượng giọng nói chủ quan theo VHI-10 tốt,
nội soi thanh quản có 38,9% trường hợp đóng
thanh quản hoàn, tất cả đều di động sụn phễu tốt
Di chứng sau phẫu thuật là dính mép trước, mô
hạt quá phát, 1 trường hợp tái phát
Từ khóa: Phẫu thuật cắt thanh quản bảo tồn,
cắt dây thanh, cắt thanh quản bán phần dọc trán
bên, tái tạo bằng băng thanh thất (dây thanh âm
giả), chỉ số đánh giá chất lượng giọng nói chủ
quan theo VHI-10
SUMMARY
EVALUATE THE RESULTS OF
CONSERVATIVE LARYNGECTOMY
1
BSCKII Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng
2
BSNT Bệnh viện Ung Bướu Đà Nẵng
Chịu trách nhiệm chính: Huỳnh Kim Hồng Văn
Email: bshongvan2016@gmail.com
Ngày nhận bài : 12/9/2022
Ngày phản biện: 30/9/2022
SURGERY WITH THE FALSE VOCAL FOLD FLAP RECONSTRUCTION AT
DA NANG ONCOLOGY HOSPITAL
Purpose: To evaluate the effects of
conservative laryngectomy surgery with the false vocal fold flap reconstruction at Da Nang Oncology hospital
Materials and method: Cross-sectional
descriptive study 18 cases conservative laryngectomy surgery with the false vocal fold flap reconstruction was treated at Da Nang Oncology Hospital from 01/2015 to 09/2022
Results: Conservative laryngectomy surgery
with the false vocal fold flap reconstruction fill the defect space, improved vocal function, patients could eat and drink immediately after surgery, cannula withdrawal time was short, good voice handicap index-10 Laryngeal closure was considered complete in 38,9% of cases Arytenoid movement was symmetrical in 100%
of the case Postoperative sequelae are anterior glottic web, granuloma, 1 case of cancer recurrence
surgery, cordectomy, frontolateral laryngectomy, vestibular flap (false vocal fold flap) reconstruction, voice handicap index-10 (VHI-10)
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư thanh quản giai đoạn sớm T1a, T1b được phẫu thuật bằng phương pháp cắt thanh quản bảo tồn bao gồm cắt dây thanh, cắt thanh quản bán phần dọc trán bên Sau
Trang 245
0,5cm; các khuyết hổng còn lại trải qua quá
trình tự lành thương bằng mô hạt, tuy nhiên
khuyết hổng còn lại vẫn còn lớn và không
đạt được chất lượng giọng nói tốt Réthi là
người đầu tiên sử dụng vạt băng thanh thất
để tái tạo khuyết hổng sau khi cắt dây thanh
Vạt băng thanh thất có ưu điểm là vạt tại chỗ,
đảm bảo đủ đường kính của lòng thanh quản
để hô hấp dễ dàng, vạt có thể tích thích hợp
để che lấp khuyết hổng và mật độ mô mềm
phù hợp để phục hồi giọng nói, đảm bảo nuốt
an toàn và tránh hít sặc[4]
Mục tiêu:
Đánh giá kết quả lâm sàng, cận lâm sàng
bệnh nhân ung thư thanh quản
Đánh giá kết quả sau phẫu thuật cắt thanh
quản bảo tồn tái tạo dây thanh bằng băng
thanh thất
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân ung thư thanh quản
được phẫu thuật cắt thanh quản bảo tồn tái
tạo dây thanh bằng băng thanh thất tại Bệnh
viện Ung Bướu Đà Nẵng từ 01/2015 đến
09/2022
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
Lấy tất cả các ca thỏa tiêu chuẩn chọn
