Nghiên cứu mối tương quan giữa thốn xương (chiều dài đốt giữa ngón tay giữa) với các kích thước dài của bàn tay, chi trên, chiều cao đứng trên người đã cho ra nhiều ứng dụng quan trọng trong các chuyên ngành như đông y, phục hồi chức năng, ngoại khoa, chấn thương chỉnh hình,… Bài viết trình bày xác định mối tương quan giữa thốn xương với một số kích thước dài của bàn tay, chi trên, chiều cao đứng của sinh viên Trường Đại học Y Dược Thái Bình.
Trang 1NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA THỐN XƯƠNG VỚI MỘT SỐ KÍCH THƯỚC BÀN TAY, CHI TRÊN VÀ CHIỀU CAO ĐỨNG TRÊN
SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
Vũ Duy Tùng 1 , Trần Thị Hằng 1 , Nguyễn Xuân Kiên 2 , Phạm Thị Thanh Vân 1 TÓM TẮT 14
Đặt vấn đề: Nghiên cứu mối tương quan giữa
thốn xương (chiều dài đốt giữa ngón tay giữa)
với các kích thước dài của bàn tay, chi trên,
chiều cao đứng trên người đã cho ra nhiều ứng
dụng quan trọng trong các chuyên ngành như
đông y, phục hồi chức năng, ngoại khoa, chấn
thương chỉnh hình,… Mục tiêu: Xác định mối
tương quan giữa thốn xương với một số kích
thước dài của bàn tay, chi trên, chiều cao đứng
của sinh viên Trường Đại học Y Dược Thái
Bình Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
từ 8/2021 - 3/2022 Chọn mẫu: 620 sinh viên
Trường Đại học Y Dược Thái Bình Kết quả: Các
kích thước thốn xương, chiều dài bàn tay, dài chi
trên, chiều cao đứng ở nam lớn hơn nữ, sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Trong đó
thốn xương có mối tương quan vừa với các kích
thước còn lại, trừ dài ngón tay giữa có tương
quan chặt chẽ ở nam giới (r = 0,66) Thốn xương
có tương quan chặt chẽ với dài ngón tay giữa và
dài bàn tay Một số phương trình hồi quy tuyến
tính được xây dựng dựa vào thốn xương: Dntg =
1,511 x Tx + 2,605 cm (chung cho hai giới)
Dntg = 1,280 x Tx + 3,502 cm (nam giới) Dbt =
3,186 x Tx + 6,636 cm (chung cho hai giới)
1 Đại học Y Dược Thái Bình
2
Học viện Quân y
Chịu trách nhiệm chính: Vũ Duy Tùng
Email:k.van222017@gamil.com
Ngày nhận bài: 15/7/2022
Ngày phản biện khoa học: 03/08/2022
Ngày duyệt bài: 19/08/2022
Từ khóa: Thốn xương, nhân trắc bàn tay, chi
trên, chiều cao đứng
SUMMARY CORRELATION OF PHALANX MEDIA
OF MEDIUS FINGER LENGTH WITH SOME ANTHROPOMETRY OF HAND, UPPER LIMBS, AND HEIGHT OF THAI BINH MEDICAL UNIVERSITY
The research of correlation of phalanx media
of medius finger length with some hand anthropometry, upper limbs, and height have produced applications in many important specialties of such as oriental medicine, rehabilitation, surgery, orthopedic trauma Objective: Identify correlation phalanx media of medius finger length with some hand anthropometry, upper limbs, and height of students of Thai Binh University of Medicine and Pharmacy Research method: Description of research progress from August 2021 to March
2022 Sample selection: 620 of students of Thai Binh University of Medicine and Pharmacy Result: Highly significant difference
