1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC: KHÔI PHỤC VÀ BẢO VỆ RỪNG NGẬP MẶN ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

13 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo vệ môi trường – Phục hồi hệ sinh thái khôi phục và bảo vệ rừng ngập mặn ứng phó với biến đổi khí hậu
Tác giả Nguyễn Thị Linh Chi, Trương Minh Khải, Phạm Văn Ngọt, Phạm Đình Văn
Người hướng dẫn Trương Minh Khải, PTS.
Trường học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Môi trường và biến đổi khí hậu
Thể loại Kỷ yếu hội thảo khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 822,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biến đổi khí hậu toàn cầu là một thực trạng đáng quan ngại của môi trường hiện nay, gây nên nhiều tác động tiêu cực đến đời sống con người. Tuy nhiên, con người hoàn toàn có thể làm giảm ảnh hưởng của biến đổi khí hậu bằng các hành động thiết thực và bảo vệ rừng là giải pháp đặc biệt hiệu quả. Trong các loại rừng, rừng ngập mặn là một trong những kiểu rừng có trữ lượng carbon cao nhất tại vùng nhiệt đới, có vai trò quan trọng trong công cuộc bảo vệ môi trường. Trong bài viết này, chúng tôi phân tích các vai trò của rừng ngập mặn, từ đó đưa ra các biện pháp bảo vệ phù hợp với tình hình thực tiễn tại TP.HCM, góp phần ứng phó biến đổi khí hậu.

Trang 2

282

KHÔI PH ỤC VÀ BẢO VỆ RỪNG NGẬP MẶN ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Nguyễn Thị Linh Chi 1 , Trương Minh Khải 2* ,

Ph ạm Văn Ngọt 2 , Ph ạm Đình Văn 2

Nơi công tác: 1 Giáo viên tr ường THPT Trần Văn Ơn, Bình Dương

2 Tr ường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh

*Tác gi ả liên hệ: Trương Minh Khải, Email: trgmhkhai@gmail.com

TÓM T ẮT

Bi ến đổi khí hậu toàn cầu là một thực trạng đáng quan ngại của môi trường hiện nay, gây nên nhi ều tác động tiêu cực đến đời sống con người Tuy nhiên, con người hoàn toàn có th ể làm giảm ảnh hưởng của biến đổi khí hậu bằng các hành động thiết

th ực và bảo vệ rừng là giải pháp đặc biệt hiệu quả Trong các loại rừng, rừng ngập

m ặn là một trong những kiểu rừng có trữ lượng carbon cao nhất tại vùng nhiệt đới, có vai trò quan tr ọng trong công cuộc bảo vệ môi trường Trong bài viết này, chúng tôi phân tích các vai trò c ủa rừng ngập mặn, từ đó đưa ra các biện pháp bảo vệ phù hợp

v ới tình hình thực tiễn tại TP.HCM, góp phần ứng phó biến đổi khí hậu

T ừ khóa: biến đổi khí hậu, rừng ngập mặn, phục hồi rừng ngập mặn, bảo vệ môi

tr ường

1 Đặt vấn đề

Biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng, được biểu hiện rõ nhất là

sự nóng lên của Trái Đất, băng tan, nước biển dâng cao; ngoài ra còn có các hiện tượng thời tiết bất thường, bão lũ, sóng thần, động đất, hạn hán và giá rét kéo dài, suy giảm đa dạng sinh học và dịch bệnh phát sinh Việt Nam là một trong 10 quốc gia và vùng lãnh thổ dễ bị tổn thương, chịu ảnh hưởng nặng nhất trước tác động của biến đổi khí hậu

Việt Nam có diện tích đất liền: 331.698 km2, từ 8°10 tới 23°24 vĩ độ Bắc, bờ biển dài 3.260 km, khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm là 27°C ở miền Nam, 21°C ở miền Bắc; lượng mưa trung bình 2.000mm/năm (Sterling et al., 2006) với các sông lớn như: sông Hồng, sông Đồng Nai, sông Vàm Cỏ, sông Cửu Long đã hình thành nên thảm thực vật rừng ngập mặn (RNM) ven biển xanh tốt ở 29 tỉnh thành

từ Quảng Ninh đến Hà Tiên Hệ sinh thái rừng ngập mặn không những có vai trò quan trọng là nơi cư trú, cung cấp thức ăn cho các loài thuỷ sản, nơi làm tổ của nhiều loài chim, động vật ở nước, nơi sống của nhiều loài thú quí hiếm và là nơi kiếm kế sinh nhai cho cư dân vùng ven biển nước ta mà còn có vai trò to lớn trong bối cảnh biến đổi khí hậu như bảo vệ bờ biển, hạn chế xói lở, mở rộng bãi bồi, hạn chế tác hại của gió bão