mẫu trong thời gian thu thập số liệu
Cách tiến hành
Bệnh nhân ung thư thanh quản được đánh
giá lâm sàng bao gồm giọng nói khàn, hạch
cổ, khối vùng cổ, đánh giá nuốt; cận lâm
sàng bao gồm nội soi tai mũi họng đánh giá u
thanh quản, sự di động của dây thanh,
CTscan hàm mặt, lồng ngực, nội soi dạ dày
thực quản Bệnh nhân được đánh giá giai
đoạn TNM, có chỉ định phẫu thuật cắt thanh
quản bảo tồn tái tạo dây thanh bằng băng
thanh thất Sau phẫu thuật đánh giá di chứng sau mổ, hô hấp, chất lượng giọng nói chủ quan theo VHI-10, nội soi thanh quả đánh giá đóng thanh quản, di động sụn phễu, rối loạn nuốt qua 3 đậm độ thức ăn (lỏng (nước), bán đặc (bánh bông lan mềm), đặc (bánh quy)
Mô tả kỹ thuật sử dụng vạt băng thanh thất tái tạo thanh môn
Bệnh nhân được phẫu thuật mở sụn giáp theo chiều dọc, cắt u thanh quản và dây thanh đến sát mặt trong sụn giáp Tạo vạt bằng băng thanh thất bằng cách bóc tách băng thanh thất khỏi sụn thanh quản, kéo trượt niêm mạc băng thanh thất khâu vào hạ thanh môn bằng chỉ Vicryl 4.0 Khâu cố định mép trước dây thanh vào sụn thanh quản bằng chỉ Vicryl 4.0 Đóng sụn thanh quản, màng nhẫn giáp bằng chỉ Vicryl 3.0 Dẫn lưu dịch và khí vùng mổ Đóng vết thương theo từng lớp
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Có 18 trường hợp ung thư thanh quản được phẫu thuật cắt thanh quản bảo tồn tái tạo dây thanh bằng băng thanh thất
Đặc điểm chung
Tuổi và giới Tuổi trung bình: 60 ± 9 (44 - 73) tuổi Nam giới 94,4%, nữ 5,6%
Đặc điểm lâm sàng, giải phẫu bệnh
Bệnh nhân nhập viện vì khàn tiếng 100% Carcinôm tế bào gai là 100%
Giai đoạn ung thư thanh quản
Trang 3Phương pháp phẫu thuật
Có 17 trường hợp tái tạo băng thanh thất
1 bên, 1 trường hợp T1b tái tạo băng thanh
thất 2 bên
Các di chứng sau phẫu thuật
Đánh giá hô hấp
Thời gian rút canuyn trung bình: 5,7 ± 5
(1 - 15) ngày
Không trường hợp nào khó thở sau rút
canuyn
Đánh giá nuốt
Thời gian bắt đầu ăn đường miệng trung bình: 4,6 ± 5 (1 - 15) ngày
Không trường hợp nào hít sặc, khó nuốt khi ăn 3 loại thức ăn lỏng, bán đặc, đặc
Đánh giá giọng nói Đánh giá chủ quan theo chỉ số đánh giá chức năng giọng nói VHI-10
Bệnh nhân hoàn thành bảng câu hỏi Thời điểm: Sau phẫu thuật 2 tháng - 1 năm
Điểm số:
0 = không bao giờ, 1 = hầu như không, 2
= đôi khi, 3 = thường gặp, 4 = luôn luôn
Trang 447
VHI trung bình: 69,7 ± 10 (59 - 101)
VHI-F trung bình: 23,5 ± 3,7 (19 - 32)
VHI-P trung bình: 23,4 ± 5,1 (16 - 35)
VHI-E trung bình: 22,8 ± 3,7 (16 - 34)
Nội soi thanh quản
Trang 5IV BÀN LUẬN
Chúng tôi nghiên cứu 18 trường hợp có
tuổi trung bình 60 tuổi, nam giới chiếm đa số
94,4%, nữ 5,6%, tất cả đều nhập viện vì khàn
tiếng, giải phẫu bệnh là Carcinôm tế bào gai
là 100%
Bệnh nhân đều được phẫu thuật ở giai
đoạn I, T1a chiếm 77,8%, T1b chiếm 22,2%
điều này phù hợp với chỉ định cắt thanh quản
bán phần dọc ở giai đoạn sớm T1 Trường
hợp T1a u ở 1/3 giữa dây thanh phẫu thuật là
cắt 1 dây thanh, T1b u xâm lấn mép trước và