in men and women mean phalanx media of medius finger length, hand length, upper length, and standing height was observed, p < 0.05 Also observed was a medium correlation between phalanx media of medius finger length and other dimensions, except medius finger length was a strong correlation of men (r = 0,66) Phalanx media of medius finger length had a strong correlation with medius finger length and hand length Regression equation to predict: Medius finger length = 2.605 + (1.511 x Phalanx media
of medius finger length) cm (overall) Medius
Trang 2finger length = 3.502 + (1.280 x Phalanx media
of medius finger length) cm (men) Hand length
= 6.636 + 3.186 x Phalanx media of medius
finger length) cm (overall)
Keyword: Phalanx media of medius finger
length, hand anthropometry, upper limb, standing
height
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghiên cứu mối tương quan giữa thốn
xương (chiều dài đốt giữa ngón tay giữa) với
một số kích thước dài của bàn tay, chi trên,
chiều cao đứng của cơ thể đã cung cấp dữ
liệu nhân trắc quan trọng để làm cơ sở cho
thiết kế, sản suất công cụ lao động, sinh hoạt
và ứng dụng trong các chuyên ngành như
phục hồi chức năng, ngoại khoa, chấn
thương chỉnh hình, hay đặc biệt trong đông y
[1], [2], [3] Trên thế giới có nhiều nghiên
cứu về các kích thước này, tuy nhiên kết quả
là chưa phù hợp khi áp dụng trên người Việt
Nam [4], [5] Ở Việt Nam, các công trình
nghiên cứu về mối tương quan này còn hạn
chế và đã được công bố từ khá lâu [1] Vì
vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài
nhằm: Xác định mối tương quan giữa thốn
xương với một số kích thước dài của bàn tay,
chi trên, chiều cao đứng của sinh viên
Trường Đại học Y Dược Thái Bình
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo phương
pháp mô tả cắt ngang
2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
Các sinh viên đang học tập trực tiếp tại
Trường Đại học Y Dược Thái Bình
Không có bất thường về cấu trúc giải
phẫu
Không có dị dạng, dị tật bẩm sinh gây ảnh
hưởng đến các kích thước nhân trắc: gù, vẹo, teo cơ, cụt chi…
Không can thiệp hay phẫu thuật tạo hình chi
Không mắc các bệnh lý ảnh hưởng đến sự phát triển về tầm vóc, thể chất của cơ thể Đồng ý tham gia nghiên cứu
- Tiêu chuẩn loại trừ: Các sinh viên không đạt tiêu chuẩn trên
2.3 Cỡ mẫu
- Ước tính số lượng mẫu theo công thức:
n = [6]
- Trong đó:
n: cỡ mẫu tối thiểu
: giá trị từ phân bố chuẩn (ứng với
mức ý nghĩa thống kê = 5% thì =1,96)
là độ lệch chuẩn
d là mức sai số tuyệt đối chấp nhận
- Qua tính toán chọn = 0,3 cm, d =0,04
cm, = 0,05 và làm tròn số liệu, n tối thiểu
là 216 Chúng tôi lựa chọn được 620 sinh viên đủ tiêu chuẩn
2.4 Phương tiện nghiên cứu
- Thước kẹp kim loại hiệu KDS mã DC – 150N của Nhật bản, sản xuất tại Trung quốc được phân chia tới 1mm với độ chính xác cao
- Thước dây bằng vật liệu nhựa Acrylic, nhãn hiệu KDS mã F10-20 của Nhật bản, đạt tiêu chuẩn chất lượng ISO 9001: 2001 được phân chia tới 1mm
Trang 32.5 Cách đo
1 Thốn xương
(Tx)
Đo chiều dài hai đầu xương đốt giữa ngón giữa phải
2 Dài ngón tay giữa
(Dntg)
Đo từ nếp gấp bàn ngón phải tới đầu mút ngón tay tương ứng
3 Dài gan bàn tay
(Dgbt)
Đo từ giữa nếp gấp cổ tay phải tới giữa nếp gấp bàn ngón giữa
4 Dài bàn tay
(Dbt)
Đo từ nếp gấp cổ tay phải đến đầu mút ngón tay giữa
5 Dài chi trên
(Dct)
Đo từ đầu ngoài cùng mỏm cùng vai phải tới đầu mút ngón
giữa
6
Dài xương cánh
tay (Dxct)