Trang 3

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Nghiên cứu tài liệu

Tổng hợp các thông tin từ các công trình khoa học đã được công bố, các báo cáo hiện trạng rừng và tài nguyên sinh vật, các văn bản hành chính của địa phương về định hướng đầu tư phát triển kinh tế, tình hình kinh tế xã hội ở khu vực nghiên cứu để có

kiến thức tổng quát về chủ đề nghiên cứu, làm cơ sở cho việc ghi nhận hiện trạng, vai trò, phục hồi và bảo vệ hệ sinh thái RNM

2.2 Khảo sát thực địa

Khảo sát rừng ngập mặn Cần Giờ, TP.HCM vào 6/2019 và 3/2021; RNM Cà Mau, Bạc Liêu: 4/2019

3 Kết quả và thảo luận

3.1 Vai trò của rừng ngập mặn trong bối cảnh biến đổi khí hậu

3.1.1 Rừng ngập mặn là “lá phổi xanh”, tích lũy carbon, điều hòa khí hậu

Rừng ngập mặn hấp thụ CO2 tích lũy qua sinh khối, thải ra O2 làm không khí trong lành, giảm hiệu ứng nhà kính Rừng ngập mặn một năm tuổi có thể hấp thụ 8 tấn CO2/ha/năm và khả năng hấp thụ khí CO2 tăng theo độ tuổi của cây rừng (Nguyễn Thị Hồng Hạnh, 2015) Với diện tích gần 27.500 ha, mỗi năm rừng ngập mặn ở Cần Giờ hấp thu được hơn 9,5 triệu tấn CO2 (Viên Ngọc Nam, 2011)

Lượng carbon tích lũy của rừng Đước đôi (Rhizophora apiculata Blume) trồng ở

Khu Dự trữ Sinh quiển RNM Cần Giờ (hơn 17.000 ha) trung bình là 151,99 tấn carbon/ha Quần thể cấp tuổi 8 (tuổi 38 – 42) có trữ lượng carbon tích tụ là 161,05 tấn C/ha; cấp tuổi 7 (tuổi 33 – 37) tích tụ là 189,07 tấn carbon/ha; cấp tuổi 6 (tuổi 28 – 32) tích tụ là 136,72 tấn carbon/ha; cấp tuổi 5 (tuổi 23 – 27) tích tụ là 134,81 tấn carbon/ha; cấp tuổi 4 (tuổi 18 – 22) tích tụ là 138,34 tấn carbon/ha (Huỳnh Đức Hoàn

et al., 2018)

Tổng lượng CO2 mà rừng Bần chua ở RNM ven biển tỉnh Sóc Trăng hấp thụ là 319.023,06 tấn, trung bình là 192,92 tấn/ha (Viên Ngọc Nam và Nguyễn Khắc Điệu, 2013)

RNM Cà Mau với cấp tuổi I có lượng carbon tích lũy là 46 tấn/ha, cấp tuổi II là 79,4 tấn/ha, cấp tuổi III là 101,4 tấn/ha, cấp tuổi IV là 132,9 tấn/ha, cấp tuổi V là 154,0 tấn/ha và cấp tuổi VI là 167,4 tấn/ha (Nguyễn Thị Hà et al., 2017)

Nghiên cứu khả năng lưu giữ carbon của rừng ngập mặn ven biển Hải Phòng tại

ba kiểu rừng đặc trưng: Đước vòi (Rhizophora stylosa Griff.), Trang (Kandelia

obovata Sheue, Liu & Yong) và Bần chua (Sonneratia caseolaris (L.) Engl.) cho thấy: lượng carbon tích lũy qua quá trình quang hợp là 31,94 - 34,83 tấn carbon/ha/năm,

trong đó cao nhất là quần xã Đước vòi (R stylosa) Sinh khối trên mặt đất và sinh khối

dưới mặt đất nằm trong khoảng tương ứng là 4,03 - 294,43 tấn/ha và 2,38 - 114,16

tấn/ha, Bần chua có trữ lượng lớn nhất và thấp nhất là Đước vòi (R stylosa) Hàm

Trang 4

284

lượng carbon hữu cơ trong trầm tích ở độ sâu 10 cm từ 685,63 mg/kg khô đến 2676,64 mg/kg khô; ở độ sâu 40 cm từ 937,38 mg/kg khô đến 2557,55 mg/kg khô, trong đó khả năng lưu trữ carbon trong trầm tích của rừng Đước vòi là cao nhất (Đàm Đức Tiến et al., 2015)

