1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sỹ quản lý cạnh tranh trong kinh tế

87 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý cạnh tranh trong kinh tế
Tác giả Nguyễn Thanh Hiếu
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Viết Tý
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 498 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh; các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy bannhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ,quyền hạn của mình có trách nhiệm phối

Trang 1

Đại học Quốc gia Hà nội

Khoa luật

Nguyễn Thanh Hiếu

quản lý cạnh tranh trong kinh tế

theo pháp luật việt nam

Luận văn thạc sĩ luật học

Trang 2

Đại học Quốc gia Hà nội

Khoa luật

Nguyễn Thanh Hiếu

Quản lý cạnh tranh trong kinh tế

theo pháp luật việt nam

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Luận văn thạc sĩ luật học

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Viết Tý

Trang 3

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN 4

LÝ CẠNH TRANH VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CẠNH TRANH

1.1 Khái quát về hoạt động quản lý cạnh tranh 41.1.1 Khái niệm hoạt động quản lý cạnh tranh 4

1.1.3 Tính tất yếu của hoạt động quản lý cạnh tranh 121.2 Khái quát về pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh 14

tranh Việt Nam

1.2.1 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh 141.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh 171.3 Những yếu tố chi phối pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý 20

cạnh tranh

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG 22

QUẢN LÝ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Quy định pháp luật điều chỉnh cách thức quản lý cạnh tranh 22

2.2 Quy định pháp luật về cơ quan quản lý cạnh tranh 32

Trang 4

2.2.2 Cơ quan xử lý vi phạm 362.2.3 Nguyên tắc hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh 432.3 Xử lý vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh 462.3.1 Các loại hình phạt và mức độ xử lý vi phạm 462.3.2 Cơ chế thực thi việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh 52

Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN 55

THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG QUẢN

LÝ CẠNH TRANH TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động 55

quản lý cạnh tranh ở Việt Nam

3.1.1 Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh 55

trên cơ sở thực trạng quy định pháp luật và thực trạng thực thi

pháp luật quản lý cạnh tranh ở Việt Nam

3.1.2 Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh 58

trên cơ sở phù hợp điều kiện nền kinh tế thị trường đặc biệt

của Việt Nam

3.1.3 Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh 61

trên cơ sở thống nhất với các luật khác có liên quan

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý 66

cạnh tranh ở Việt Nam

3.2.1 Về cách thức quản lý cạnh tranh 66

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng của pháp luật điều chỉnh 75

hoạt động quản lý cạnh tranh ở Việt Nam

3.3.1 Xây dựng các tổ chức hỗ trợ quản lý cạnh tranh 75

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kể từ khi Luật Cạnh tranh 2004 ra đời, nền kinh tế thị trường của ViệtNam đã có khung pháp lý để điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranh vàcạnh tranh không lành mạnh Luật Cạnh tranh là một văn bản pháp luật cótính chất là luật "mẹ" để Nhà nước ta quản lý cạnh tranh Nói đến Luật Cạnhtranh là nói đến kinh tế, quản lý cạnh tranh ở đây tất yếu là quản lý cạnh tranhtrong kinh tế Tuy nhiên, Luật Cạnh tranh không bao quát hết mọi hoạt độngnhằm quản lý cạnh tranh của Nhà nước Trong khi đó, nghiên cứu về quản lýcạnh tranh là một vấn đề hoàn toàn mới mẻ nhưng vô cùng cần thiết ở ViệtNam Nghiên cứu về quản lý cạnh tranh là cách nhìn từ một góc độ khác củapháp luật cạnh tranh nhằm xây dựng thành những cơ sở lý luận cũng như thựctiễn để Nhà nước ta thực hiện tốt chức năng quản lý xã hội, điều tiết thịtrường đi theo đúng định hướng Nghiên cứu về quản lý cạnh tranh trong kinh

tế còn là sự tiếp cận và đánh giá bao quát đối với hệ thống pháp luật về chínhsách cạnh tranh ở nước ta

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: Luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễncho sự hình thành và phương hướng xây dựng pháp luật điều chỉnh hoạt độngquản lý cạnh tranh trong kinh tế ở Việt Nam

- Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:

+ Nghiên cứu, tìm hiểu cơ sở lý luận về hoạt động quản lý cạnh tranh, pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh;

+ Phân tích làm rõ khái niệm, nội dung chủ yếu của pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh ở Việt Nam;

+ Làm sáng tỏ nhu cầu và phương hướng, giải pháp hoàn thiện phápluật về quản lý cạnh tranh ở Việt Nam

Trang 6

3 Tình hình nghiên cứu

Trong thời gian qua, pháp luật về cạnh tranh Việt Nam luôn thu hútđược sự quan tâm đông đảo của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Tuynhiên chưa có một công trình nghiên cứu tổng thể nào đối với vấn đề lý luận,khái niệm, chức năng và vai trò của quản lý cạnh tranh trong kinh tế do đây làmột vấn đề mới, phạm vi rộng, khá phức tạp Bên cạnh đó là phương thứcquản lý, quản lý như thế nào? Giải pháp hiệu quả cho quản lý cạnh vẫn là nộidung gây tranh cãi

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: các nội dung liên quan đến hoạt động quản lýcạnh tranh ở Việt Nam bao gồm: cách thức quản lý, cơ quan quản lý, cơ quan xử

lý vi phạm, các loại hình phạt đối với hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh

- Phạm vi nghiên cứu: luận văn nghiên cứu một cách tổng quát cácquá trình của quản lý cạnh tranh từ khâu điều tra đến ra quyết định, xử lý đốivới vụ việc cạnh tranh

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp được sử dụng có tính chất bao trùm ở luận văn này làphương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác -Lênin, theo đó vấn đề điều chỉnh pháp luật phải được đặt trong bối cảnh lịch

sử, cụ thể của quá trình hình thành và phát triển cơ chế kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

- Phương pháp so sánh đối chiếu: giúp cho việc tìm hiểu quan điểmtiếp cận của pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh ở phương diệnquản lý cạnh tranh để tìm ra những ưu việt và hợp lý của từng chế độ sử dụng.Hơn nữa, với phương pháp này ta còn có thể so sánh được với pháp luật cạnhtranh của một số quốc gia để đánh giá những hợp lý, bất cập và đưa ra giảipháp ở Việt Nam

- Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp thống kê, thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu để làm rõ những nội dung liên quan

Trang 7

6 Những đóng góp mới của luận văn

Thứ nhất: luận văn đưa ra được những vấn đề lý luận hoàn toàn mới là

khái niệm về hoạt động quản lý cạnh tranh, pháp luật điều chỉnh hoạt độngquản lý cạnh tranh

Thứ hai: Có phân tích và đánh giá, đề xuất đối với cách thức quản lý

cạnh tranh - nội dung vô cùng quan trọng để nhận biết pháp luật về quản lýcạnh tranh, góp phần tạo nên hiệu quả cho hoạt động quản lý cạnh tranh

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hoạt động quản lý cạnh tranh và

pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh;

Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh

tranh ở Việt Nam hiện nay;

Chương 3: Một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật

điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh trong điều kiện Việt Nam hiện nay

Trang 8

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CẠNH TRANH VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH

HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CẠNH TRANH

1.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CẠNH TRANH

1.1.1 Khái niệm hoạt động quản lý cạnh tranh

Quản lý cạnh tranh tốt thì lợi ích của người tiêu dùng, của doanhnghiệp và nhà nước được đảm bảo Chủ thể của quản lý cạnh tranh không aikhác là Nhà nước theo phương thức truyền thống sẽ sử dụng pháp luật làmcông cụ để thực hiện

Cạnh tranh diễn ra trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống con người

và cạnh tranh trong kinh tế là một loại cạnh tranh Cạnh tranh trong kinhdoanh được hiểu là hành vi của các doanh nghiệp kinh doanh cùng loại hànghóa hoặc những hàng hóa có thể thay thế cho nhau nhằm tiêu thụ hàng hóahoặc dịch vụ trên một thị trường [24] Đối với khái niệm kinh tế, đây là kháiniệm rộng hơn kinh doanh Lĩnh vực kinh tế của một quốc gia bao gồm cácngành dịch vụ như đa dạng như: hàng không, ngân hàng, bảo hiểm, phân phốixăng dầu, viễn thông …; các ngành sản xuất như xi măng, sắt thép, phân bónhóa học, thức ăn chăn nuôi, sữa… Căn cứ phân chia và cơ cấu các ngành kinh

tế ở Việt Nam theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủtướng Chính phủ quy định về 21 nhóm ngành với 642 hoạt động kinh tế cụthể Các ngành kinh tế có vai trò thiết thực đối với cuộc sống của con ngườinói riêng và sự phát triển của kinh tế đất nước nói chung Các ngành kinh tếcủa nước ta hiện diện ở trong nhiều thành phần kinh tế: kinh tế tư nhân, kinh

tế tập thể, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Sự đadạng của ngành nghề, các thành phần kinh tế và những đặc trưng của kinh tếthị trường đã tạo ra sự cạnh tranh trong kinh tế

Trang 9

Nền kinh tế thị trường hiện nay tồn tại rất nhiều những mặt trái mà nổicộm lên là sự cạnh tranh không lành mạnh, sự độc quyền của một số doanhnghiệp đối với những ngành nghề khác nhau Hoạt động cạnh tranh được hiểu

là tất cả các hoạt động nhằm để điều chỉnh cho những nội dung được quy địnhtrong luật cạnh tranh được thực hiện với mục đích làm cho môi trường cạnhtranh trở nên lành mạnh, phát huy được các yếu tố tích cực của cạnh tranh

Sự quản lý đối với hoạt động cạnh tranh góp phần làm nâng cao hiệulực thực thi của Luật Cạnh tranh, để luật đi vào cuộc sống thiết thực, phát huytính tích cực của cạnh tranh, hướng đến môi trường cạnh tranh lành mạnh củanền kinh tế và hơn thế nữa là nhằm tăng hiệu quả của nền kinh tế

Việt Nam đã có chế định pháp lý riêng để điều chỉnh các quan hệ,hành vi cạnh tranh, chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát độcquyền trong kinh tế Luật Cạnh tranh được Quốc hội nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03/12/2004; Chủtịch nước ký Lệnh công bố Luật vào ngày 14/12/2004 và có hiệu lực thi hành

kể từ ngày 01/7/2005 Luật Cạnh tranh cùng các văn bản hướng dẫn là làkhuôn khổ pháp lý cho hoạt động quản lý cạnh tranh Luật Cạnh tranh cóphạm vi tác động liên quan đến cả nền kinh tế, điều chỉnh bao trùm lên cácloại hình, các ngành kinh tế Bên cạnh đó một số lĩnh vực như Điện lực, Viễnthông cũng đã có Luật riêng trong đó có những nội dung điều chỉnh quản lýcạnh tranh trong từng hoạt động của ngành Như vậy, môi trường pháp lý chohoạt động quản lý cạnh tranh đã được thể chế hóa bằng những chủ trương,chính sách quan trọng