Đo từ bờ trên củ lớn đến mỏm trên lồi cầu ngoài xương cánh
tay phải
7 Dài xương trụ
(Dxt)
Đo từ mỏm khuỷu đến bờ dưới mỏm trâm trụ phải
8 Dài xương quay
(Dxq)
Khoảng cách từ bờ trên chỏm quay đến bờ dưới mỏm trâm
quay phải
9 Chiều cao
(H)
Khoảng cách từ đỉnh đầu đến
mặt đất
2.6 Xử lý số liệu
Kết quả nghiên cứu được lưu trữ bằng
phần mềm Microsoft Excel Các số liệu được
tính toán về giá trị trung bình (X), giá trị nhỏ
nhất (Min), giá trị lớn nhất (Max), độ lệch
chuẩn Std.Deviation (SD), sử dụng thuật toán phù hợp bằng sử dụng phần mềm SPSS 20.0 và phần mềm Microsoft Excel
2.7 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Tất cả đối tượng nghiên cứu được giải
Trang 4thích cụ thể, rõ ràng về mục đích, nội dung
nghiên cứu để tự nguyện tham gia và hợp tác
tốt trong quá trình nghiên cứu Đối tượng
nghiên cứu có quyền từ chối tham gia nghiên
cứu bất kỳ thời điểm nào trong quá trình nghiên cứu Các thông tin thu thập được đảm bảo giữ bí mật và chỉ phục vụ cho mục đích này
III KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1 Các kích thước của cơ thể
Bảng 3.1 Các kích thước chiều dài của bàn – ngón tay trung bình theo giới
Các kích thước
(cm)
Chung cho hai giới Nam (n = 301) Nữ (n = 319)
p
Thốn xương 3,28 ± 0,23 3,38 ± 0,22 3,18 ± 0,19 < 0,05 Dài ngón tay giữa 7,56 ± 0,48 7,83 ± 0,42 7,31 ± 0,38 < 0,05 Dài gan bàn tay 9,92 ± 0,61 10,35 ± 0,47 9,51 ± 0,41 < 0,05 Dài bàn tay 17,10 ± 1,05 17,82 ± 0,83 16,42 ± 0,74 < 0,05
Nhận xét: Các kích thước chiều dài của
bàn tay trung bình ở nam giới đều lớn hơn nữ
giới, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê
với p < 0,05 Điều này phù hợp với các
nghiên cứu trên nam giới, nữ giới người Việt
Nam nói chung, cũng như trên nam giới, nữ
giới tại các trường đại học khác nhau [7],
[8], [9]
Khi so sánh với nghiên cứu của Nguyễn
Thị Mỹ Thơ trên nam giới (2015), chúng tôi
nhận thấy kích thước dài ngón tay giữa, dài
gan bàn tay của đề tài (7,83 ± 0,42 và 10,35
± 0,47 cm) lớn hơn kết quả của tác giả này
(7,71 ± 0,59 và 9,63 ± 0,32 cm), sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) [2] Sự khác
biệt này có thể được giải thích do tầm vóc
của sinh viên Việt Nam đã có sự phát triển
sau hơn 5 năm Có thể đây là kết quả từ
chương trình dinh dưỡng Quốc gia và sự
quan tâm của toàn xã hội đến việc phát triển thể lực cho học sinh, sinh viên Các kích thước dài ngón tay giữa và dài bàn tay trong nghiên cứu của chúng tôi đều thấp hơn so với nghiên cứu của Greiner (1991) trên nam giới Mỹ (8,38 ± 0,54 và 19,41 ± 0,99 cm), p
< 0,05 [5] Sự khác biệt về chủng tộc, điều kiện sống hoặc có thể do thói quen sử dụng công cụ lao động và thói quen chơi thể thao như bóng ném, bóng bầu dục đã tạo ra sự khác biệt này
Kích thước thốn xương trung bình ở đề tài thấp hơn so với kết quả của Bùi Văn Thăng ở
cả hai giới (3,50 ± 0,25 cm ở nam giới và 3,31 ± 0,27 cm ở nữ giới ), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 [1] Điều này có thể do cỡ mẫu của chúng tôi không tương đồng và lớn hơn so với tác giả
Bảng 3.2 Các kích thước chi trên và chiều cao đứng theo giới
Các kích thước
(cm)
Chung cho hai giới Nam (n = 301) Nữ (n = 319)
p