3.1.2 RNM là “bức tường xanh vững chắc”, ngăn chặn gió bão, sóng thần

Lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính ngày càng gia tăng do các hoạt động của con người trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, phá rừng,… làm gia tăng các hiện tượng của biến đổi khí hậu Trước thời kỳ cách mạng công nghiệp năm 1750, lượng CO2 ổn định ở mức 0,028% nhưng hiện nay lượng CO2 đã lên đến 0,040% làm cho nhiệt độ Trái Đất ấm dần lên Từ năm 1870 - 2004, mực nước biển đã tăng 19,5 cm; với tốc độ tăng đặc biệt nhanh trong vòng 50 năm gần đây (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016)

Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên - Môi trường (2016), Việt Nam là một trong năm quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi biến đổi khí hậu, 50 năm qua, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam đã tăng khoảng 0,5°C trên phạm vi cả nước, mực nước biển đã dâng khoảng 20 cm, xu thế tăng mực nước biển trên toàn Biển Đông là 4,7 mm/năm Chỉ tính cho dải ven bờ Việt Nam, khu vực ven biển Trung Trung Bộ và Tây Nam Bộ

có xu hướng tăng mạnh hơn, trung bình cho toàn dải ven biển Việt Nam tăng khoảng 2,9 mm/năm Do biến đổi khí hậu cường độ, tần số các cơn bão ngày càng gia tăng Mỗi năm trung bình có khoảng 6 cơn bão đổ bộ vào vùng biển Việt Nam và gần đây

có xu thế tăng lên đồng thời dịch chuyển dần từ Bắc vào Nam (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016) Nơi nào RNM được trồng và bảo vệ tốt thì khi có bão lớn các đê biển vẫn vững vàng trước sóng to gió lớn, dù là đê biển được đắp từ đất nện; trong khi những tuyến đê biển được xây dựng kiên cố bằng bê tông, kè đá nhưng RNM bị chặt phá để chuyển sang nuôi tôm như ở Cát Hải (Hải Phòng), Hậu Lộc (Thanh Hóa) thì vẫn bị xói lở nghiêm trọng (Phan Nguyên Hồng et al., 2007) RNM ven biển có tác dụng làm chậm dòng chảy và phát tán rộng theo nước triều, giảm mạnh độ cao của sóng khi triều cường, hạn chế tác hại của sóng thần và bão lớn, bảo vệ đê biển Tỷ lệ phần trăm giảm của năng lượng sóng triều tương quan thuận với độ dày rừng ngập mặn, năng lượng sóng triều đi qua rừng ngập mặn có độ dày lớn hơn hoặc bằng 76,27

m thì không còn khả năng gây tác động đến vùng ven bờ (Lý Trung Nguyên et al., 2016)

Hiểm họa sóng thần đã và đang đe dọa nhiều quốc gia ở vùng Nam Á Đợt sóng thần khủng khiếp ngày 26/12/2004 đã tàn phá vùng ven biển của 14 quốc gia: Indonesia, Ấn Độ, Sri Lanka, Malaysia, Thái Lan, làm cho 226.000 người chết Ngày 11.3.2011 sóng thần xảy ra ở Nhật Bản làm 15.884 người thiệt mạng, 6.148 người bị thương, 2.633 người mất tích và 127.290 ngôi nhà bị tàn phá Tuy nhiên, người ta thấy rằng những nơi có RNM che chắn các thôn làng thì tác hại của sóng thần được giảm thiểu đáng kể hoặc thậm chí còn nguyên vẹn vì năng lượng sóng đã được