Từ khi Việt Nam chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang nềnkinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa thì từ lúc đó lĩnh vực kinh tế mới xuất hiệnthuật ngữ cạnh tranh Và cũng từ khi xuất hiện cạnh tranh, pháp luật nước ta mớibắt đầu tiếp cận với mặt trái của kinh tế thị trường nhằm bảo vệ cạnh tranh lànhmạnh Tuy nhiên, kể từ khi có sự ra đời của pháp luật cạnh tranh tới nay,

Trang 10

khoa học pháp lý Việt Nam chưa có một định nghĩa nào cụ thể về hoạt độngquản lý cạnh tranh mặc dù khi đề cập tới pháp luật cạnh tranh các nhà nghiêncứu đều xác định được nội dung của hoạt động này Theo các chuyên viên củaCục Quản lý Cạnh tranh (trực thuộc Bộ Công thương), hiện tại không có vănbản nào của các cơ quan nhà nước định nghĩa chính thức về hoạt động quản lýcạnh tranh Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu, yêu cầu đặt ra là cần xácđịnh rõ bản chất của hoạt động quản lý cạnh tranh Khái niệm về hoạt độngquản lý cạnh tranh mà tôi đưa ra sau đây dựa trên nền tảng lý luận về hoạtđộng quản lý và các yếu tố đặc thù của cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế thịtrường Việt Nam Mục đích của việc xác khái niệm này nhằm xây dựng cơ sở

lý luận, định hướng cho nội dung cần nghiên cứu của tổng thể luận văn

Hoạt động quản lý cạnh tranh là hoạt động của cơ quan được nhà nướctrao thẩm quyền nhằm thực thi pháp luật cạnh tranh, thống nhất từ khâu pháthiện, điều tra đến xử lý hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh nhằm bảođảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh

Hoạt động quản lý cạnh tranh của Việt Nam luôn luôn đặt tiêu chí phảitrên cơ sở tôn trọng quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, tạo điều kiện

để các doanh nghiệp phát triển

- Tính chất của hoạt động quản lý cạnh tranh: là hoạt động gián tiếp,trong quá trình thực hiện chức năng này, Nhà nước chỉ xuất hiện với tư cáchđại diện cho quyền lợi chung của xã hội và một người cạnh tranh bình đẳng như những người cạnh tranh khác trên thị thường

- Chủ thể của hoạt động quản lý cạnh tranh: là cơ quan quản lý cạnhtranh, Bộ trưởng Bộ Công thương, Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh,các điều tra viên, các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương Điều 7 Luật Cạnhtranh năm 2004 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy địnhtrách nhiệm quản lý nhà nước về cạnh tranh gồm: Chính phủ thống nhất quản

lý nhà nước về cạnh tranh; Bộ Thương mại chịu trách nhiệm trước Chính phủ

Trang 11

thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh; các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy bannhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ,quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Thương mại thực hiệnquản lý nhà nước về cạnh tranh [26].

- Khách thể của hoạt động quản lý cạnh tranh: cá nhân, doanh nghiệphoạt động kinh doanh; các hành vi gây thiệt hại tới môi trường cạnh tranhhoặc gây trở ngại cho cạnh tranh lành mạnh

1.1.2 Thiết chế quản lý cạnh tranh

Có thể nhận thấy rằng đối với cạnh tranh thì pháp luật đã có nhữngthiết chế để thực hiện việc quản lý cạnh tranh Thiết chế quản lý cạnh tranhđóng một vai trò quan trọng để phát huy hiệu quả của việc quản lý cạnh tranh

là điều tiết cạnh tranh của nền kinh tế Ở những quốc gia có chính sách cạnhtranh, pháp luật cạnh tranh phát triển đều cho thấy mô hình các thiết chế được

sử dụng phổ biến bao gồm các cơ quan cạnh tranh, tòa án - những cơ quanchủ đạo của hoạt động quản lý cạnh tranh [15] Tùy theo truyền thống lậphiến, lập pháp và tình hình cụ thể của mỗi quốc gia mà các thiết chế đượcthành lập và đặt tên gọi khác nhau, việc phân định thẩm quyền trong quản lýcạnh tranh của các thiết chế cũng khác nhau Tuy nhiên, thiết chế vẫn phảichứa đựng các yếu tố: hoạt động phải đảm bảo tính tin cậy cao; phải đảm bảoviệc hoạt động và ra quyết định một cách độc lập; Phải đảm bảo tính minhbạch trong thực thi nhiệm vụ [14]

- Cơ quan quản lý cạnh tranh có thẩm quyền cơ bản là phát hiện vàkiến nghị các cơ quan liên quan bãi bỏ các chính sách làm cản trở đến môitrường cạnh tranh; yêu cầu các tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thôngtin, chứng cứ trong quá trình điều tra xử lý vụ việc liên quan

- Hội đồng cạnh tranh là mô hình cơ quan đặc biệt; quyết định của Hộiđồng có giá trị bắt buộc thi hành, được đảm bảo thực hiện dựa trên quyền lựcnhà nước

Trang 12

- Tòa án: là một cơ quan thực thi pháp luật và ở tất cả các quốc gia,tòa án có lịch sử lâu đời hơn so với mô hình cơ quan cạnh tranh Hoạt độngxét xử của tòa án đóng góp một phần quan trọng ở khâu tố tụng để pháp luậtquản lý cạnh tranh hiệu quả.

Đối với Việt Nam hiện nay, các thiết chế quản lý cạnh tranh rất đadạng bởi không chỉ có các cơ quan có quyền lực nhà nước và nhân danh nhànước mà còn có sự góp mặt của các thiết chế như: các hiệp hội doanh nghiệp(bao gồm các hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa, hiệp hội ngành nghề); hiệphội người tiêu dùng; các cơ quan về lưu trữ, nghiên cứu và phân tích thông tinthị trường; ngoài ra, còn có sự giám sát, cảnh báo, định hướng của dư luận,của các cơ quan báo chí, các viện nghiên cứu và các cơ quan đào tạo

Tuy nhiên, phần khái quát về nội dung thiết chế quản lý cạnh tranh ởđây chỉ nhấn mạnh về một số thiết chế mà có tầm ảnh hưởng lớn là: tòa án,các cơ quan cạnh tranh, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội người tiêu dùng Đặcbiệt với sự ra đời của các cơ quan cạnh tranh, lần đầu tiên theo quy định củapháp luật cạnh tranh Việt Nam xuất hiện hai thiết chế mới là Cục quản lý cạnhtranh và Hội đồng cạnh tranh

- Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương, có tên giao dịch viết bằng

tiếng Anh: Vietnam Competition Administration Department, viết tắt làVCAD (Điều 1 Nghị định số 06/2006/NĐ-CP) [10] Cục Quản lý cạnh tranhđược xây dựng theo mô hình của Đức với đặc điểm nổi bật là cách làm việclinh hoạt, phản ứng nhanh và tức thời, có tính chất là cơ quan "lưỡng tính"[14] bởi sự kết hợp của hai đặc tính hành chính và tư pháp Chính tính chất

"lưỡng tính" có vai trò khiến cho hoạt động của cơ quan khá hiệu quả CụcQuản lý cạnh tranh là nơi thụ lý hồ sơ và điều tra các vụ việc cạnh tranh; xử lýcác hành vi cạnh tranh không lành mạnh; đồng thời thực hiện chức năngnhiệm vụ thụ lý hồ sơ và điều tra giai đoạn đầu các vụ việc hạn chế cạnhtranh, giai đoạn sau thuộc thẩm quyền xử lý của Hội đồng cạnh tranh

Trang 13

- Hội đồng cạnh tranh Việt Nam, có tên giao dịch viết bằng tiếng Anh:Viet Nam Competition Council, viết tắt là VCC (Điều 1 Nghị định số

05/2006/NĐ-CP) [9] Cơ quan này lại được thành lập theo mô hình của Pháp, cónghĩa là hoạt động tập thể, Hội đồng cạnh tranh thực hiện công việc phải lập hộiđồng để lấy ý kiến thống nhất quyết định xử lý Hội đồng cạnh tranh là thiết chếkhá đặc biệt: là một tài phán có chức năng xét xử độc lập, có thể gọi là cơ quan

"bán" tư pháp do Thủ tướng Chính phủ thành lập (gồm từ 11 đến 15 người) Cácthành viên hoạt động theo nhiệm kỳ năm (05) năm do Thủ tướng Chính phủ bổnhiệm trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công thương, thành phần gồm có:

Bộ Công thương (Chủ tịch), Bộ Tư pháp (Phó Chủ tịch), Bộ Tài chính (Phó Chủtịch); các thành viên là Ủy viên thuộc các bộ ngành: Bộ Xây dựng, Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.Giúp việc cho Hội đồng cạnh tranh có Ban thư ký Hội đồng cạnh tranh theonhiệm vụ và thẩm quyền thực hiện xử lý các vụ việc liên quan đến hạn chế cạnhtranh sau khi Cục Quản lý cạnh tranh phát hiện và điều tra doanh có hành vi viphạm; thành lập Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh để giải quyết một vụ việccạnh tranh; yêu cầu các tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp thông tin, tài liệucho việc thực hiện nhiệm vụ; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện phápngăn chặn hành chính sau khi tiếp nhận hồ sơ vụ việc cạnh tranh; giải quyếtkhiếu nại tố cáo trong phạm vi thẩm quyền …

Với đặc trưng hoạt động quyết định các vấn đề theo đa số thành viên,trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ (cụ thể là đối với việc giảiquyết các vụ việc liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh thuộc thẩmquyền), Hội đồng cạnh tranh tiến hành hoạt động thông qua Hội đồng xử lý

vụ việc cạnh tranh Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh là Hội đồng được thànhlập một lần để giải quyết vụ việc cụ thể và giải tán khi hoàn thành nhiệm vụcủa mình, giống như Hội đồng xét xử trong hệ thống Toà án; thành phần gồmcủa thiểu 05 thành viên của Hội đồng cạnh tranh và do Chủ tịch Hội đồng

Trang 14

cạnh tranh lựa chọn Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh được xem là cơ quan

có thẩm quyền "xét xử" cấp sơ thẩm vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vihạn chế cạnh tranh