Dài chi trên 69,09 ± 3,79 71,12 ± 3,48 67,17 ± 3,00 < 0,05 Dài xương cánh tay 28,27 ± 1,87 29,19 ± 1,81 27,40 ± 1,46 < 0,05
Trang 5Dài xương quay 22,44 ± 1,70 23,62 ± 1,38 21,32 ± 1,13 < 0,05 Dài xương trụ 24,27 ± 1,65 25,33 ± 1,41 23,27 ± 1,17 < 0,05 Chiều cao 164,15 ± 8,14 170,28 ± 6,15 158,36 ± 4,91 < 0,05
Nhận xét: Các kích thước chiều dài của chi trên và chiều cao đứng ở nam giới đều lớn hơn
nữ giới, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Bảng 3.3 So sánh nhóm kích thước chiều dài của chi trên ở đề tài với nghiên cứu trong nước
Kích
thước
(cm)
Đề tài (n = 301)
Bùi Văn Thăng (n= 99)
Đề tài (n = 319)
Bùi Văn Thăng (n= 112)
Dct 71,12 ± 3,48 72,79 ± 4,92 < 0,05 67,17 ± 3,00 68,29 ± 3,93 < 0,05 Dxct 29,19 ± 1,81 30,41 ± 2,14 < 0,05 27,40 ± 1,46 28,65 ± 2,10 < 0,05 Dxq 23,62 ± 1,38 24,26 ± 2,50 < 0,05 21,32 ± 1,13 22,85 ± 2,40 < 0,05
Nhận xét: Khi so sánh số liệu đề tài với nghiên cứu của Bùi Văn Thăng (2009), nhận thấy
kết quả của chúng tôi là thấp hơn so với tác giả trên ở cả hai giới, (p < 0,05) [1] Tuy nhiên sự khác biệt này cũng chỉ mang tính tham khảo vì đối tượng và cỡ mẫu của chúng tôi không tương đồng
Bảng 3.4 So sánh nhóm kích thước chiều dài của chi trên ở đề tài với nước ngoài
Kích
thước
(cm)
Dct 301 71,12 ± 3,48 - - 319 67,17 ± 3,00 - -
Dxct 301 29,19 ± 1,81 82 31,13 ± 3,58 319 29,19 ± 1,81 120 29,17 ±
2,94
Dxq 301 23,62 ± 1,38 83 29,35 ± 2,15 319 23,62 ± 1,38 120 27,38 ±
1,59
Dxt 301 25,33 ± 1,41 82 30,44 ± 1,66 319 25,33 ± 1,41 52 28,2 ±
1,44
Nhận xét: Qua tính toán bằng kiểm định t- test, chúng tôi thấy các kích thước chiều dài
của chi trên ở đề tài đều nhỏ hơn kết quả nghiên cứu của Ekezie (2015) với p < 0,05 ở cả nam giới và nữ giới [10] Điều này cho thấy, tầm vóc của nhóm nghiên cứu vẫn chưa đạt được tầm vóc tương đương của người Nigeria cách đây trên 5 năm
2 Sự tương quan giữa thốn xương với các kích thước của cơ thể
Trang 6Bảng 3.5 Mối tương quan giữa thốn xương với từng kích thước
hai giới
Nam (n = 301)
Nữ (n = 319)
Nhận xét: Qua số liệu Bảng 3.5 thấy
rằng, ở từng giới thốn xương có mối tương
quan vừa với các kích thước bàn tay (r từ
0,53 – 0,62), ngoại trừ kích thước dài ngón
tay giữa ở nam giới là có tương quan chặt
chẽ với thốn xương (r = 0,66) Khi phân tích
mối tương quan của thốn xương với các kích
thước dài của chi trên và chiều cao đứng
chúng tôi nhận thấy mức tương quan vừa (r
từ 0,39 – 0,54) Tuy nhiên giữa thốn xương
và dài xương cánh tay chỉ đạt mức tương
quan lỏng lẻo (0,31 ở nam giới và 0,28 ở nữ
giới) Khi xét chung cho hai giới, chúng tôi
thấy mối tương quan giữa thốn xương với
các kích thước đều đạt mức tương quan vừa
Riêng kích thước dài ngón tay giữa và dài bàn tay là có tương quan chặt chẽ với thốn xương (r lần lượt là 0,72 và 0,70)
Theo báo cáo của Bùi Văn Thăng cũng xác định được mối tương quan chặt chẽ của thốn xương với kích thước dài bàn tay (r = 0,663) ở cả hai giới, với phương trình hồi quy tuyến tính của dài bàn tay theo thốn
xương như sau: Dbt = 1,89 x Tx + 13,03 cm
[1]
Như vậy theo nghiên cứu của chúng tôi và tác giả có thể khẳng định kích thước của thốn xương có mối tương quan chặt chẽ với dài bàn tay chung cho hai giới
Bảng 3.6 Phương trình hồi quy tuyến tính của từng kích thước theo thốn xương