Trang 5

giảm từ 50% đến 90%, nên thiệt hại về người rất thấp, giảm 50% - 80% hoặc không bị tổn thất so với nơi không có RNM Các yếu tố ảnh hưởng đến việc giảm chiều cao của sóng khi sóng biển truyền qua rừng ngập mặn bao gồm: độ sâu của nước, địa hình đáy

bờ biển, chiều cao sóng, kiểu rừng ngập mặn (thành phần loài, tuổi cây, kích thước cây) (Phan Nguyên Hồng et al., 2007; Mazda et al., 1997)

Hiện tại chưa có tài liệu về sóng thần đã từng xảy ra ở nước ta nhưng các nhà khoa học cảnh báo rằng không nên chủ quan đối với vấn đề này Việt Nam nằm ở vị trí

có xác suất xảy ra sóng thần nhỏ nhưng ở vùng Biển Đông phía tây Philippines có một đứt gãy có thể gây ra động đất cấp 9 và xuất hiện sóng thần Nếu vậy, chỉ trong vòng 2

- 3 giờ, sóng thần có thể ập đến Việt Nam và vùng biển miền Trung có nguy cơ bị tàn phá nặng nề nhất Lúc này, RNM nước ta là “bức tường xanh” che chắc bảo vệ cư dân vùng ven biển, hạn chế tác hại của gió bão và sóng thần tác (Phạm Văn Ngọt et al 2012)

3.1.3 RNM giúp mở rộng diện tích đất bồi, hạn chế xói lở, xâm nhập mặn

Sự phát triển của RNM và mở rộng diện tích đất bồi là hai quá trình luôn đi kèm nhau Ở những vùng đất mới bồi có độ mặn cao có các thực vật tiên phong là loài

Mấm trắng Avicennia marina (Forssk.) Vierh., Bần đắng Sonneratia griffithii Kurz; vùng cửa sông với độ mặn thấp hơn có Bần chua Sonneratia caseolaris (L.) Engl., Mấm trắng Avicennia marina (Forssk.) Vierh Rễ cây ngập mặn, đặc biệt là quần thể

thực vật tiên phong mọc dày đặc có tác dụng làm cho trầm tích bồi tụ nhanh hơn, vừa ngăn chặn tác động của sóng biển, giảm tốc độ gió, vừa làm vật cản cho trầm tích lắng đọng RNM còn có tác dụng hạn chế xói lở và các quá trình xâm thực bờ biển Những nơi có RNM, quá trình xâm nhập mặn diễn ra chậm và có phạm vi hẹp vì khi triều dâng vào các khu RNM, hệ thống rễ cây dày đặc làm giảm tốc độ dòng triều, giảm sóng gió Ngược lại khi không có RNM, sóng to gió lớn, nước triều dâng cao gây xói

lở bờ sông, chân đê, nước mặn sẽ thẩm thấu qua đê vào đồng ruộng ảnh hưởng đến quá trình canh tác (Phạm Văn Ngọt et al 2012)

3.1.4 RNM là “quả thận xanh”, làm sạch nước, giảm thiểu ô nhiễm môi trường

RNM có hệ vi sinh vật phong phú có tác dụng phân giải, chuyển hóa hoặc khả năng sinh kháng sinh của nhiều loài vi khuẩn, nấm men, đặc biệt là nấm sợi có thể ức chế một số vi sinh vật gây bệnh, làm sạch môi trường ven biển bị ô nhiễm Các dòng chảy từ nội địa (nơi có các khu dân cư đông đúc) mang theo nhiều chất thải trong sinh hoạt, y tế, công nghiệp, nông nghiệp cùng với các hóa chất dư thừa khi đi qua vùng RNM ven biển được các vi sinh vật có trong hệ rễ cây RNM phân hủy, biến chúng thành thức ăn cho hệ sinh vật nơi đây Do đó người ta đã ví RNM là quả thận khổng lồ lọc các chất thải cho môi trường vùng ven biển, là nhà máy xử lí chất thải của tự nhiên tác (Phạm Văn Ngọt et al 2012)

3.2 Sự suy giảm diện tích rừng ngập mặn Việt Nam

Việt Nam có thảm thực vật RNM ven biển khá phong phú, trải dài từ Quảng

Trang 6

286

Ninh đến Hà Tiên, tuy nhiên diện tích RNM đã bị giảm sút nghiêm trọng Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015), trong hơn năm thập kỷ qua, Việt Nam đã mất đi 67% diện tích rừng ngập mặn so với năm 1943 Giai đoạn 1943 - 1990, tỉ lệ mất RNM trung bình là 3.266 ha/năm, đến giai đoạn 1990 - 2012 là 5.613 ha/năm Trong 22 năm (1990