Tương tự các quy trình trong pháp luật tố tụng thông thường, khi cókhiếu nại quyết định của cấp sơ thẩm thì sẽ có cấp cao hơn để xem xét Hộiđồng toàn thể thành viên của Hội đồng cạnh tranh là cơ quan tố tụng cấp trên

có thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng xử lý vụ việccạnh tranh Có thể nói rằng đây là cơ quan có thẩm quyền "xét xử phúc thẩm"

vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh

- Tòa án nhân dân: ở đây Tòa án cũng đóng vai trò là một thiết chếtrong quản lý cạnh tranh Cụ thể: Tòa hành chính Tòa án nhân dân cấp tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm khiếu kiệnđối với quyết định của Hội đồng cạnh tranh; Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dântối cao, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền giảiquyết vụ việc cạnh tranh theo thủ tục phúc thẩm/giám đốc thẩm theo quy địnhcủa pháp luật về thủ tục giải quyết vụ án hành chính

Điều 115 Luật Cạnh tranh quy định việc xem lại Quyết định của Hộiđồng Cạnh tranh là thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh Tuy nhiên, vấn đề nàycần Tòa án nhân dân tối cao có hướng dẫn cụ thể để có thể hạn chế phạm vicác Tòa án cấp tỉnh có thể có thẩm quyền này Hạn chế cạnh tranh là phạm trùđỏi hỏi phải có kiến thức chuyên sâu ở các thành viên của Hội đồng Cạnhtranh Khi tất cả các tòa cấp tỉnh đều có quyền xem xét lại quyết định của Hộiđồng Cạnh tranh thì dễ xảy ra tình trạng lẩn tránh pháp luật, ảnh hưởng đếnhiệu lực thi hành các quyết định của Hội đồng Cạnh tranh Nhận định này cóthể đúng trong thực tế và theo kinh nghiệm của nhiều quốc gia như Nhật làtòa phúc thẩm Tokyo, Pháp là tòa phúc thẩm Paris mới có quyền này.Vì vậycần sự hoạt động có hiệu quả cao của Hội đồng Cạnh tranh ở khía cạnh là mộtthiết chế trong quản lý cạnh tranh

Trang 15

Tuy nhiên, thiết chế tòa án xuất hiện mờ nhạt hơn nhiều so với haithiết chế đặc biệt là Cục Quản lý Cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh Vì thế,pháp luật cần trao cho cơ quan Tòa án nhân dân tối cao quyền lực cao nhất, từ

đó để nắm bắt tất cả những vướng mắc, khó khăn, ý kiến khiếu nại từ phíangười dân và doanh nghiệp để xét xử công bằng, đảm bảo cho pháp luật quản

lý cạnh tranh được thực thi hiệu quả

- Các hiệp hội: Việt Nam có nhiều hiệp hội như Hiệp hội doanh nghiệp

vừa và nhỏ, các hiệp hội ngành hàng, Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng Tuy sốlượng các loại hình hiệp hội nhiều nhưng trên thực tế tất cả hầu như hoạt độngkém hiệu quả, chưa phát huy được vai trò dẫn dắt các doanh nghiệp kinhdoanh lành mạnh, đúng pháp luật, chưa thực hiện tốt chức năng giám sát cạnhtranh Khi gia nhập WTO, vai trò của các hiệp hội cần được chú trọng để pháthuy vai trò theo dõi giám sát cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi cho các doanhnghiệp thành viên, góp phần tạo nên môi trường cạnh tranh lành mạnh Hơnthế nữa, để tăng cường vị thế của mình, các hiệp hội cần hợp tác chặt chẽ với

cơ quan quản lý cạnh tranh trong việc nâng cao nhận thức cho cộng đồngdoanh nghiệp và các hiệp hội ngành hàng về pháp luật cạnh tranh, chống bánphá giá, chống trợ cấp và tự vệ; tích cực phòng chống các vi phạm pháp luậtnhằm xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh và cơ chế kinh tế thị trườngphát triển bền vững

Như vậy, để quản lý cạnh tranh có hiệu quả cao cần có sự phối hợp hoạtđộng không chỉ của các thiết chế có tổ chức mà còn của cả bản thân những ngườitiêu dùng cũng như các doanh nghiệp khi tham gia thị trường Tuy nhiên, chỉ cónhững thiết chế quyền lực như cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh

và tòa án mới thực sự có khả năng can thiệp mạnh mẽ đối với hoạt động quản lýcạnh tranh Do pháp luật quy định có sự liên hệ và phối kết hợp trong quá trìnhthực hiện chức năng nhiệm vụ nhưng phân chia thẩm quyền rất rõ rệt nên yêucầu đặt ra cho các thiết chế là cần sự bảo đảm bổ trợ

Trang 16

lẫn nhau về chức năng được pháp luật trao cho, tránh những xung đột về thẩmquyền.

1.1.3 Tính tất yếu của hoạt động quản lý cạnh tranh

Cạnh tranh là là hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường mà nhiềunước có nền kinh tế phát triển đã sử dụng một câu thành ngữ về chính sáchcạnh tranh là: "THERE IS NO GROWTH WITHOUT COMPETITION" [34]

- được dịch là: "Không có sự cạnh tranh không tăng trưởng" Chính sách cạnhtranh của một quốc gia nhằm đảm bảo tối đa hóa phúc lợi xã hội và thúc đẩytăng trưởng xã hội Trong bất cứ nền kinh tế nào nếu không có sự quản lý điềutiết hiệu quả sẽ dễ dàng phát sinh ra độc quyền Thực tiễn ở nhiều nước đãchứng minh nếu được kiểm soát tốt, cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích chokinh tế, cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp Như vậy đối với cạnhtranh, cần có chính sách để thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và có khung pháp

lý để quản lý cạnh tranh đem lại lợi ích lâu dài

Là một hiện tượng tự nhiên gắn liền nền kinh tế thị trường nên cạnhtranh luôn tồn tại cả hai mặt tích cực và tiêu cực Tác động tích cực của cạnhtranh là: đáp ứng thị hiếu và nhu cầu người tiêu dùng ở mức cao nhất; đảmbảo cho người tiêu dùng được thỏa mãn yêu cầu cao hơn với giá rẻ nhất;khuyến khích nhà kinh doanh tích cực áp dụng công nghệ mới nhằm giảm chiphí, hạ giá thành sản phẩm; đảm bảo cho các doanh nghiệp có cơ hội pháttriển như nhau Từ đó dẫn đến sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế Bêncạnh những tác động tích cực này thì cạnh tranh cũng kéo theo cả những tiêucực, bao gồm:

- Vì mục tiêu lợi nhuận nên nhà kinh doanh bằng mọi cách thu hútkhách hàng nên có thể sử dụng những hành vi cạnh tranh không lành mạnhnhư: đầu cơ, phá giá, làm hàng giả, hàng kém chất lượng;

- Cạnh tranh dẫn đến sự phá sản của các doanh nghiệp yếu tạo nên những gánh nặng cho nhà nước như thất nghiệp và các tệ nạn khác;

Trang 17

- Cạnh tranh làm cho một số doanh nghiệp ngày càng mạnh lên nhờ các yếu tố khách quan và chủ quan, độc chiếm thị trường và trở thành độc quyền.

Từ những mặt tiêu cực, hạn chế của cạnh tranh cho nên pháp luật vềcạnh tranh phải tiếp cận từ khía cạnh mặt trái đó "Nếu bàn tay hữu hình củaNhà nước là một bàn tay nhẹ nhàng và kín đáo, trừ một số trường hợp phảicứng rắn, thì chỉ giúp cho thị trường vận hành hiệu quả mà thôi" [15]

Đối với Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hiến pháp thừanhận và đặt mục tiêu là kinh tế thị trường phải đảm bảo sự quản lý của Nhànước "Nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho các doanhnghiệp cạnh tranh và hợp tác để phát triển" [18] Trong lĩnh vực kinh tế, cácngành kinh tế có tầm quan trọng bao nhiêu thì sự cạnh tranh diễn ra mạnh mẽbấy nhiêu, đặc biệt các hành vi cạnh tranh không lành mạnh ngày tăng lên về

số lượng Sự xuất hiện của pháp luật cạnh tranh để quản lý và duy trì cho xãhội, cho nền kinh tế môi trường lành mạnh để cạnh tranh phát huy được cácmặt tích cực Pháp luật có vai trò quan trọng để nhà nước quản lý kinh tế, tạo

ra hành lang pháp lý để các doanh nghiệp, cá nhân hoạt động kinh doanh Đốivới những mặt trái của sự cạnh tranh trong cơ chế thị trường, nhà nước canthiệp bằng pháp luật với những quy định cụ thể để hạn chế sự độc quyền haynhững hoạt động cạnh tranh không lành mạnh [31] Từ đó, thúc đẩy môitrường cạnh tranh công bằng hơn, phát huy cạnh tranh, góp phần phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước

Kinh tế nước ta có nhiều thành phần và được pháp luật quy định làbình đẳng (trong đó có vấn đề cạnh tranh bình đẳng) nhưng trong quá trìnhthực hiện, nhiều cơ quan nhà nước đã không thực sự tuân thủ quy định này

Từ trước đến nay, trong môi trường kinh doanh của chúng ta đã diễn ra tìnhtrạng phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt là giữa các doanhnghiệp thuộc nhà nước với khu vực tư nhân Bên cạnh đó, do quyền lợi củađịa phương, do tính chất cục bộ nên một số cơ quan nhà nước đã có những

Trang 18

can thiệp gián tiếp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tạo ra lợi thế chomột hay một số doanh nghiệp chiếm ưu thế Tình trạng này vẫn ngày một tiếpdiễn, ảnh hưởng đến sự phát triển chung của kinh tế và đi ngược lại với quy luậtkhách quan Từ đó xuất hiện những rào cản thương mại, rào cản quy chế hoặcchiến lược do các tập đoàn kinh tế quốc doanh dựng lên ngay trên thị trường nộiđịa làm giảm tính cạnh tranh bình đẳng trong các doanh nghiệp [29].