Dntg = 1,51 x Tx + 2,60 1,28 x Tx + 3,50 1,22 x Tx + 3,40 Dgbt = 1,72 x Tx + 4,25 1,14 x Tx + 6,48 1,16 x Tx + 5,80 Dbt = 3,18 x Tx + 6,63 2,32 x Tx + 9,96 2,30 x Tx + 9,07 Dct = 10,31 x Tx + 35,20 8,50 x Tx + 42,31 7,73 x Tx + 42,51 Dxct = 3,59 x Tx + 16,44 2,59 x Tx + 20,41 2,10 x Tx + 20,70 Dxq = 4,12 x Tx + 8,87 2,57 x Tx + 14,89 2,27 x Tx + 14,08 Dxt = 4,25 x Tx + 10,28 3,29 x Tx + 14,17 2,38 x Tx + 15,68
Trang 7Nhận xét: Từ kết quả Bảng 3.6 một lần
nữa khẳng định mối tương quan chặt chẽ
giữa thốn xương với dài chi trên chung cho
cả hai giới Ngoài ra thốn xương cũng có
tương quan chặt chẽ với kích thước dài ngón
tay giữa (Dntg = 1,51 x Tx + 2,60 cm) Đặc
biệt kích thước thốn xương ở nam giới tương
quan chặt chẽ với dài ngón tay giữa (Dntg =
1,28 x Tx + 3,50 cm)
V KẾT LUẬN
Các kích thước thốn xương, chiều dài bàn
tay, dài chi trên, chiều cao đứng ở nam giới
lớn hơn nữ giới, sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê với p < 0,05
Trong đó thốn xương có mối tương quan
vừa với các kích thước còn lại, trừ dài ngón
tay giữa có tương quan chặt chẽ ở nam giới
(r = 0,66) Khi xem xét chung trên cả hai
giới, thốn xương có tương quan chặt chẽ với
dài ngón tay giữa và dài bàn tay
Một số phương trình hồi quy tuyến tính
được xây dựng dựa vào thốn xương:
Dntg = 1,511 x Tx + 2,605 cm (chung cho
hai giới)
Dntg = 1,280 x Tx + 3,502 cm (nam giới)
Dbt = 3,186 x Tx + 6,636 cm (chung cho
hai giới)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bùi Văn Thăng (2009), "Xác định kích thước
của thốn, tìm hiểu mối tương quan thốn với
một số đoạn chi thể ở người Việt Nam trưởng
thành", Luận văn thạc sỹ, Học viện Quân Y
2 Nguyễn Thị Mỹ Thơ (2015), "Nghiên cứu
mối quan hệ giữa các kích thước bàn tay của
nam công nhân tuổi từ 25 đến 30", Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
3 Đỗ Thị Hoa Ngà (2019), "Nghiên cứu nhân
trắc bàn tay nữ sinh viên phục vụ thiết kế găng tay da", Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
4 Sangeeta Dey và Anup Kumar Kapoor (2016) Hand index: An Anthropo-Foresic
Tool for Human Identification in Idia Asian Journal of Science and Applied Technology,
Vol 5, 1–9
5 Greiner Thomas M (1991), Hand anthropometry of US army personnel, No.92/011 Army Natick Research Development and Engineering Center MA., United State
6 Hoàng Văn Minh và Lưu Ngọc Hoạt (2020) Phương pháp chọn mẫu và tính toán
cỡ mẫu trong nghiên cứu sức khoẻ
7 Trần Sinh Vương (2005), "Nghiên cứu một
số đặc điểm hình thái thể lực, dinh dưỡng người Việt Nam trưởng thành ở một số tỉnh Đồng Bằng Bắc Bộ", Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Y Hà Nội
8 Ibeachu P.C., Abu E.C., và Didia B.C (2011) Anthropometric Sexual Dimorphism
of Hand Length, Breadth and Hand Indices of University of Port-Harcourt Students 5
9 Jeyaseelan Nadankutty (2016) Estimation
of hand index and sex variations among the University students of Malaysia – An Anthropometric study International Journal
of Humanities and Social Science, 21(1), 32–
37
10 Ekezie J (2005) Somatometric evalution of
long bones of the upper extrimity: a forensic tool Forensic Research & Criminology International Journal, 175–181