- 2012) tỷ lệ mất RNM gấp 1,7 lần giai đoạn 47 năm trước (1943 - 1990) Các nguyên nhân suy giảm diện tích và chất lượng RNM nước ta được trình bày dưới đây

3.2.1 Phá rừng ngập mặn để làm đầm nuôi tôm, xây nhà nuôi chim yến

Đây là một trong những nguyên nhân chính làm suy giảm diện tích RNM Việc làm đầm nuôi tôm theo lối quảng canh, bán công nghiệp và công nghiệp đang diễn ra trên khắp các vùng ven biển nước ta Chỉ tính riêng diễn biến diện tích rừng 2005 -

2006, có hơn 4.000 ha RNM là rừng tự nhiên bị mất, trong đó hơn 50% là do chặt phá rừng làm đầm nuôi thủy sản và các mục đích khác Từ năm 2011 đến 2016, RNM vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã bị suy giảm nghiêm trọng, chủ yếu do vùng bãi bị sạt lở và việc giao rừng để nuôi trồng thủy sản Trong 5 năm (2011 - 2016), diện tích RNM toàn vùng đã giảm gần 10%, từ 194.723 ha năm 2011 xuống còn 179.384 ha vào năm 2016 (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2017)

Một hình thức sử dụng đất RNM hiện nay ngoài nuôi tôm chính là nuôi chim

yến Tuy nhiên, việc sản phẩm tại Cần Giờ mới xuất hiện trên thị trường nên tính cạnh tranh chưa cao, tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh H5N1 và H7N9 nên còn nhiều rủi ro (Thu Hiền, 2014)

Hình 1 Phá RNM để làm đầm nuôi tôm

(bỏ hoang)

Hình 2 Nhà nuôi Chim yến tại Cần Giờ

3.2.2 Khai thác quá mức làm giảm sút chất lượng RNM

Do áp lực kinh tế, người dân khai thác cây RNM để hầm than, gỗ để làm nhà,… Nhiều nơi ở vùng ven biển nước ta ngư dân sử dụng các phương tiện đánh bắt huỷ diệt như dùng lưới mắt nhỏ, dùng cào, chất nổ… làm giảm sút trữ lượng thủy sản thậm chí nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng Đặc biệt gần đây có tình trạng đào đất bắt Sâm đất

(Phascolosoma arcuatum) đã phá hủy nhiều khu rừng Mấm vì môi trường sống chủ

yếu của Sâm đất nằm dưới những gốc cây Mấm tái sinh ở nơi gò cao, ẩm nên muốn

Trang 7

bắt chúng thì phải dùng cuốc, xẻng,… đào lên một lớp đất sâu từ 10 – 20 cm dính đầy

rễ Mấm làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của rừng Mấm

3.2.3 Phá RNM lấy đất sản xuất nông nghiệp

Do thiếu lương thực, nên nhiều địa phương đã phá RNM, quai đê lấn biển để trồng trọt nhưng vì thiếu nước ngọt để rửa chua mặn hoặc khó thực hiện các biện pháp khác nên năng suất thấp, đất ngày càng thoái hóa, quá trình chuyển đổi thất bại Trong vòng 38 năm (1954 - 1992), vùng ven bờ Hải Phòng, Quảng Yên đã sử dụng 6.039 ha bãi triều ven biển, chủ yếu là các vùng có cây ngập mặn, để trồng lúa dẫn đến thiệt hại, làm cho 1.154 ha đất bỏ hoang Ở các huyện ven biển đồng bằng sông Cửu Long, sau khi thống nhất đất nước, diện tích RNM bị rải chất diệt cỏ ở các cửa sông Tiền, sông Hậu được chuyển sang sản xuất lúa nhưng sản lượng rất thấp (500 – 1.500kg/ha), năng suất cứ giảm dần theo từng năm (Phan Nguyên Hồng et al., 1999)