dây thanh đối diện, phẫu thuật cắt bán phần
dọc thanh quản trán bên Có 17 bệnh nhân
được tái tạo dây thanh 1 bên; có 1 trường
hợp khối u ở mép trước xâm lấn hơn 1/3
trước bề mặt niêm mạc dây thanh 2 bên,
được tái tạo 2 dây thanh bằng băng thanh
thất Chống chỉ định của phẫu thuật tái tạo
bằng băng thanh thất là khối u xâm lấn lên
hố thanh thất, xuống hạ thanh môn vì vạt sẽ
không đủ mô để tái tạo thanh quản
Về di chứng sau phẫu thuật chúng tôi có
1 trường hợp có mô hạt viêm ở mép trước
gây khàn tiếng sau phẫu thuật 2 tháng, sau đó
bệnh nhân được nội soi sinh thiết cắt khối
mô viêm Brasnu[1] nghiên cứu thấy 18,1%
mô hạt viêm trên vạt gấp tiền đình và 3,7%
mô hạt ở mép trước Trong nghiên cứu của
Ricz H[4] không phát hiện mô hạt viêm sau
phẫu thuật có thể do vết mổ đóng hoàn toàn
Như vậy mô hạt viêm sau phẫu thuật hình
thành do niêm mạc không được khâu đóng
hoàn toàn trong lúc phẫu thuật
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 1
trường hợp có màng mép trước thanh quản,
bệnh nhân u dây thanh phải xâm lấn mép
trước, được phẫu thuật cắt bán phần trán bên,
chấn thương mép trước dây thanh và mép
trước nếp tiền đình thanh quản lúc phẫu thuật
có thể là nguyên nhân gây sẹo xấu mép trước thanh quản
Có một trường hợp tái phát sau phẫu thuật 2 tháng, bệnh nhân u dây thanh xâm lấn sát mép trước nhưng được phẫu thuật cắt dây thanh, bệnh nhân được cắt thanh quản toàn phần sau đó Như vậy tầm quan trọng của đánh giá sự di động dây thanh, vị trí khối u
để lựa chọn phương pháp phẫu thuật
Tất cả những bệnh nhân của chúng tôi đều rút được canuyn sớm sau phẫu thuật Rút canuyn khi kiểm soát được vấn đề chảy máu
và đảm bảo thông khí đường thở tự nhiên qua nội soi thanh quản kiểm tra Điều này phù hợp với nghiên cứu của tác giả Ricz H[4] đều rút được canuyn sau mổ, thời gian trung bình 6,2 (2 - 15) ngày, thậm chí trong nghiên cứu tác giả có 1 trường hợp dây thanh lành tính bị liệt khép 1 bên thì vạt gấp tiền đình tái tạo vẫn duy trì chức năng thở, như vậy độ dày và mật độ nhu mô vạt gấp tiền đình không làm che lấp đường thở Chúng tôi nội soi họng đánh giá thấy vạt di chuyển khép mở theo sụn phễu Trong nghiên cứu của chúng tôi có 1 trường hợp cắt bán phần thanh quản trán bên được tái tạo cả 2 dây thanh bằng băng thanh thất, sau mổ bệnh nhân thông khí tốt, băng thanh thất 2 bên di chuyển theo sụn phễu Như vậy vạt gấp tiền đình đảm bảo được chức năng thở và tạo rung động âm thanh
Về chức năng nuốt, chúng tôi cho bệnh nhân ăn đường miệng ngay sau mổ ngày thứ
1 sau khi cho bệnh nhân ăn thử thức ăn từ đặc (bánh quy), bán đặc (bánh bông lan mềm), lỏng (nước) không thấy sặc và khó nuốt, bệnh nhân sẽ được rút sonde dạ dày và
ăn đường miệng Theo tác giả Ricz H[4] đánh giá nuốt qua nội soi video đánh giá nuốt thấy chức năng nuốt và cơ vòng thanh quản
Trang 649
nghiên cứu của chúng tôi Tác giả Cetin
ZE[2] nghiên cứu chức năng nuốt ở bệnh
nhân cắt dây thanh không có tái tạo ghi nhận