Như vậy, quản lý cạnh tranh là yêu cầu cần thiết, tất yếu đặc biệt khiViệt Nam đã chính thức gia nhập trở thành thành viên của Tổ chức Thươngmại Thế giới (WTO) vào ngày 7/11/2007, sự cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt vàquyết liệt hơn bởi vì WTO là sân chơi bình đẳng, nhiều thời cơ nhưng cũngnhiều thách thức

1.2 KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CẠNH TRANH VIỆT NAM

1.2.1 Khái niệm pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh

Pháp luật cạnh tranh là công cụ để tạo lập, duy trì và bảo vệ môitrường cạnh tranh lành mạnh Pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnhtranh là tổng thể các quy định, công cụ pháp luật cần thiết nhằm đảm bảo hoạtđộng cạnh tranh diễn ra đúng quy luật, văn minh và công bằng … Khuyếnkhích và bảo vệ cạnh tranh lành mạnh vừa là mục đích vừa là cách thức đểthực hiện sự điều tiết của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế Và muốnkhuyến khích cạnh tranh thì Nhà nước phải tạo ra khuôn khổ pháp lý [20] Tất

cả các trường hợp tập trung kinh tế, lạm dụng vị trí độc quyền, thống lĩnh thịtrường, các hành vi hạn chế cạnh tranh, các hành vi cạnh tranh không lànhmạnh đều được kiểm soát bởi pháp luật Nhà nước tiến hành quản lý cạnhtranh trên thị trường thông qua Luật Cạnh tranh trong đó các quy định của luật

là cách can thiệp trực tiếp của chủ thể quản lý (thông qua cơ quan quản lýcạnh tranh) tới đối tượng bị quản lý (các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh

Trang 19

trên thị trường) Sự kết hợp của nhà nước có hiệu quả cao khi kết hợp vớipháp luật cạnh tranh, quản lý gián tiếp bằng pháp luật mà không phải sự canthiệp trực tiếp bằng các công cụ khác.

Pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh được hình thành từnhững khung pháp lý cơ bản điều chỉnh vấn đề cạnh tranh Trong những nămqua, Việt Nam đã nỗ lực để xây dựng nên hệ thống văn bản pháp luật liênquan đến vấn đề quản lý cạnh tranh

- Luật Cạnh tranh 2004 được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam thông qua ngày 06/1/2004 - Là đạo luật điều chỉnh hành viquản lý nhà nước đối với kinh doanh, Luật Cạnh tranh quy định về hành vihạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trình tự, thủ tục giảiquyết vụ việc cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh

- Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh;

- Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh;

- Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp;

- Nghị định số 05/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 của Chính phủ vềviệc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Hộiđồng cạnh tranh;

- Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09/01/20006 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh;

- Thông tư số 19/2005/TT-BTM ngày 08/11/2005 của Bộ Thương mạihướng dẫn một số quy định tại Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày

24/8/2005 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp

Pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh cũng ghi nhận sự đóng góp của một số văn bản luật có sự điều chỉnh đối với hoạt động quản lý

Trang 20

cạnh tranh theo ngành nghề, trong đó hoạt động quản lý cạnh tranh được xácđịnh thuộc về cơ quan chuyên ngành: Luật Viễn thông, Luật Điện lực, LuậtChứng khoán, Luật Ngân hàng … Xu hướng đưa các vấn đề cạnh tranh vàoluật chuyên ngành như vậy đã và đang được thể hiện rõ nét bằng sự ra đời củanhiều luật điều tiết ngành trong đó có đề cập đến phạm vi quản lý cạnh tranhthuộc về cơ quan quản lý ngành Ví dụ, qua Luật Viễn thông, Nhà nước khẳngđịnh quan điểm thắt chặt quản lý cạnh tranh trong viễn thông Chính sáchquản lý cạnh tranh thể hiện ở ba mặt chính: mở cửa cạnh tranh, cho phép cácdoanh nghiệp được tham gia thị trường; tạo dựng hành lang pháp lý để bảođảm cho các doanh nghiệp đã tham gia thị trường có thể thâm nhập thị trường

và xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Rõ ràng sự giao thoa và cónhững chồng chéo đó của các quy định pháp luật đã gây ra những khó khănnhất định cho cơ quan quản lý đồng thời lãng phí nguồn nhân lực Đây là mộtkhía cạnh cần được quan tâm nghiên cứu trong pháp luật quản lý cạnh tranhvới phương hướng hoàn thiện sẽ được đề cập đến trong nội dung tại Chương 3của đề tài luận văn này

Với những phân tích trên đây, tác giả luận văn đưa ra một số đặc điểmcủa pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh Việt Nam như sau:

- Tính mềm dẻo: pháp luật quản lý hoạt động cạnh tranh nhằm điềutiết và bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh nên phải thích ứng với sựvận động biến đổi của thị trường Tính chất này còn đòi hỏi ở người vận dụng,

cơ quan quản lý phải hết sức linh hoạt, tránh những dập khuôn cứng nhắc

- Có sự vận dụng các án lệ (án lệ của tòa án, quyết định của cơ quancạnh tranh) bổ sung cho luật thành văn bởi các quy định trong các văn bảnluật cạnh tranh thường rất chung chung

- Tính xuyên suốt: pháp luật quản lý cạnh tranh xâu chuỗi nhiều nộidung của các ngành luật như dân sự, thương mại, hình sự, hành chính … Từ

đó hình thành nên đặc trưng riêng của của mình đó là sử dụng các chế tài

Trang 21

của ngành luật khác để áp dụng: chế tài dân sự, chế tài hành chính, chế tài hình sự.

- Tính toàn cầu: Các quy phạm được sử dụng trong hệ thống pháp luậtquản lý cạnh tranh (thể hiện cụ thể qua Luật Cạnh tranh) đã đạt đến trình độtoàn cầu hóa cao bởi chúng ta đã biết vận dụng những chế định khung của luậtmẫu cạnh tranh do Ủy ban của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển -UNCTAD ban hành

1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh

Pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh được thể hiện trướchết và quan trọng ở việc nhà nước can thiệp bằng cách thức nào và thẩmquyền của cơ quan được trao nhiệm vụ thực thi pháp luật cạnh tranh Vì vậy,nội dung của pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh mà tác giảluận văn sẽ nghiên cứu ở đây bao gồm cách thức để nhà nước quản lý cạnhtranh và cơ quan quản lý cạnh tranh

- Cách thức quản lý cạnh tranh

Cách thức (hay còn gọi là phương thức) quản lý cạnh tranh được đánhgiá có mức độ quan trọng hơn rất nhiều so với mức độ quản lý cạnh tranh Sựcan thiệp theo những cách thức có chọn lọc thì sẽ có hiệu quả Cách thức quản

lý là một vấn đề đặc biệt có ý nghĩa bên cạnh những vấn đề cần nghiên cứunhư cơ quan quản lý cạnh tranh, xử lý vi phạm về cạnh tranh Không có mộtbiện pháp nào có thể thay thế cho phương thức mà pháp luật can thiệp vàohoạt động quản lý cạnh tranh thông qua các điều luật, các văn bản mặc trênthực tế có nhiều biện pháp sử dụng được trong các lĩnh vực khác như: sự giámsát của xã hội, người tiêu dùng, công luận… Cách thức quản lý cạnh tranh tậptrung vào việc quy định cách kiểm soát và xử lý đối với các nhóm hành vi:các hành vi cạnh tranh không lành mạnh; những hành vi bị coi là hạn chế cạnhtranh; các hành vi lạm dụng vị thế độc quyền; quy định về hợp nhất, sáp nhậpdoanh nghiệp nhằm chống độc quyền

Trang 22

Pháp luật về cạnh tranh là lĩnh vực mới và có nhiều nội dung rất phức tạp Hơn thế nữa, ở góc độ pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh

ở Việt Nam thực tế lại chưa được một nhà nghiên cứu nào phân tích, đánh giámột cách tổng thể mà mới chỉ được đề cập đến ở những nội dung nhất địnhtrong hoạt động quản lý cạnh tranh Khó khăn ở đây là cách tiếp cận như thếnào đối với vấn đề này bởi vì trong pháp luật cạnh tranh, các quy định khôngnêu ra cụ thể các chế độ thực hiện để quản lý như thế nào Các cách thức quản

lý cạnh tranh có hiệu quả hay không phụ thuộc vào tính hợp lý của biện pháp,chế độ sử dụng và năng lực của cơ quan quản lý Nếu chúng ta sử dụng cáchthức quản lý cạnh tranh hiệu quả sẽ tạo ra thành công từ đó hạn chế việc phải

áp dụng các chế tài xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh

Đối với quản lý cạnh tranh, các cách thức quản lý được nghiên cứu vàđưa ra để áp dụng thực chất là còn thiếu về số lượng (cụ thể về các cách thứcquản lý sẽ trình bày ở Chương 2 của của luận văn), chưa đảm bảo về chấtlượng, chưa được các chủ thể trong quan hệ pháp luật cạnh tranh chấp hànhthực hiện nghiêm túc, dẫn tới hiệu quả quản lý cạnh tranh chưa cao để đápứng yêu cầu của thời cuộc

- Cơ quan quản lý cạnh tranh

Về cơ quan cạnh tranh, ở Việt Nam hiện nay pháp luật quy định có hai

cơ quan là Cục quản lý cạnh tranh (trực thuộc Bộ Công thương) và Hội đồngcạnh tranh Tuy nhiên, chỉ có Cục Quản lý cạnh tranh mới là cơ quan quản lýcạnh tranh quốc gia - cơ quan quản lý chung Khẳng định này được quy địnhtrong Luật Cạnh tranh: Cục Quản lý cạnh tranh - cơ quan quản lý nhà nước vềcạnh tranh, tạo lập môi trường cạnh tranh đồng bộ và thống nhất trên phạm vitoàn quốc [26] Tại các Điều 49, Điều 50 Luật Cạnh tranh quy định cơ quanquản lý cạnh tranh do Chính phủ quyết định về thành lập và quy định tổ chức,

bộ máy của Cục Quản lý cạnh tranh Trong các lĩnh vực chuyên ngành, quản

lý cạnh tranh do các cơ quan chuyên ngành thực hiện và có sự phối hợp hoạtđộng với cơ quan quản lý cạnh tranh chung [12]

Trang 23

Đối với Hội đồng cạnh tranh, theo quy định tại các Điều 51 và 52 củaLuật Cạnh tranh, cũng là cơ quan do Chính phủ thành lập, được cụ thể về cơcấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ tại Nghị định số 05/2006/NĐ-CP ngày09/01/2006 nhưng Hội đồng cạnh tranh thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi tổchức, xử lý, giải quyết khiếu nại đối với các vụ việc cạnh tranh liên quan đếnhành vi hạn chế cạnh tranh [9] Việc điều tra đối với các hành vi hạn chế cạnhtranh lại thẩm quyền của Cục Quản lý cạnh tranh Các thành viên của Hộiđồng cạnh tranh có một số người hoạt động kiêm nhiệm bên cạnh Ban thư kýhoạt động chuyên trách Như vậy Hội đồng cạnh tranh có vị trí của một cơquan xét xử chứ không phải là cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh Vìthế, trong nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh chỉ xemxét và nghiên cứu tổng thể về Cục Quản lý cạnh tranh - cơ quan quản lýchung về cạnh tranh.