Ở các vùng cửa sông ven biển tỉnh Sóc Trăng, RNM thường bị chặt phá để trồng cây nông nghiệp như: hành, thuốc lá, dưa hấu, bí, ớt, đậu xanh Những nơi nào có địa hình thuận lợi, chủ động nguồn nước tưới thì hiệu quả cao hơn Những người dân di cư dần dần phá rừng ngập mặn để canh tác nông nghiệp trong khu vực Hồ Lạng gần cửa sông Mỹ Thanh Một số nơi khác phá rừng để lấy đất trồng dừa nhưng không thành công và gây hậu quả sinh thái xấu, do không nắm vững quá trình diễn biến của đất (Nguyễn Song Tùng và Nguyễn Thị Bích Nguyệt, 2015)

3.2.4 Phá RNM để làm ruộng muối

Nghề làm muối đã có từ rất lâu nhưng do kinh tế khó khăn, thiếu việc làm, ở một

số nơi nông dân đã phá RNM để làm muối Tuy nhiên không phải loại đất nào sử dụng làm ruộng muối cũng đem lại hiệu quả kinh tế Việc sử dụng đất RNM để làm ruộng muối cho sản lượng và chất lượng muối kém vì đất RNM thường rất mịn, khả năng thẩm thấu, bốc hơi kém, nước triều ở vùng RNM nhiều phù sa, có độ đục lớn, … Vì vậy, nhiều nơi đã phá RNM làm ruộng muối như: Thụy Nguyên – Kiến Thụy (Hải Phòng), Cần Giờ – TP HCM, Vĩnh Châu – Sóc Trăng,… đã thất bại, bỏ đất hoang hóa Một số nơi chuyển sang trồng cây nông nghiệp, nuôi hải sản đều ít hiệu quả hoặc thất bại

Trang 8

288

Hình 3 Ruộng muối bỏ hoang tại Vàm Sát, Cần Giờ

3.2.5 Phá RNM để khai thác khoáng sản

Trong quá trình khai thác khoáng sản tiêu biểu là các mỏ than lộ thiên sát vùng ven biển hoặc các sông nước mặn, các xí nghiệp đã đổ vật phế thải xuống sông, biển lấp các bãi lầy có cây RNM sinh sống Việc xây dựng một số cảng than ở tỉnh Quảng Ninh như cảng Uông Bí, Cửa Ông đã phá hủy nhiều đám RNM, hủy hoại các thảm cỏ biển và rạn san hô rất giàu động vật và hải sản ở vùng ven bờ và biển nông (Phan Nguyên Hồng et al., 1999)

3.2.6 RNM suy giảm do đô thị hóa, đắp đê, đập, làm đường xá

Việc mở mang đô thị, khu công nghiệp vùng ven biển, bến cảng đã góp phần thu hẹp diện tích RNM trong những năm gần đây Tỉnh Thái Bình có dự án lấn 320 ha biển (2017) lấy mặt bằng làm Khu công nghiệp - đô thị - thương mại dịch vụ Xuân Hải, trong đó sẽ phá bỏ khoảng 150 ha rừng ngập mặn (thuộc 2 xã Thụy Hải và Thụy Xuân, huyện Thái Thụy) là rừng phòng hộ nằm trong Khu Dự trữ Sinh quiển Đồng bằng sông Hồng Việc đắp đê, xây đập, làm đường xá tuy có mang lại một số lợi ích nhưng nhìn chung đã gây ảnh hưởng đến dòng chảy tự nhiên, môi trường vật lí, hóa học của vùng cửa sông, ven biển cũng như có sự xáo trộn, thay đổi, thoái hóa của hệ động thực vật RNM Chưa kể đến việc các khu công nghiệp, khu đô thị, khu dân cư đông đúc ven biển sẽ làm gia tăng lượng chất thải ra môi trường, ảnh hưởng không nhỏ đến hệ động thực vật

Trang 9

Hình 4 San lấp đất rừng làm đường sá

tại Vàm Sát, Cần Giờ

Hình 5 Đào hồ nuôi tôm tại Vàm Sát,

Cần Giờ

3.2.7 Ô nhiễm môi trường

Các dòng chảy từ nội địa, các khu dân cư, khu công nghiệp đông đúc, các hoạt động khai thác khoáng sản lộ thiên ven biển, khai thác dầu mỏ…là hiểm họa cho hệ động thực vật RNM Hệ sinh thái RNM ở vùng cửa sông ven biển chịu ảnh hưởng nặng nề từ các chất thải rắn, chất lỏng trong sinh hoạt và công nghiệp chưa qua xử lí hoặc xử lí không đạt yêu cầu, dư lượng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học trong nông nghiệp đã đổ vào sông đã ảnh hưởng xấu đến RNM