20% khó nuốt thức ăn đặc và bán đặc mức độ
nhẹ trung bình Vậy tái tạo dây thanh bằng
băng thanh thất che lấp khuyết hổng vùng
dây thanh đã cắt hỗ trợ cho quá trình đóng
kín thanh quản khi nuốt làm giảm nguy cơ
hít sặc khi nuốt
Về đánh giá chức năng giọng nói VHI
trung bình 69,7, VHI-F 23,5, VHI-P 23,4,
VHI-E 22,8 theo tác giả Ricz H[4] nghiên
cứu 10 trường hợp cắt 1 dây thanh tái tạo
bằng băng thanh thất kết luận rằng sau phẫu
thuật tạo ra giọng nói bình thường (tần số cơ
bản của 205Hz, rung động 0,13%, nhấp nháy
1,16%), sự tham gia của vạt băng thanh thất
như cấu trúc rung thanh quản trong 90%
trường hợp Theo Kandogan T[3] đánh giá
chỉ số VHI ở bệnh nhân cắt thanh quản bán
phần ghi nhận tổng điểm VHI 0-30 nằm ở
ảnh hưởng giọng nói mức độ thấp, 31 - 60
trung bình, 61 - 120 nặng, tác giả nghiên cứu
11 trường hợp cắt thanh quản bán phần dọc
trán bên tái tạo dây thanh bằng băng thanh
thất có điểm số trung bình VHI 60,45, VHI-F
24, VHI-P 19,73, VHI-E 16,73 với so sánh P
lần lượt < 0,05 sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê có thể giải thích do nghiên cứu của chúng
tôi có những trường hợp có di chứng sau
phẫu thuật bệnh nhân có đánh giá chỉ số VHI
> 61 là nặng
Về nội soi thanh quản có 38,9% đóng
thanh quản hoàn toàn, 100% sụn phễu hoạt
động khép mở tốt Theo tác giả Saltürk Z[5]
nghiên cứu 8 trường hợp cắt thanh quản trán
bên có tái tạo ghi nhận 7 trường hợp đóng
không hoàn toàn, 1 đóng hoàn toàn Theo
Ricz H[4] 7 trường hợp đóng không hoàn
toàn, 3 đóng hoàn toàn
V KẾT LUẬN
Phẫu thuật cắt ung thư thanh quản bảo tồn tái tạo dây thanh bằng băng thanh thất được thực hiện ở giai đoạn I, vạt băng thanh thất phục hồi được khuyết hổng thanh môn, cải thiện chức năng phát âm, bệnh nhân ăn uống được ngay sau mổ, thời gian rút được canuyn ngắn, chất lượng giọng nói chủ quan theo VHI-10 tốt Để hạn chế di chứng sau phẫu thuật cần cải thiện kỹ thuật mổ tránh thiếu mô, tổn thương niêm mạc mép trước và đánh giá chính xác vị trí khối u, sự di động của dây thanh để lựa chọn phương pháp phẫu thuật thích hợp tránh nguy cơ tái phát
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Brasnu D, Laccourreye O, Weinstein G, Fligny I, Chabardes E (1992) “False cord
reconstruction of the glottis following vertical partial laryngectomy: a preliminary analysis”, Laryngoscope, 102:717- 719
2 Cetin ZE, Eyigor S, Ozturk K, Turhal G, Akyildiz S, Yavuzer A (2021) “Comparison
of swallowing in different types of partial laryngectomies” Turkish National Otorhinolaryngology and Head & Neck Surgery Congress (36) 10-17
3 Kandogan T, Sanal A (2005) “Voice
Handicap Index (VHI) in partial laryngectomy patients” KBB-Forum, 4(1)
4 Ricz H, Mamede C M R, Lílian A R
(2004) “Functional analysis of post-cordectomy larynx reconstructed with vestibular fold flap”, Rev Bras Otorrinolaringol, 70 (6), 727-733
5 Saltürk Z, Üstün O, et all… (2020) “Vocal
Function Following Frontolateral Laryngectomy” Eur Arch Med Res, 36 (2): 98-101