Cục Quản lý cạnh tranh thực hiện nhiệm vụ hoạt động trên tất cả cácgiai đoạn đối với một vụ việc cạnh tranh không lành mạnh bao gồm: điều tra,thu thập, tìm kiếm các chứng cứ có liên quan; xét xử, xử lý, đưa ra các quyếtđịnh, giải quyết khiếu nại Pháp luật cạnh tranh của quốc gia có được thực thi

và hiệu quả phụ thuộc vào hoạt động của chính cơ quan này

Theo các điều 49, 50, Chính phủ quyết định thành lập và quy định tổchức, bộ máy của cơ quan quản lý cạnh tranh và Thủ trưởng cơ quan quản lýcạnh tranh do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của

Bộ trưởng Bộ Thương mại

Cụ thể hóa Luật Cạnh tranh, tại Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày09/01/2006 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức củaCục quản lý cạnh tranh gồm 7 điều luật

Căn cứ những quy định trên, năm 2006, Bộ Thương mại (nay là BộCông thương) đã có Tờ trình Chính phủ thành lập cơ quan tương ứng, cụ thể:Thành lập Cục Quản lý cạnh tranh trên cơ sở gộp 03 cơ quan bao gồm: cơ

Trang 24

quan quản lý cạnh tranh, cơ quan điều tra để áp dụng các biện pháp chống bánphá giá, cơ quan điều tra để áp dụng các biện pháp chống trợ cấp và tự vệ.

1.3 NHỮNG YẾU TỐ CHI PHỐI PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT

ĐỘNG QUẢN LÝ CẠNH TRANH

Cũng như bất kỳ hệ thống pháp luật nào, pháp luật điều chỉnh hoạtđộng quản lý cạnh tranh đều chịu sự ảnh hưởng, tác động đến từ những yếu tốkhách quan và chủ quan

- Nhóm các yếu tố nội tại:

+ Những yếu tố tiền đề: trước khi Luật Cạnh tranh - khuôn khổ pháp

lý chính thức của quản lý cạnh tranh ra đời, pháp luật nước ta đã có những ghinhận đối với vấn đề cạnh tranh ở Luật Thương mại 1997, Pháp lệnh về giá,Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Điện lực… Tuy chưa có một khung pháp lýhoàn chỉnh và thống nhất, chưa có một cơ quan quản lý nhà nước về cạnhtranh và kiểm soát độc quyền, thiếu chế tài xử phạt nhưng những sự hiện diện

ấy cũng chi phối đến việc xây dựng và thực hiện hoạt động quản lý cạnh tranhsau này Những yếu tố tiền đề có ý nghĩa quan trọng để xác định rõ chủ thểcủa thị trường, vạch rõ ranh giới giữa nhà nước và thị trường, hình thành được

hệ thống thị trường và đồng bộ Từ đó xác định được phạm vi điều chỉnh vàcác nội dung của pháp luật quản lý cạnh tranh.

+ Bối cảnh đặc thù: chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của nhà nước bằngpháp luật cùng với các công cụ quan trọng khác nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh

tế, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục những mặt tiêu cực của kinh tếthị trường Bên cạnh đó, tồn tại nền kinh tế thị trường là tồn tại sự cạnh tranh vàyêu cầu điều tiết cạnh tranh Tuy nhiên, bối cảnh đặc thù của kinh tế nước ta làrất khác biệt mà không tương đồng với một quốc gia nào Pháp luật quản lý cạnhtranh trong bối cảnh hiện nay của nền kinh tế giữ vị trí và vai trò đặc biệt nhằmbảo vệ trật tự cho môi trường cạnh tranh lành mạnh của nền kinh tế

Trang 25

- Nhóm các yếu tố bên ngoài:

+ Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế có ảnh hưởng lớn đếnpháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý cạnh tranh: khi đó thị trường là chungcủa các nước và các nước đều bị ảnh hưởng từ thị trường trên cả mặt tích cực vàtác động tiêu cực Toàn cầu hóa diễn ra thì kéo theo sự tập trung kinh tế dẫn tớihạn chế cạnh tranh (đặc biệt là các hoạt động sáp nhập, hợp nhất, mua lại) Bêncạnh đó, với việc trở thành thành viên của WTO, nền kinh tế chúng ta phải đốimặt với nhiều khó khăn và thách thức Việt Nam đã cam kết mở cửa thị trườngdịch vụ với nội dung mở cửa tất cả 11 ngành dịch vụ và khoảng 110 phân ngành[1] Vì vậy, Việt Nam phải thực thi tốt pháp luật quản lý cạnh tranh của mình đểthiết lập nên môi trường cạnh tranh công bằng, phù hợp với quy định pháp lý củaWTO Hơn nữa, pháp luật quản lý cạnh tranh cũng đặt ra yêu cầu không được xarời với tình hình thực tiễn của nền kinh tế đất nước

+ Kinh nghiệm về xây dựng và thực thi pháp luật quản lý cạnh tranhcủa các nước có nền kinh tế thị trường từ rất sớm và hệ thống chính sách phápluật về cạnh tranh phát triển: Pháp, Nhật Bản, Canađa, Hoa Kỳ, Anh…Chúng

ta đã có những học hỏi và tiếp thu kỹ thuật xây dựng luật cùng với mô hình cơquan cạnh tranh từ những nước đó và chọn lọc cho phù hợp với điều kiện tìnhhình thực tế của Việt Nam Trên thực tế, Việt Nam đã có những học tập từpháp luật cạnh tranh của Đức (quốc gia ở Châu Âu có lịch sử pháp luật cạnhtranh lâu đời nhất) về xây dựng mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh Đối vớiHội đồng cạnh tranh, Việt Nam thành lập cơ quan đặc biệt này theo kinhnghiệm mô hình của Cộng hòa Pháp Quy định về tính tỷ lệ tiền phạt cho hành

vi vi phạm pháp luật cạnh tranh cũng được chúng ta xây dựng trên cơ sở Phápluật cạnh tranh của EU [14] Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý cạnhtranh, cơ quan cạnh tranh của chúng ta cũng đã có sự phối hợp học hỏi kinhnghiệm của Nhật Bản - quốc gia có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động quản

lý cạnh tranh (đặc biệt là kiểm soát đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh)

Trang 26

Chương 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CÁCH THỨC QUẢN LÝ CẠNH TRANH

Pháp luật về cạnh tranh ở Việt Nam bao gồm hai thành phần: chốngcạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh

Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh quy định những hành vicạnh tranh nào là bất hợp pháp

Pháp luật kiểm soát hạn chế cạnh tranh đề cập đến ba vấn đề: cấm cácthỏa thuận hay dàn xếp nhằm hạn chế, thủ tiêu cạnh tranh (cartel), kiểm soátcác dịch vụ sáp nhập doanh nghiệp (tập trung kinh tế), giám sát sự lạm dụngcủa các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường (lạm dụng vị thế thốnglĩnh thị trường - độc quyền)

Cách thức quản lý cạnh tranh sẽ xuất phát từ các thành phần của phápluật cạnh tranh cộng với những quy định mà pháp luật trao cho cơ quan nhànước có thẩm quyền đối với lĩnh vực quản lý cạnh tranh

2.1.1 Chế độ cung cấp thông tin

Là một cách thức quản lý cần thiết và quan trọng Thông tin đượccung cấp có thể bằng lời nói, cử chỉ, văn bản, bản vẽ, files máy tính… haybằng con đường trực tuyến thông qua trang web

Trang 27

+ Trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước, các tổchức tài chính, tín dụng, kế toán, kiểm toán và các tổ chức cá nhân khác cho

cơ quan cạnh tranh theo Điều 3 Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh [7]

+ Cơ quan quản lý cạnh tranh có quyền yêu cầu các tổ chức, cá

nhân liên quan cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc thực hiện các nhiệm vụ của mình theo khoản 9 Điều 2 Nghị định 06/2006/NĐ-CP [10]

+ Hội đồng cạnh tranh có quyền yêu cầu các tổ chức, cá nhân liênquan cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc thực hiện các nhiệm vụ củaHội đồng theo Điều 3 Nghị định 05/2006/NĐ-CP [9]

+Để xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường theo Điều 11Luật Cạnh tranh: phải căn cứ vào thị phần của doanh nghiệp đối với một loạihàng hóa, dịch vụ nhất định dựa vào tỷ lệ phần trăm giữa doanh bán ra của doanhnghiệp này với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hànghóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm giữa doanh số muavào của doanh nghiệp này với tổng doanh thu mua vào của tất cả doanh nghiệpkinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan Việc doanhnghiệp phải cung cấp thông tin về thị phần của mình trên thị trường

liên quan theo tháng, quý, năm là nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp

+ Cục Quản lý cạnh tranh đã xây dựng một chuyên mục về cung cấpthông tin trực tuyến trên website riêng của mình Khi cho rằng lợi ích củamình bị ảnh hưởng bởi hành vi hạn chế cạnh tranh, hoặc khi phát hiện thấydấu hiệu về hành vi hạn chế cạnh tranh trái pháp luật, doanh nghiệp có thểtrình báo lên Cục Quản lý cạnh tranh thông qua hình thức cung cấp thông tintrực tuyến này (tuy nhiên đây được coi là thông tin tham khảo)

+ Bên bị điều tra, bên khiếu nại có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trungthực, chính xác, kịp thời những chứng cứ cần thiết liên quan đến kiến nghị,yêu cầu của mình để cơ quan cạnh tranh thực hiện chức năng nhiệm vụ trong

Trang 28

giải quyết vụ việc cạnh tranh (quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 66 Luật Cạnh tranh) [26].