Hình 6 Rác thải trên đường Vàm Sát, Cần Giờ

3.2.8 Gió bão, sóng biển tàn phá rừng ngập mặn

Tại nhiều địa điểm ven biển nước ta, hiện tượng sạt lở bờ biển do sóng biển, hải lưu, đặc biệt là ảnh hưởng của bão đã làm cho nhiều khu RNM phòng hộ bị mất đi Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2017), từ năm 2010 đến nay, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có 562 điểm sạt lở bờ sông, bờ biển với chiều dài 786

km, trong đó bờ sông có 513 điểm/520 km, bờ biển có 49 điểm/266 km Sạt lở đã uy

Trang 10

290

hiếp trực tiếp đến tính mạng, tài sản của nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn các công trình phòng chống thiên tai và cơ sở hạ tầng vùng ven biển và làm suy thoái rừng RNM ven biển

Các kết quả phân tích ảnh vệ tinh từ năm 1991 – 2014 cho thấy bờ biển Gò Công Đông (từ Vàm Láng đến Tân Thành) đã bị xói lở nghiêm trọng với tốc độ xói lở từ 10

- 15 m/năm Nguyên nhân chính gây xói lở là do các điều kiện tự nhiên như sóng do gió, dòng chảy thuỷ triều vào mùa gió Đông Bắc Ngoài ra, hoạt động sống con người như chặt phá rừng, xả thải làm ô nhiễm môi trường sống của rừng ngập mặn, xây đập giữ nước và khai thác cát cũng như nạo vét phía thượng nguồn làm lượng trầm tích đổ

về các sông hạn chế, góp phần dẫn đến xói lở bờ (Bùi Trọng Vinh, 2016)

3.3 Đề xuất giải pháp

RNM có vai trò kinh tế - xã hội và sinh thái - môi trường rất lớn đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, do đó cần có các giải pháp kịp thời và lâu dài để bảo vệ và phát triển bền vững hệ sinh thái này Dưới đây là một số giải pháp:

- Cần có sự phối hợp của các cơ quan nghiên cứu, các ngành chức năng và người dân địa phương để bảo vệ nghiêm ngặt những khu RNM hiện đang có, bảo vệ đa dạng sinh học, phục hồi RNM đặc biệt là rừng phòng hộ Chuyển giao cho các địa phương phát triển vườn ươm phục vụ công tác phục hồi RNM Cần qui hoạch hợp lí những vùng nuôi tôm Nơi nào RNM quá mỏng, vùng đất ngập mặn không có rừng cần trồng lại RNM, đảm bảo độ dày cần thiết để phòng chống gió bão, sóng thần Sử dụng bền vững tài nguyên RNM, lượng hóa kinh tế, vai trò RNM

- Để phục hồi rừng ngập mặn, chính phủ cần có các đề án khôi phục và phát triển RNM theo từng giai đoạn “Đề án bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2014 - 2020” đã được Thủ tướng Chính phủ (2015) phê duyệt với mục tiêu bảo vệ diện tích rừng ven biển hiện có; trồng mới, nhằm tăng diện tích rừng ven biển, phòng chống xói lở, ứng phó với biến đổi khí hậu

- Tiếp tục xây dựng và phổ biến các tài liệu, sách, các Khu bảo tồn, Vườn quốc gia, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục để nâng cao nhận thức của cộng đồng trong công tác quản lí bảo vệ rừng Cần nghiên cứu xây dựng các mô hình sinh kế bền vững cho người dân vùng RNM, mô hình phát triển nuôi trồng thủy sản gắn với trồng rừng ngập mặn mang lại hiệu quả kinh tế cao và bền vững Thực hiện chính sách giao đất, khoán rừng cho người dân đi đôi với việc quản lí, giám sát của chính quiền địa phương Cần sử dụng các phương tiện hiện đại như viễn thám, GIS để nghiên cứu và quản lý rừng (Veettil et al., 2018)

- Cần tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền cho người dân, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, các công trình phúc lợi xã hội nhằm góp phần cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần nhân dân

- Thường xuyên rà soát các văn bản qui phạm pháp luật để đề xuất chỉnh sửa, bổ

Ngày đăng: 02/01/2023, 17:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w