+ Chế độ cung cấp thông tin còn thể hiện ở quy định cấm các doanh nghiệp cung cấp thông tin không chính xác về các yếu tố liên quan đến hoạt động

hay sản phẩm của mình (quy định tại khoản 3 Điều 45 Luật Cạnh tranh) [26]

Khung pháp lý ở Việt Nam để xử lý đối với các hành vi hạn chế cạnhtranh và cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường đã có bằng sự ra đời củaLuật Cạnh tranh 2004 và các văn bản hướng dẫn, cụ thể hoá luật Thế nhưngđến thời điểm tháng 9/2009 - 4 năm sau khi Luật Cạnh tranh có hiệu lực mới

có hơn 30 vụ kiện liên quan đến cạnh tranh (trong đó vụ việc về hạn chế cạnhtranh rất ít) [32] Số vụ việc mà Cục Quản lý cạnh tranh trực tiếp điều tra, xử

lý là chưa phản ảnh đúng với tình hình thực tế vi phạm Luật Cạnh tranh đangdiễn ra Vai trò của các doanh nghiệp và người tiêu dùng trong cung cấp thôngtin đối với những dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh là vô cùng quantrọng Từ những thông tin được phản ánh, cơ quan điều tra mới có thể tiếnhành vào cuộc để xử lý các hành vi trái pháp luật

Trang 29

2.1.2 Chế độ đăng ký

Việc quản lý các thủ tục đăng ký thuộc về các cơ quan nhà nước cóthẩm quyền Chế độ đăng ký trong quản lý cạnh tranh thể hiện ở pháp luậtquy định nghĩa vụ đăng ký đối với các nội dung mà bắt buộc phải tiến hànhthủ tục này Qua các số liệu được đăng ký, cơ quan có thẩm quyền mới có thểquản lý được một cách bao quát quá trình hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp trên thị trường

- Quy định của pháp luật:

+ Một trong những chủ đề có tính thời sự trong pháp luật chống hành vicạnh tranh không lành mạnh là quy định đối với hoạt động bán hàng đa cấp [5]

Vì vậy, pháp luật Việt Nam đã xây dựng riêng một Nghị định (Nghị định số

110/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005) để quy định các nội dung xoay quanh hoạtđộng đó Nhà nước ta đặc biệt chú trọng vào quản lý hoạt động bán hàng đacấp thông qua đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp Theo Thông tư số19/2005/TT -BTM ngày 08/11/2005 của Bộ Thương mại về hướng dẫn một sốnội dung quy định tại Nghị định số 110/2005/NĐ-CP, nội dung của Thông tưchủ yếu liên quan đến thủ tục đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp tại các SởThương mại [4] Bán hàng đa cấp là hình thức hoạt động kinh doanh rất phứctạp đòi hỏi yêu cầu quản lý của nhà nước Những giới hạn được đặt ra nhằmthiết lập trật tự thị trường và nâng cao khả năng quản lý của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền Tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định 110/2005/NĐ-CP quy định:

"doanh nghiệp chỉ được tổ chức bán hàng đa cấp sau khi được cấp giấy đăng

Trang 30

sơ quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật này đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép chuyển giao công nghệ".

+ Trong ngành luật điều tiết ngành là Luật Viễn thông: do tính chất làmột ngành áp dụng công nghệ cao đồng thời lợi nhuận thu được của cácdoanh nghiệp kinh doanh viễn thông rất lớn nên hoạt động cạnh tranh giữacác doanh nghiệp kinh doanh mạnh di động rất quyết liệt qua khuyến mại, dễphá vỡ thị trường Bởi vậy, rất cần sự quản lý chặt chẽ tù phía Bộ Thông tin

và Truyền thông cũng như các cơ quan có thẩm quyền khác Luật Viễn thôngquy định rằng: những lĩnh vực khác doanh nghiệp sẽ có quyền tự xác định vàcạnh tranh về giá cước nhưng khi ban hành giá đối với những lĩnh vực quantrọng như cước di động, internet thì phải đăng ký trước với Bộ chủ quản(Điều 2 Quyết định số 39/2007/QĐ-TTg ngày 21/3/2007 của Thủ tướngChính phủ có cụ thể về các biện pháp quản lý cạnh tranh về giá cước và vềkhuyến mại)

- Đánh giá quy định:

Chế độ đăng ký phát huy được mặt mạnh đó là thuận lợi cho sự quản

lý của nhà nước về quá trình hoạt động của doanh nghiệp, qua đó có nhữngđiều chỉnh kịp thời về quản lý Với cơ chế này, giúp cho nhà làm luật muốnsàng lọc được những doanh nghiệp hiệu quả từ khâu đầu vào Từ đó dễ bềquản lý ở mọi khâu như với quy định về thủ tục đăng ký bán hàng đa cấp: vừamang bản chất của cơ chế tiền kiểm, vừa là cơ sở cho hoạt động hậu kiểm củanhà nước đối với hoạt động này

Nhưng có thể thấy rằng không phải lúc nào chế độ đăng ký cũng làphù hợp bởi vì nếu không sử dụng hợp lý nó sẽ mang tính hình thức, và hiệuquả sàng lọc các doanh nghiệp hiệu quả vẫn chỉ là mong ước Nếu các điềukiện pháp luật đưa ra không phù hợp sẽ tạo nên sự bất khả thi trong nhiệm vụthực hiện Bởi vậy, nhà nước khi quản lý thông qua pháp luật cần cân nhắcphương thức sử dụng phù hợp tùy vào từng nội dung của loại hình kinh doanh

Trang 31

mà quy định cần phải áp dụng chế độ đăng ký hay chỉ đơn giản hơn là chế độthông báo Áp dụng chế độ đăng ký không thích hợp sẽ gây ra những thủ tụcrườm rà mà vẫn không đảm bảo được hiệu quả quản lý Ví dụ: về cách quản

lý hoạt động bán hàng đa cấp bằng thủ tục đăng ký Thủ tục đăng ký bán hàng

đa cấp không phải là thủ tục đăng ký kinh doanh [30]; chức năng của thủ tụcđăng ký kinh doanh là xác lập tư cách pháp lý cho các chủ thể kinh doanh;trong khi thủ tục đăng ký bán hàng đa cấp được thực hiện khi doanh nghiệp

có nhu cầu tiêu thụ hàng hóa bằng phương thức đa cấp Doanh nghiệp sẽ chỉđược cấp giấy đăng ký bán hàng đa cấp sau khi đã được cấp giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh Thêm vào đó, giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấpcũng không là điều kiện kinh doanh theo luật doanh nghiệp Nhà làm luật đưavào văn bản quy định về thủ tục đăng ký này để sử dụng như một công cụquản lý nhưng thực tế quản lý hoạt động bán hàng đa cấp hiện nay cho thấyđây chưa phải là cơ chế hiệu quả và chỉ mang tính hình thức

Với những phân tích trên đây về chế độ đăng ký trong quản lý hoạtđộng cạnh tranh đã đề ra yêu cầu phía các cơ quan xây dựng và thực thi phápluật sự nhạy bén và biết tiếp thu kinh nghiệm tổ chức quản lý từ các quốc giakhác để có những vận dụng hợp lý đối với tình hình thực tế nước ta

2.1.3 Chế độ báo cáo

- Quy định pháp luật:

+ Trách nhiệm báo cáo định kỳ của doanh nghiệp: Điều 20 Nghị định

số 110/2005/NĐ-CP quy định báo cáo định kỳ của doanh nghiệp bán hàng:

"Định kỳ 6 tháng doanh nghiệp bán hàng đa cấp có trách nhiệm báo cáo với

Sở Thương mại - Du lịch nơi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh về số lượngngười tham gia, doanh thu và số thuế đã nộp của doanh nghiệp …" [6] Hoạtđộng bán hàng đa cấp là một nội dung mà được sự quan tâm của nhiều cơquan chức năng bởi tính phức tạp của hoạt động này mà hoạt động bán hàng

đa cấp bất chính là hành vi cạnh tranh không lành mạnh Bởi vậy, bên cạnh

Trang 32

quy định phải đăng ký hoạt động, bán hàng đa cấp cũng cần được quản lý mộtcách chặt chẽ thông qua việc quy định chế độ báo cáo định kỳ từ phía doanhnghiệp kinh doanh.

+ Báo cáo khi có yếu tố liên quan đến hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp:

Khoản 2 Điều 35 Nghị định 116/2005/NĐ-CP: "Doanh nghiệp bảohiểm, tổ chức tín dụng quy định tại khoản 1 Điều này phải gửi cho cơ quanquản lý cạnh tranh hồ sơ thông báo việc mua lại có nội dung quy định tạikhoản 1 Điều 21 của Luật Cạnh tranh" [7]

Điều 40 Nghị định 116/2005/NĐ-CP: để được hưởng miễn trừ thỏathuận hạn chế cạnh tranh đối với một số loại thỏa thuận thì doanh nghiệp cầnthực hiện các loại báo cáo: Báo cáo giải trình trong hồ sơ đề nghị hưởng miễntrừ; báo cáo tài chính trong hai năm liên tiếp gần nhất có xác nhận của tổ chứckiểm toán theo quy định của pháp luật; báo cáo thị phần trong hai năm gầnnhất của từng doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trên thịtrường liên quan [7]

- Đánh giá quy định:

Để quản lý cạnh tranh trong vấn đề ngăn chặn và xử lý hành vi viphạm, cơ quan có thẩm quyền chủ yếu dựa vào hoạt động báo cáo định kỳ củadoanh nghiệp cùng với các hoạt động khác như thanh tra, kiểm tra Tuy nhiên,các báo cáo mà doanh nghiệp cung cấp không phản ánh được hết hoạt độngkinh doanh Bởi vì quy định của pháp luật nhằm quản lý kinh tế có rất nhiềuđiều, trong khi sự môi trường cạnh tranh rất khốc liệt Thực tế là không phảitất cả các doanh nghiệp đều chấp hành tốt những luật lệ của nhà nước đặt rabởi vậy mới phát sinh những vi phạm Các doanh nghiệp khi báo cáo cho cơquan có thẩm quyền thường chỉ về thông số doanh thu, việc nộp thuế và tìnhhình phát triển của doanh nghiệp Những nội dung này không phản ánh đượctình hình của doanh nghiệp bởi chính doanh nghiệp báo cáo ấy đang là đối

Trang 33

tượng bị quản lý Mà đã bị quản lý thì không đơn vị nào lại tự báo cáo nhữngcái sai của mình Hơn nữa, pháp luật cạnh tranh chưa quy định chế độ báo cáothường kỳ của doanh nghiệp trên thị trường (trừ quy định đối với bán hàng đacấp như ở trên) đối với cơ quan quản lý cạnh tranh Luật của chúng ta mới chỉquy định báo cáo khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh.

Chế độ báo cáo cũng như các chế độ khác trong nội dung hoạt độngquản lý cạnh tranh đều có ý nghĩa, vị trí, vai trò quan trọng không thể thiếu.Nhưng trong các hệ thống pháp luật về cạnh tranh xuất hiện chỉ ở rải rác cácquy định của những văn bản khác nhau Do đó, giảm đi tính giá trị và uynghiêm của phương thức này

2.1.4 Chế độ thông báo

- Quy định pháp luật:

+ Cách thức này được tiếp cận chủ yếu ở các hình thức tập trung kinh

tế [19] trong nội dung về kiểm soát hạn chế cạnh tranh của Luật Cạnh tranhqua thủ tục: Các doanh nghiệp tập trung kinh tế có thị phần kết hợp từ 30%đến 50% phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hànhtập trung kinh tế Quy định này nhằm giúp cơ quan quản lý cạnh tranh kiểmsoát được hoạt động cạnh tranh bởi vì pháp luật cấm tập trung kinh tế khi thịphần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia chiếm trên 50% thị phần

Doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo trước khi sáp nhập hoặc mua lại

cổ phần trong các vụ tập trung kinh tế (quy định chi tiết ở khoản 1 Điều 20Luật Cạnh tranh)

+ Ngoài ra, sử dụng chế độ thông báo còn phản ánh tính khách quan trong hoạt động quản lý cạnh tranh từ phía cơ quan có thẩm quyền:

Cơ quan quản lý cạnh tranh có trách nhiệm thông báo công khai quyếtđịnh cho hưởng miễn trừ theo quy định của Chính phủ (khoản 2 Điều 35 LuậtCạnh tranh)

Trang 34

Cơ quan quản lý cạnh tranh có trách nhiệm thông báo cho bên khiếunại về việc thụ lý hồ sơ trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận

hồ sơ theo khoản 2 Điều 59 Luật Cạnh tranh [26]

Điều tra viên phải thông báo tới các bên liên quan trong việc gia hạnthời hạn điều tra theo quy định tại khoản 3 Điều 90 Luật Cạnh tranh [26]

Thông báo bằng niêm yết công khai và thông báo trên phương tiệnthông tin đại chúng văn bản tố tụng cạnh tranh theo Điều 71, Điều 72 Nghịđịnh 116/2005/NĐ-CP [7]

Thông báo kết quả việc cấp văn bản tố tụng cạnh tranh, thông báo kếtquả việc tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng cạnh tranh theo Điều 73Nghị định 116/2005/NĐ-CP [7]

- Đánh giá quy định:

Chế độ thông báo ở đây hình thức công khai đối với các vấn đề liênquan tới vụ việc cạnh tranh: thông báo từ cơ quan quản lý, thông báo từ doanhnghiệp Qua đó, cơ quan quản lý cạnh tranh có thể kiểm soát được các vấn đềhạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp Hình thức thông báo trong nội dung tậptrung kinh tế của pháp luật cạnh tranh được xem như một loại cảnh báo đốivới một doanh nghiệp có thị phần dưới 50% trên thị trường liên quan [16] (vìLuật cấm các doanh nghiệp tập trung kinh tế nếu các doanh nghiệp đó có thịphần kết hợp từ 50% trở lên trên thị trường liên quan)

Chế độ thông báo có những ưu điểm là nhanh chóng trong truyền tảitin tức, là cơ sở để cơ quan quản lý nắm được tình hình hoạt động của doanhnghiệp và các nội dung của vụ việc cạnh tranh Đối với một số điểm còn bấtcập trong thực hiện việc đăng ký (như quy định đăng ký hoạt động bán hàng

đa cấp) thì sử dụng chế độ thông báo là lựa chọn hợp lý - xem đây như mộtloại giấy phép cho doanh nghiệp kinh doanh; doanh nghiệp sẽ phải chấp hànhđúng quy định thông báo và chịu trách nhiệm về tính trung thực trong nộidung thông báo của mình Sự thay thế của chế độ thông báo cho chế độ đăng

Trang 35

ký trong những trường hợp cần thiết sẽ tạo điều kiện cho có thẩm quyền thựchiện chức năng nhiệm vụ được tốt hơn, giảm bớt thủ tục không cần thiết,không phù hợp với nội dung cần quản lý.

Tuy nhiên, thực tế pháp luật của chúng ta vẫn chưa nhấn mạnh vai tròcủa chế độ thông báo Cùng với chế độ báo cáo, chế độ thông báo cần được cụthể hơn trong luật, từ đó cần được thực hiện đầy đủ theo định kỳ từ phíadoanh nghiệp đối với yêu cầu cơ quan có thẩm quyền

2.1.5 Chế độ giám sát chéo

Giám sát chéo là chế độ giám sát đặc biệt mà ở đó phát huy được tínhtích cực trong nhiều lĩnh vực của cả đời sống kinh tế và xã hội Với hoạt độngquản lý cạnh tranh, phương thức quản lý này cũng mang lại những ưu thế ởhiệu quả can thiệp của pháp luật và hiệu lực thi hành cao ở tất cả các hoạtđộng liên quan đến cạnh tranh: là hình thức quản lý trực tiếp, là chức năng từphía cơ quan quản lý quản lý; ngược lại, đó là quyền được kiểm tra giám sátcủa phía các doanh nghiệp

Cơ chế giám sát được thực hiện chủ động và trực tiếp bởi cơ quan quản

lý nhà nước Mọi doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ có cơ hộiđược cạnh tranh bình đẳng hơn vì các hành vi lạm dụng của doanh nghiệp lớn(doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, doanh nghiệp có vị trí độc quyền) được giámsát chặt chẽ Các doanh nghiệp lớn sẽ phải cẩn thận hơn trước khi đưa ra nhữngquyết định quan trọng trong hoạt động kinh doanh bởi những quyết định của họ

có ảnh hưởng đến thị trường, và đương nhiên chịu sự giám sát từ nhiều phía Chế

độ giám sát cũng đặt ra cho các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh mộtcách văn minh, bài bản bởi vì cơ quan nhà nước có thẩm quyền luôn thực hiệngiám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Bên cạnh đó, mọi doanh nghiệp cũng được hưởng môi trường cạnhtranh mà ở đó không phân biệt đối xử vì hành vi can thiệp vào quá trình cạnhtranh của cơ quan nhà nước cũng được giám sát chặt chẽ bởi doanh nghiệpcũng được quyền giám sát cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 36

- Quy định pháp luật:

+ Giám sát đối với tập trung kinh tế được thực hiện ở nhiều mức độkhác nhau: có các loại quy định của Luật Cạnh tranh đối với hành vi tập trungkinh tế theo mức độ là: tự do thực hiện và phải được sự cho phép của cơ quan

có thẩm quyền (theo Điều 20); cho hưởng miễn trừ với một số trường hợp(theo Điều 19); bị cấm tuyệt đối (theo Điều 18)

+ Do pháp luật quy định bộ phận xử lý vụ việc phải khác và tách rakhỏi bộ phận điều tra nên ở Việt Nam việc phân định thẩm quyền đó áp dụngđối với vụ việc hạn chế cạnh tranh: Cục Quản lý cạnh tranh điều tra, Hội đồngcạnh tranh giải quyết xử lý theo quy định Điều 49 và Điều 53 Luật Cạnhtranh Từ đó, hình thành nên cơ chế giám sát lẫn nhau của hai cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh là Cục Quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh

- Đánh giá quy định:

Chế độ giám sát chéo nếu được phát huy sẽ mang lại hiệu quả lớn bởi

sự tác động qua lại giữa các chủ thể Tuy nhiên ở chúng ta, chế độ giám sátchéo chưa thực sự đạt được kết quả, chưa được sử dụng hết lợi thế của cơ chếgiám sát này và đặc biệt chưa cụ thể trong luật Hơn nữa, chúng ta cần đánhgiá cao và tăng cường sự giám sát đa chiều của các phương tiện thông tin đạichúng để cảnh báo và định hướng dư luận xã hội bởi vì đây là những lựclượng giám sát hiệu quả hơn bất kỳ văn bản pháp luật nào Kinh nghiệm củamột số nước có hệ thống pháp luật cạnh tranh lâu năm cho thấy pháp luật của

họ rất quan tâm đến việc xây dựng cơ chế kiểm tra giám sát hiệu quả cácquyết định của cơ quan thực thi luật cạnh tranh

2.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CƠ QUAN QUẢN LÝ CẠNH TRANH 2.2.1 Cơ quan quản lý chung

Cơ quan quản lý cạnh tranh theo pháp luật Việt Nam là Cục Quản lýcạnh tranh thuộc Bộ Công thương được quy định tại Điều 49, Điều 53 trong

Trang 37

Luật Cạnh tranh Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của CụcQuản lý cạnh tranh được quy định cụ thể tại Nghị định số 06/2006/NĐ-CPngày 09/01/2006 của Chính phủ Tầm quan trọng của Cơ quan quản lý cạnhtranh quốc gia được ví như là chìa khóa để giải quyết các vấn đề tranh chấp,cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp.

Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý cạnh tranh Việt Nam Cục Quản lý cạnh tranh [10]:

-+ Quản lý nhà nước về cạnh tranh (tức là thực thi Luật Cạnh tranh), cụthể: kiểm soát quá trình tập trung kinh tế (bao gồm: sáp nhập, hợp nhất, mualại, liên doanh giữa các doanh nghiệp); thụ lý hồ sơ hưởng miễn trừ đối vớicác hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế, đề xuất ý kiếnvới Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) quyết định hoặc trìnhThủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định

+ Quản lý nhà nước về chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam

+ Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

+ Phối hợp với các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng trong việc đốiphó với các vụ kiện trong thương mại quốc tế liên quan đến bán phá giá, trợcấp và áp dụng các biện pháp tự vệ

Ngoài ra, Cục Quản lý cạnh tranh còn thực hiện các nhiệm vụ khác do

Bộ trưởng Bộ Công thương giao cho

Cục Quản lý cạnh tranh có chức năng điều tra và xử lý nghiêm cáchành vi vi phạm cạnh tranh nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh;chức năng phát hiện và kiến nghị các cơ quan liên quan giải quyết theo thẩmquyền những văn bản quy phạm pháp luật có nội dung không phù hợp (nhữngvăn bản quy phạm pháp luật hiện hành và các dự thảo Luật, Pháp lệnh …) tráivới quy định của pháp luật cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ

và bảo vệ người tiêu dùng

Trang 38

Như đã trình bày thì quản lý cạnh tranh bằng pháp luật là nội dung rấtcần thiết, có tính tất yếu Các thiết chế để quản lý cạnh tranh tồn tại dưới rấtnhiều hình thức trong đó có sự hiện diện của cơ quan nhà nước.

Hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh được thể hiện chủ yếu ở cáchoạt động là điều tra và xử lý vụ việc cạnh tranh Tuy nhiên, thực trạng là cơquan quản lý cạnh tranh chưa hoạt động hết được những nhiệm vụ, chức năng

mà pháp luật quy định

- Vai trò của cơ quan quản lý cạnh tranh: quyết định trong việc bảo

đảm thực thi Luật Cạnh tranh và 04 Pháp lệnh (Pháp lệnh Chống bán phá giáđối với hàng nhập khẩu vào Việt Nam, Pháp lệnh chống trợ cấp đối với hànghóa nhập khẩu vào Việt Nam, Pháp lệnh về Tự vệ trong nhập khẩu hàng hóanước ngoài vào Việt Nam và Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng) Bên cạnh đó,cần sự nỗ lực của cơ quan quản lý chung về cạnh tranh Việt Nam để vượt quathách thức trong hội nhập kinh tế quốc tế và thời kỳ hậu WTO mà Việt Namphải thực hiện khi gia nhập tổ chức này

- Tính chất của cơ quan quản lý cạnh tranh: theo quy định tại Điều 49

Luật Cạnh tranh, cơ quan quản lý chung - Cục Quản lý cạnh tranh của ViệtNam vừa là cơ quan điều tra, xử lý, đồng thời là cơ quan hành chính

+ Tính chất cơ quan điều tra thể hiện qua các nhiệm vụ

là: Điều tra các hành vi hạn chế cạnh tranh;

Điều tra các hành vi cạnh tranh không lành mạnh

+ Tính chất cơ quan xử lý thể hiện qua quyền hạn được trực tiếp xử phạt các hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Tính chất cơ quan hành chính thể hiện qua nhiệm vụ, quyền hạn kiểmsoát quá trình tập trung kinh tế và thụ lý hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ; đềxuất ý kiến để Bộ trưởng Bộ Công thương quyết định hoặc trình Thủ tướngChính phủ quyết định

Trang 39

Với thời gian chính thức hoạt động chưa lâu (từ năm 2006 đến nay),

cơ quan quản lý chung về cạnh tranh cũng gặp phải không ít những khó khăn

mà một trong những nguyên nhân là xuất phát từ chính các đặc thù của cơquan quản lý cạnh tranh được pháp luật quy định Thực trạng những khó khăncủa Cục Quản lý cạnh tranh có thể nêu ra đây là:

- Thiếu tính độc lập do phụ thuộc vào cơ quan chủ quản là Bộ Côngthương [14] Sự phụ thuộc về cơ cấu tổ chức này dẫn đến cơ quan quản lýcạnh tranh bị chi phối và không tránh khỏi những can thiệp của Bộ chủ quảnđối với các hoạt động chuyên môn của Cục

- Thiếu nguồn nhân lực, đặc biệt về đội ngũ cán bộ ở vị trí điều traviên - những người có vai trò quan trọng trong điều tra các vụ việc cạnh tranhnên chưa đủ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao từ phía cộng đồng doanhnghiệp, hiệp hội và người tiêu dùng;

- Thiếu kinh phí hoạt động [14]: do không đủ cơ sở pháp lý để sửdụng kinh phí phục vụ công tác chuyên môn từ đó hoàn thành nhiệm vụ chínhtrị được giao bởi: cơ quan mới và đặc biệt bởi tính chất lưỡng tính của cơquan quản lý cạnh tranh nên các quy định hiện hành về quản lý kinh phí hànhchính sự nghiệp là bất cập không phù hợp, khó thực hiện

- Trong công tác điều hành, hoạt động giữa các đơn vị trực thuộc Cục vấn còn có những đan xen, chồng chéo

- Do những ràng buộc pháp lý cho nên trong thực hiện chức năngnhiệm vụ, Cục quản lý cạnh tranh chưa được trang bị khả năng chủ động màđáng lẽ phải có Cục chỉ tiến hành điều tra một vụ việc cạnh tranh khi có đơnkhiếu nại từ phía doanh nghiệp, người tiêu dùng… cho rằng quyền và lợi íchcủa họ bị vi phạm; hoặc khi các chủ thể này phát hiện có dấu hiệu của viphạm như có biến động bất thường về giá, cấu trúc thị trường, khả năng cạnhtranh bị hạn chế, vị trí thống lĩnh bắt đầu bị lạm dụng

Trang 40

- Mô hình hai cơ quan Cục Quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranhhoạt động song song (được giới hạn thẩm quyền giải quyết vụ việc hạn chếcạnh tranh) nhưng chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tiễn ở Việt Namhiện nay.

- Với vị trí nằm trong hệ thống cơ quan hành pháp và trực thuộc BộCông thương sẽ khó khăn cho cơ quan quản lý cạnh tranh về thẩm quyền khi

xử lý vụ việc vi phạm về cạnh tranh mà hành vi vi phạm lại do một Bộ trưởnghay thành viên của Chính phủ chỉ đạo

Pháp luật cạnh tranh bao gồm cả mảng luật công và luật tư, bởi vậycác chế tài áp dụng cũng đa dạng Do đó, việc áp dụng các chế tài phạt thuộcthẩm quyền của Cục Quản lý cạnh tranh không chỉ đơn thuần là phạt hànhchính thông thường mà có sự kết hợp với các biện pháp của dân sự, kinh tế

Đối chiếu với các quy định pháp luật hiện nay ở Việt Nam đã có một

số lĩnh vực như Sở hữu trí tuệ thì "tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnhtranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ thì bị xử phạt vi phạm hành chính

Ngày đăng: 02/01/2023, 16:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trịnh Minh Anh, Nguyễn Như Quỳnh (2009), Tài liệu tập huấn về Luật cạnh tranh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn về Luật cạnh tranh
Tác giả: Trịnh Minh Anh, Nguyễn Như Quỳnh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
2. Ban Thư ký Hội đồng cạnh tranh (2009), "Hội đồng Cạnh tranh xử phạt Vinapco 3,37 tỷ đồng", http://www.hoidongcanhtranh.vn/Cac-vu-xet-xu-Trong-nuoc&action=viewNews&id=967 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội đồng Cạnh tranh xử phạtVinapco 3,37 tỷ đồng
Tác giả: Ban Thư ký Hội đồng cạnh tranh
Năm: 2009
3. Ban Thư ký Hội đồng cạnh tranh (2009), "Mạng lưới cạnh tranh quốc tế (ICN) kết nạp Hội đồng cạnh tranh Việt Nam là thành viên thứ 104 của ICN", http://www.hoidongcanhtranh.vn/Tin-Tuc-Chi-Tiet?action=viewNews&id=957 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạng lưới cạnh tranh quốc tế (ICN) kếtnạp Hội đồng cạnh tranh Việt Nam là thành viên thứ 104 của ICN
Tác giả: Ban Thư ký Hội đồng cạnh tranh
Năm: 2009
4. Bộ Thương mại (2005), Thông tư số 19/2005/TT-BTM ngày 08/11 hướng dẫn một số quy định tại Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 19/2005/TT-BTM ngày 08/11 hướngdẫn một số quy định tại Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp
Tác giả: Bộ Thương mại
Năm: 2005
5. Lê Văn Chấn (2009), Tìm hiểu Luật Cạnh tranh - Quản lý bán hàng đa cấp, Nxb Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Luật Cạnh tranh - Quản lý bán hàng đa cấp
Tác giả: Lê Văn Chấn
Nhà XB: Nxb Tổng hợp
Năm: 2009
6. Chính phủ (2005), Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày 24/8 về quản lý bán hàng đa cấp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày 24/8 về quản lý bán hàng đa cấp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
7. Chính phủ (2005), Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9 quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9 quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
8. Chính phủ (2005), Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9 quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9 quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
9. Chính phủ (2005), Nghị định số 05/2006/NĐ-CP ngày 09/01 về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 05/2006/NĐ-CP ngày 09/01 về việcthành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Hộiđồng cạnh tranh
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
10. Chính phủ (2006), Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09/01 quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 06/2006/NĐ-CP ngày 09/01 quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
11. Cục Quản lý cạnh tranh (2009), Báo cáo tập trung kinh tế tại Việt Nam: hiện trạng và dự báo, tháng 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tập trung kinh tế tại Việt Nam: "hiện trạng và dự báo
Tác giả: Cục Quản lý cạnh tranh
Năm: 2009
12. Cục Quản lý cạnh tranh (2009), Thực tiễn áp dụng Luật Cạnh tranh trong một số lĩnh vực chuyên ngành: kinh nghiệm của Nhật Bản và thực tiễn ở Việt Nam - Những vấn đề đặt ra, Tài liệu Hội thảo, ngày 6/11, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn áp dụng Luật Cạnh tranh trongmột số lĩnh vực chuyên ngành: kinh nghiệm của Nhật Bản và thực tiễn ởViệt Nam - Những vấn đề đặt ra
Tác giả: Cục Quản lý cạnh tranh
Năm: 2009
13. Cục Quản lý cạnh tranh (2010), Báo cáo đánh giá cạnh tranh trong 10 lĩnh vực của nền kinh tế, Tài liệu Hội thảo, ngày 14/10, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá cạnh tranh trong 10 lĩnh vực của nền kinh tế
Tác giả: Cục Quản lý cạnh tranh
Năm: 2010
14. Cục Quản lý cạnh tranh (2009), Tài liệu Toạ đàm thường kỳ tháng 5/2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Toạ đàm thường kỳ tháng 5/2009
Tác giả: Cục Quản lý cạnh tranh
Năm: 2009
15. Dominique Brault (2006), Chính sách và thực tiễn Pháp luật cạnh tranh của Cộng hoà Pháp, (tập 3 - Quản lý cạnh tranh), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách và thực tiễn Pháp luật cạnh tranh của "Cộng hoà Pháp, (tập 3 - Quản lý cạnh tranh)
Tác giả: Dominique Brault
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
16. Dominique Brault (2008), "Giới thiệu về pháp luật cạnh tranh Việt Nam trên tạp chí LAMY DE LA CONCURRENCE số 15, tháng 4/5 năm 2008 của Pháp", (Bản dịch), Nghiên cứu lập pháp, (137) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu về pháp luật cạnh tranh Việt Namtrên tạp chí LAMY DE LA CONCURRENCE số 15, tháng 4/5 năm 2008của Pháp
Tác giả: Dominique Brault
Năm: 2008
17. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2010), Giáo trình Luật Cạnh tranh, Dự án hỗ trợ thương mại đa biên giai đoạn III Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Cạnh tranh
Tác giả: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
19. Francine Matte (2003), "Cơ quan cạnh tranh: Kinh nghiệm quốc tế và lựa chọn cho Việt Nam", Kỷ yếu Hội thảo, của Bộ Thương mại phối hợp với Dự án hỗ trợ thực thi chính sách (PIAP - Canada) đồng tổ chức tại Hà Nội ngày 8 - 9/7/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ quan cạnh tranh: Kinh nghiệm quốc tế và lựachọn cho Việt Nam
Tác giả: Francine Matte
Năm: 2003
20. Bùi Xuân Hải (2003), "Về mục tiêu và phạm vi điều chỉnh của Luật Cạnh tranh", Khoa học pháp lý, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mục tiêu và phạm vi điều chỉnh của Luật Cạnhtranh
Tác giả: Bùi Xuân Hải
Năm: 2003

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w